Báo cáo Thực tập tổng hợp tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông quận Hải Châu TP Đà Nẵng

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ,có những đặt thù riêng trong hoạt động kinh tế tài chính. Cũng giống như các doanh nghiệp phi tài chính,các ngân hàng thương mại luôn phải đối đầu với những thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặt biệt,có liên quan hầu hết đến các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Đặt biệt trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đang hội nhập và hòa nhập cùng với nền kinh tế thế giới vì vậy vai trò của NHTM ngày càng quan trọngPHẦN I:GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT HẢI CHÂU_THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG PHẦN II:PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT HẢI CHÂU_TP ĐÀ NẴNG PHẦN III:ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT HẢI CHÂU_TP ĐÀ NẴNG

doc32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/05/2013 | Lượt xem: 3581 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Thực tập tổng hợp tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông quận Hải Châu TP Đà Nẵng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
am, ngoại tệ thông qua tiền gửi của khách hàng. -Sử dụng vốn bằng đồng Việt Nam và ngoai tệ: cung cấp tín dụng ngắn hạn – trung hạn – dài hạn, cho vay tiêu dùng phục vụ đời sống, cho vay cầm cố các chứng từ có giá, tài trợ các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, hùn vốn. -Các dịch vụ trung gian: thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán toàn cầu SWIFT, kinh doanh mua bán ngoại tệ và làm dịch vụ kiều hối, thực hiện các dịch vụ bảo lãnh như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo hành công trình, bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh vay vốn trong nước và ngoài nước..., thanh toán chuyển tiền điện tử. 1.3 Bộ máy tổ chức của cơ sở thực tập: NHNo&PTNT Hải Châu là đơn vị hạch toán phụ thuộc của NHNo&PTNT Việt Nam, có đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 64 người. Ban giám đốc gồm 3 người, có các phòng: Phòng Kế toán ngân quỹ, Phòng kế hạch kinh doanh, Phòng tổ chức hành chính, Phòng dịch vụ &Marketing, Phòng kinh doanh ngoại hối, Phòng kiểm soát nội bộ và 4 phòng giao dịch. 1.3.1 Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý: Phó giám đốc Giám đốc Phó giám đốc Phòng kế hoạch kinh doanh Phòng kinh doanh ngoại hối Phòng kế toán ngân quỹ Phòng kiểm soát nội bộ Phòng dịch vụ & Mar Phòng tổ chức hành chính PGD Hòa Cường PGD Nguyễn Tri Phương PGD Nguyễn Văn Linh PGD 2/9 1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban: Chức năng của Ban Giám Đốc: Giám đốc phụ trách chung và phụ trách công tác kế hoạch kinh doanh, kiểm tra kiểm toán nội bộ và tổ chức cán bộ, chỉ đạo các phòng ban và đôn đốc các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Phó giám đốc phụ trách công tác tín dụng ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Phó giám đốc phụ trách công tác tín dụng nội tệ. Nhiệm vụ của các phòng: Phòng kế hoạch-kinh doanh: Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng. Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao. Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền. Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án trong nước, nước ngoài. Trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc Chính phủ, bộ, ngành khác và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước. Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục. Giúp Giám đốc chi nhánh chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh trực thuộc trên địa bàn. Tổng hợp, báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định Lập kế hoạch cân đối nguồn vốn, theo dõi thực hiện các phương án kinh doanh, thanh toán quốc tế và kinh doanh đối ngoại, cho vay các thành phần kinh tế. Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay ngắn, trung, dài hạn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Phòng kiểm soát nội bộ: giám sát kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động nghiệp vụ trong nội bộ của chi nhánh NHNo&PTNT Hải Châu. Xây dựng công trình công tác năm, quý phù hợp với chương trình công tác kiểm tra, kiểm toán của Ngân hàng No&PTNT VN và đặc điểm cụ thể của đơn vị mình. Tuân thủ tuyệt đối sự chỉ đạo nghiệp vụ kiểm tra, kiểm toán. Tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm toán theo đề cương, chương trình công tác kiểm tra, kiểm toán của Ngân hàng No&PTNT VN và kế hoạch của đơn vị, kiểm toán nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngay tại hội sở và các chi nhánh phụ thuộc. Thực hiện sơ kết, tổng kết chuyên đề theo định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng, năm. Tổ chức giao ban hàng tháng đối với các kiểm tra viên chi nhánh ngân hàng cấp 2. Tổng hợp và báo cáo kịp thời các kết quả kiểm tra, kiểm toán, việc chỉnh sửa các tồn tại thiếu sót của chi nhánh, đơn vị mình theo định kỳ gửi tổ kiểm tra, kiểm toán văn phòng đại diện và ban kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Hàng tháng có báo cáo nhanh về các công tác chỉ đạo điều hành hoạt động kiểm tra, kiểm toán của mình gửi về ban kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Tổ chức kiểm tra, xác minh, tham mưu cho giám đốc giải quyết đơn thư thuộc thẩm quyền. Làm nhiệm vụ thường trực ban chống tham nhũng, tham ô, lãng phí và thực hành tiết kiệm tại đơn vị mình Phòng kế toán- ngân quỹ: Hạch toán kế toán toàn bộ hoạt động kinh doanh và tài sản của ngân hàng, quản lý quỹ: nội tệ, ngoại tệ, vàng bạc kim loại quí, bảo quản hồ sơ pháp lý của khách hàng, bảo quản giấy tờ có giá và các giấy tờ khác liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố; thực hiện các nghiệp vụ thu chi tiền mặt. Phụ trách lĩnh vực công nghệ thông tin cho mọi hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng nông nghiệp như: tổ chức mạng, ứng dụng các phần mêm quản lý, lưu trữ cơ sở dữ liệu, xử lý các sự cố về CNTT… Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, và thanh toán theo quy định của NHNN, Ngân hàng No&PTNT VN. Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính, quỹ tiền lương đối với các chi nhánh trên địa bàn trình Ngân hàng Nông Nghiệp cấp trên phê duyệt. Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của Ngân hàng No&PTNT trên địa bàn. Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về kế hoạch, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định. Thực hiện các khoản nộp NSNN theo luật định. Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước. Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ theo quy định. Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của Ngân hàng No&PTNT VN. Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra chuyên đề. Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh. Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ tín dụng và các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và cung cấp các số liệu, thông tin theo quy định. Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị tin học. Trực tiếp triển khai nghiệp vụ thẻ trên địa bàn theo quy định của Ngân hàng No&PTNT VN. Thực hiện quản lý, giám sát nghiệp vụ thanh toán thẻ theo quy định của Ngân hàng No&PTNT VN. Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh phát triển mạng lưới đại lý và chủ thẻ. Quản lý giám sát hệ thống thiết bị đầu cuối, giải đáp thắc mắc của khách hàng, xử lý tranh chấp, khiếu nại phát sinh có liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ thuộc địa bàn phạm vi quản lý. Phòng tổ chức hành chính: Quản lý công tác cán bộ, tham mưu cho lãnh đạo về công tác đào tạo, điều động bố trí cán bộ, thực hiện công tác lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, y tế theo qui định của nhà nước. Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, quý của chi nhánh và có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc việc thực hiện chương trình đã được giám đốc chi nhánh phê duyệt. Triển khai chương trình giao ban nội bộ chi nhánh và các nhánh Ngân hàng No&PTNT trực thuộc trên địa bàn. Trực tiếp làm thư ký tổng hợp cho Giám đốc Ngân hàng No&PTNT. Tư vấn pháp chế trong việc thực thi các nhiệm vụ cụ thể về giao kết hợp đồng, hoạt động tố tụng, tranh cấp dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính liên quan đến cán bộ, nhân viên và tài sản của chi nhánh. Thực thi pháp luật có liên quan đến an ninh, trật tự, phòng cháy, nổ tại cơ quan. Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế của Ngân hàng No&PTNT VN. Đầu mối giao tiếp với khách đến làm việc, công tác tại chi nhánh. Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh, thực hiện công tác hành chính, văn thư, lễ tân, phương tiện giao thông, bảo vệ, y tế của chi nhánh. Thực hiện công tác xây dựng cơ bản, sửa chữa TSCĐ, mua sắm công cụ lao động, quản lý nhà tập thể, nhà khách, nhà nghỉ của cơ quan. Đầu mối trong việc chăm lo đời sống vật chất, văn hóa – tinh thần và thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ cán bộ, nhân viên. Xây dựng quy định lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng, công đoàn, chi nhánh trực thuộc trên địa bàn. Đề xuất định mức lao động, giao khoán quỹ tiền lương đến các chi nhánh Ngân hàng No&PTNT trực thuộc trên địa bàn theo quy chế khoán tài chính của Ngân hàng No&PTNT VN. Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác, học tập trong và ngoài nước. Tổng hợp, theo dõi thường xuyên cán bộ, nhân viên được quy hoạch, đào tạo. Đề xuất, hoàn thiện và lưu trữ hồ sơ theo quy định của Nhà nước, Đảng, NHNN trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, nhân viên trong phạm vi phân cấp ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng No&PTNT VN. Trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ thuộc chi nhánh quản lý và hoàn tất hồ sơ, chế độ đối với cán bộ nghỉ hưu, nghỉ chế độ theo quy định của Nhà nước, của ngành ngân hàng. Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng của chi nhánh, chấp hành công tác báo cáo thống kê, kiểm tra chuyên đề. Phòng kinh doanh ngoại hối: thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế như mở L/C, nhận L/C, mua bán ngoại tệ với khách hàng, chuyển tiền vào tài khoản của đơn vị, huy động vốn bằng ngoại tệ. Phòng dịch vụ và Marketing: tìm kiếm, mở rộng thị trường các dịch vụ, thực hiện các dịch vụ cho khách hàng như mở thẻ, mobile banking… Các phòng giao dịch: có chức năng huy động cho vay và các dịch vụ khác, được giao nhiệm vụ huy động vốn theo sự ủy nhiệm của giám đốc dưới các hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, đầu tư kinh doanh trực tiếp đến các hộ sản xuất kinh doanh theo đúng điều lệ, chế độ, ngành theo luật định 1.4 Các hoạt động chính của NHNo&PTNT_TP Đà Nẵng: 1.4.1. Hoạt động huy động vốn - Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và TCTD khác dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, các loại tiền gửi khác trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. - Tiếp nhận các nguồn tài trợ, vốn ủy thác của Chính Phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. - Được phép vay vốn của các TCTC, TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và TCTD nước ngoài khi được Tổng giám đốc NHNN&PTNT Việt Nam cho phép bằng văn bản. - Các hình thức huy động khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. - Việc huy động vốn có thể bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng và các công cụ khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. 1.4.2. Hoạt động cho vay - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. - Cho vay trung-dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. 1.4.3. Hoạt động kinh doanh ngoại hối - Huy động vốn và cho vay, mua, bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, chiết khấu, và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính Phủ, NHNN và NHNN&PTNT Việt Nam. 1.4.4. Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Cung ứng các phương tiện thanh toán. - Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng - Thực hiện các dịch vụ thu-chi hộ - Thực hiện các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng - Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. 1.4.5. Kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác Kinh doanh các dịch vụ bao gồm: thu, phát tiền mặt, mua bán vàng bạc, dịch vụ thẻ, cho thuê két sắt, nhận bảo quản, cất giữ, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, thẻ thanh toán, nhận ủy thác cho vay các TCTC, cá nhân trong và ngoài nước, đại lý cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. PHẦN II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT HẢI CHÂU_TP ĐÀ NẴNG 2.1 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong giai đoạn 2007-2009 2.1.1 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẵng qua các năm 2007-2009: 2.1.1.1 Khái niệm về huy động vốn: Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và thiếu vốn, ngân hàng thương mại đã biết điều hoà mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, và các nghiệp vụ của mình huy động các nguồn vốn trong xã hội. Thực chất, nghiệp vụ huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất. Muốn thực hiện tốt công tác này thì ngân hàng cần có những bước phân tích hai chủ thể chính trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất hình thành nên nghiệp vụ này là ngân hàng và khách hàng. Trong hoạt động huy động vốn quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể có liên quan được quy định như sau: Về phía ngân hàng Quyền mà ngân hàng có được khi khách hàng mở tài khoản tiền gửi ở ngân hàng mình là được phép chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số dư tiền gửi mà khách hàng đã chuyển vào tài khoản. Nghĩa vụ của khách hàng phát sinh cùng với việc thực hiện nghiệp vụ này là phải đảm bảo an ninh cho số tiền đó. Khi đến hạn ngân hàng phải trả gốc và lãi cho chủ tài khoản đó. Ngân hàng sẵn sàng trả lãi cho số dư tiền gửi của khách hàng mà không hề lấy chi phí đảm bảo vì mục đích của ngân hàng không phải là thu tiền dịch vụ gửi giữ mà là thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình. Về phía khách hàng Việc mở tài khoản tiền gửi sẽ làm phát sinh tư cách chủ tài khoản, số dư trên tài khoản thực chất là khoản có phải đòi của khách hàng đối với khách hàng, đồng thời là khoản nợ phải trả của ngân hàng đối với khách hàng. Nếu khách hàng chấp nhận tài khoản tiền gửi ở ngân hàng, điều đó có nghĩa là với tư cách chủ nợ của ngân hàng, khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng hoàn trả toàn bộ số tiền đã gửi kèm theo lãi đã thỏa thuận. Như vậy, trong nghiệp vụ huy động vốn khách hàng và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Quyền lợi của đối tượng này chính là nghĩa vụ phải thực hiện của đối tượng kia. 2.1.1.2 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẵng qua các năm : Ngân hàng hoạt động không phải bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu bằng nguồn vốn huy động, do vậy hoạt động huy động vốn luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm và ưu tiên hàng đầu. Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng tạo nên nguồn vốn cho Ngân hàng, trong thời gian qua để phát triển nguồn vốn tại chỗ phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Đà Nẳng, Ngân hàng đã tiếp tục đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như: phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi KBNN…,mở rộng mạng lưới huy động vốn ở những địa bàn kinh tế trọng điểm, xây dựng và điều hành chính sách lãi suất huy động một cách hợp lý và linh hoạt, luôn đảm bảo các lợi ích cho người gửi…nên tổng số nguồn vốn huy động của Ngân hàng luôn tăng trưởng qua các năm. Chi nhánh Hải Châu_TP Đà Nẳng với vị trí địa lý thuận lợi, trong khu dân cư, nơi có nhiều doanh nghiệp hoạt động, nền kinh tế đang phát triển mạnh cùng với việc ngân hàng chủ động nâng cao các chính sách huy động và dịch vụ, đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, nhiệt tình. Ngân hàng đã có những thành tựu đáng kể trong công tác huy động vốn của mình. Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn của Ngân Hàng qua các năm 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng) CHỈ TIÊU Năm 2007 Năm 2008 Tăng/giảm Năm 2009 Tăng/giảm Tổng nguồn vốn 794.599 946.69 +152.091 1.544.719 +598,029 Vốn huy động 657.310 828.375 +171.065 1.284.620 +456,245 Tỷ lệ % 82.72% 87.5% 83.16% (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẵng) Qua bảng trên ta thấy so với tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh thì lượng vốn huy động của chi nhánh ngày càng tăng. Tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn năm 2008 là 87,50%, tăng 26,03% so với năm 2007. Sang năm 2009 tăng 456.245 triệu đồng tương đương 55,08% so với năm 2007 và chiếm tỷ trọng trong tổng nguồn vốn là 83,16%. Nếu so sánh với năm 2007 thì vốn huy động năm 2009 tăng 627.310 triệu đồng, tương đương 95,44% Nhìn vào mặt bằng chung thì lượng vốn huy động của ngân hàng đều tăng qua các năm, tuy nhiên qua số liệu trên bảng 1.1 ta thấy vốn huy động trong năm 2008 tăng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Qua năm 2009, tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động phức tạp như: chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trong các tháng đầu năm, lãi suất huy động và cho vay thay đổi liên tục…, những khó khăn đó đã ảnh hưởng đến lượng vốn huy động của chi nhánh, tỷ trọng nguồn vốn huy động trên tổng nguồn vốn so với năm 2008 giảm 4,34. Tuy nhiên mức huy động của chi nhánh không giảm mà ngược lại vẫn giữ vững và tiếp tục tăng. Điều đó cho thấy chi nhánh đã thực hiện rất thành công công tác và chính sách huy động vốn, thu hút được nhiều nguồn khác nhau, giúp chi nhánh có vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình và khẳng định huy động vốn là nguồn quan trọng bậc nhất cho hoạt động của chi nhánh. 2.1.1.3 Nguồn vốn huy động và các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của chi nhánh trong thời gian vừa qua: Nguồn vốn huy động: gồm các khoản như tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức và cá nhân, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, vốn huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi… Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và TCTD khác dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, các loại tiền gửi khác trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ. -Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. -Tiếp nhận các nguồn tài trợ, vốn ủy thác của Chính Phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. -Được phép vay vốn của các TCTC, TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và TCTD nước ngoài khi được Tổng giám đốc NHNN&PTNT Việt Nam cho phép bằng văn bản. -Các hình thức huy động khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. -Việc huy động vốn có thể bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng và các công cụ khác theo quy định của NHNN&PTNT Việt Nam. Nhân tố ảnh hưởng: Nhân tố khách quan:là những nhân tố bên ngoài, nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng. Đối vối nhóm nhân tố này Ngân hàng cần thích ứng một cách tốt nhất. Nó bao gồm có chính trị văn hóa, pháp luật, môi trường kinh tế và công nghệ. Nhân tố chủ quan: bao gồm các nhân tố bên trong, nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng, chiến lược với nhóm nhân tố này là xác định và phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu. Nhóm nhân tố này bao gồm giá cho dịch vụ của Ngân hàng, con người, chi nhánh, dịch vụ và quy trình. 2.1.2 Kết cấu nguồn vốn huy động: 2.1.2.1 Phân theo thành phần kinh tế: Đối với nghiệp vụ huy động vốn, việc xác định một cách chính xác, đầy đủ và trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn là vô cùng quan trọng, bởi vì nó liên quan đến hàng loạt các yếu tố, nội dung của việc hoạch định chính sách huy động vốn, kế hoạch hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xác định được nguồn vào từ đó sẽ điều tiết được luồng tiền sao cho hợp lý, đảm bảo được tính thanh khoản ở mức cao nhất. Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế được thể hiện dưới bảng sau: Bảng 1.2: Nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế (Đơn vị tính :triệu đồng) CHỈ TIÊU Năm 2007 Năm 2008 Tăng/Giảm Năm 2009 Tăng/Giảm Tiền gửi dân cư 206.210 226.575 +20.365 262.543 +35.968 Tiền gửi của TCKT 104.887 183.364 +78.477 148.988 -34.376 Tiền gửi của TCTD 20.678 11.308 -9.37 3.104 -8.204 Huy động vốn TW 325.535 407.128 +81.953 869.985 +462.857 Tổng 657.310 828.375 +171.065 1284.620 +456.245 (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẳng) Nhìn một cách tổng thể, trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được thì nguồn tiền do huy động của trung ương và tiền gửi từ dân cư chiếm tỉ lệ cao trong nguồn vốn huy đông của ngân hàng chiếm từ 80-90%.Phần còn lại là tiền huy động từ các tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng. Nguồn tiền huy động từ trung ương và tiền gửi của dân cư luôn duy trì ổn định qua các năm.Đăt biệt là nguồn tiền huy động từ trung ương,năm 2008 tăng 81.593 triệu đồng so với năm 2007 tương đương 25,06% ,năm 2009 tăng 113,69% so với năm 2008 và chiếm 67,72% trong tổng nguồn vốn huy động. Bên cạnh đó tiền gửi từ dân cư vào chi nhánh cũng tăng đáng kể.Năm 2007 là 31,37%,năm 2008 là 27,35% và năm 2009 là 20,44% trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Có thể nói đây là hai nguồn tiền duy trì sự hoạt động của ngân hàng. Từ bảng số liệu trên ta thấy số vốn mà ngân hàng huy động từ trung ương trong tổng số vốn huy động là rất cao do trong những năm trở lại đây địa bàn Đà Nẳng hoạt động,xây dựng và phát triễn rất mạnh nên số vốn cần có để nhà nước cũng như tư nhân cần để phất triễn cũng rất nhiều. Bên cạnh hai nguồn tiền trên thì chi nhánh cũng rất quan tâm tới nguồn tiền gửi của các TCKT và các TCTD dù đây là nguồn tiền có tính ổn định không cao và không thường xuyên trong suốt các thời kỳ hoạt động trong năm của chi nhánh vì đây là nguồn tiền gửi chủ yếu nhằm mục đích thanh toán và chi trả dưới hình thức ngân hàng đại lý và dịch vụ tương ứng. Tuy nhiên qua bảng số liệu trên ta thấy hai nguồn tiền này cũng chiếm tỉ lệ tương đối trong nguồn tiền gửi của ngân hàng. Tỉ lệ của hai nguồn vốn này trong nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm lần lượt là 19,10% (năm 2007),23,50%(năm 2008),11,84%(năm 2009) Như vậy có thể thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh Hải Châu_TP Đà Nẳng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có cơ cấu đa dạng, tăng trưởng không ngừng. Điều này cho thấy được chi nhánh đã có những chính sách và biện pháp hiệu quả trong việc huy động vốn của mình. Việc xác định cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng là rất quan trọng, nó vừa giúp chi nhánh duy trì ổn định hoạt động của mình, xây dựng được chính xác chiến lược phát triển lâu dài, đặt biệt là xác định được đúng đối tượng khách hàng, từ đó có những chính sách hợp lý, tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, cũng như việc hoạch định chính sách huy động vốn sao cho có hiệu quả cao. 2.1.2.2 Phân theo loại tiền gửi: Ngoài việc phân biệt nguồn huy động theo thành phần kinh tế, theo kỳ hạn thì việc xác định nguồn tiền theo đồng tiền huy động cũng rất quan trọng. Nó giúp ngân hàng duy trì mối quan hệ với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu sử dụng ngoại tệ thường xuyên. Cơ cấu huy động vốn theo đồng tiền gửi được xác định cụ thể dưới bảng sau: Bảng 1.3: Nguồn vốn huy động phân theo loại tiền gửi (Đơn vị tính: triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Tăng/giảm Năm 2009 Tăng/giảm Nội tệ 353.101 661.441 +308.340 971.595 +310.154 Ngoại tệ (quy về VNĐ) 304.209 166.934 -137.275 313.025 +146.091 Tổng vốn huy động 657.310 828.375 +171.065 1284.620 +456.245 (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu TP Đà Nẳng) Qua bảng trên ta thấy nguồn nội tệ mà chi nhánh huy động được tương đối ổn định và tăng đều qua các năm. Năm 2008 tăng 308.340 triệu đồng so với năm 2007 và năm 2009 tăng 310.154 triệu đồng so với năm 2008. Đồng thời với số liệu 3 năm gần nhất thì có thể nói nguồn nội tệ là nguồn huy động chính của chi nhánh, lượng tiền huy động được tương đối lớn và chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng vốn huy động. Năm 2007 nguồn nội tệ chiếm 53,72%, năm 2008 là 79,85% và năm 2009 chiếm 75,63% trong tổng vốn huy động. Điều này cho thấy chi nhánh đã có những chính sách huy động nguồn nội tệ rất hiệu quả, có nhiều dịch vụ đa dạng thu hút được sự quan tâm và tạo được niềm tin cho khách hàng đến giao dịch và gửi tiền. Bên cạnh đó nguồn huy động bằng ngoại tệ cũng rất quan trọng, chi nhánh luôn quan tâm và có những biện pháp thực tế để tăng nguồn huy động này như điều chỉnh khung lãi suất hợp lý, hoàn thiện và nâng cao các dịch vụ thu hút đồng ngoại tệ: dịch vụ kiều hối, tài trợ các hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh mua bán ngoại tệ…Và kết quả đạt được là: năm 2007 lượng ngoại tệ huy động được là 304.209 triệu đồng, chiếm 46,28% trong tổng vốn huy động. Năm 2008 đạt 166.934 triệu đồng,giảm 137.275 triệu đồng so với năm 2007 do ảnh hưởng của tình hình chung của cả nước nên lượng ngoại tệ chi nhánh huy động được giảm gần 50% so với năm 2007,qua năm 2009 đạt 313.025 tăng 146.091 so với năm 2008,qua đố ta thấy lượng ngoại tệ huy động được tăng lên và có xu hướng ổn định trở lại. Điều này cho thấy chi nhánh cần đầu tư thêm cho lĩnh vực huy động ngoại tệ, có những chiến lược cụ thể đáp ứng các dịch vụ của khách hàng và tăng lượng ngoại tệ cũng như nội tệ cho chi nhánh. 2.2 Tình hình sử dụng vốn của NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẵng qua các năm 2007-2009 2.2.1 Tình hình tín dụng chung của chi nhánh qua các năm 2007-2009: 2.2.1.1 Sơ lượt về hoạt động cho vay: Hoạt động cho vay ngắn hạn và cho vay trung-dài hạn - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. - Cho vay trung - dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Các quy trình cho vay: - Bước 1: Hướng dẫn thủ tục vay vốn. Khách hàng liên hệ Phòng Tín dụng Agribank để được hướng dẫn chi tiết về thể lệ cho vay và nhận hồ sơ vay vốn. - Bước 2: Thẩm định Tín dụng . Trong vòng 5 ngày làm việc (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ), sau khi thẩm định nhân viên Tín dụng sẽ thông báo cho khách hàng biết kết quả xét duyệt cho vay. - Bước 3: Ký kết hợp đồng Tín dụng. Sau khi thẩm định và đồng ý cho vay. Ngân hàng và khách hàng sẽ ký Hồ sơ bảo đảm tiền vay (hồ sơ thế chấp tài sản) và ký Hợp đồng Tín. Nội dung Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ số tiền vốn vay, lãi suất và thời hạn vay. - Bước 4: Trả nợ vay (vốn vay + lãi). Việc trả nợ vay được ghi rõ trong Hợp đồng Tín dụng và phụ lục trả nợ. Vốn và lãi vay được trả góp hàng tháng tại Quầy kế toán thu nợ của Agribank. - Bước 5: Thanh lý hợp đồng. Ngay sau khi khách hàng thanh toán đầy đủ vốn vay và lãi vay, Agribank sẽ lập thủ tục thanh lý hợp đồng Tín dụng, lập giấy giải chấp và trả lại toàn bộ chứng từ sở hữu tài sản cầm cố/thế chấp cho khách hàng. Trên đây chỉ là những qui định chung có tính chất cơ bản, ngoài ra tuỳ thuộc vào từng loại hình của nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, những thay đổi trong chính sách Tín dụng của Ngân hàng Nhà Nước hoặc có sự thay đổi trong chính sách Tín dụng của Agribank mà những qui định này sẽ khác nhau. 2.2.1.2 Tình hình tín dụng chung của chi nhánh qua các năm 2007-2009: Bảng 2.1: Tình hình cho vay của chi nhánh qua các năm 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng) CHỈ TIÊU Năm 2007 Năm 2008 Tăng/Giảm Năm 2009 Tăng/Giảm Cho vay 854.283 1.013.204 +158.921 1.728.650 +715.446 Thu nợ 764.371 982.183 +217.812 1.723.746 +741.563 Dư nợ 637.289 818.314 +181.025 1.260.099 +441.785 Nợ xấu và nợ quá hạn 1.013 17.225 +7.095 8.425 -8.800 (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẳng) Biểu đồ 2.1: Tình hình cho vay của chi nhánh qua các năm 2007 Nhìn vào số liệu trên cho ta thấy tình hình tín dụng của ngân hàng nhìn chung là tăng trưởng. Doanh số cho vay tương đối cao phù hợp với chính sách mà nhà nước cũng như ngân hàng đề ra, nới lỏng tín dụng. Mức tín dụng tăng cao qua các năm, năm 2008 so với năm 2007 tăng 158.921 triệu đồng tương đương với 18,6%, đến năm 2009 tăng so với 2008 là 715.446 triệu đồng tương đương 70,61%, điều này chứng tỏ được ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến chi nhánh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của mình. Nâng cao tầm quan trọng cũng như chất lượng phục vụ của ngân hàng đã thu hút lượng khách hàng lớn giao dịch với ngân hàng, khả năng tiếp thị của cán bộ tín dụng cũng như thái độ phục vụ của họ tạo cảm giác thân thiện đối với khách hàng, thủ tục vay vốn nhanh gọn ít tốn thời gian, lãi suất thấp hơn các tổ chức tín dụng khác...chính những điều này đã góp phần tạo lượng khách hàng ngày càng đông đến vay tiền tại chi nhánh. Đi đôi với việc cho vay thì đồng thời tình hình thu nợ của ngân hàng là khá tốt. Năm 2008 so với 2007 tăng 1.488.498 triệu đồng tương đương với 75,27%, năm 2009 tăng 2.820.807 triệu đồng tương đương với 81,38% so với 2008. Chứng tỏ khách hàng giao dịch với ngân hàng là những khách hàng uy tín. Đồng thời khẳng định quy trình thẩm định năng lực tài chính cũng như tài sản đảm bảo của chi nhánh là hết sức chính xác, giúp cho việc đánh giá và ra quyết định cho vay đúng đối tượng, vừa tạo lợi nhuận cho chi nhánh đồng thời tạo vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân khinh doanh. Qua đây cũng cho ta thấy được năng lực cạnh tranh của NHNo&PTNT Hải Châu ngày càng lớn mạnh. Về tình hình dư nợ qua 2 năm 2008-2009 đều tăng,năm 2008 đạt 818.314 triệu đồng tăng 181.025 triệu đồng tương ứng 28,41% so với năm 2007, năm 2009 đạt 1.260.099 triệu đồng, tăng 441.785 triệu đồng tương ứng với tăng 53,99% so với năm 2008. Từ đó cho thấy hoạt động cho vay của Ngân hàng ngày càng tăng về quy mô và doanh số. Tình hình quá hạn của Chi nhánh năm 2008 tăng 7.095 triệu đồng tương ứng với tăng 70,04% , đây không phải do sự yếu kém của cho nhánh cũng như bộ phận nhân viên tín dụng, đây là kết quả của sự khủng hoảng kinh tế nói chung. Nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng kéo theo một loạt các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên không có khả năng thanh toán cho ngân hàng. Cần phải có biện pháp đảm bảo an toàn hơn khi cho vay.Năm 2009 nền kinh tế nước ta có sự ổn định trở lại nên tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng có sụ cải thiện đáng kể,cụ thể là năm 2009 nợ quá hạn và nợ xấu giảm 5.800 triệu đồng tương ứng với giảm 33,67% Nhìn chung thì tình hình tín dụng là tốt. Tuy nợ quá hạn tăng nhưng so với mức doanh số cho vay thì không tăng đáng kể. Trong tình hình khủng hoảng hiện nay thì đạt được thành quả trên là cố gắng không ngừng của nhân viên toàn chi nhánh nói chung cũng như nhân viên phòng tín dụng nói riêng. 2.2.2 Tín dụng tiêu dùng: 2.2.2.1 Sơ lượt về tín dụng tiêu dùng: Tín dụng tiêu dùng ra đời cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng. Đây là một hình thức khá phổ biến hiện nay đặc biệt là ở môt số nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên hình thức này còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Chúng ta đã quen với việc mua hàng hóa tiêu dùng có giá trị từ vài triệu lên đến vài trăm triệu được trả trực tiếp bằng tiền mặt nhưng việc này là rất hiếm hoi ở nước ngoài. Bởi vì ở nước ngoài việc thanh toán hầu hết được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng. Để tạo điều kiện cho các khách hàng có thể thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng (mua sắm hàng hóa) của mình, các Ngân hàng sẽ cho vay tiêu dùng bằng tiền hay hàng hóa. Người được hưởng tín dụng tiêu dùng không phải thế chấp bất cứ một loại tài sản nào mà chỉ cần chứng minh được thu nhập. Người vay tín dụng sẽ phải trả một phần gốc và lãi hàng tháng. Hạn mức tín dụng căn cứ vào thu nhập bình quân của người đó, thời hạn của tín dụng tiêu dùng từ 1 năm đến 5 năm. Lãi suất tín dụng được tính theo: dư nợ giảm dần hay dư nợ gốc (tùy theo từng Ngân hàng). Tính lãi theo dư nợ gốc là người vay tín dụng sẽ phải trả một khoản tiền lãi cố định từ đầu kì cho đến cuối kì Tín dụng. Còn tính theo dư nợ giảm dần là người vay sẽ trả tiền lãi căn cứ vào số dư nợ thực tế trên trong từng kì. 2.2.2.2 Tình hình tín dụng tiêu dùng của chi nhánh qua các năm 2007-2009: Hoạt động của mảng Tín dụng càng tốt sẽ đem lại cho Ngân hàng lợi nhuận càng lớn, đồng thời quy mô và chất lượng hoạt động Tín dụng cũng thể hiện được sức mạnh của Ngân hàng đó. Trong năm qua, quy mô Tín dụng tiêu dùng của NHNo&PTNT Hải Châu có sự tăng trưởng đáng kể.Cụ thể: Bảng 2.2: Tình hình tín dụng tiêu dùng của ngân hàng qua các năm 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng) CHỈ TIÊU Năm 2007 Năm 2008 Tăng/giảm Năm 2009 Tăng/giảm Cho vay 59.342 82.563 +23.221 85.341 +2.778 Dư nợ 27.743 56.275 +28.532 73.213 +16.938 Thu nợ 58.218 80.119 +21.901 84.737 +4.618 Nợ xấu,quá hạn 1.649 4.528 +2.879 1.149 -3.379 (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẳng) Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay tiêu dùng của chi nhánh qua các năm. Qua bảng trên ta thấy tình hình cho vay tiêu dùng của chi nhánh có sự gia tăng rất cao qua các năm đặt biệt có sự tăng trưởng nhanh vào năm 2008 và ổn định trở lại ở năm 2009 điều này cho ta thấy rõ được vị thế của ngân hàng trên địa bàn và sự hoạt động có hiệu quả của phòng giao dịch cũng như chiến lượt phát triển cua chi nhánh. So sánh các số liệu thực tế ta thấy số tiền đi vay của người tiêu dùng tăng cao nhất vào năm 2008 tăng 23.221 triệu đồng so với năm 2007 tương ứng với 39,13% .Sang năm 2009 tình hình cho vay tiêu dùng vẫn ở mức tuy có sự gia tăng không đáng kể do tình hình kinh tế tăng trưởng ổn định và thu nhập của người dân ngày một nâng cao,cụ thể là năm 2009 danh số cho vay là 85.341 triệu đồng tăng 2.778 triệu đồng tương ứng 3,36% .Qua số liệu thực tế danh số cho vay tiêu dùng của chi nhánh có xu hướng giảm đi do một trong những nguyên nhân sau nhu cầu đi vay để tiêu dùng của khách hàng không cao hay nói cách khác là hiếm bởi vì tâm lý chung của người dân ở đây thì việc đi vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng chỉ xảy ra khi họ cần tiền để xoay sở những lúc khó khăn như đau ốm,cần phương tiện đi lại,xây hay nâng cấp nhà.Bên cạnh đó nhu cầu đi vay của người tiêu dùng còn phụ thuộc vào tình hình biến động của nền kinh tế nói chung .Một trong những nguyên nhân tác động vô cùng lớn đó là sự cạnh tranh gay gắt về lãi suất của các ngân hàng trên địa bàn.Qua những nguyên nhân đó chi nhánh vẫn giữ được tình hình cho vay ổn định qua các năm đây là một tín hiệu đáng mừng vì cho vay tiêu dùng là sản phẩm sinh ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Song song với tình hình cho vay thì tình hình thu nợ của ngân hàng cũng tăng lên. Năm 2008 doanh số thu nợ tiêu dùng đạt 80.119 triệu đồng, tăng 21.901 triệu đồng so với năm 2007 tương ứng với tốc độ tăng 37,62%, một tỷ lệ tăng trưởng khá cao trong việc thu nợ đã nói lên chất lượng hoạt động Tín dụng của Agribank TP Đà Nẳng đã được nâng cao rõ rệt. Một mặt là nhờ có sự cố gắng đáng kể của cán bộ Tín dụng Ngân hàng trong việc tiếp tục thu nợ từ số dư nợ năm trước chuyển sang, và thu nợ các món vay mới được thực hiện phát vay trong năm. Mặt khác, nhờ sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo ở các cơ quan, ban ngành trong việc hối thúc thu hồi nợ đối với những khách hàng trả nợ vay trễ hạn.Sang năm 2009 như đã phân tích ở trên do danh số cho vay của ngân hàng tăng trưởng không cao nên danh số thu nợ tăng cũng hạn chế,cụ thể năm 2009 danh số thu nợ tăng 4.618 triệu đồng tương ứng tăng 5,76% so với năm 2008. So sánh giữa danh số cho vay và danh số thu nợ ta thấy được tình hình thu nợ của chi nhánh là rất tốt điều này cho thấy được khách hàng giao dịch với ngân hàng là những khách hàng uy tín. Đồng thời khẳng định quy trình thẩm định năng lực tài chính cũng như tài sản đảm bảo của chi nhánh là hết sức chính xác, giúp cho việc đánh giá và ra quyết định cho vay đúng đối tượng, vừa tạo lợi nhuận cho chi nhánh đồng thời tạo vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân khinh doanh. Về tình hình dư nợ,nhìn chung về tình hình dư nợ qua các năm có tốc độ tăng trưởng khá cao,điều này cho thấy do việc tăng doanh số cho vay tiêu dùng trong năm đã dẩy số dư nợ cuối tháng tăng và dư nợ bình quân từ đó cũng tăng lên. Mặc dù tỷ trọng dư nợ tiêu dùng bình quân trong tổng dư nợ bình quân ở các năm vẫn còn thấp, nhưng với tốc độ tăng khá cao cũng đã thể hiện sự tích cực tìm kiếm đầu ra trong mảng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng trong tình hình cạnh tranh hiện nay giữa các NHTM.Cụ thể,năm 2008 số dư nợ là 56.275 triệu đồng tăng 28.532 triệu đồng tương ứng 102,84%,sang năm 2009 số dư nợ là 73.213 triệu đồng tăng 16.938 triệu đồng tương ứng với 30,1%.Mặt dù dư nợ tiêu dùng trong tổng số dư nợ của các năm vẫn còn thấp nhưng với tốc độ tăng trưởng cao đã cho thấy được sự hoạt động tích cực của chi nhánh trong mảng này và với tốc độ tăng trưởng như thế này cũng cho thấy được năng lực cạnh tranh của chi nhánh trong tình hình cạnh tranh hiện nay của các NHTM. Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh năm 2008 là 4.528 triệu đồng tăng so với năm 2007 là 2.879 triệu đồng tương ứng với 174,59% đây là một con số chênh lệch khá lớn,điều này xảy ra không phải là sự hoạt động yếu kém thiếu kinh nghiệm của nhân viên tín dụng ngân hàng mà do ảnh hưởng của tình hình kinh tế nói chung,làm cho việc kinh doanh của khách hàng bị thua lỗ không có khả năng hoàn trả nợ đúng kỳ hạn.Sang năm 2009 tình hình kinh tế có sự ổn định trở lại nên tình trạng này có sự hạn chế đáng kể năm 2009 nợ quá hạn là 1.149 triệu đồng giảm so với năm 2008 là 3.379 triệu đồng tương ứng với giảm 76,62%. Nợ quá hạn là vấn đề mà các ngân hàng đặc biệt quan tâm, nó ảnh hưởng đến tốc độ vòng quay vốn Tín dụng của Ngân hàng. Nợ quá hạn quyết định chất lượng Tín dụng, một vấn đề có tính sống còn đối với Ngân hàng. Xuất phát từ nhận thức trên, các cấp lãnh đạo, các cơ quan chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng thu nợ, ngăn chặn nợ quá hạn phát sinh. 2.2.3 Tình hình tín dụng đầu tư sản xuất của chi nhánh qua các năm: Bảng 2.3: Tình hình cho vay đầu tư sản xuất của ngân hàng qua các năm 2007-2009 (Đơn vị tính: Triệu đồng) CHỈ TIÊU Năm 2007 Năm 2008 Tăng/Giảm Năm 2009 Tăng/Giảm Cho vay 497.318 703.224 +205.906 1.563.207 +879.983 Thu nợ 493.680 672.218 +178.538 1.539.543 +867.325 Dư nợ 370.865 633.548 +262.683 1.267.245 +633697 Nợ quá hạn 2.029 9.318 +7.289 2.701 -6.617 (Nguồn NHNo&PTNT Hải Châu_Tp Đà Nẵng) Biểu đồ 2.3: Tình hình tín dụng đầu tư của ngân hàng qua các năm. Nhận xét: Về danh số cho vay: qua bảng trên cho ta thấy tình hình cho vay của ngân hàng tăng nhanh qua các năm,năm 2008 danh số cho vay của ngân hàng là 703.224 triệu đồng tăng 205.906 triệu đồng tương ứng 41,4% so với năm 2007 nhưng so với sự gia tăng từ năm 2008 đến 2009 thì đây là sự gia tăng không đáng kể điều này là do tình hình khủng hoảng kinh tế của thế giơi nói chung và nước ta nói riêng,năm 2008 nhiều doanh nghiệp gặp phải khó khăn do tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới và mặt khác sự khó khăn này gia tăng khi ngân hàng tăng lãi suất để thắt chặt quỹ tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát.Sang năm 2009 số tiền mà ngân hàng cho vay để đầu tư sản xuất tăng lên đáng kể tăng 879.893 triệu đồng tương ứng với 125,12% điều này cho thấy qua giai đoạn khó khăn về nền kinh tế thì NHNo&PTNT Hải Châu thành phố Đà Nẳng đã duy trì được mối quan hệ tốt với khách hàng đồng thời với đội ngũ công nhân viên hoạt động tốt và nổ lực đã đưa danh số cho vay của ngân hàng tăng lên một cách đột biến. Về danh số thu nợ: danh số thu nợ của chi nhánh cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao qua các năm điều này cho thấy được hoạt động thu nợ rất tốt của nhân viên trong chi nhánh với mục tiêu hoạt động hiệu quả nhưng an toàn.Cụ thể năm 2008 danh số thu nợ là 672.218 triệu đồng tăng so với năm 2007 là 178.538 triệu đồng tương ứng với 36,16%,tuy nhiên so với danh số cho vay thì còn hạn chế điều này là do tình hình kinh tế lúc bây giờ nói chung các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên không trả nợ đúng hạn.Sang năm 2009 tình hình này được cải thiện đáng kể do nền kinh tế nước ta có sự ổn định trở lại,danh số thu nợ năm 2009 là 1.539.543 triệu đồng tăng 867.325 triệu đồng tương ứng với 129,02%. Về dư nợ cho vay: có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm,năm 2008 số dư nợ là 633.548 triệu đồng tăng 70,83%,sang năm 2009 số dư nợ là 1.267.245 triệu đồng tăng so với năm 2008 là 633.697 triệu đồng tương ứng với 100,02%. Dư nợ cho vay tăng trưởng mạnh qua từng năm điều này cho chúng ta thấy được quy mô và danh số hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng tăng. Về tình hình nợ quá hạn của chi nhánh: năm 2008 nợ quá hạn của chi nhánh là 9.318 triệu đồng tăng 7.289 triệu đồng chiếm tỷ lệ tương ứng là 359,24% so với năm 2007,điều này là do tình hình kinh tế bất ổn lúc bấy giờ nên một số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ,phá sản dẫn đến số dư nợ quá hạn tăng báo động như vậy.Năm 2009 nợ quá hạn là 2.701 triệu đồng giảm so với năm 2008 là 6.617 triệu đồng tương ứng với 71,01%.Tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng số dư nợ của ngân hàng là không lớn. Đây là một điều dễ hiểu vì dư nợ cho vay tăng sẽ kéo theo mức tăng của nợ xấu, nhưng qua đó cũng cho ta thấy được một số hạn chế trong chính sách của ngân hàng, cần phải nâng cao năng lực giám sát vốn vay, quản lý chặt nguồn thu nợ cũng như công tác thẩm định tài chính của khách hàng từ đó có biện pháp phù hợp. Đồng thời cũng như đã nói ở trên, nợ quá hạn tăng cao cũng là do nền kinh tế bị khủng hoảng ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Trong hoạt động của ngân hàng thì giữa huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ nhân quả với nhau.Tạo vốn là giải pháp hàng đầu để ngân hàng phát triển và đảm bảo sản xuất kinh doanh,vì vậy cần có chính sách tạo vốn phù hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng về vốn, để có được nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Vốn huy động thường từ nguồn: ngân sách doanh nghiệp, ngân hàng khác, dân cư,…Trong đó nguồn vốn trong dân cư và doanh nghiệp là quan trọng nhất vì đây là nơi tạo ra tích tụ vốn, là nguồn nguyên thuỷ để tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng.Vì vậy trong nền kinh tế thị trương hiện nay các ngân hàng phải không ngừng phát triển tiên tiến hiện đại và có những công cụ cũng như chính sách thu hút va sử dụng vốn phù hợp để phát triển ngành nói riêng và phát triển kinh tế xã hội đưa đất nước tiến lên,giàu,mạnh. PHẦN III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT HẢI CHÂU_TP ĐÀ NẴNG Như ta đã biết thì lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định. Lợi nhuận là kết quả thành tựu sau khi hoạt động trong một thời kỳ nhất định nên cũng như các chủ thể kinh tế khác ngân hàng luôn quan tâm đến làm thế nào để đạt được mức lợi nhuận cao nhất,từ đó ngân hàng sẽ đưa ra mục tiêu hướng tới cho những năm tiếp theo.Với những mục tiêu chung đó NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẳng đã nổ lực phát triển và dành được những thành tựu đáng kể trong thời gian vừa qua. Để thấy rõ hơn hoạt động của chi nhánh trong thời gian vừa qua ta xem xét kết quả hoạt động trong giai đoạn 2007-2009 qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua các năm như sau: Bảng 3.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh qua các năm 2007-2009 (Đơn vị tính:đồng) CHỈ TIÊU NĂM 2007 NĂM 2008 NĂM 2009 TỔNG THU NHẬP 64.354.137.029 87.831.749.329 155.127.692.255 TN từ hoạt động tín dụng 55.493.030.586 80.581.755.338 105.479.161.203 TN phí từ hoạt động dịch vụ 1.484.113.725 2.940.937.997 3.427.343.478 TN từ hoạt động kinh doanh ngoại hối 245.811.147 611.794.024 18.619.090.896 TN từ hoạt động kinh doanh khác 16.724.142 624.064.160 107.820.594 TN khác 7.114.457.429 3.073.197.810 27.494.276.084 TÔNG CHI PHÍ 45.570.971.882 83.069.340.940 132.370.678.384 CP hoạt động tín dụng 35.323.856.859 57.573.535.943 76.833.429.860 CP hoạt động dịch vụ 250.250.169 311.584.843 472.926.485 CP hoạt động kinh doanh ngoại hối 65.051.076 201.005.325 18.390.232.065 Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí 23.658.878 97.532.704 43.724.557 CP hoạt động kinh doanh khác 25.752.101 57.901.783 37.838.075 CP cho nhân viên 3.104.197.328 4.870.722.093 7.642.002.683 Chi cho hoạt động quản lý và công vụ 2.400.516.963 3.648.779.888 5.298.776.187 Chi về tài sản 2.465.944.863 3.708.226.128 4.618.154.933 CP dự phòng 1.897.917.910 12.596.547.000 16.409.173.000 CP khác 13.825.735 3.505.233 2.624.420.539 LỢI NHUẬN 18.783.165.147 4.762.408.389 22.757.013.871 Từ bảng số liệu cho ta thấy doanh thu của chi nhánh tăng rất nhanh và tăng dần qua từng năm từ năm 2007 đến năm 2008 tổng thu nhập tăng 36,48%,từ năm 2008 đến năm 2009 tổng thu nhập tăng 76,62%.Doanh thu của chi nhánh chủ yếu từ hoạt động tín dụng thu nhập từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng thu nhập năm 2007 thu nhập từ hoạt động tín dụng là 55.493.030.586 đồng chiếm 86,23% trong tổng thu nhập,năm 2008 là 80.581.755.338 đồng chiếm 91,76%, năm 2009 là 105.479.161.203 đồng chiếm 68%, năm 2009 tỉ lệ này có giảm nhưng không đáng kể điều này là do ngoài hoạt động tín dụng ngân hàng còn có những khoản thu nhập rất lớn từ hoạt động khác như hoạt động khác như hoạt động từ kinh doanh ngoại hối,hoạt động từ kinh doanh dịch vụ và thu nhập từ các hoạt động khác. Qua đó ta thấy được sự đa dạng hóa các nguồn đầu tư của ngân hàng và có thể nói hoạt động tín dụng là hoạt động chính của chi nhánh trong thời gian vừa qua. Tổng chi phí về hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng gia tăng theo từng năm do ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động mở rộng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng và do ảnh hưởng của tình hình lạm phát nói chung làm cho chi phí từ các hoạt động trở nên cao hơn. Chi phí tăng dần theo các năm ,năm 2008 tăng so với năm 2007 là 82,29%, năm 2009 tăng so với năm 2008 là 59,35%, ta thấy chi phí gia tăng rất cao trong giai đoạn 2007-2008 điều này là do tình hình lạm phát ở nước ta và khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã làm cho các khoản chi phí trở nên cao hơn rất nhiều so với năm 2007, đồng tiền Việt Nam mất giá,sang năm 2009 tình hình kinh tế ổn định nhưng chi phí cũng giảm không đáng kể là do ngân hàng mở rộng các hoạt động để tìm kiếm nhiều hơn các doanh thu từ các hoạt động. Nhìn chung, tốc độ tăng của chi phí không cao bằng tốc độ tăng của doanh thu chứng tỏ ngân hàng làm ăn có tiến triển, biết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Về lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh,trong giai đoạn từ năm 2007-2008 có sự sụt giảm đáng kể năm 2008 lợi nhuận mà ngân hàng thu được là 4.762.408.389 đồng giảm so với năm 2007 là 74,65% điều này không phải do thu nhập của chi nhánh không hiệu quả mà do ảnh hưởng của tình hình kinh tế nói chung đã làm cho chi phí trở nên quá cao.Năm 2009 lợi nhuận mà ngân hàng thu được là 22.757.013.871 đồng tăng so với năm 2008 là 377,85%. Đây là kết quả sự nỗ lực cải tiến quy trình cũng như cách thức cho vay và các nghiệp vụ khác của ngân hàng, làm cho kết quả kinh doanh của chi nhánh nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng Agribank nói chung nâng lên rõ rệt. Với những thành tựu đã đạt được thì trong thời gian tới ngân hàng sẽ phát triển và nâng cao hơn năng lực cạnh tranh của mình trên địa bàn với hoạt động kinh doanh chủ yếu là hoạt động tín dụng từ đó sẽ đẩy mạnh phát triển các hoạt động khác. KẾT LUẬN: Cùng với sự phát triển phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Bằng lượng vốn huy động được trong xã hội thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cung cấp một lượng vốn lớn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách nhanh chóng, kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ đó mà hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế được diễn ra một cách thuận lợi. Do vậy, trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đồng thời đáp ứng cho sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống ngân hàng thì việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng. Là một trong những trụ cột của Ngân hàng thương mại quốc doanh NHNo&PTNT đã đem lại sự thay đổi lớn lao cho sự phát triển nông nghiệp về các ngành nông-lâm-thủy sản và phát triển các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế. Trong tình hình phát triển kinh tế như hiện nay thì NHNo&PTNT nói chung và NHNo&PTNT Hải Châu_TP Đà Nẳng nói riêng đang đứng trước những khó khăn cũng như thách thức do đó vấn đề được đặt ra là ngân hàng làm sao để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh,thỏa mãn tốt nhu cầu cho khách hàng và mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng trong tình hình cạnh tranh gay ghét giữa các ngân hàng như hiện nay. Qua thời gian thực tập tại NHNo&PTNT TP Đà Nẵng, chi nhánh đã đạt được những thành công nhất định trong công tác hoạt động của mình về tình hình huy động vốn cũng như sử dụng vốn trong từng thời kỳ phát triển điều đó được chứng tỏ qua danh thu của ngân hàng những năm gần đây,lợi nhuận của ngân hàng cũng ngày càng tăng ở mức độ cao đặt biệt là lợi nhuận từ hoạt kinh doanh tín dụng của ngân hàng.Qua đó cho thấy được sự hoạt động hiệu quả của chi nhánh mặt dù trong điều kiện phải đối mặt với những khó khăn nhất định. Mặt dù có những thành công như vậy nhưng để phát triển trong tình hình kinh tế có sự cạnh tranh của nhiều ngân hàng thương mại hiện nay Agribank Hải Châu cần căn cứ vào tình hình và yêu cầu của thị trường, điều kiện cụ thể của chi nhánh về năng lực tài chính, về địa bàn hoạt động, về nhân tố con người... để xác định, xây dựng và hoàn thiện một chiến lược phát triển kinh doanh hợp lý, đứng đắn trên tất cả các mặt hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, đồng thời cũng đề ra các biện pháp thích hợp, năng động, hiệu quả phục vụ cho chiến lược kinh doanh đó. Việc xác định, xây dựng, có biện pháp thực hiện và điều chỉnh chiến lược phát triển kinh doanh là cụ thể hoá chiến lược thành các hoạt động cụ thể phù hợp với điều kiện thị trường, điều kiện và năng lực hoạt động của chi nhánh trong từng giai đoạn nhất định. Trong thời gian tới, để tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và nền kinh tế nói chung, ngoài những nỗ lực tìm tòi và phát triển các hình thức huy động mới có hiệu quả, chi nhánh cũng rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng trong việc tạo lập môi trường vĩ mô thuận lợi để chi nhánh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cung ứng vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo thực tập TH tại NHNo&PTNT quận Hải Châu TP Đà Nẵng.doc
Luận văn liên quan