Báo cáo Tiềm năng sinh khối mía đường tỉnh Thái Bình

Hiện nay, giá đường liên tục sụt giảm, nhưng tình hình tiêu thụ đường rất chậm. Đầu tháng 10-2012, giá đường chỉ còn 15.000 - 15.200 đồng/kg, giảm 3.000 - 3.500 đồng/kg so cùng kỳ năm ngoái. Đến gần cuối tháng 11, đường tiếp tục giảm xuống còn 14.500 đồng/kg. Với giá này, sau khi trừ chi phí, các nhà máy đường lỗ từ 500 - 800 đồng/kg. Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mía đường Sóc Trăng Cổ Trí Dũng cho biết, hiện công ty đang tồn kho 9.000 tấn đường, nhưng tiêu thụ rất chậm, bởi đường Thái-lan nh ập lậu xuất hiện trên các cửa hàng bán lẻ rất nhiều với giá 14.100 - 14.200 đồng/kg. Để giảm bớt khó khăn trong thời điểm hiện nay, Công ty cổ phần Mía đường Sóc Trăng đã hạ quỹ lương, rà soát, sắp xếp, bố trí lại nhân sự để giảm giá thành sản phẩm.

pdf10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 18/06/2014 | Lượt xem: 1515 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tiềm năng sinh khối mía đường tỉnh Thái Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÁO CÁO TIỀM NĂNG SINH KHỐI MÍA ĐƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH Sinh viên thực hiện : Lê Thu Hăng Mã sinh viện : 20106162 Lớp : KTCN – K55 2.1. Thống kê sản lượng sinh khối Sugar Cane Crop Mật độ : Dựa vào hình dưới ta thấy Mật độ sản lượng sinh khối trung bình của toàn tinh Thái Bình là từ 0 đến 4000 tons /năm. Trừ lượng : 2539.8 tonnes / năm 2.2. Chọn địa điểm và nguyên tắc chọn: a) Chọn địa điểm: Xây dựng nhà máy sản xuất Sugar tại huyện Hưng Hà – Thái Bình.  Latitude : 20.5347  Longitude: 106.3664 b) Nguyên tắc chọn: Với sản lượng sinh khối Sugar Cane Crop cho nên việc chọn và xây dựng nhà máy sản xuât đảm bảo các yêu cầu sau:  Gần vùng nguyên liệu .  Lên kế hoạch cho nhà máy trước và sau khi hoạt động và đề ra các giải pháp sẵn để dự phòng. 2.3. Thiết lập sản lượng sinh khối và năng lượng điện có thể sản xuất: a) Thiết lập theo cự ly: Mặc định 100% Obtainable, thay đổi Buffer Distance ( Km):  Latitude : 20.5347  Longitude: 106.3664 Buffer Distance (km) 25 km 50 km 75 km 100 km Net Potential Energy 48,081,600 1,154,042, 400 3,861,160, 800 8,252,630, 400 Potential 2671.2 64113.47 214508.93 458479.47  Biểu đồ: Biểu diễn quan hệ giữa sản lượng sinh khối với năng lượng điện theo cự ly: 0 1000000000 2000000000 3000000000 4000000000 5000000000 6000000000 7000000000 8000000000 9000000000 25 50 75 100 0 100000 200000 300000 400000 500000 Potential Net Potential Energy b) Thiết lập theo khả năng có thể thu thập được nguồn Biomass: Giữ nguyên Buffer Distance ( Km) và thay đổi % Obtainable:  Mặc định Buffer Distance ( 25km) và thay đổi % Obtainable ( 10% – 90%):  Latitude : 20.5347  Longitude: 106.3664 % Obtainable MWh Potential MW Potential 10% 297.45 0,04 20% 594.91 0,08 30% 892.36 0,13 40% 1189.81 0,17 50% 1487.27 0,21 60% 1784.72 0,25 70% 2082.17 0,30 80% 2379.63 0,34 90% 2677.08 0,38 Biểu diễn mức độ thay đổi 2 tiềm năng MWh và MW: 0 500 1000 1500 2000 2500 3000 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 0 0,05 0,1 0,15 0,2 0,25 0,3 0,35 0,4 MWh Potential MW Potential  Mặc định Buffer Distance ( 50km) và thay đổi % Obtainable ( 10% – 90%): % Obtainable MWh Potential MW Potential 10% 6411,35 1,91 20% 12822,69 1,83 30% 19234,04 2,74 40% 25645,39 3,66 50% 32056,73 4,57 60% 38468,08 5,49 70% 44879,43 6,4 80% 51290,77 7,32 90% 57702,12 8,23 0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 MWh Potential MW Potential  Mặc định Buffer Distance ( 75km) và thay đổi % Obtainable ( 10% – 90%): % Obtainable MWh Potential MW Potential 10% 21450,89 3,06 20% 42901,79 6,12 30% 64352,68 9,18 40% 85803,57 12,24 50% 107254,47 15,3 60% 128705,36 18,37 70% 150156,25 21,43 80% 171607,15 24,49 90% 193058,04 27,55 0 50000 100000 150000 200000 250000 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 0 5 10 15 20 25 30 MWh Potential MW Potential  Mặc định Buffer Distance ( 100km) và thay đổi % Obtainable ( 10% – 90%) % Obtainable MWh Potential MW Potential 10% 45847,95 6,54 20% 91695,89 13,08 30% 137543,84 19,63 40% 183391,79 26,17 50% 229239,73 32,71 60% 275087,68 39,25 70% 320935,63 45,8 80% 366783,57 52,34 90% 412631,52 58,88 0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000 400000 450000 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 0 10 20 30 40 50 60 70 MWh Potential MW Potential Chương III . KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 3.1 Kết luận Hiện nay, giá đường liên tục sụt giảm, nhưng tình hình tiêu thụ đường rất chậm. Đầu tháng 10-2012, giá đường chỉ còn 15.000 - 15.200 đồng/kg, giảm 3.000 - 3.500 đồng/kg so cùng kỳ năm ngoái. Đến gần cuối tháng 11, đường tiếp tục giảm xuống còn 14.500 đồng/kg. Với giá này, sau khi trừ chi phí, các nhà máy đường lỗ từ 500 - 800 đồng/kg. Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mía đường Sóc Trăng Cổ Trí Dũng cho biết, hiện công ty đang tồn kho 9.000 tấn đường, nhưng tiêu thụ rất chậm, bởi đường Thái-lan nhập lậu xuất hiện trên các cửa hàng bán lẻ rất nhiều với giá 14.100 - 14.200 đồng/kg. Để giảm bớt khó khăn trong thời điểm hiện nay, Công ty cổ phần Mía đường Sóc Trăng đã hạ quỹ lương, rà soát, sắp xếp, bố trí lại nhân sự để giảm giá thành sản phẩm... Đường rớt giá, mía cũng khó tránh khỏi lao đao. Hậu Giang có vùng nguyên liệu mía lớn nhất khu vực ĐBSCL, với diện tích hơn 14.000 ha, đến nay đã thu hoạch khoảng 11.000 ha. Trong đó, cơ bản thu hoạch hết hơn 9.000 ha mía ở huyện Phụng Hiệp. Đây là vùng trũng, luôn chịu áp lực phải thu hoạch sớm để chạy lũ. Mặc dù năm nay không bị ảnh hưởng nhiều bởi lũ, nhưng nông dân thu hoạch mía vẫn không có lời. Nếu như ở đầu vụ, người dân bán mía tại rẫy với giá từ 900 đến 1.000 đồng/kg thì còn lời chút đỉnh tiền công chăm sóc, nhưng đến giữa và gần cuối vụ (chỉ riêng đối với vùng mía Phụng Hiệp), giá đã bắt đầu giảm xuống còn từ 750 đến 870 đồng/kg, tùy vào điều kiện giao thương các xã thuận lợi hay khó khăn. Trong khi đó, theo đánh giá của ngành nông nghiệp Hậu Giang, giá thành sản xuất mía vụ này ở vùng Phụng Hiệp khoảng 820 đồng/kg, cộng với việc thu hoạch sớm, năng suất bình quân chỉ đạt khoảng 90 tấn/ha, chữ đường chỉ ở mức 7,5 - 8,5 CCS, nên nông dân không có lãi, thậm chí bị lỗ. 16 công sắp thu hoạch, ông Nguyễn Văn Tự ở ấp Phước Hòa, thị trấn Cù Lao Dung, huyện Cù Lao Dung, lo lắng: "Nếu nhà máy mua mía với giá 900 đồng/kg, bà con trồng mía không có lời đồng nào cả, vì chi phí sản xuất năm nay như giống, phân bón, thu hoạch, chuyên chở... đều tăng". Ông Tự tính toán, mỗi ha mía, nông dân phải đầu tư gần cả trăm triệu đồng. Nếu năng suất mía đạt cao từ trên 100 tấn/ha trở lên mới có lời, còn dưới 100 tấn/ha thì chưa đủ bù chi phí. Trong khi suốt một năm, nông dân chỉ biết trông cậy vào một vụ mía, thì phải nói là lỗ nặng. 3.2 Giải pháp nào gỡ khó cho ngành mía đường? Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam Nguyễn Thành Long cho biết, giá đường cát thế giới giảm còn khoảng 450 USD/tấn; cộng với sản lượng đường thế giới dư thừa năm nay hơn 5,85 triệu tấn. Đây là năm thứ ba liên tiếp sản lượng đường thế giới dư thừa sau khi cân đối cung cầu. Đặc biệt là lượng đường Thái-lan nhập lậu khoảng 600.000 tấn mỗi năm, chiếm gần 1/2 sản lượng đường trong nước, chưa kể lượng đường trong nước dư thừa mỗi năm cũng từ 300.000 đến 400.000 tấn. Với giá đường hiện nay, các nhà máy gặp nhiều khó khăn, khả năng tiếp tục giảm giá mía nguyên liệu và người dân tiếp tục thua lỗ. Vì thế, nguy cơ giá đường trong nước tiếp tục sụt giảm là điều khó tránh khỏi. Để gỡ khó cho ngành mía đường ĐBSCL, Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam Nguyễn Thành Long kiến nghị: Chính phủ cần chỉ đạo tăng cường mạnh mẽ hơn nữa các hoạt động chống buôn lậu đường. Có cơ chế "mềm" cho các doanh nghiệp xuất khẩu đường qua đường tiểu ngạch để giải quyết sản lượng đường tồn đọng. Về lâu dài, Giám đốc một nhà máy đường ở ĐBSCL cho rằng, theo lộ trình hội nhập AFTA, không lâu nữa sẽ không còn tình trạng đường Thái-lan nhập lậu. Trong khi do đặc thù vùng miền, giá thành sản xuất mía, đường ở ĐBSCL còn cao so với khu vực Tây Nguyên, miền trung, miền bắc, thì làm sao cạnh tranh được với đường Thái-lan. Mặt khác, hiện nay với diện tích mía vùng ĐBSCL hơn 50.000 ha cũng chưa đủ để 10 nhà máy đường trong khu vực vận hành hết công suất. Do đó, vấn đề cần phải tính đến là cân đối lại giữa công suất các nhà máy đường so với diện tích mía của vùng. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học để tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản xuất. Một vấn đề nữa là cần phải loại bỏ tính cạnh tranh thiếu lành mạnh trong thu mua mía giữa các nhà máy. Thời gian qua, mặc dù một số nhà máy đã cố gắng xây dựng vùng nguyên liệu riêng, nhưng không thể ngăn nổi việc nhà máy khác đến tranh giành mua mía. Cạnh tranh mua mía giúp nông dân có lợi, nhưng vì tự "triệt" nhau nên phần thiệt thòi sẽ rơi vào các nhà sản xuất khi giá đường giảm.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf1_1__8542.pdf
Luận văn liên quan