Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thích nghi ở Kiên Giang

Bước vào thế kỷ XXI , cùng với nhịp độ phát triển nhanh, mạnh mẽ của kinh tế , con người chúng ta cũng phải đang đứng trước những thách thức lớn về vấn đề gia tăng dân số ,bùng nổ dân số ,dân tộc .thì vấn đề về môi trường cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng , vấn đề này được nhiều quốc gia , lãnh thổ và toàn cầu vô cùng quan tâm. Hiện nay ,nó ngày càng cấp thiết hơn, đòi hỏi sự hợp tác của nhiều quốc gia đặc biệt là vấn đề về sự thay đổi của khí hậu, mà nguyên nhân chủ yếu là lượng khí thải nhà kính đã làm biến đổi lớn khí hậu thế giới. Đối với Việt Nam thì lượng khí thải thải ra gây nên hiệu ứng nhà kín không đáng kể như các nước công nghiệp phát triển nhưng lại chịu ảnh hưởng lớn của sự biến đổi này , nhiều chính sách môi trường được nhà nước ta đề ra nhằm giảm bớt ảnh hưởng này làm cho thiệt hại ở mức thấp nhất ,đảm bảo đời sống nhân dân bớt ảnh hưởng. Do đó công tác nghiên cứu đánh giá là rất cần thiết đối với vấn đề biến đổi khí hậu . MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU I. Khái Quát Chung Về BĐKH Ờ Việt Nam II. Kiên Giang- Vùng Đất ĐBSCL Chịu Ảnh Hưởng BDKH II.1 Khái Quát Về Tỉnh Kiên Giang II.2 Tác Động Của BĐKH Đến Kiên Giang- Vùng Đất ĐBSCL II.3 Vấn Đề Về Lũ, Bảo, Hạn Hán, Nước Biển Dâng II.4 Vấn Đề Về Nông Nghiệp II.5 Vấn Đề Về Con Người III. Vấn Đề Thích Nghi Và Biện Pháp Đối Phó Với BĐKH Ở Kiên Giang –ĐBSCL III.1 Sơ Lược Về Thành Tựu Kinh Tế Kiên Giang III.2 Các Biện Pháp Đối Phó Với BĐKH Tài Liệu Tham Khảo

doc34 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 11/01/2013 | Lượt xem: 3390 | Lượt tải: 27download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thích nghi ở Kiên Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BỘ MÔN : Môi Trường Học Cơ Bản   GVHD : GS. TSKH Lê Huy Bá Sinh viên : Huỳnh Đức Thiện MSSV : 0771139 TPHCM 7- 2009 LỜI MỞ ĐẦU Bước vào thế kỷ XXI , cùng với nhịp độ phát triển nhanh, mạnh mẽ của kinh tế , con người chúng ta cũng phải đang đứng trước những thách thức lớn về vấn đề gia tăng dân số ,bùng nổ dân số ,dân tộc….thì vấn đề về môi trường cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng , vấn đề này được nhiều quốc gia , lãnh thổ và toàn cầu vô cùng quan tâm. Hiện nay ,nó ngày càng cấp thiết hơn, đòi hỏi sự hợp tác của nhiều quốc gia đặc biệt là vấn đề về sự thay đổi của khí hậu, mà nguyên nhân chủ yếu là lượng khí thải nhà kính đã làm biến đổi lớn khí hậu thế giới. Đối với Việt Nam thì lượng khí thải thải ra gây nên hiệu ứng nhà kín không đáng kể như các nước công nghiệp phát triển nhưng lại chịu ảnh hưởng lớn của sự biến đổi này , nhiều chính sách môi trường được nhà nước ta đề ra nhằm giảm bớt ảnh hưởng này làm cho thiệt hại ở mức thấp nhất ,đảm bảo đời sống nhân dân bớt ảnh hưởng. Do đó công tác nghiên cứu đánh giá là rất cần thiết đối với vấn đề biến đổi khí hậu . Được sự giúp đỡ của GS.TSKH Lê Huy Bá tôi được tìm hiều đề tài “ Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Và Thích Nghi Ở Kiên Giang” để tìm hiểu về vấn đề thay đổi khí hậu ở Kiên Giang vùng đất chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu.Trong quá trình tìm hiểu khó tránh những sai sót mong thầy và các bạn bỏ qua. Xin chân thành cảm ơn ! I. khái quát chung về biến đổi khí hậu ờ Việt Nam Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007 [6]).. Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người(chiếm 90% theo báo cáo gần đây của Liên Hiệp Quốc và 10% là do tự nhiên) . BĐKH trong thời gian thế kỷ 20 đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đai. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phát xả khí nhà kính (chủ yếu là CO2 và Metan CH4) là nguyên nhân hàng đầu của BĐKH, đặc biệt kể từ 1950 khi thế giới đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và tiêu dùng, liên quan với điều đó là sự tăng cường sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, sản xuất xi măng, phá rừng và gia tăng chăn nuôi đại gia súc (phát xả nhiều phân gia súc tạo ra nguồn tăng Metan), khai hoang các vùng đất ngập nước chứa than bùn. Biến đổi khí hậu kéo theo các hiện tượng như : hiện tượng El Nino , thủng tầng ozon , trái đất nóng dần lên.Và Việt Nam là một trong số các nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Theo số liệu quan trắc biến đổi khí hậu ở Việt Nam được ghi nhận như sau S %S Nhiệt độ : 0.3- 0.50C 1 - 3 Lượng mưa: 200 – 1000mm 10 - 30 Mùa lạnh: (< 1\2 tháng ) Mùa khô (< 1 tháng) Mực nước biển 4.74 cm 2.5  Hình1 : biến đổi mực nước biển ở Đông Nam Á Xu thế biến đổi đã quan trắc được Nhiệt độ: tăng 0,1 – 0,3 °C /thập kỷ Lượng mưa: không nhất quán Mực nước biển: dâng 0,19cm/năm Dự kiến biến đổi trong thế kỷ 21 Nhiệt độ: tăng 3,7 – 4,2°C Mưa mùa mưa: tăng 3,6 – 4,6% Mưa mùa khô: tăng 3,8 – 4,6% Mưa năm: tăng 3,0 – 14,6% Mực nước biển: dâng 40 – 60 cm Kịch bản / năm  2050  2100   A1F1  13,7  39,7   A2  12,5  33,1   A1B  13,3  31,5   B2  12,8  28,8   A1T  12,7  27,9   B1  13,4  26,9   Bảng :kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam Nhiệt độ trung bình được đánh giá là tăng 2.5oC vào năm 2070, nhiệt độ trung bình trên đất liền (tập trung chủ yếu vào khu vực cao nguyên) sẽ tăng 2.5oC, trong khi đó nhiệt độ trung bình tại khu vực ven biển sẽ tăng 1.5oC. Các ảnh hưởng có thể của việc tăng nhiệt độ nêu trên sẽ tác động đến một vùng rộng lớn của đất nước, gây ra hạn hán, các sản phẩm nông nghiệp sẽ bị mất mùa nghiêm trọng, các dịch bệnh sẽ tăng và lan truyền nhanh dọc theo đất nước bên cạnh các ảnh hưởng nghiêm trọng khác. Giá trị trung bình nhiệt độ cao và thấp hàng năm dự kiến cũng sẽ tăng. Số ngày với nhiệt độ cao hơn 25oC cũng sẽ tăng. Sự tăng nhiệt độ này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các hệ sinh thái của đất nước, mùa màng và sức khỏe của nhân dân. Các vùng miền bắc và miền nam sẽ chịu tác động của gió mùa tây nam nhưng lượng mưa mùa sẽ giảm trong tháng 7 và tháng 8 và tăng trong tháng 9, tháng 10 và tháng 11. Ở vùng miền trung, lượng mưa sẽ tăng khoảng 19% trong mùa mưa vào năm 2070. Lượng bốc hơi cũng sẽ tăng do nhiệt độ tăng. Do lượng mưa sẽ tập trung vào mùa mưa, lượng mưa trong mùa khô sẽ giảm vào năm 2070 ở miền trung Việt Nam và hạn hán sẽ xuất hiện thường xuyên hơn. Mực nước biển ở Việt Nam tăng 5 cm trong vòng 30 năm qua. Mực nước biển được dự kiến là tăng đến 9 cm trong năm 2010, 33 cm trong năm 2050, 45 cm trong năm 2070 và 1m vào năm 2100. Trong quá khứ các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam vào tháng 8 ở miền Bắc và tháng 10 ở miền Trung và tháng 12 ở miền Nam. Nhưng mùa bão sẽ xuất hiện muộn hơn và chuyển dần về phía nam trong các năm gần đây. BĐKH sẽ dẫn đến sự tăng của nhiệt độ bề mặt nước biển tại các vùng vĩ độ cao của Thái Bình Dương. Điều này sẽ làm cho xuất hiện nhiều bão hơn trong vùng tây bắc Thái Bình Dương, tác động đến Việt Nam, Trong những thập kỷ tới, nhiệt độ bề mặt của nước biển sẽ được dự báo là tăng, dẫn đến tốc độ gió trong bão tăng lên và thời gian tồn tại của tốc độ gió lớn sẽ tăng. Cường độ bão sẽ tăng, đặc biệt là trong các năm El Nino. Mô phỏng về nhiệt độ, lượng mưa và thay đổi mực nước biển trong các vùng khác nhau được thể hiện tại bảng dưới đây. Theo các kịch bản này, đến năm 2070, nhiệt độ bề mặt trung bình sẽ tăng từ 1.5oC đến 2.5oC ; biến đổi lượng mưa sẽ dao động khoảng -5% đến +10%. Kịch bản của mực nước biển dâng cao 1m vào năm 2100 được dự kiến. II. Kiên Giang – Vùng Đất Đồng Bằng Sông Cửu Long Chịu Ảnh Hưởng Biến Đổi Khí Hậu II.1 khái quát về tỉnh Kiên Giang Kiên Giang là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông cửu long, có vị thế giáp biển, trông ra Vịnh Thái Lan, là tỉnh rất giàu tiềm năng về thủy sản, khoáng sản, lâm sản và du lịch… - Vị trí địa lý và phân bố dân cư Kiên Giang là vùng đất tận cùng ở phía Tây Nam của Tổ quốc. Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh An Giang và Cần Thơ, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp Cam-pu-chia.Ngoài ra còn có hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ ngoài vịnh.  Hình 2 : Đảo ở Kiên Giang Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.269 km2, dân số gần 1,7 triệu người. Trong đó dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,23%; Hoa: 2,97%. Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo. Theo kế hoạch dân số, phấn đấu hạ tỷ lệ sinh hàng năm từ 0,5-0,6‰ giai đoạn 2001-2005 và giảm 0,4‰ giai đoạn 2006-2010 thì qui mô dân số toàn tỉnh đến 2005 là 1.689.745 người và đến năm 2010 hơn 1.834.000 người. Kiên Giang là tỉnh có nhiều thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch.  Hinh3: Bản Đồ tỉnh Kiên Giang - Đơn vị hành chính Kiên Giang có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: Thành phố Rạch Giá, thị Xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải và huyện U Minh Thượng - Khí hậu . Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 27ºC - 27,5ºC; quanh năm không quá nóng và quá lạnh. Khí hậu 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. - Tài nguyên đất Tỉnh Kiên Giang có 626.904 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 402.644 ha, chiếm 64,22%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 122.774, chiếm 19,58%, diện tích đất chuyên dùng là 35.412 ha, chiếm 5,65%; diện tích đất ở là 10.090 ha, chiếm 1,61% và diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 55.984 ha, chiếm 8,93%. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 327.468 ha, chiếm 81,33%, riêng đất lúa có 315.452 ha, chiếm 96,33% diện tích đất nông nghiệp; diện tích đất trồng cây lâu năm là 37.101 ha, chiếm 9,24%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 8.801 ha, chiếm 2,18%.Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 7.582 ha, diện tích đất bằng chưa sử dụng là 35.485 ha, diện tích đất có mặt nước chưa được khai thác và diện tích đất chưa sử dụng khác là 6.446 ha. - Tài nguyên nước Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá. Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô. - Tài nguyên biển Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.000km2. Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam thì trữ lượng tôm cá ở đây khoảng 464.660 tấn trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn. Ngoài ra tỉnh đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn với sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng. - Tài nguyên khoáng sản Có thể nói Kiên Giang là tỉnh có nguồn khoáng sản dồi dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sản thuộc các nhóm như: Nhóm nhiên liệu (than bùn), nhóm không kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét…), nhóm kim loại (sắt, Laterit sắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh - opal…), trong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng. Riêng về đá vôi có hơn 20 ngọn núi với trữ lượng khoảng hơn 440 triệu tấn, có một số núi đá vôi cần giữ lại di tích lịch sử, thắng cảnh và yêu cầu quân sự, nên trữ lượng để dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng là hơn 245 triệu tấn, với nguyên liệu này đủ để sản xuất 2,8-3 triệu tấn Clinker/năm trong thời gian trên 50 năm. - Tiềm năng du lịch Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Mo So, bãi biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh, đảo Phú Quốc… Kiên Giang còn hướng tới phát triển du lịch sinh thái vùng U Minh lịch sử, có hương của rừng tràm và vườn chim thiên nhiên, với những món ăn đặc sản rừng U Minh . II.2 Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Kiên Giang – Vùng Đất ĐBSCL ĐBSCL có địa hình bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7-1,2 m, ngoại trừ một số đồi núi cao ở phía Bắc đồng bằng thuộc tỉnh An Giang. Dọc theo biên giới Campuchia có địa hình cao hơn cả, cao trình từ 2,0-4,0 m, sau đó thấp dần vào đến trung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0-1,5 m, và chỉ còn 0,3-0,7 m ở khu vực giáp triều, ven biển. Vùng tả sông Tiền, địa hình dạng lòng máng trũng có hướng dốc từ Tây-Bắc xuống Đông-Nam. Vùng giữa hai sông Tiền-Hậu, phù sa sông cũng bồi đắp hình thành nên hai dãy bờ sông cao ven sông rồi thấp dần vào nội đồng tạo thành lòng máng trũng ở giữa. Vùng hữu sông Hậu nhìn chung có hướng dốc Đông-Tây, từ phía sông Hậu thấp dần về phía biển Tây. Ven bờ biển thường do hoạt động của hải lưu, gió và phù sa sông, tạo thành các giồng cát cao ven biển có hình cung lồi ra phía biển, nằm xen kẽ các vùng trũng thấp ngập triều. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam sẽ là khu vực bị tác hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra. Trong các tháng mùa khô , nhiều tỉnh vùng ĐBSCL đang bị nước biển xâm nhập mặn sâu làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhiều khu vực đã thiếu nước ngọt phục vụ sinh họat... ĐBSCL là vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu. Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại khoảng 17 tỉ đồng mỗi năm và khiến khoảng 17 triệu người không có nhà. Còn Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) dự báo: mực nước biển ở Việt Nam sẽ dâng cao từ 3- 15 cm vào năm 2010, dâng từ 15 - 90 cm vào năm 2070. Các vùng ảnh hưởng là Kiên Giang, Tiền Giang,huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất…..Là vùng đất thuần về nông nghiệp lại là vựa lúa lớn nhất nước nên vấn đề khí hậu , đất đai, hệ thống nước với vùng là hết sức quan trọng . Việc đánh giá tác động biến đổi khí hậu bao gồm các tác động sau: ài Bảng: thể hiện các lĩnh vực đáng giá biến đổi khí hậu II.3 Vấn Đề Về Lũ , Bão, Hạn Hán , Nước Biển Dâng Tác động của BĐKH đối với thiên tai, con người, cây trồng và vật nuôi, như làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc..., các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, xâm nhập mặn,, các dịch bệnh trên người, trên gia súc, gia cầm và trên cây trồng. Thay đổi, biến động ranh giới giữa các vùng mặn, lợ, ngọt sẽ tác động lớn đến hệ thống canh tác truyền thống, cơ sở hạ tầng và đời sống xã hội của người dân. Môi trường bị đảo lộn. Mặn xâm nhập sâu, thiếu nguồn nước ngọt trầm trọng. Các hiện tượng xói lở và xâm thực bờ biển, cửa sông sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn Ta có bảng so sánh các vùng chịu ảnh hưởng nặng do nước biển dâng như sau Từ bảng trên ta thấy diện tích Kiên Giang bị ngập cũng khá đáng kể ( chiếm 28.2%) tổng diện tích. Đồng bằng sông Cửu Long trước đây rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong một thập kỷ, năm 1997 đã chịu cơn bảo Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão Durion quét qua.Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lích và đi về hướng đường xích đạo, với nhiệt độ nước biển trên bề mặt tăng, kết quả của dòng hải lưu bị thay đổi bởi biến đổi khí hậu toàn cầu.  Hình 4: Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng 5/2008  Hình 5: cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu Long Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng 5/2008 và hậu quả nặng nề mà cơn bảo đã gây ra là một cảnh báo đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Tàn phá mà đuôi cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ còn lớn lao hơn và khắc nghiệt hơn nhiều nếu mực nước biển dâng lên so với hiện nay . Tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước, như chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước.Ngành Khí tượng Thuỷ văn các tỉnh ĐBSCL còn cho biết: trong các đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 đã làm cho vùng ngoài đê bao 8 tỉnh, thành vùng lũ gồm: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ bị ngập. Ngoài ra, triều cường làm nước sông dâng cao đã làm khoảng 70.000 ha vườn cây ăn trái, hàng trăm km đường nông thôn bị ngập sâu từ 10 – 30 cm. Quốc lộ 53 thuộc địa phận thị trấn huyện Long Hồ cũng bị ngập trên chiều dài 200 mét, sâu 15 cm. Hàng trăm nhà dân chưa kịp tôn nền cũng bị ngập. Trước đó, đợt triều cường kết hợp mưa nhiều thời điểm giữa tháng 12/2008 làm 100.000 ha nằm ngoài các đê bao tại ĐBSCL bị ngập từ 10 – 40 cm, chủ yếu là vườn cây ăn trái. Nước ngập xảy ra ngay trong mùa khô gây trở ngại trong sản xuất, sinh hoạt của người dân sống ngoài vùng đê bao.Vào mùa mưa, trong những năm qua thường đến sớm, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước. Trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1 năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng. Mùa lũ cũng có độ trễ, đỉnh lũ thường xuất hiện muộn. Hàng năm, đỉnh lũ xuất hiện vào cuối tháng 9 đầu tháng 10, thì từ năm 2006 tới giữa tháng 10 mới xuất hiện đỉnh lũ. Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúc triều cường hàng tháng khiến cho vùng hạ lưu nhiều nơi bị ngập.  Hình 5 : bảng đồ thể hiện mực nước ở ĐBSCL Theo dự báo, trong vài chục năm tới, ĐBSCL nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ 15.000 – 20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mê kông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu Giang; thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay. Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó khăn. Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nghề cá. Độ ngập(m)  Hiện trạng  Không có công trình  Có công trình hiện trạng     Nước biển dâng(NBD)0.69  NBD 1m  Nước biển dâng(NBD)0.69  NBD 1m    Diện tích  Diện tích  So với hiện trạng(HT)  Diện tích  HT  Diện tích  HT  Diện tích  HT   H<0.5  1.049  289  -761  51  -998  202  -848  47  -1.002   0.5<H<=1  1.063  645  -418  629  -435  604  -459  496  -567   1<H<=1.5  724  998  274  451  -273  1.007  284  421  -302   1.5<H<=2  459  1.156  697  1.738  1.279  1.270  811  1.880  1.421   2<H<=2.5  288  410  121  568  280  414  126  592  304   2.5<H<=3  212  281  69  323  111  281  69  323  111   H>3  66  84  17  102  36  84  18  102  36   Tổng diện tích ngập >0,5  2.813  3.574   3.812   3.660   3.815    Bảng :thể hiện kết quả tính toán độ ngập và diện tích ngập lũ ở DBSCL Theo kỹ sư Nguyễn Văn Hạnh, dự tần suất bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ vào Kiên Giang trung bình nhiều năm trước đây chỉ có 0,2 cơn/năm. Tuy nhiên xu thế BĐKH toàn cầu và hiện tượng ấm dần lên của trái đất trong những năm gần đây đã làm thay đổi điều đó. Trong 22 năm gần đây (1980-2001), có tất cả 35 cơn bão và ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực từ 13o vĩ Bắc đến khu vực mũi Cà Mau – Kiên Giang và vịnh Thái Lan (tỷ lệ tăng gấp 8 lần trước đây). Gây thiệt hại lớn nhất là cơn bão số 5 năm 1997 có tâm bão đi qua đảo Thổ Chu-Phú Quốc, Kiên Giang và vịnh Thái Lan, làm khoảng 3.000 người chết và mất tích. Kiên Giang đối mặt khô hạn trong “mùa mưa” Tình hình nắng hạn liên tục đã làm khoảng 9000ha của nông dân các vùng U Minh Thượng ( kiên giang) bị chết khô , trong đó có trên 1000ha lúa bị thiệt hại từ 50 – 100%. Kiên Giang thuộc tiểu vùng C nếu chia ĐBSCL chia làm ba tiểu vùng dựa vào kết quả điều tra cơ bản tổng hợp và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế-xã hội ta có thể dự báo định tính tác động của mực nước biển dâng lên ba tiểu vùng như sau.  Hình 6 : tiểu vùng ĐBSCL dưói tác động của nước biển dâng - Tiểu vùng nơi ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế (A): Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mê-kông tràn bờ và tràn đồng vào Đồng bằng sông Cửu Long.Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng nhưng không mạnh như hai tiểu vùng B và C. Do quá trình biển mạnh lên do biển dâng, ranh dưới của tiểu vùng sẽ lùi về phía nguồn, độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng có thể kéo dài hơn. Bồi lở bờ sông, cồn bãi hoạt động mạnh hơn. - Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B): Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa giữa hai quá trình sông và biển, với quá trình biển mạnh lên. Tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn ra biển. Diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại. - Tiểu vùng nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế (C): Kiên Giang và một số tỉnh trong tiểu vùng chịu ành hưởng mạnh của nước biển dâng.Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với Biển Đông và Vịnh Thái Lan.Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò “đệm” giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn. Tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường ranh với tiểu vùng (B) sẽ bị “đẩy lên” về phía nguồn. Quy hoạch thủy lợi, đê bao ven biển cần được tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thủy văn thủy lực trong tiểu vùng. Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước mặn” là chính. Vùng sản xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít. Vì những lý do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ. II.4 Vấn Đề Về Nông Nghiệp Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp và an ninh lương thực, như tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm, gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp . Chuyện đất nóng lên tại Kiên Giang đã được một chuyên gia khí tượng , khí hậu địa phương đưa ra số liệu để chứng minh. “Qua số liệu quan trắc của trạm khí tượng hải văn Phú Quốc – Kiên Giang từ năm 1956 đến năm 1977 (22 năm) so sánh với quãng thời gian 27 nam sau đó (1977 -2003) thì nhiệt độ trung bình tăng lên 0.4 độ C , kỹ sư Nguyễn Văn Hạnh. Sẽ có từ 15.000-20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mê Công giảm từ 2-24% trong mùa khô, tăng từ 7- 5% vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang; thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay.nước mặn từ 6 cửa sông nói trên và cửa Cổ Chiên (thuộc hệ thống sông Mê kông); từ cửa sông Ông Đốc, Cái Lớn đã xâm nhập sâu từ 10 – 60 km đến địa bàn 53 xã thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Hậu Giang. Hiện một số địa phuơng trong vùng ĐBSCL đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ chịu tác động xấu khi chế độ nước ngập sâu bị thay đổi do nước biển dâng cao. Quá trình xâm nhập mặn ở mức độ cao có thể hủy diệt thảm thực vật và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tràm ở Cà Mau, Kiên Giang... Trong tương lai, tổng lượng mưa Hè thu từ 15-5 đến 15-6 sẽ giảm, hạn đầu vụ sẽ gay gắt hơn, lượng mưa giảm dưới từ 5% đến trên 35% và phân bố bất lợi cho sản xuất. Vùng ven biển mưa giảm, khả năng mặn xâm nhập gia tăng. Vùng có nhiệt độ trên 370C trở lên mở rộng. Số ngày nóng trên 400C vào mùa hè nhiều hơn. Diện tích ngập lũ sẽ mở rộng vào năm 2030, nhưng số ngày ngập lũ ở vùng đầu nguồn sẽ giảm và tăng ở khu vực hạ lưu. Tác động này sẽ gây ảnh hưởng tới vùng nuôi tôm ở Bạc Liêu, Cà Mau. Trước sự thay đổi thời tiết khí hậu như trên, những vấn đề về sâu bệnh nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã xuất hiện và diễn biến phức tạp trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản và cả con người: bệnh vàng lá gân xanh trên cây có múi; bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa; bệnh cúm trên gia cầm; bệnh tai xanh trên heo; bệnh đốm trắng ở tôm; bệnh sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng trên người. Tác động của BĐKH đối với lâm nghiệp như hệ sinh thái ven biển ĐBSCL bị ảnh hưởng do làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn...; Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh. Tác động của BĐKH đối với thuỷ sản như nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sản nước ngọt; Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò,...) bị chết do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Mùa mô phỏng  Mùa kiệt 2004  Mùa lũ   Trường hợp  hiện trang  Không có cống ngăn mặn  hiện trạng  Không có cống ngăn mặn   nước biển dâng (m)  0.69  0.69  0.69  0.69    1  1  1  1   Bảng : bài toán mô phỏng xâm nhập mặn và ngập lụt ở DBSCL Tác động của BĐKH đối với giao thông vận tải như làm tăng nguy cơ ngập nước các tuyến giao thông quan trọng, tăng xói lở mặt và nền đường bộ, tăng nguy cơ xói lở và cạn kiệt các luồng đường thuỷ . II.5 Vấn Đề Về Sức Khoẻ Con Người Sự thay đổi về khí hậu có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ theo nhiều phương diện khác nhau ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra những vấn đề về sức khoẻ là các bệnh tật xảy ra do các động vật truyền nhiễm ví dụ như bệnh sốt rét do muỗi truyềnnhiễm. Nếu do sự thay đổi của nhiệt độ trung bình tại những vùng mà muỗi thường sinh sống, sẽ dấn đến sự thay đổ về nơi cư trú của những con vật này, và bệnh sốt rét có thể sẽ xuất hiện ở những vùng mà trước đây chưa từng có, do đó người dân thường không quen với loại bệnh này.Tác động của BĐKH đối với sức khoẻ con người như nhiệt độ tăng, tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh; Làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết, số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan. Làm tăng số người chết do thiên tai; Tăng nghèo đói do giảm thu nhập mất nhà cửa. Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, người già, trẻ em và phụ nữ . III. Vấn Đề Thích Nghi Và Biện Pháp Đối Phó Ở Kiên Giang – ĐBSCL III.1 Sơ Lược Về Thành Tựu Kinh Tế Kiên Giang Kiên Giang tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2008 (tính theo giá so sánh 1994) ước tính đạt trên 15.185 tỷ đồng, tăng 12,60% so với năm 200 Trong đó: Khu vực I (Nông - lâm nghiệp, thủy sản) đạt gần 6.628 tỷ đồng, tăng 11,11%, đóng góp cho mức tăng trưởng chung 4,92 điểm phần trăm; Khu vực II (Công nghiệp, xây dựng) đạt gần 4.713 tỷ đồng, tăng 11,41%, đóng góp cho mức tăng trưởng chung 3,58 điểm phần trăm; Khu vực III (Dịch vụ) đạt gần 3.845 tỷ đồng, tăng 16,84%, đóng góp cho mức tăng trưởng chung 4,10 điểm phần trăm. GDP bình quân đầu người tăng từ 7.907 ngàn đồng năm 2007 lên 8.798 ngàn đồng năm 2008, tăng 891 ngàn đồng (11,27%), tính theo theo đô la Mỹ thì GDP bình quân đầu người đạt 802USD. Trước những thành tựu đó , là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên biện pháp giúp con người thích nghi với điều kiện khí hậu thay đổi để bảo vệ tốc độ tăng kinh tế ,đảm bảo đời sống nhân dân thì cần có giải pháp thích nghi hợp lý với biến đổi và vấn đề đặt ra là : Làm thế nào để thích ứng với biến đổi khí hậu? Thích ứng với biến đổi khí hậu là điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm sự tổn thương đối với dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm năng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể đã tiên lượng được, những tác động của nó trong tương lai là một trong những vấn đề phải tiên đoán. Hơn nữa,những tiên đoán hiện này thường được xem là những thay đổi có phạm vi rộng (Toàn cầu/khu vực/quốc gia), không đi sâu xuống cấp cộng đồng.Điều này làm cho việc phòng ngừa trở nên khó khăn. Ví dụ Thích ứng đến biến đổi khí hậu có thể bao gồm nhiều phản hồi, chẳng hạn như thay đổi a) quản lý thực tế mùa vụ (ví dụ như chọn các cánh đồng, lịch thời vụ, mật độ canh tác, các giống cây trồng, vv...), b) quản lý chăn nuôi thực tế (ví dụ như thức ăn và chăm sóc thú y, thời gian và các địa điểm di cư, vv), c) sử dụng đất đai và quản lý đất đai (ví dụ như diện tích mặt cỏ, trồng cây hoặc bảo vệ, khai thác công trình thủy lợi và nước, bảo tồn đất và nước , thực hành làm đất, quản lý độ phì đất đai, vv .), d) các chiến lược sinh kế (ví dụ như kết hợp với các cây trồng hoặc sản xuất chăn nuôi, kết hợp hoạt động giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp, di dân tạm thời hoặc vĩnh viễn,. Nghiên cứu về tương tác giữa biến đổi khí hậu-sản xuất nông nghiệp đã phát triển từ cách tiếp cận "từ trên xuống" đến cách tiếp cận "từ dưới lên". Chế độ “từ trên xuống” bắt đầu với kịch bản biến đổi khí hậu, và ước tính tác động thông qua phân tích các kịch bản, trên cơ sở đó có thể xác định được sự thực tế của thích ứng. Phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” mang đến một viễn cảnh về tổn thương, nơi chiến lược thích ứng được coi là một quá trình liên quan đến việc hoạch định chính sách kinh tế xã hội và môi trường, nhận thức của các nhà sản xuất, và các thành phần ra quyết định (Bryant et al. 2000; Wall và Smit 2005 và Belliveau et al. 2006). Trong phương pháp tiếp cận dựa trên kịch bản, thích ứng được giả định và được xử không thay đổi như là các điều chỉnh ký thuật cơ bản (ví dụ, để thay đổi các cây trồng khác nhau, áp dụng hiệu quả .hệ thống thủy lợi, hoặc thay đổi hệ thống sản xuất) để xác định những tác động. Hầu hết các thích ứng đại điện có thể có hoặc có tiềm năng áp dụng các biện pháp, chứ không phải là các biện pháp đã thực sự được áp dụng. Thật vậy, không có bằng chứng rằng các lựa chọn thích ứng là khả thi, thực tế hoặc thậm chí khả năng có thể xảy ra. Hơn nữa, chúng cũng chỉ có thể có được đầy đủ và chính xác với những kiến thức về tương lai của điều kiện khí hậu, đó là lý do tại sao họ áp dụng tên cho kịch bản là " người nông dân thông thái " (Risbey et al. 1999 trích dẫn của Belliveau et al. 2006). Cách tiếp cận này có thể được tìm thấy trong phân tích không gian, mô hình khí hậu tác động. Kiên Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung thì khi nghiên cứu về khí hậu tác động bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” dự báo các tác động trên các lĩnh vực nông nghiệp. Phân tích “Từ trên xuống” tác động biến đổi khí hậu có thể được kết hợp với kịch bản của thích ứng với biến đổi khí hậu. Chiến lược thích ứng và giảm thiểu được xác định dựa trên : a) phân tích tác động biến đổi khí hậu, b) và nghiên cứu có sự tham gia ở qui mô các hộ gia đình và cộng đồng ; c) kết quả đầu ra từ các diễn đàn người có liên quan, nhóm các chuyên gia tư vấn bởi các nhà hoạch định chính sách, các quan chức chính phủ, tổ chức có liên quan có thể được mô phỏng qua mô hình để đánh giá các chi phí và lợi ích của việc thay thế thích ứng chiến lược, bao gồm cả các cải tiến trong sản xuất nông nghiệp, thay đổi trong thực tiễn quản lý, và đầu tư vào thuỷ lợi, đường giao thông, thuỷ điện và các ngành phụ trợ. Đánh đổi giữa giảm thiểu, thích ứng, môi trường và mục tiêu năng suất cần phải được thẩm định cẩn thận trong điều kiện tiền tệ. * Sau đây là một số ví dụ như: - Các biện pháp giảm thiểu rủi ro chung và cụ thể Do hiện tượng thời tiết khắc nghiệt ngày càng trở nên khó tiên đoán được, nên cần phải có cả những biện pháp giảm thiểu rủi ro chung và cụ thể. Ví dụ: biện pháp giảm thiểu rủi ro cụ thể do lụt gây ra là làm con đập. Nhưng con đập chỉ là biện pháp để giảm thiểu rủi ro của một loại thiên tai nhưng lại không thể giảm thiểu rủi ro của loại thiên tai khác, như hạn hán chẳng hạn. Trong tình huống, các thiên tai xảy ra trong tương lai có thể khác với quá khứ, quan trọng là, phải có những biện pháp góp phần đem lại sự an toàn cho con người trước mọi loại hình thiên tai. Ví dụ: thành lập và đào tạo một đội ứng phó cứu hộ cứu nạn khẩn cấp, hoặc đa dạng hoá nguồn thu nhập/sinh kế. - Kết hợp các công cụ hiện có với kiến thức và biên pháp mới Ở một quốc gia như Việt Nam, người dân đã quen với những thiên tai thường xuyên xảy ra, người dân cũng đã thường có kiến thức và kinh nghiệm của địa phương để tiên đoán và đương đầu với thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên, do sự biến đổi của khí hậu sẽ có thể sẽ gây ra những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, nên kiến thức hiện có của người dân địa phương có thể sẽ không còn phù hợp nữa. Những thích ứng của địa phương cần phải được bổ xung bằng những biện pháp mới, như thiết lập hệ thống cảnh báo sớm dựa trên những dự đoán của các trạm/Viện Khí tượng Thuỷ văn . - Các biện pháp thích ứng có thể rất đơn giản Mặc dù biến đối khí hậu là ‘mới’, những các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn đang hiện có, là những biện pháp khá đơn giản:Tại một ngôi làng ở Băng la đet, nuôi gà mang lại nguồn thu nhập quan trọng. Tuy nhiên, trong hơn mấy thập kỷ qua, ngôi làng đã phải hứng chịu nhiều trận lụt và cứ mỗi lần như thế nhiều con gà đã bị chết. Sau đó, một người phụ nũ đã tìm ra giải pháp và làm gương cho dân làng noi theo để khiến lụt lội không làm ảnh hưởng đến kế sinh nhai của họ nữa: thay vì nuôi gà, bà bắt đấu nuôi vịt. Biện pháp nảy có thể có ích cho vùng Kiên Giang nước ta khi mà nơi người dân đã sống quen với khí hậu và có kinh nghiệm lâu năm. Và đặc trưng của vùng sông nước nên việc xây dựng nhà cửa cũng có chi phí không đáng kể .Rút kinh nghiệm những mùa nước nổi , hạn bố trí cây trồng , canh tác hoa màu phù hợp giúp giảm nhẹ thiệt hại do khí hậu mang lại.. Ngoài ra xuồng ghe là phương tiện không thể thích trong mùa mưa lũ ở vùng này ,nên việc trang bị nó là không thể thiếu khi nước lũ đến. - Bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp ĐBSCL là vùng đất thấp nên hằng năm vào mùa nắng đều có nước mặn xâm nhập vào sâu trong nội đồng. Người dân sống ở vùng ven biển đã có kinh nghiệm bố trí cây trồng, vật nuôi trong những hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện đất đai chỉ có nước ngọt trong mùa mưa, bị mặn xâm nhập vào mùa nắng. Một số hệ thống canh tác mà nông dân ở vùng này đang sử dụng như: ngăn mặn triệt để, không cho nước mặn vào ruộng trong mùa nắng để trồng lúa, rau, màu... trong mùa mưa; đào mương, lên liếp trữ nước mưa trong mương vườn vào mùa nắng để trồng cây ăn trái, cây công nghiệp quanh năm; cho nước mặn vào ruộng để nuôi tôm cá nước mặn trong mùa nắng sau đó rửa mặn để trồng lúa trong mùa mưa. Chiến lược thích ứng đã thành công tại Việt Nam gồm: quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng; các giống lúa ngắn ngày ở đồng bằng sông Cửu Long; thành công ở qui mô trang trại trong đa dạng hóa nông nghiệp chuyển đổi lúa-tôm ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, hỗ trợ một cách linh hoạt các công trình cho phép kiểm soát cả nước ngọt và nước lợ; bảo vệ rừng phòng hộ ngập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long; và "cuộc cách mạng về bơm nước ngầm" ở Việt Nam, cho phép kịp thời phân phối nước cho cây trồng. III.2 Biện Pháp Đối Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ứng phó với mực nước biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng... chẳng những của ĐBSCL mà còn của cả nước. Các địa phương phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất”. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân gợi ý các nhiệm vụ cần triển khai như: nâng cao nhận thức của người dân về ứng phó với biến đổi khí hậu; xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu cần thiết; Nhà nước cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các đề tài khoa học... Theo Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đức Ngữ, Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn và Môi trường, để giảm nhẹ khả năng bị tổn hại do BĐKH gây ra, cần có sự điều chỉnh ở các hoạt động kinh tế, xã hội... Các hoạt động ứng phó với BĐKH phải được triển khai ngay từ bây giờ và phải được lồng ghép với kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, địa phương... Các giải pháp chiến lược ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực Tài nguyên nước; Tác động của nước biển dâng; Tài nguyên đất; Môi trường; và Các hệ sinh thái. Các giải pháp chiến lược ứng phó với BĐKH trong các ngành Năng lượng; Xây dựng; Giao thông vận tải; Y tế; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Tài nguyên và môi trường; Du lịch; Lao động và thương binh xã hội. Các nhà khoa học cũng đề xuất một số giải pháp thủy lợi khả thi như: làm đê bao kết hợp hệ thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay tại ĐBSCL trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất; ứng dụng công nghệ vật liệu mới vào xây dựng các công trình để giảm chi phí... Ngoài ra, những hành động đơn giản cũng sẽ góp phần giảm nhẹ tác động của BĐKH. Thạc sĩ Nguyễn Thị Nghiệm, Trưởng phòng Tổng hợp ĐTM (Báo cáo đánh giá tác động môi trường), Chi cục bảo vệ Môi trường tỉnh Tiền Giang, chia sẻ: “Tỉnh Tiền Giang đã nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động của cộng đồng bằng cách giáo dục, tuyên truyền bảo vệ môi trường trong học đường, trong cộng đồng; tổ chức tập huấn, tuyên truyền, phát tờ rơi liên quan đến BĐKH. Qua đó, một bộ phận nhân dân đã có sự thay đổi rõ rệt trong hành vi, lối sống. Nhiều người sử dụng xe đạp, xe buýt thay vì sử dụng xe gắn máy; sử dụng bóng đèn ít tiêu hao điện năng; thêm nhiều hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas để tự sản xuất gas đun nấu và phát điện trong gia đình; một số hộ dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời; việc trồng hàng rào cây xanh, hoa, kiểng ở gia đình và nơi công cộng gia tăng... Để đối phó với biến đổi khí hậu theo ông Andreas Zurbgg (Bí thư Thứ nhất, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam) cho biết Kiên Giang là một tỉnh ven biển phía Tây ĐBSCL, qua Dự án GTZ do Chính phủ Úc tài trợ tại Kiên Giang chúng ta xác định được mô hình tốt nhất, tìm ra được những vấn đề phải quan tâm để thực hiện dự án ở giai đoạn tiếp theo bằng những giải pháp như ngoài việc xây dựng đê phải tăng cường trồng rừng, nhất là rừng ngập mặn, vì nếu không có rừng ngập mặn thì cũng khó bảo vệ được đê. Và nếu xây dựng đê thì phải đê loại nào, xây dựng ra làm sao thì giai đoạn I đã xác định được điều đó. Trên cơ sở sáng kiến sẵn có của Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng đê, trong chuyến khảo sát lần này cũng đã giúp chúng tôi thu thập thông tin, để xây dựng được mô hình tốt nhất tư vấn cho cơ quan chức năng và Chính phủ Việt Nam có chính sách phù hợp mang tính bền vững, trong đó có cả chính sách trồng rừng ngập mặn, xây dựng đê biển… để áp dụng tốt cho từng khu vực cũng như ở Kiên Giang thực hiện giai đoạn tiếp theo. Lồng ghép thích ứng BĐKH vào các chính sách phát triển ở địa phương. Hiện tại, cơ sở hạ tầng nhằm thích ứng với BĐKH bao gồm bảo vệ đê biển, các đường giao thông khẩn cấp, các cửa hàng thực phẩm…nên được ưu tiên trong kế hoạch và chiến lược phát triển của các lĩnh vực và các đơn vị cùng với sự tham gia của các ngành có liên quan. Làm cho cả xã hội nhận thức đầy đủ về tính tất yếu Việt Nam phải ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng, và tác động của nó, từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng; Xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu triển khai cần thiết: Lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn của các vùng ven biển, các vùng trũng; lập bản đồ các vùng địa mạo không ổn định do phá rừng và do biển dâng Phân định các tiểu vùng A, B, C của đồng bằng sông Cửu Long theo các phương án biển dâng; mô phỏng các tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho việc ứng phó, trên từng địa bàn trong từng phương án mực nước biển dâng. Phân vùng thủy văn - thủy lực các tiểu vùng theo các phương án mức nước biển dâng. Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe dọa do biển dâng. Hợp lý hóa hệ thống giao thông thủy bộ, kết hợp với các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thủy lợi; Nâng cao công nghệ hạn chế xâm thực bờ biển, công nghệ xây dựng trên nền đất yếu, bị ngập nước; các vật liệu nhẹ, bền trong môi trường nước lợ và mặn; Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, cao thân, .. Thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với bối cảnh mới trong từng tiểu vùng; Đề xuất những mô hình công nghiệp hóa trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập giảm, khan hiếm nước ngọt, ...) vì sự phát triển bền vững; Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và hoàn cảnh mới. Ngoài phưong thức quần cư trong đê bao (như ở Sa-rài), trong cụm dân cư vượt lũ, nghiên cứu hiện đại hóa nhà sàn, thiết kế các nhà nổi và khu dân cư nổi; Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư và lực lượng sản xuất khác; dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí; Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phát huy đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo, đến mô phỏng và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức; Thiết lập ở các trường đại học các khoa, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về biến đổi khí hậu và biển dâng nhằm đào tạo một nguồn nhân lực cho lâu dài cho đất nước; Đào tạo thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài mà thực tế đặt ra. Về mặt quản lý nhà nước: Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này. Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc bờ biển miền Trung những nơi bị đe dọa xâm thực, và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn trên từng độ cao mà không làm tổn hại đến sự ổn định của địa mạo; Xác định các địa bàn cư trú mới tiềm năng, mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng; Quản lý nghiêm việc khai thác và bảo vệ các tầng nước ngầm ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long; Tổng kết việc xây dựng các cảng biển trong thời gian qua dọc duyên hải miền Trung; đề xuất xây dựng đồng bộ một số cảng biển nước sâu, được che chắn tốt, tồn tại bền vững; Cần quy định từ nay mọi quy hoạch, dự án ở những vùng ven biển, cửa sông đều phải tính tới yếu tố ổn định của địa mạo và yếu tố biển dâng một cách tường minh; Cần rà soát lại các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành tại các đại bàn phải đối mặt với biển dâng; Cần có tầm nhìn và quy chế phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, trung ương-địa phương (nhất là giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, giữa Duyên hãi miền Trung với Tây Nguyên, ...) để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển một bộ phận nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất. Thách thức biển dâng phải chăng chính là thời cơ thúc đẩy Nhà nước suy tính sâu sắc hơn việc quản lý kinh tế theo vùng lãnh thổ? Mọi quy hoạch cần được phản biện nghiêm túc, đặc biệt các quy hoạch các vùng duyên hải và cận duyên, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước tại những địa bàn được dự báo có nhiều khả năng bị tổn thương do biển dâng, bảo đảm công trình bền vững, đạt hiệu quả tổng hợp cao. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu được cập nhật liên quan đến biến đổi khí hậu và biển dâng ở Việt Nam; hợp tác trong công tác đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên cứu những đề tài khoa học đặt ra cho khu vực và thế giới. Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về đa dạng sinh học và những hiệp định quốc tế khác có liên quan. Vì vậy, và để thực thi các nội dung đã được đề cập trên đây, cần thể chế hóa các chính sách liên quan đến giảm thiểu biến đổi khí hậu và biển dâng và các hệ quả của chúng vào các luật và bộ luật. Giám sát việc thực thi pháp luật đã ban hành.  Sử dụng các nguồn năng lượng tái chế như năng lượng mặt trời , năng lượng sóng , năng lượng sinh học nhằm giảm bớt khí gây hiệu ứng nhà kính. Tóm lại biến đổi khí hậu là vần đề không chỉ riêng của mỗi quốc gia mà còn là vấn đề môi trường toàn cầu , chiến lược và hành động giảm thiểu, thích nghi của quốc gia trước hiện tượng nước biển dâng, có thể thấy rõ rằng mặc dù hiểu biết của xã hội về biến đổi khí hậu và tác động của nó ngày một tăng, nhưng rất ít quốc gia áp dụng các biện pháp phù hợp để hạn chế các tổn thất về kinh tế mà hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra. Điều bất cập cố hữu ấy là kết quả của việc áp dụng thiếu hiệu quả các kiến thức khu vực và toàn cầu vào quy mô quốc gia và địa phương nhằm làm hài hòa các yêu cầu của quy hoạch phát triển.Và một biện pháp nữa là mỗi chúng ta hãy sống than thiện với môi trường , giữ gìn môi trường là giữ gìn cuộc sống của mỗi chúng ta. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. 2. 3. 4. 5. www.vietbalo.vn/Gioi_thieu_chung.aspx?M=Mi%E1%BB%81n%20Nam&T=Ki%C3%AAn%20Giang%20-%20Ph%C3%BA%20Qu%E1%BB%91c 6. 7. 8. 9. 10. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ……………………………………………………… .1 I. Khái Quát Chung Về BĐKH Ờ Việt Nam…………………….........2 II. Kiên Giang- Vùng Đất ĐBSCL Chịu Ảnh Hưởng BD9KH……….3 II.1 Khái Quát Về Tỉnh Kiên Giang…………………………………5 II.2 Tác Động Của BĐKH Đến Kiên Giang- Vùng Đất ĐBSCL….............................................................................................9 II.3 Vấn Đề Về Lũ, Bảo, Hạn Hán, Nước Biển Dâng ……………………………………………………………………….11 II.4 Vấn Đề Về Nông Nghiệp …………………………………….....19 II.5 Vấn Đề Về Con Người ………………………………………...20 III. Vấn Đề Thích Nghi Và Biện Pháp Đối Phó Với BĐKH Ở Kiên Giang –ĐBSCL …………………………………………………………….................21 III.1 Sơ Lược Về Thành Tựu Kinh Tế Kiên Giang……………........21 III.2 Các Biện Pháp Đối Phó Với BĐKH ………………………......25 Tài Liệu Tham Khảo …………………………………………….........32

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docẢnh hưởng của biến đổi khí hậu và thích nghi ở kiên giang.doc
Luận văn liên quan