Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường đại học giao thông vận tải

Lý do chọn đề tài Hội nhập khu vực và thế giới trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa và đặc biệt giáo dục và đào tạo là một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay và nước ta không thể đứng ngoài cuộc. Đại hội Đảng IX cũng đã đưa ra quan điểm: “Phát huy nội lực, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển”. Trong xu thế đó, các trường đại học Việt nam nói chung và trường Đại học Giao thông Vận tải nói riêng đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển đồng thời cũng đối diện với nhiều thách thức. Một trong những hoạt động có ý nghĩa hội nhập quốc tế hiện nay là hợp tác giữa các trường đại học trong nước với các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới qua hình thức dự án. Đối với trường Đại học Giao thông Vận tải thì hình thức này ngày càng được mở rộng và góp phần đáng kể nâng cao năng lực của nhà trường cả về nhân lực, tài lực và vật lực, đồng thời khẳng định uy tín của nhà trường trong nước cũng như trong khu vực. Chính vì vậy Nhà trường cần có sự quan tâm thích đáng để đảm bảo dự án hoạt động một cách chính quy, bài bản và đạt hiệu quả cao . Là một chuyên viên làm công tác quan hệ quốc tế tại Phòng Đối ngoại-trường Đại học Giao thông Vận tải, tác giả nhận thấy công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế là một lĩnh vực rất quan trọng và lý thú, cần được nghiên cứu một cách toàn diện, sát với điều kiện thực tế của nhà trường. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “ Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công tác hợp tác quốc tế của nhà trường. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý dự án, quản lý giáo dục và thực trạng công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo ở trường Đại học Giao thông Vận tải, luận văn đề xuất biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.Phân tích thực trạng công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo ở trường Đại học Giao thông Vận tải giai đoạn hiện nay.Đề xuất biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo ở trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay.4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải. 4.2. Đối tượng nghiên cứu Công tác quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay. 5. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải giai đoạn 1995-2013. 6. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu lý luận:Phân tích, tổng hợp và khái quát hoá các tài liệu về lý luận quản lý giáo dục và quản lý dự án, các bản báo cáo tổng kết các dự án trong trường, và một số các tài liệu khác.Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp bảng hỏi: Đối tượng điều tra là các cán bộ quản lý dự án trong trường. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Đối tượng điều tra là các cán bộ lãnh đạo và các cán bộ có kinh nghiệm quản lý và triển khai dự án trong trường. 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo ở trường đại học. 7.2.Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá được thực trạng công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học Giao thông Vận tải, phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục, từ đó đề xuất biện pháp để quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay. 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận , khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương: Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài Chương II: Thực trạng công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải Chương III: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay.

doc98 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/02/2013 | Lượt xem: 1995 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường đại học giao thông vận tải, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ịu trách nhiệm việc thực hiện các chương trình liên kết đào tạo có yếu tố nước ngoài trong các trường đại học ở Việt nam. Nếu được chính phủ chấp nhận thì Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có thể ban hành quy chế để quản lý tốt các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo. Có ý kiến cho rằng HTQT về ĐT hiện nay cũng nằm trong tình trạng phát triển tràn lan. Nhiều trường đại học của Việt nam chú ý phát triển hợp tác quốc tế cũng như nhiều tổ chức nước ngoài muốn hợp tác để khai thác thị trường đào tạo có tiềm năng rất lớn ở Việt nam. Bối cảnh đó đã dẫn đến sự gặp gỡ của nhiều đối tác trong và ngoài nước trong các chương trình đào tạo với nhiều đối tượng, mục tiêu khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, quản lý Nhà nước đối với tất cả các hoạt động này gặp nhiều khó khăn. Một số trường chưa có đủ khả năng chuyên môn và quản lý vẫn phát triển mạnh các quan hệ hợp tác, ngay cả một số doanh nghiệp cũng đặt vấn đề xâm nhập vào khu vực thị trường này. Đối với một thị trường đào tạo còn ở bước sơ khai, người học chưa có nhiều thông tin chính xác về các đối tác nước ngoài, uy tín, mục tiêu của các chương trình đào tạo với nước ngoài của Việt nam ở trong tình trạng bị chia nhỏ, nhiều trường đại học của Việt nam cạnh tranh lẫn nhau, ảnh hưởng đến lợi ích chung. Bức tranh toàn cảnh về hợp tác đào tạo quốc tế hiện nay ở Việt nam đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý Nhà nước thống nhất đối với các trường đại học đang thực hiện các dự án hợp tác với nước ngoài. Theo Quy định của nhà trường về chức năng, nhiệm vụ, các dự án HTQT về ĐT ở trường ĐH GTVT được giao cho Phòng ĐN chủ trì quản lý và phối hợp với các đơn vị chức năng trong trường triển khai thực hiện. Đối với một số dự án/chương trình lớn, để làm tốt công tác quản lý, Nhà trường ra quyết định thành lập Ban quản lý và Điều hành dự án với thành phần là đại diện các đơn vị chức năng liên quan. Tuy nhiên, các thành viên Ban quản lý chỉ là những người kiêm nhiệm từ các bộ môn/khoa, phòng/ban có liên quan, không có cán bộ chuyên trách theo dõi, điều phối các hoạt động của dự án. Vì vậy sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng công việc triển khai dự án. Có nhiều dự án việc quản lý của Phòng ĐN chỉ mang tính hình thức, trên giấy tờ. Phân tán trong tổ chức quản lý các chương trình HTQT về ĐT là một bất cập lớn trong tổ chức quản lý của trường ĐH GTVT trong bối cảnh hiện nay. Hiện tượng phân tán trong phát triển, tổ chức quản lý các chương trình hợp tác ĐTQT hiện nay có thể được xem như một nhược điểm đáng kể nhất trong tổ chức quản lý hợp tác quốc tế hiện nay tại trường ĐH GTVT. Với số lượng phong phú các chương trình HTQT về ĐT như trên, hiện nay tại trường ĐH GTVT vẫn chưa có một mô hình tổ chức quản lý thống nhất các chương trình này. Các chương trình hợp tác quốc tế về ĐT tại trường ĐH GTVT được phân chia quản lý theo các đầu mối riêng, với những đặc điểm khác biệt đáng kể về tổ chức và quản lý. Đơn vị chủ trì quản lý Tên Dự án/chương trình Phòng Đối ngoại Dự án ĐT Kỹ sư hai giai đoạn Việt-Nga, Dự án ĐT kỹ sư cầu –đường Anh, Dự án ĐT cán bộ quản lý cho ĐHQG Lào, Đề án Phối hợp đào tạo Tiến sỹ hai giai đoạn Việt-Đức,… Chương trình Cầu Đường Pháp Chương trình Đào tạo Kỹ sư Cầu Đường bằng tiếng Pháp, Chương trình Đào tạo kỹ sư cơ khí bằng tiếng Pháp, Chương trình tiền du học Pháp. Phòng Đào tạo Chương trình Đào tạo tiên tiến ngành Xây dựng CTGT, Các chương trình đào tạo sinh viên nước ngoài theo Nghị định giữa hai Chính phủ. Bm.Tự động hóa thiết kế Cầu Đường Dự án ĐT tin học ứng dụng trong các CTGT, dự án phát triển ngành tin học xây dựng ở Việt nam (*) Viện Vật liệu Xây dựng Dự án ĐT bồi dưỡng chuyên môn ngành kết cấu xây dựng cho giảng viên. BQL Tiểu dự án giáo dục đại học trường ĐH GTVT Giai đoạn 1-Tiểu Dự án Giáo dục đại học. Ban quản lý Dự án Giai đoạn 2-Tiểu Dự án Giáo dục đại học Bảng 2.7. Hệ thống tổ chức QL các dự án/ chương trình HTQT về ĐT tại trường ĐH GTVT (*) Trong bảng 2.7, mặc dù các dự án ĐT tin học ứng dụng trong các CTGT, dự án phát triển ngành tin học xây dựng ở Việt nam đã kết thúc nhưng do tính chất quan trọng của những dự án này đối với phát triển chương trình hợp tác đào tạo quốc tế tại trường ĐH GTVT nên hai dự án này vẫn được đưa vào trong bảng. Trong thực tế, Dự án ĐT tin học ứng dụng trong các CTGT tạo tiền đề cho sự hình thành của Bộ môn Tự Động hóa Thiết kế Cầu Đường và các chương trình hợp tác đào tạo cao học hiện nay do Bộ môn quản lý. Tương tự như vậy , Dự án “ĐT bồi dưỡng chuyên môn ngành kết cấu xây dựng cho giảng viên”là nền tảng về nguồn nhân lực , thể chế và cơ sở vật chất cho Bộ môn Kết cấu xây dựng –Viện Vật liệu xây dựng. Ban đầu việc thiếu sự phối hợp giữa các đầu mối quản lý các chương trình hợp tác ĐTQT là kết quả của bối cảnh cụ thể những năm 1990 khi đó trường ĐH GTVT mới chỉ có một số lượng rất ít các dự án hợp tác ĐTQT, bối cảnh thể chế hiện nay đã khác rất nhiều so với thời kỳ 10 năm trước đây. Việc quản lý phân tán các chương trình HTQT về ĐT đã bộc lộ nhiều bất cập, cụ thể: (i) Sau hơn 10 năm đổi mới, vị thế của trường ĐH GTVT trong phát triển hợp tác đào tạo quốc tế cũng được nâng lên đáng kể. Các chương trình hợp tác đào tạo được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật đi vào giai đoạn kết thúc dẫn đến sự chuyển hướng sang các chương trình hợp tác song phương trên cơ sở tự cân bằng thu chi. Việc phân tán trong quản lý hợp tác quốc tế về đào tạo không còn phù hợp với tình hình mới; (ii) Thị trường đào tạo về KHKT và một số chuyên ngành công nghệ mới là những thị trường tiềm năng và ngày càng trở nên cạnh tranh. Việc tiếp tục quản lý phân tán các chương trình HTQT về ĐT đã gây ra nhiều khó khăn cho trường ĐH GTVT trong việc tiếp tục củng cố vị thế và uy tín của nhà trường đối với phát triển các chương trình HTQT về ĐT. (iii) Quản lý phân tán các chương trình hợp tác ĐTQT là một cản trở trong việc huy động thống nhất các nguồn lực cho sự nghiệp phát triển của trường ĐH GTVT. (iv) Việc quản lý phân tán các chương trình hợp tác ĐTQT cũng tạo ra những sự khác biệt đáng kể giữa các chương trình HTQT. Sự khác biệt đó tạo ra một hình ảnh thiếu thống nhất. (v) Quản lý phân tán các chương trình HTQT gây ra nhiều khó khăn cho trường ĐH GTVT trong việc tiếp tục phát triển các chương trình HTQT về ĐT. Phân tán các đầu mối quản lý HTQT về ĐT cũng có nghĩa là phân tán về thông tin gây khó khăn cho công tác ra quyết định quản lý. Bên cạnh đó, những hạn chế về chính sách, chế độ đối với các dự án cũng như cán bộ dự án, giáo viên tham gia dự án cũng chưa có “chuẩn”, điều này gây khó khăn trong việc hình thành, phát triển và mở rộng các dự án. 2.3.2.2. Thiếu tính chủ động do thiếu nguồn kinh phí đầu tư và thiếu thông tin khi xây dựng dự án. Xu hướng giảm dần của các nguồn tài trợ đòi hỏi phía đối tác Việt nam phải chủ động phát triển dự án có chọn lọc. Vào thời kỳ Việt nam mới bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, tài trợ cho các dự án hợp tác giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng là một trong những ưu tiên của cộng đồng tài trợ Việt Nam. Đây là thời điểm xuất hiện những dự án do nước ngoài tài trợ 100% như dự án đào tạo kỹ sư cầu đường bằng tiếng Pháp, dự án đào tạo kỹ sư cầu đường bằng tiếng Anh, dự án đào tạo nguồn nhân lực phát triển giao thông nông thôn Việt nam tài trợ cho trường ĐH GTVT tập trung vào lĩnh vực đào tạo kỹ sư và cán bộ trong lĩnh vực GTVT…Tuy nhiên, cùng với những thành tựu quan trọng của công cuộc cải cách kinh tế, những sự hỗ trợ 100% cho các chương trình hợp tác đào tạo cũng giảm dần. Phía đối tác nước ngoài, các nhà tài trợ có xu hướng mong đợi sự đóng góp tích cực hơn từ phía Việt nam. Thực tế đó đặt ra hai yêu cầu quan trọng đối với phía đối tác Việt nam. Thứ nhất là đóng góp của phía Việt nam về tài chính, con người, cơ sở vật chất kỹ thuật trong các dự án HTQT về ĐT và đặc biệt là các dự án liên kết ĐT phải cao hơn so với thời kỳ 10 năm trước. Thứ hai, phía đối tác Việt nam cần phải phát triển dự án một cách có chọn lọc. So với 10 năm trước, khi chỉ có một số ít các các dự án hợp tác đào tạo với nước ngoài đang hoạt động, khi cơ hội mở rộng các hoạt động hợp tác còn nhiều hạn chế, quá trình lựa chọn đối tác nước ngoài còn có nhiều điểm bất cập. Nói cách khác, vào thời điểm đó, chúng ta chưa có nhiều cơ hội hợp tác để có thể lựa chọn, cho nên việc khai thác các lợi ích về đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên cho các trường đại học nói chung và ĐH GTVT nói riêng cũng có phần hạn chế. Việc tham gia của giảng viên trong các chương trình đào tạo vì thế bị giảm vị thế và không được tham gia nếu như phía đối tác không yêu cầu tham gia. Hiện nay, thế và lực của phía đối tác Việt nam đã có những bước phát triển về mọi mặt. Chính vì vậy, việc lựa chọn đối tác có thiện chí, có năng lực phù hợp với từng mục tiêu cụ thể là một yêu cầu quan trọng đối với các trường đại học của Việt nam để có thể đóng vai trò chủ động trong xây dựng và triển khai các dự án HTQT. Tiểu kết chương 2 - Trường ĐH GTVT đang có 9 chương trình HTĐT có yếu tố nước ngoài. Đặc điểm nổi bật của chương trình HTQT về ĐT là có sự tham gia của các đối tác trong và ngoài nước. Trong quá trình triển khai chương trình sẽ diễn ra sự tương tác giữa các đối tác trong và ngoài nước, giữa các giáo viên nước ngoài và các giáo viên Việt nam, giữa các cán bộ quản lý nước ngoài và Việt nam. - Các chương trình HTQT của trường ĐH GTVT tập trung vào các chuyên ngành đào tạo chủ yếu là khoa học kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo hiện đang lệch hẳn về ngành xây dựng công trình. - Các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học GTVT đã góp phần đào tạo một lực lượng lớn nguồn nhân lực có trình độ cao và đặc biệt là góp phần rất quan trọng vào nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên và cán bộ quản lý của trường ĐH GTVT, đào tạo giảng viên với trình độ quốc tế cho đội ngũ giảng viên của trường, cải tiến chương trình đào tạo hay mở thêm các chuyên ngành đào tạo mới và có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới cách thức tổ chức quản lý của nhà trường. - Việc quản lý các chương trình HTQT về ĐT được xem xét trên nhiều giác độ: quản lý nhà nước đối với các chương trình và các cơ sở thực hiện chương trình bao gồm việc quản lý cấp phép cho các chương trình và quản lý cấp trường trong việc giám sát chất lượng của chương trình trong quá trình thực hiện. - Công tác quản lý các chương trình HTQT về ĐT còn nhiều tồn tại thể hiện ở sự bất cập trong việc làm thủ tục để hình thành dự án; những hạn chế về chính sách, chế độ đối với các dự án; phân tán trong tổ chức quản lý các chương trình hợp tác ĐTQT. CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp 3.1.1. Định hướng phát triển của trường Đại học GTVT trong bối cảnh mới Toàn cầu hóa là dòng chảy xuyên biên giới của vốn , công nghệ, hàng hóa , dịch vụ, con người, thông tin, trí thức,…Dòng chảy này thực hiện được trước hết vì sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, liên lạc và tiếp nữa là quá trình tự do hóa thương mại như một làn sóng mới trong cải cách kinh tế của các quốc gia. Những dự báo về phát triển kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, văn hóa đã trở thành những yêu cầu bắt buộc trong sự chỉ đạo của các quốc gia cũng như trong sự giải quyết các vấn đề sống còn và phát triển của nhân loại. Các dự báo trên đều dựa vào những quan điểm, phương pháp và các cứ liệu khác nhau. Tuy nhiên, các dự báo đó đều thống nhất ở nhận định vai trò quyết định ngày càng tăng thêm của con người đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đề cao vị trí của giáo dục-đào tạo trong xã hội và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đại học. Đại hội Đảng lần thứ IX đã coi “giáo dục và đào tạo là một trong ba lĩnh vực then chốt cần đột phá để làm chuyển động tình hình kinh tế-xã hôi”. Một tuyên bố chung về vấn đề đào tạo của 74 nhà khoa học được giải Nobel đã chỉ rõ điều này: “ giáo dục cần được ưu tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách để có thể nâng cao khả năng sáng tạo của con người. Phải làm cho các nước đang phát triển vươn tới khoa học và kỹ thuật để giúp họ làm chủ tương lai”. Tuyên bố trên của họ thúc đẩy các quốc gia bất kể là quốc gia có nền công nghiệp phát triển hay các quốc gia đang phát triển tìm kiếm những mô hình thích hợp cho nền giáo dục đại học của mình. Ở nước ta, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về việc đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và tổ chức xây dựng Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam 2006-2020 đã chỉ rõ mục tiêu và bảy nhóm giải pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu đó. Các nhóm giải pháp có liên quan mật thiết, thúc đẩy, hỗ trợ nhau. Trong đó nhóm giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tăng cường hội nhập quốc tế có tầm quan trọng chiến lược, bởi vì nó góp phần hỗ trợ đắc lực cho các giải pháp còn lại phát triển để đạt được mục tiêu chung. Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong nhiều năm qua và đặc biệt là mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể trong Đề án đổi mới giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020 như kim chỉ nam cho mọi hành động của các trường đại học. Trường Đại học Giao thông Vận tải đã sớm xác định cái đích để vươn tới là “phấn đấu đến năm 1015 xây dựng thành một trường đại học kỹ thuật và kinh tế đa ngành với chất lượng và trình độ cao, đầu ngành trong lĩnh vực giao thông vận tải của đất nước; Là trung tâm nghiên cứu khoa học-chuyển giao công nghệ lớn và có uy tín; Từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới” và năm 2007 Nhà trường đã xây dựng Chiến lược phát triển trường đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, xác định các đối tác chiến lược hợp tác quốc tế trong những năm tới. Chiến lược chỉ rõ cần phải ưu tiên chú trọng phát triển hoạt động hợp tác quốc tế, tăng cường tìm kiếm nguồn kinh phí để thực hiện các dự án đào tạo quốc tế nhằm nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, cải tiến chương trình đào tạo, phương thức đào tạo và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ đào tạo. 3.1.2. Phương hướng phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học GTVT trong giai đoạn mới. 3.1.2.1. Mở rộng các hoạt động cả ngược dòng và xuôi dòng theo chuỗi giá trị đào tạo Mục tiêu nâng cao năng lực chuyên môn và tổ chức quản lý của ĐH GTVT sẽ được thực hiện tốt hơn nếu nhà trường tham gia nhiều vào các hoạt động ngược dòng và xuôi dòng trong chuỗi giá trị đào tạo. Chuỗi giá trị đào tạo ở đây có thể hiểu là giá trị liên hoàn mà việc thực hiện mục tiêu đào tạo đem lại cho từng dự án, từng tổ chức tại từng thời điểm. Bên cạnh đó, hoạt động xuôi dòng là hoạt động đào tạo theo chương trình sẵn có, theo chỉ tiêu hàng năm. Đa dạng hóa theo hướng ngược dòng là hoạt động đào tạo theo nhu cầu chung của thị trường, và điều này sẽ làm cho các chương trình HTQT về ĐT gần hơn với thị trường, có định hướng thị trường rõ nét. 3.1.2.2. Mở rộng và phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo phải đi đôi với củng cố hệ thống tổ chức quản lý các chương trình HTQT về ĐT Để làm được điều này, cần tạo điều kiện thúc đẩy sự hội nhập của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu thông qua việc tăng cường sự tham gia của nhà trường trong các hội thảo, hội nghị quốc tế; mạnh dạn tổ chức các hội thảo, hội nghị quốc tế tại Trường. Ngoài ra, cần nhấn mạnh đến một số hướng phát triển như: - Tăng cường và mở rộng hợp tác đào tạo tại Việt nam theo hình thức “Du học tại chỗ”; - Duy trì hợp tác đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ với các trường đại học nước ngoài; phát triển hợp tác đào tạo đại học và đào tạo tiến sỹ; - Phát triển các chuyên ngành đào tạo và các môn học mới tại trường ĐH GTVT; Chủ động tiếp nhận và xây dựng một số chương trình đào tạo mới; thúc đẩy ảnh hưởng tích cực của các chương trình hợp tác có chất lượng cao đối với chương trình đào tạo chung của trường. - Tập trung xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo liên thông; Hội nhập, liên thông một số chương trình đào tạo, một số môn học với các nước trong khu vực. - Đa dạng hóa các hình thức văn bằng; - Đa dạng hóa các nguồn tài chính để tổ chức thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo; Hợp tác quốc tế về đào tạo được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển trung và dài hạn của trường ĐH GTVT. Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về đào tạo của trường ĐH GTVT dựa trên một số quan điểm có tính nguyên tắc như sau: HTQT về đào tạo phải tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước về HTQT về đào tạo; HTQT về đào tạo lấy chất lượng làm tiêu chuẩn để xây dựng, phát triển và lựa chọn đối tác hợp tác; HTQT về đào tạo phải tập trung vào thực hiện các mục tiêu chiến lược xây dựng và phát triển trường ĐH GTVT; HTQT về đào tạo phải hướng vào việc nâng cao chất lượng của các chương trình đào tạo trong nước của trường ĐH GTVT Có thể nói phát triển hợp tác đào tạo với nước ngoài là một biện pháp đi tắt, đón đầu để sớm bắt kịp với trình độ của các trường đại học trong khu vực và trên thế giới. Môi trường tương tác giữa các yếu tố trong nước và nước ngoài sẽ tạo ra thế và lực mới cho trường ĐH GTVT trong chiến lược phát triển nhà trường. Đặc biệt trong quá trình thực hiện dự án hợp tác với nước ngoài, các nhân tố về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý sẽ được rèn luyện, thử thách để sẵn sàng gánh vác sứ mệnh của nhà trường trong thế kỷ của nền kinh tế tri thức. Vì vậy, phát triển hợp tác đào tạo với nước ngoài có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của trường ĐH GTVT. 3.1.3. Mục tiêu phát triển HTQT về ĐT của trường Đại học GTVT 3.1.3.1. Căn cứ xác định mục tiêu Mục tiêu đặt ra cho các trường đại học đến năm 2020 là phải đạt 25% số giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên, trong khi đó hiện tại tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên tại Trường Đại học GTVT là 13%, còn thiếu 12% tương đương với khoảng 100 tiến sĩ. Để khắc phục sự thiếu hụt này, trong những năm qua nhiều giảng viên Trường Đại học GTVT đã được cử đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài bằng các nguồn học bổng khác nhau. Tuy nhiên, tỉ lệ tiến sĩ gia tăng không đáng kể mà cũng chỉ đủ bù đắp số tiến sĩ nghỉ hưu. Như vậy để đạt được mục tiêu đặt ra là một thách thức rất lớn đối với nhà trường. Để giải quyết vấn đề này, Lãnh đạo trường thấy rõ muốn tăng số lượng giảng viên trình độ cao thì nhất thiết phải tăng cường ưu tiên xây dựng và thực hiện các dự án đào tạo quốc tế để giảng viên có cơ hội tham gia các khoá đào tạo tiến sĩ. Theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm 2010 các trường đại học phải chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang hệ thống tín chỉ như là một căn cứ đúng đắn để hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý cũng như mọi hoạt động của các trường trong quá trình phát triển. Tại mục 3 điều 27 của Điều lệ trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 nêu rõ nhiệm vụ của trường đại học : “Trường đại học tổ chức thí điểm các chương trình đào tạo quốc tế trong khuôn khổ các dự án hợp tác với các trường đại học có uy tín trên thế giới, trên cơ sở đó kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra, công nhận là chương trình đào tạo chính thức của nhà trường”. Khi thực hiện vấn đề này, có quá nhiều việc phải làm, từ việc thay đổi quan điểm nhận thức của cán bộ, giảng viên; biên soạn lại chương trình, bài giảng; đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy học, hệ thống thông tin hỗ trợ và cuối cùng là nguồn kinh phí để thực hiện. Để hỗ trợ vấn đề này thì các dự án HTQT về ĐT đóng một vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy trình độ ngoại ngữ của giảng viên đại học nói chung và của trường Đại học GTVT nói riêng là rất thấp, không đủ điều kiện đi học nước ngoài theo yêu cầu chung quốc tế. Điều này được khẳng định khi Nhà nước có chủ trương dành một khoản kinh phí thực hiện các đề án đào tạo ở nước ngoài (Đề án 322) và giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì quản lý và triển khai thực hiện từ năm 2000, những năm sau đó việc tuyển chọn các ứng viên gửi đi đào tạo ở nước ngoài rất khó khăn, không đủ chỉ tiêu gửi đi như dự kiến. Có nhiều lý do khác nhau dẫn đến vấn đề này, như: việc liên hệ với cơ sở nước ngoài tìm thầy hướng dẫn khó khăn, do quan hệ ngoại giao với Việt Nam chưa được thuận lợi trong việc xin visa về xuất nhập cảnh,…nhưng lý do không đủ trình độ ngoại ngữ theo qui định chiếm một tỉ lệ khá lớn. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phải sử dụng giải pháp cho nợ đầu vào ngoại ngữ, yêu cầu các ứng viên hoàn thiện ngoại ngữ sau khi thi tuyển đạt về trình độ chuyên môn, đàm phán với đối tác tạo điều kiện giúp đỡ bồi dưỡng ngoại ngữ cho học viên trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên nhìn chung trình độ ngoại ngữ của các NCS Việt Nam vẫn thấp sau khi hoàn thành khoá đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài, vì vậy việc khai thác các tiến sĩ sau khi tốt nghiệp về nước hạn chế và kém hiệu quả. Dự án đào tạo quốc tế tạo môi trường và cơ hội tốt cho giảng viên hoàn thiện trình độ ngoại ngữ, phấn đấu về trình độ chuyên môn để được tham gia. Hiện nay, số lượng, quy mô các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài tại trường ĐH GTVT khá lớn. Trong vài năm tới, chắc chắn số lượng các dự án hợp tác ĐTQT sẽ tăng lên, tập trung vào nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau. Để có thể có được sự thống nhất về mục tiêu, phương pháp tiếp cận với các chương trình HTQT, trường ĐH GTVT đang xem xét kế hoạch xây dựng một trung tâm đào tạo quốc tế, quản lý tất cả các chương trình hợp tác đào tạo. Đây là mô hình mà một số trường đại học trên thế giới đã thực hiện thành công: ĐH Tổng hợp London, ĐH Yousei, ĐH Tổng hợp Washington, Đại học Bách khoa Hà nội…Đây có thể coi là một cố gắng cụ thể nhằm thực hiện chiến lược phát triển HTQT trong chiến lược phát triển dài hạn chung của trường ĐH GTVT. Định hướng này có thể coi là quan trọng nhất, quyết định tương lai của các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài. 3.1.3.2. Mục tiêu cụ thể HTQT cùng với công tác tổ chức và cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất là ba giải pháp cơ bản giúp cho trường ĐH GTVT đạt được các mục tiêu chiến lược chung đề ra. HTQT giúp cho Nhà trường củng cố vị thế và nâng cao uy tín trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động HTQT, Nhà trường sẽ có cơ sở vững chắc để xây dựng những chương trình đào tạo và nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, được các trường đại học, các tổ chức nước ngoài công nhận. Chính vì vậy mà HTQT của Nhà trường tập trung vào thực hiện các mục tiêu cụ thể sau đây: * HTQT về đào tạo nhằm đào tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao về KHKT, được quốc tế thừa nhận; * HTQT về đào tạo nhằm góp phần đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý của nhà trường có khả năng giảng dạy và quản lý các chương trình HTQT về đào tạo; * HTQT về đào tạo nhằm tiếp nhận các phương pháp đào tạo, cách thức đào tạo, giáo trình tài liệu…học tập kinh nghiệm đào tạo của các giáo sư và các trường đại học nước ngoài , góp phần tích cực vào nâng cao chất lượng đào tạo trong nước; * HTQT về đào tạo nhằm xây dựng và phát triển các chuyên ngành đào tạo mới đạt được chuẩn của một số tổ chức giáo dục quốc tế và/ hoặc của một số trường đại học của các nước tiên tiến– thực hiện mục tiêu xây dựng trường ĐH GTVT thành trường đa ngành, đa lĩnh vực; * HTQT về đào tạo của ĐH GTVT góp phần tích cực vào việc nâng cao uy tín của nhà trường trong khu vực và trên thế giới. ĐH GTVT phấn đấu trở thành thành viên tích cực của một số tổ chức giáo dục quốc tế, hiệp hội các trường đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới; thành viên tích cực của một số hiệp hội khoa học kỹ thuật quốc tế. * Thực hiện liên kết nghiên cứu khoa học và tư vấn quốc tế, trước mắt tập trung khai thác, phát triển dự án, chương trình nghiên cứu, tư vấn quốc tế tại Việt Nam và các chương trình, dự án nghiên cứu, tư vấn trong khu vực. Dần dần, HTQT về nghiên cứu và tư vấn là nguồn thu quan trọng cho Nhà trường Đẩy mạnh hoạt động HTQT về ĐT là một trong những hướng đi quan trọng của ĐH GTVT. Đẩy mạnh hoạt động HTQT giúp nhà trường củng cố và tăng cường phối hợp các nguồn lực bên trong, huy động được các nguồn lực bên ngoài đóng góp cho sự phát triển chung của Nhà trường. 3.2. Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường Đại học GTVT trong giai đoạn hiện nay. 3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý các dự án HTQT về đào tạo 3.2.1.1. Mục đích, ý nghĩa Sự thay đổi của môi trường HTQT trong giáo dục và đào tạo cũng dẫn đến yêu cầu phải khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong tổ chức quản lý hợp tác quốc tế về đào tạo. Tiếp tục duy trì tình trạng thiếu thống nhất trong tổ chức quản lý hợp tác đào tạo quốc tế không những sẽ dẫn đến nhiều khó khăn đối với nhà trường trong tiếp tục phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo mà còn hạn chế khả năng huy động các nguồn lực của được tạo ra trong khuôn khổ các chương trình hợp tác ĐTQT hiện nay đối với sự phát triển chung của nhà trường. Phân tán các đầu mối chính quản lý hợp tác ĐTQT cũng có nghĩa là phân tán về thông tin gây khó khăn cho công tác ra quyết định quản lý. Chính vì vậy mà trường ĐH GTVT cần sắp xếp lại hệ thống tổ chức quản lý các chương trình HTQT về ĐT hiện nay. Đây là một công việc phức tạp và chắc chắn sẽ gây ra một số những điểm bất đồng nhất định giữa các đầu mối quản lý HTQT về đào tạo hiện nay. 3.2.1.2. Nội dung Để việc sắp xếp lại mô hình tổ chức quản lý HTQT về đào tạo trong thời gian tới đạt hiệu quả, cần thực hiện như sau: - Kiện toàn và tăng cường bộ máy làm công tác QL các dự án HTQT về ĐT về chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ từ Bộ đến các cơ sở. - Tạo sự đồng thuận của Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường ĐH GTVT và sau đó là sự nhất trí thực hiện giữa các đầu mối quản lý các chương trình HTQT về ĐT. - Thành lập một đơn vị chức năng trong trường chuyên trách tổ chức triển khai thực hiện các dự án HTQT về ĐT. - Đối với mỗi dự án đào tạo quốc tế, thành lập một Ban quản lý, điều hành dự án ngay từ khi xây dựng dự án và chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện và theo dõi mọi hoạt động của dự án, thường xuyên báo cáo định kỳ với lãnh đạo Trường mọi hoạt động của dự án. 3.2.2. Hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án hợp tác quốc tế về dào tạo 3.2.2.1. Mục đích, ý nghĩa Việc hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về QL các dự án HTQT về ĐT sẽ giúp các các cơ sở giáo dục và các cá nhân có thể nắm bắt được và thực hiện một cách đầy đủ và đúng quy trình, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tăng cường QL và đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào việc phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục ở Việt nam. 3.2.2.2. Nội dung - Xây dựng các văn bản qui định về công tác quan hệ quốc tế trong đó thể hiện rõ sự phân quyền cho các cơ sở chứ không chỉ thể hiện quan hệ chỉ đạo, “xin-cho”. - Ban hành hệ thống các văn bản về thủ tục xin phép thành lập và hoạt động, cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấp phép thành lập các cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt nam để cấp cơ sở dễ dàng hoàn thành các thủ tục, cụ thể như thủ tục xin phép thực hiện một chương trình hợp tác đào tạo mới như thế nào, việc tiếp tục hoặc mở rộng các chương trình trước đây đã được phép thực hiện ra sao, tư cách pháp nhân, nguồn cung cấp tài chính cho một trường đại học (ở Việt nam và ở nước ngoài). - Bộ cần ban hành hướng dẫn về thành lập CSGDNN, trong đó nêu rõ về những lĩnh vực được khuyến khích hay không được khuyến khích để các trường có định hướng khi xây dựng dự án và tìm kiếm đối tác, những qui định cụ thể, phù hợp đối với người tham gia như điều kiện tham gia, những yêu cầu trong quá trình thực hiện, vấn đề tài chính và những vấn đề liên quan khác để tránh trường hợp dự án không được cấp phép sau khi cả hai phía đối tác đã bỏ rất nhiều công sức cho việc xây dựng dự án và xin phép. 3.2.3. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo 3.2.3.1. Mục đích, ý nghĩa Trong giai đoạn tới, yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao đòi hỏi chúng ta phải tương đồng với quốc tế về cách thức quản lý dự án theo chuẩn mực quản lý dự án quốc tế. Để nâng cao tầm ảnh hưởng, qui mô và hiệu quả của các dự án đào tạo quốc tế trong thời kỳ hội nhập, cần phải có đội ngũ quản lý triển khai thực hiện dự án chuyên nghiệp hơn. Đội ngũ cán bộ đủ năng lực sẽ tranh thủ được nhiều dự án và triển khai có hiệu quả. Thực tế cho thấy nếu ở dự án nào ta có được nhiều cán bộ có trình độ cao tham gia làm việc với các chuyên gia nước ngoài thì dự án đó ta có quyền chủ động hơn, bình đẳng hơn, kinh phí dự án được sử dụng có hiệu quả hơn nhiều và chất lượng chuyên gia cũng tốt hơn. 3.2.3.2. Nội dung Để làm tốt công tác đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý dự án HTQT về ĐT cần thực hiện một số vấn đề sau: (i)Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên, chuyên viên làm công tác quản lý dự án Trình độ ngoại ngữ của cán bộ, giảng viên tham gia dự án đào tạo quốc tế là rất quan trọng, nó quyết định hiệu quả của dự án. Một đặc điểm nổi bật ở một trường đại học kỹ thuật như trường ĐH GTVT đó là những giảng viên ngoại ngữ thì không biết kiến thức chuyên ngành, còn giảng viên chuyên ngành thì không giỏi ngoại ngữ. Sự khác biệt này gây ra những khó khăn trong công tác biên dịch, phiên dịch và trong giao tiếp công việc- những mảng công việc cần sự phối hợp chặt chẽ giữa hai kiến thức ngoại ngữ và chuyên môn. Vì vậy việc đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên là cần thiết và là một quá trình liên tục, cần được thực hiện một cách bài bản, có tổ chức. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này, nhưng theo học viên có hai nguyên nhân chủ yếu, một là: quan điểm của các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục chưa thực sự quan tâm, dẫn đến thiếu chính sách khuyến khích động viên học sinh, sinh viên học tập ngoại ngữ; hai là: chương trình đào tạo của học sinh, sinh viên quá nặng, không còn đủ thời gian và tâm lý để học ngoại ngữ. Vì vậy, để cải thiện ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên Việt Nam nói chung cần phải thay đổi quan điểm nhìn nhận của các nhà hoạch định chiến lược trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; cần có chính sách, có chương trình hành động cụ thể, phù hợp thì mới hiệu quả. Cụ thể: - Ban hành chính sách khuyến khích, động viên, hỗ trợ và bắt buộc giảng viên nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt đối với giảng viên trẻ. Cần xem những ngoại ngữ quan trọng như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức là một tiêu chí trong việc tuyển dụng, qui hoạch cán bộ. Như vậy mỗi cán bộ giảng viên sẽ tự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ ngoại ngữ cho bản thân. - Thường xuyên tổ chức những khoá đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên có sự tham gia giảng dạy của người nước ngoài, có mục tiêu đặt ra cho mỗi khoá học. Kinh phí cho các khoá có thể từ ngân sách tự có, có thể giảng viên đóng góp một phần. Khi kết thúc khoá học có xét thưởng động viên cho những học viên đạt trình độ yêu cầu, đồng thời có hình thức nhắc nhở, kỷ luật đối với những học viên không đạt trình độ, không nghiêm túc tham gia học tập. (ii) Tự đào tạo học hỏi qua quá trình làm việc Do yêu cầu đòi hỏi của công việc khi làm việc trong một môi trường quốc tế buộc các cá nhân phải nỗ lực nhiều hơn để nâng cao trình độ của mình về chuyên môn , ngoại ngữ và các kỹ năng khác phục vụ cho công việc. Họ phải tự nghiên cứu, tìm hiểu thực hiện công tác quản lý theo các chuẩn mực, quy trình, quy định về kiểm định chất lượng của các tổ chức quốc tế hoặc các trường đại học nước ngoài…Nhờ quá trình đó mà các cán bộ tự trưởng thành và ngày càng tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm, nâng cao trình độ của mình. Đối với phương pháp tự đào tạo để có thể đạt được hiệu quả như mong muốn thì nhà trường cần : - Tạo lập môi trường quốc tế trong đó tuân thủ những tiêu chuẩn quốc tế về chương trình đào tạo, chất lượng lực lượng lao động (bao gồm cả giảng viên và đội ngũ cán bộ quản lý). - Lựa chọn cán bộ cho từng vị trí công việc căn cứ vào bản mô tả công việc. Như vậy, khi là một thành viên của môi trường này, các cán bộ buộc phải không ngừng phấn đấu vươn lên, tự biết học tập bổ xung trình độ nâng cao trình độ của mình. Thông qua học tập và làm việc trong môi trường này, nhận thức và hành vi của cán bộ quản lý, giảng viên nhất định cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực. (iii) Đào tạo trực tiếp dưới sự kèm cặp và hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài ở trong và ngoài nước Hình thức này các cán bộ có thể tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn ở trong nước hoặc ở nước ngoài dưới sự hướng dẫn giảng dạy trực tiếp của các chuyên gia nước ngoài. Các chương trình đào tạo này thường cung cấp cho người học kiến thức một cách hệ thống và đầy đủ. Phương pháp giảng dạy cũng rất phong phú để người học có thể học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia nước ngoài về công việc. (iv)Tổ chức các buổi hội thảo quốc tế về các lĩnh vực khác nhau Quá trình tổ chức các cuộc hội thảo sẽ giúp cho các cá nhân tự cập nhật các kiến thức, có cơ hội trao đổi với các đối tác chuyên gia trên thế giới về các vấn đề lĩnh vực nhất định. Nhờ đó cán bộ có thể phát triển được năng lực của mình. (v)Tiến hành trao đổi cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ đi nước ngoài tham quan, thực tập Đây là cơ hội tốt nhất để các cán bộ có thể tận mắt chứng kiến hoặc được trực tiếp tham gia vào công việc tại các cơ sở ở nước ngoài. Quá trình này họ có thể học hỏi được từ các nước tiên tiến cách thức làm việc, quản lý hay để áp dụng vào trong nước. Các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo đem đến cho môi trường giáo dục của Việt nam chương trình và triết lý đào tạo của những nền giáo dục tiên tiến hơn, với tính mục đích cao và rõ ràng trong đào tạo, chú ý đến sự phát triển đa dạng và riêng có của mỗi cá nhân, là một môi trường tốt cho các giảng viên và cán bộ quản lý của ta quan sát và học hỏi, rèn luyện về chuyên môn và các chuẩn mực giá trị sống, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp của người thầy. 3.2.4. Tăng cường nguồn thông tin khi xây dựng dự án 3.2.4.1. Mục đích, ý nghĩa Bước xây dựng dự án rất quan trọng, vì nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của dự án sau này. Chính vì vậy các thông tin liên quan đến dự án cần phải được cập nhật đầy đủ và nghiên cứu kỹ thì người xây dựng dự án mới có cơ sở tiên đoán trước được các vấn đề nảy sinh khi thực hiện. 3.2.4.2. Nội dung Khi xây dựng dự án cần tăng cường các nguồn thông tin cơ bản sau: - Thông tin về mục tiêu dự án: phải gắn kết với mục tiêu chiến lược phát triển trường, hỗ trợ mục tiêu chung của trường. - Thông tin về đối tác: đây là vấn đề quan trọng, cần phải xem xét, tìm hiểu đối tác xem có phù hợp không? sở trường và thế mạnh của đối tác là gì? mục đích và quyền lợi của đối tác có minh bạch và chính đáng không? Uy tín và năng lực của đối tác có đáp ứng để thực hiện dự án không? Với những đối tác hiện nay ở các nước mới quan hệ ngoại giao với Việt Nam như Mỹ, Anh, Australia, Newziland,… thì thông tin về đối tác lại càng quan trọng và cần thiết. - Tăng cường nguồn thông tin từ các đại diện cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước sở tại đồng thời tìm kiếm các thông tin qua nhiều kênh khác nhau, bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp, để tránh những trường hợp đáng tiếc tương tự đã xảy ra trước đây với Đài Loan và Singapore. Tóm lại, khi xây dựng một dự án đào tạo cần tích luỹ thông tin, phân tích kỹ tất cả các khâu như: mục tiêu chung; mục tiêu cụ thể; nội dung; kế hoạch, tiến độ thực hiện; tài chính; những người được hưởng lợi; tác động và ảnh hưởng của dự án tới môi trường giáo dục đào tạo của trường; tổ chức thực hiện; thông tin về đối tác; báo cáo đánh giá định kỳ; và cuối cùng khi kết thúc dự án phải nghiêm túc đánh giá tổng kết những mặt thành công và chưa thành công để phát huy và rút kinh nghiệm cho những dự án đào tạo khác. 3.2.5. Tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính để thực hiện dự án 3.2.5.1. Mục đích, ý nghĩa Nguồn tài chính cho dự án là vấn đề cốt yếu hiện nay, nó quyết định dự án có được triển khai thực hiện hay không. 3.2.5.2. Nội dung Những năm qua trường Đại học GTVT đã nỗ lực tìm kiếm các nguồn tài chính để thực hiện dự án đào tạo và đã có một số dự án được phê duyệt với số tiền lên tới hàng chục tỉ đồng. Tuy nhiên để tăng cường các nguồn tài chính cho thực hiện dự án, Nhà trường cần: - Khai thác tối đa nguồn ngân sách Nhà nước (Đề án 322) hoặc vốn vay của Chính phủ . - Huy động các mối quan hệ hợp tác với các trường đại học nước ngoài và tổ chức quốc tế, phát huy năng lực của những giảng viên đã được đi đào tạo ở nước bạn để tìm kiếm nguồn tài trợ quốc tế cho các dự án. Việt Nam đang tiến tới giáo dục hội nhập, nghĩa là phải chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục. Khi đó tính tự chủ của các trường đại học được khẳng định, tính cạnh tranh quyết liệt hơn, đòi hỏi các trường phải tự hạch toán đứng vững trên nguồn tài chính của mình. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội, các trường cần: - Huy động nguồn tài chính từ những doanh nghiệp, hay sự hỗ trợ của ngân hàng trong hoạt động đào tạo của mình. Sản phẩm của dự án đào tạo chính là một thứ hàng hoá đặc biệt cung ứng cho các doanh nghiệp, vì vậy việc các doanh nghiệp đầu tư cho dự án đào tạo là hoàn toàn phù hợp trong tương lai. Trong giáo dục hội nhập, nhà trường cần huy động nguồn tài chính từ doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khác để thực hiện dự án đào tạo quốc tế. 3.2.6 .Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động của dự án 3.2.6.1. Mục đích,ý nghĩa Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả của các dự án đóng vai trò quan trọng, có tầm vĩ mô đối với những người hoạch định chiến lược cấp cao hơn, giúp họ có đầy đủ thông tin cần thiết để điều chỉnh các hoạt động của dự án cho phù hợp, đảm bảo dự án được thực hiện thành công. 3.2.6.2. Nội dung - Xây dựng các chuẩn mực về kết quả hoạt động của dự án. - Đảm bảo thủ tục báo cáo lưu chuyển thông tin từ trên xuống và từ dưới lên. - Thường xuyên báo cáo tình hình triển khai dự án, kết quả thực hiện đúng qui định; đề xuất những vấn đề vướng mắc, những kiến nghị với cơ quan chủ quản và cơ quan chức năng. - Cơ quan chủ quản và cơ quan chức năng cũng cần tăng cường việc kiểm tra, giám sát các hoạt động triển khai dự án. 3.3. Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Phần khảo sát được thiết kế để tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý dự án, các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án HTQT về mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đưa ra trong luận văn. Nó giúp cho luận văn của tác giả mang một các nhìn sâu rộng hơn, thực tiễn hơn và hoàn chỉnh hơn. Đối tượng điều tra: các cán bộ đang hoặc đã từng làm công tác quản lý dự án trong trường ĐH GTVT. Số phiếu phát đi: 38 Số phiếu thu lại: 38 Số phiếu hợp lệ: 38 Số phiếu không hợp lệ: 0 Nội dung: Trong bảng hỏi tập trung điều tra một số vấn đề chung về cán bộ quản lý dự án và xin ý kiến các cá nhân về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đưa ra để quản lý dự án HTQT về ĐT tại trường ĐH GTVT. Mức độ cần thiết được điều tra theo 3 mức độ: rất cần thiết, cần thiết, không cần thiết. Mức độ khả thi được điều tra theo 3 mức độ: rất khả thi, khả thi, không khả thi. Đánh giá chung: Kết quả khảo sát cho thấy các cán bộ làm công tác quản lý dự án (đặc biệt là những người có thâm niên công tác cao và tham gia nhiều dự án HTQT về ĐT ) đều đánh giá các biện pháp quản lý dự án nêu trên là rất cần thiết và tính khả thi cao. Trong số các biện pháp, thì biện pháp thứ 3- ĐT và phát triển đội ngũ cán bộ QL dự án HTQT về ĐT được đánh giá cao nhất về mức độ cần thiết và tính khả thi. Các biện pháp đều được thể hiện cụ thể ở Bảng 3.1 sau đây. TT Tên biện pháp Đánh giá mức độ cần thiết (%) Đánh giá tính khả thi (%) Rất CT CT Ko CT Rất KT KT Ko KT 1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức QL các dự án HTQT về ĐT 65.5 34.5 0.0 55.0 40.0 5.0 2 Hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về QL các dự án HTQT về ĐT 61.5 32.5 6.0 51.1 43.3 5.6 3 Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo 87.2 10.6 2.2 76.0 10.7 13.3 4 Tăng cường nguồn thông tin khi xây dựng dự án 65.6 34.4 0.0 36.1 48.9 15.0 5 Tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính để thực hiện dự án 77.7 16.8 5.5 32.2 48.9 18.9 6 Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động của các dự án 77.8 16.7 5.5 38.9 50.0 11.1 Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Tiểu kết chương 3 (i) Phương hướng phát triển hợp tác đào tạo quốc tế của ĐH GTVT: - Mở rộng các hoạt động cả ngược dòng và xuôi dòng theo chuỗi giá trị đào tạo - Mở rộng và phát triển hợp tác đào tạo quốc tế phải đi đôi với củng cố hệ thống tổ chức quản lý các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế. (ii) Mục tiêu chung của phát triển hợp tác đào tạo quốc tế tại trường ĐH GTVT : - Phát triển hợp tác đào tạo với nước ngoài là một biện pháp đi tắt, đón đầu để sớm bắt kịp với trình độ của các trường đại học trong khu vực và trên thế giới. - Phát triển hợp tác đào tạo với nước ngoài cần chú ý nhiều hơn đến các chương trình đào tạo trong đó học viên đóng góp kinh phí hoặc tài trợ một phần. - Chú ý nhiều hơn đến các chương trình hợp tác dành cho hệ đào tạo đại học. (iii) Mục tiêu cụ thể: Hợp tác quốc tế cùng với công tác tổ chức và cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất là ba giải pháp cơ bản giúp cho trường ĐH GTVT đạt được các mục tiêu chiến lược chung đề ra. HTQT giúp cho Nhà trường củng cố vị thế và nâng cao uy tín trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động HTQT, Nhà trường sẽ có cơ sở vững chắc để xây dựng những chương trình đào tạo và nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, được các trường đại học, các tổ chức nước ngoài công nhận. (iv) Biện pháp quản lý các dự án của trường ĐH GTVT trong giai đoạn hiện nay - Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý các dự án HTQT về đào tạo. - Hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT. - Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ QL dự án HTQT về ĐT. - Tăng cường nguồn thông tin khi xây dựng dự án. - Tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính để thực hiện dự án. - Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động của dự án. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Toàn cầu hóa là một xu thế mạnh mẽ và việc Việt nam gia nhập WTO là sự kiện thể hiện một cách rõ nét nhất sự xâm nhập sâu sắc của xu thế đó đối với Việt nam. Hội nhập quốc tế là có cơ hội và được đòi hỏi phải hòa chung vào những chuẩn mực quốc tế đối với các sản phẩm dịch vụ. Người lao động cũng phải đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động mang tính quốc tế với sự có mặt của các công ty nước ngoài cũng như của các công ty Việt nam đang hướng tới các chuẩn mực cạnh tranh quốc tế, và cũng có nghĩa là phải cạnh tranh với lực lượng lao động của nước ngoài có mong muốn làm việc tại Việt nam. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của các trường đại học khối kỹ thuật, đặc biệt là đào tạo đội ngũ giảng viên là một yêu cầu bức thiết để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội một đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Các dự án HTQT về ĐT tại trường ĐH GTVT đã góp phần đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo cho xã hội các nhà khoa học kỹ thuật và các giảng viên với trình độ quốc tế để đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới. Với việc đưa ra biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, luận văn đã đưa ra một mô hình tổng quát về nội dung, phương pháp và cách tiếp cận trong việc quản lý các dự án HTQT về ĐT tại trường Đại học GTVT. Luận văn đã nêu ra được những điểm cần khắc phục trong quản lý hiện nay, thể hiện ở sự bất cập trong việc làm thủ tục để hình thành dự án; những hạn chế về chính sách, chế độ đối với các dự án; phân tán trong tổ chức quản lý các chương trình HTQT về ĐT ở trường ĐH GTVT. 2. Khuyến nghị Đảng và Nhà nước ta đã xác định để cải cách và xây dựng nền giáo dục Việt nam xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI cần: tăng nhanh ngân sách Nhà nước cho giáo dục, thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, tăng cường xã hội hóa giáo dục và đẩy mạnh HTQT để bổ sung thêm nguồn lực cho GD&ĐT và sớm hội nhập khu vực và thế giới. Trong khi trước mắt chưa thể tăng nhanh được ngân sách nhà nước cho GD&ĐT và đóng góp của nhân dân, của xã hội cho GD thì cần thực hiện tốt công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT. Luận văn xin đưa ra các khuyến nghị sau đây: Với Chính phủ Chính phủ cần có ngay các Thông tư hướng dẫn thực hiện quyết định đi kèm các Quyết định về quan hệ quốc tế để các cơ sở giáo dục có thể chủ động tiến hành thực hiện. Ban hành các Quyết định thể hiện việc hướng dẫn, giao quyền cụ thể và phân cấp quản lý các dự án cho các cơ sở giáo dục đào tạo nhằm tăng cường vai trò chủ động của các cơ sở nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về công tác này. Theo quy định của Chính phủ thì Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Do đó các dự án/chương trình HTQT về ĐT (theo hình thức có lợi nhuận hay phi lợi nhuận) cũng phải do Bộ GD&ĐT quản lý và chịu trách nhiệm trước Chính phủ. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành văn bản cụ thể qui định đơn vị đủ năng lực thẩm quyền xác minh năng lực pháp lý và tài chính của một trường đại học; có những hướng dẫn về những lĩnh vực được khuyến khích hay không được khuyến khích hợp tác đào tạo. Ban hành quy định cụ thể cho 1 bộ hồ sơ xin phép thành lập chương trình dự án mới bao gồm những giấy tờ gì; sau bao nhiêu thời gian kể từ khi Bộ tiếp nhận hồ sơ thì sẽ có kết quả. Thành lập bộ phận kiểm tra, giám sát định kỳ tình hình hoạt động của các dự án đã được phê duyệt để kịp thời đình chỉ những cơ sở giáo dục không đạt tiêu chuẩn, tạo điều kiện giữ vị thế cho các cơ sở giáo dục đạt yêu cầu. Với trường Đại học Giao thông Vận tải Khắc phục tình trạng phân tán trong tổ chức quản lý các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo tại trường ĐH GTVT, tránh tình trạng thiếu thống nhất trong tổ chức quản lý HTQT về ĐT, giúp nhà trường tiếp tục phát triển HTQT, nâng cao khả năng huy động các nguồn lực của được tạo ra trong khuôn khổ các chương trình hợp tác ĐTQT hiện nay đối với sự phát triển chung của Nhà trường. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt Văn bản, văn kiện 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo. Nhà xuất bản Giáo dục, 2002. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức nhà nước về giáo dục và đào tạo.Học viện Quản lý Giáo dục, 2008. 3. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. Nhà xuất bản Giáo dục. 4. Luật Giáo dục (sửa đổi và bổ sung năm 2005). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 5. Nghị định 06/2000/NĐ-CP về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học. 7. Nghị định 18/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 quy định về lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa, giáo dục nước ngoài tại Việt nam. 8. Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư. 9. Nghị quyết 14/2005/NQ- CP ngày 02/11/2005 về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai đoạn 2006-2020. 10. Quyết định 42/CP ngày 24/3/1962 về việc thành lập trường Đại học Giao thông Vận tải 11. Quyết định 363/QĐ-ĐN ngày 9/4/2004 về việc thành lập Phòng Đối ngoại-trường ĐH GTVT. 12. Phòng Đối ngoại. Báo cáo tổng kết các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học Giao thông Vận tải từ năm 1996-2007, 2007. 13. Phòng Đối ngoại. Báo cáo tổng kết dự án đào tạo kỹ sư cầu đường bằng tiếng Pháp, 2006. 14. Phòng Đối ngoại. Báo cáo tổng kết dự án đào tạo phối hợpViệt-Nga, 2006. 15. Phòng Tổ chức cán bộ. Báo cáo tổng kết công tác đào tạo cán bộ trường Đại học Giao thông Vận tải, 2007. 16. Trường Đại học Giao thông Vận tải. Chiến lược phát triển trường Đại học GTVT giai đoạn 2008-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, 2008. 17. Trường Đại học Giao thông Vận tải. Chương trình tham gia Quỹ đổi mới đào tạo và nghiên cứu của Dự án Giáo dục Đại học 2, 2007. 18. Trường Đại học Giao thông Vận tải. Quy định Chức năng, nhiệm vụ trường Đại học GTVT, 1995. 19. Trường Đại học Giao thông Vận tải. Kỷ yếu hội thảo”Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, đào tạo và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, 2008. Tác giả, tác phẩm 20. Nguyễn Quốc Chí-Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Bài giảng môn Cơ sở khoa học quản lý cho lớp Cao học QLGD. Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà nội. 21. Nguyễn Quốc Chí. Bài giảng môn Quản lý Dự án cho lớp Thạc sỹ QLGD của Đại học Sư phạm 1. Đại học Sư phạm 1. (2006-2007) 22. Nguyễn Đức Chính. Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà nôi, 2002. 23. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà nội,2005. 24. Phạm Minh Hạc. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc gia,1996. 25. Phạm Thành Nghị. Quản lý chiến lược, kế hoạch trong các trường đại học và cao đẳng. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, 2000. 26. Từ Quang Phương. Giáo trình quản lý dự án đầu tư. Nhà xuất bản Lao động xã hôi, 2005. 27. Phạm Phụ. “Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt nam”, Quy mô và chất lượng giáo dục đại học Việt nam, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005. 28. Đặng Bá Lãm. Giáo dục Việt nam những thập niên đầu thế kỷ XXI-Chiến lược phát triển.Nhà xuất bản Giáo dục, 2005. 29. Đặng Bá Lãm. Quản lý Nhà nước về giáo dục-Lý luận và thực tiến .Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005. 30.Thanh Thùy, Lệ Huyền, Liên Hương. Tổ chức và điều hành dự án.Nxb Tài chính, 2006. 31. Bùi Anh Tuấn, Phan Thủy Chi. “Đào tạo liên thông: Một hình thức du học có hiệu quả”, Tạp chí Giáo dục, tháng 12/2001. 32. Trần Quang Quý. Báo cáo tổng kết công tác đối ngoại trường Đại học GTVT nhiệm kỳ 1995-2000. 33. Vũ Tiến Sỹ. Báo cáo tổng kết công tác đối ngoại trường Đại học GTVT nhiệm kỳ 2000-2003. 34. Thái Hà Phi. Báo cáo tổng kết công tác đối ngoại trường Đại học GTVT nhiệm kỳ 2003-2008. Tài liệu tiếng Anh: 35. Australian Higher Education Council. Achieving Quality. Australian Government Publishing Service Canberra, 1992. 36. J. Daniel, R. Romer, M.Leawitt. Những triển vọng của giáo dục đại học và sau đại học trên thị trường toàn cầu. Hội thảo Khoa học” Nâng cao Chất lượng đào tạo đại học và sau đại học về kinh tế và quản trị kinh doanh thập niên đầu thế kỷ 21”, Hà nội, 11/2002.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTom tat.doc
  • docBia 2.doc