Các yếu tố tác động đến việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên hiện nay (nghiên cứu 5 trường ĐH)

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu : 6.1 Cơ sở lý luận : Trình bày trên cơ sở việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong các văn kiện nghị quyết của Đảng và nhà nước Lý thuyết xã hội học về giá trị và chuẩn mực xã hội 6.2 Phương pháp nghiên cứu : Định tính : PVS: 30 sinh viên Phân tích tài liệu : Các sách báo và các công trình liên quan Định lượng : 100 mẫu tại 5 trường ĐH Kết cấu nghiên cứu của Luận văn: Phần 1 :Tổng quan về vấn đề nghiên cứu : Phần 2 :Nội dung Chương 1 :Lý luận về giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp Chương 2 :Tình hình định hướng nghề nghiệp của sinh viên Phần 3 : Kết luận và khuyến nghị:

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/02/2013 | Lượt xem: 3098 | Lượt tải: 13download
Tóm tắt tài liệu Các yếu tố tác động đến việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên hiện nay (nghiên cứu 5 trường ĐH), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 1.Mục đích : Làm rõ thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệp và những yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề nghiệp Đưa ra những khuyến nghị , giải pháp nhằm khuyến khích những định hướng giá trị nghề nghiệp hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội 2. Nhiệm vụ : Tìm hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên hiện nay Tìm hiểu các yếu tố tác động đến quá trình định hướng nghề nghiệp của sinh viên Phân tích những biến đổi trong định hướng nghề nghiệp của sinh viên trong thời kỳ đổi mới Góp phần đánh giá hậu quả của những biến đổi đó với đời sống xã hội Đưa ra dự báo và mộ số kiến nghị nhằm giải quyết các vấn đề xã hội được đặt ra 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu : 4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tương : Định hướng giá trị nghề nghiệp và những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp : Khách thể : Sinh viên 4.2 Địa bàn nghiên cứu : ĐH Bách Khoa ĐH KTQD ĐH Khoa học xã hội và nhân văn ĐH Ngoại ngữ- ĐH Quốc gia HN ĐH DL Đông Đô 5. Giả thuyết : Khi chọn nghành học và chọn nghề sau khi ra trường, sinh viên thường căn cứ vào những yếu tố đặc biệt sau : Năng lực cá nhân Ý kiến cha mẹ người thân Ý kiến nhóm bạn và sở thích Trào lưu xã hội Hiện nay khi chọn nghành học và nghề sinh viên còn căn cứ và các yếu tố khác như : Điểm chuẩn vào trường thấp Có học bổng khi học Dễ kiếm việc làm khi ra trường, nhất là những ngành nhu cầu việc làm đang lớn Việc làm có thu nhập cao Cha mẹ , người thân Gia đình Hành vi chọn nghề Kinh tế thị trường Thái độ Bạn bè Nhóm người cùng sở thích Nhà trường Giá trị chuẩn mực văn hóa truyền thống Hệ thống giá trị chuẩn mực nghề nghiệp Sinh viên Nhận thức Văn hóa bên ngoài xâm nhập Xu hướng phát triển KY_XH Định hướng giá trị nghề nghiệp chung Xã hội Định hướng nghề của sinh viên 6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu : 6.1 Cơ sở lý luận : Trình bày trên cơ sở việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong các văn kiện nghị quyết của Đảng và nhà nước Lý thuyết xã hội học về giá trị và chuẩn mực xã hội 6.2 Phương pháp nghiên cứu : Định tính : PVS: 30 sinh viên Phân tích tài liệu : Các sách báo và các công trình liên quan Định lượng : 100 mẫu tại 5 trường ĐH Kết cấu nghiên cứu của Luận văn: Phần 1 :Tổng quan về vấn đề nghiên cứu : Phần 2 :Nội dung Chương 1 :Lý luận về giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp Chương 2 :Tình hình định hướng nghề nghiệp của sinh viên Phần 3 : Kết luận và khuyến nghị: PHẦN 2 : NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP : 1. CÁC QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ : ( Tìm ) Khái niệm giá trị (Tìm) Quá trình hình thành và định hướng giá trị ( Tìm ) Chức năng của chuẩn mực giá trị xã hội Phân loại Vai trò 2. Định hướng giá trị nghề nghiệp Cơ cấu hoạt động nghề nghiệp : Cơ cấu lao động nghề nghiệp : Định hướng giá trị nghề nghiệp và sự phát triển nhân tố con người ( Tìm ) CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 2.1 Công tác đào tạo bậc đại học ở nước ta Năm 1975, 95% mù chữ vài trường đại học cao đẳng đào tạo cho bộ máy cai trị 1979-1989 Tăng 2.5 lân. Năm 1995 , 827.659 người có trình độ cao đẳng đại học đang làm việc 1997-1998 . Nước ta có 126 trường ĐH .Năm 1999 số trường dân lập là 16 trường. Số sinh viên 1988 :260.577 người .Tăng 2.9 lần so với năm 1994 Cơ cấu nghề đào tạo 2.2 Những yếu tố tác động đến sự lựa chọn của sinh viên trước khi vào trường Là sự tìm kiếm , khẳng định giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai. Đó là những vấn đề như uy tín nghề nghiệp , vị trí của ngành nghề đó trong xã hội và lợi ích vật chất xã hội và tinh thần mà họ có được khi hành nghề , sở thích và năng lực cá nhân , nhu cầu của xã hội về nhành nghề đó trong cả hiện thực lẫn tương lai Trong sự lựa chọn nghề nghiệp của mình người sinh viên chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố : lợi ích cá nhân ,ảnh hưởng gia đình , của môi trường xã hội… Mức độ tác động của các yếu tố này đối với mỗi sinh viên khác nhau.Điều này không chỉ phụ thuộc vào sở thích , năng lực cá nhân bản thân sinh viên mà còn phụ thuộc vào thành phần xuất thân , vào môi trường xã hội mà họ sống trước khi vào trường và vào điều kiện xã hội của đất nước Với câu hỏi “ Bạn vào trường và ngành đang học vì lý do gì “ Tổng hợp các câu trả lời cho thấy sinh viên lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình vì những lý do có liên quan đến lợi ích cá nhân ( Hợp với khả năng và sở thích , dề tìm việc làm , điểm chuẩn vừa sức ) rồi những lý do liên quan đến truyền thống gia đình, ý kiến cha mẹ và của bạn bè Trong những lý do đưa ra “ hợp với khả năng và sở thích “ được nhiều sinh viên lựa chọn nhất : 76% sinh viên dược hỏi lựa chọn ngành học vì lý do này . Thậm chí có 85 % trong đó coi đây là lý do quan trọng nhất ( chiếm 65% tổng số sinh viên được hỏi ) Trường Tỷ lệ lựa chọn Số lượng Tỷ lệ (% ) Bách Khoa 16 76.2 KT Quốc dân 14 73.7 KHXH và nhân văn QG 12 60 Ngoại ngữ - ĐH QG 12 60 Đông Đô 11 55 Theo bảng số liệu thì số lượng sinh viên vào trường hợp do hợp khả năng và sở thích chiếm tỷ lệ cao nhất, đại học bách khoa là trường khoa học tự nhiên và đào tạo những kỹ sư cho các nhành kỹ thuật cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đòi hỏi những đóng góp của trường này rất nhiều . DO vậy tuy điểm chuẩn vào những đóng góp ý của trường này rất nhiều . Do vậy tuy điểm chuẩn vào trường cao và nội dung đào tạo nặng nhưng vẫn có rất đông sinh viên đăng kí dự thi Trường kinh tế quốc dân là trường có nhiều sinh viên dự thi bởi trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường rất cần nhiều cử nhân trong lĩnh vực này, Do vậy sinh viên thích học trường này cũng là điều dễ hiểu. Tỷ lệ sinh viên thì vào trường ĐH Đông Đô vì thấy hợp khả năng và sở thích là thấp nhất trong cả 5 trường , Theo tâm lý chung , những học sinh thi vào những trường dân lập phần lớn là để dự trù cho khả năng họ bị trượt tại các trường quốc lập. Họ không muốn vào học các trường dân lập vì nhiều nguyên nhân như học phí cao , cơ sỏ vật chất không đầy đủ , sợ chất lượng không đảm bảo cũng như khó tìm việc làm sau khi ra trường . Lý do đầu tiên mà sinh viên dự thi vào các trường đại học dân lập là vì các trường này điểm chuẩn thấp . Điều này thể hiện qua con số 44,4 % ý kiến cho là “ điểm chuẩn vừa sức “ , ngược lại sinh viên trường ĐH Đông Đô vào trường này vì thấy hợp với sở thích và khả năng thì lại rất thấp Lý do “ dễ tìm kiếm việc làm “ chiếm vị trí thứ hai về số lượng trong các lý do chọn trường và ngành học được đưa ra với 35 % số sinh viên được hỏi trong đó 15 % coi đây là lý do quan trọng nhất. Có thể thấy hiện nay sinh viên rất coi trọng yếu tố tìm kiêm việc làm , bởi sau khi tốt nghiệp đại học , sinh viên phải tự lo công việc cho mình . Chính vì vậy , trước khi vào trường học họ đã nghĩ đến việc ra trường họ sẽ làm việc ở đâu ? Có dễ tìm việc hay không? Bảng 2 : Tỷ lệ sinh viên chọ trường vì thấy dễ xin việc: Trường Tỷ lệ lựa chọn Số lượng Tỷ lệ (% ) Bách Khoa 4 19 KT Quốc dân 2 10.5 KHXH và nhân văn QG 5 25 Ngoại ngữ - ĐH QG 5 25 Đông Đô 2 10 Cách đây 10 đến 15 năm , tiêu chí này không được nêu ra hoặc được nêu ra dưới hình thức “ dễ phân công công tác “ thì ngày nay lý do này được bản thân sinh viên và gia đình đặc biệt quan tâm . Trước đây , chúng ta đào tạo sinh viên theo kế hoạch nhà nước . Sinh viên ra trường có việc làm . Họ không lo thất nghiệp và nếu có lo thì chỉ lo sao cho có chỗ làm việc thuận lợi nhất cho mình . Thế nhưng hiện nay , điều này đã hoàn toàn thay đổi. Sinh viên ra trường phải đi tìm việc và nếu muốn làm việc thườn phải qua những cuộc thi tuyển gắp gao . Trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp nói chung và tỷ lệ sinh viên ra trường thất nghiệp nói riêng ngày càng gia tăng . Riêng Hà Nội hiện nay có tỷ lệ sinh viên mới ra trường và không tìm được việc làm cao nhất cả nước . Chính vì vậy , động cơ vào học những ngành dễ tìm việc làm hình thành và ngày càng có xu hướng phát triển dưới tác động của điều kiện kinh tế xã hội hiện nay . Do sự chuyển đổi cơ chế quản lý và tác động của cơ chế thị trường đã dẫn đến sự thay đổi trong định hướng nghề nghiệp của sinh viên . Trong thời bao cấp , do những chuẩn mực giá trị nghề nghiệp được xác định là làm việc trong nhà nước , tập thể ? Làm việc ở thành phố và những nơi có điều kiện ? Làm việc trong những ngành nghiên cứu hay trong ngành sản xuất ? Làm việc trong ngành sản xuấy thì làm chân tay hay trí óc ? .. Sẽ quyết định thế nào . Đã có thời người ta xác định “ Nhất Y , nhì Dược , tạm được Bách Khoa, Sư Phạm bỏ qua….” Nhưng ngày nay , tiêu chí này đã thay đổi . Vấn đề không chỉ là làm nhẹ hay nặng , ở nơi “ sang “ hay “ kém sang “ , nghề được “ trọng vong “ hay “ kém trọng vọng “ mà còn là thu nhập cao hay thu nhập thấp ? … ra trường có kiếm được việc làm hay không ? …Chính vì vậy ngày nay nhiều người xác định “ nhất kinh tế , nhì tin học , ba du lịch , bốn luật học … “ Điều này dẫn đến sự bùng nổ các quy mô đào tạo những trường thuộc nhóm kinh tế và tin học , du lịch , luật . Tuy đây thật sự là những ngành quan trọng trong sự phát triển đất nước nhưng những năm qua , trong đào tạo , cung vượt quá mức cầu. Hơn nữa chất lượng đào tạo lại không đáp ứng được đòi hỏi của công việc nên dân đến tình trạng “ thừa thầy thiếu thợ “ ở một số ngành nghề . CHính vì vậy khi vào học sinh viên nghĩ đây là những ngành dễ xin việc nhưng thực tế khi họ ra trường lại rất dễ rơi vào tình trạng thất nghiệp . Đây đang là vấn đề đáng báo động đối với cơ cấu đào tạo của nước ta Trong số những sinh viên coi yếu tố “ dễ tìm việc làm “ là quan trọng nhất khi lựa chọn vào trường và ngành học thỉ tỷ lệ cao nhất thuộc về sinh viên trường ĐH – Ngoại ngữ . Sở dĩ như vậy vì nước ta đang trên con đường mở rộng giao lưu quốc tế , nhiều lĩnh vực có đối tác nước ngoài nên có nhu cầu ngoại ngữ rất cao Tỷ lệ thứ 2 thuộc về sinh viên trường ĐH Bách Khoa chiếm 27.6 % Điều này phù hợp với nhu cầu về nhân lực ngành công nghiệp nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Sinh viên khi lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố song mức độ tác động của yếu tố này lại khác nhau . Nó tùy thuộc vào bản thân người sinh viên vào khả năng học tập cũng như hoàn cảnh gia đình và môi trường xã hội mà họ đang sống Trước hết sinh viên chịu tác động của yếu tố tâm lý giới tính . Khi xem xét các lý do lựa chọn trường và nhành học thì 75% sinh viên nam coi lý do “ hợp với khả năng và sở thích “ là quan trọng nhất còn tỷ lệ ở nữ chỉ là 55.8% . CÓ sự chênh lệch đó là do sinh viên nam thường tự tin hơn , hành động theo sở thích của mình nhiều hơn . Ngược lại , 13.5% nữ giới coi lý do vào trường quan trọng nhất của họ và theo ý kiến cha mẹ. Trong khi đó , tỷ kệ này ở sinh viên nam chỉ là 2.1 % Điều này cho thấy sinh viên nữ phụ thuộc vào gia đình và cha mẹ trong việc lựa chọn ngành học nhiều hơn sinh viên nam . Đối với lý do “ dễ tìm việc làm “ thì tỷ lệ lựa chọn của sinh viên nam và sinh viên nữ là tương đương nhau (14.6%) và 15.4 % . Như vậy vấn đề việc làm là một mối quan tâm chũng của tất cả các sinh viên khi vào học chứ không chịu tác động nhiều của yếu tố giới tính Trong tổng số những sinh viên trả lời rằng lý do quan trọng nhất của họ khi thi vào trường là lý do điểm chuẩn vừa sức thì tỷ lệ sinh viên nữ chiếm 13.5% cao hơn rất nhiều so với sinh viên nam chỉ có 4.2% . Có sự chênh lêch này là do nhiều sinh viên nam thi vào trường vì thấy hợp khả năng và sở thích hơn sinh viên nữ. Đồng thời sinh viên nữ khi chọn trường lo ngại về khả năng trúng tuyển của mình hơn sinh viên nam. Chính vì vậy , họ dễ dàng lựa chọn một trường hoặc một ngành học có điểm chuẩn thấp để nâng cao khả năng được vào học mà xem nhẹ hơn những yếu tố hợp với khả năng và sở thích hoặc dẽ xin việc làm điều đặc biệt đáng quan tâm ở đây là tất cả các sinh viên thi vào trường do tác động của bạn bè đều là các sinh viên nữ. Do cỡ mâu điều tra nhỏ không thể khẳng định rằng không có sinh viên nam dự thi do tác động của bạn bè nhưng điều này cho thấy sinh viên nữ chịu tác động của bạn bè trong lựa chọn ngành học nhiều hơn sinh viên nam Lý do GIOI TINH Nam Nữ Số lượng Tỷ lệ (% ) Số lương Tỷ lệ (%) Hợp với khả năng và sở thích 36 75 29 55.8 Dễ tìm việc làm 7 14.6 8 15.4 Ý kiến cha mẹ 1 2.1 7 13.5 Điểm chuẩn vừa sức 2 4.2 7 13.5 Bảng số liệu thống kê trên cho thấy tác động của yếu tố giới tình là khá rõ ràng. Sinh viên nam thường tự tin vào bản thân và quyết đoán trong việc lựa chọn ngành nghề hơn sinh viên nữ . Ngược lại sinh viên nữ lại chịu ảnh hưởng của những tác động bên ngoài như ý kiến của cha mẹ , của bạn bè hơn sinh viên nam . Nó thấy cha mẹ dễ hướng nghiệp cho con gái hơn vì con trai vì con giá dễ nghe lời cha mẹ hơn. Một yếu tố nữa tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên thường là mức sống gia đình . Những sinh viên sống trong gia đình và có mức sống cao thì lý do quan trọng nhất của họ lựa chọn vào trường là hợp với khả năng và sở thích (40% ) rồi mới đến lý do là “ dễ tìm việc làm “ (30%) . Trong khi đó các sinh viên sống ở gia đình có mức sống thấp thì lý do mà họ cho là quan trọng nhất khi lựa chọn trường và ngành học là lý do “ dễ tìm việc làm” (50%) Còn lý do “ hợp với khả năng và sở thích thì chỉ có 16.7% . Như vậy mức sống gia đình có tác động rõ rệt đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên Do điều kiện kinh tế, các sinh viên sống trong những gia đình khá giả có thể tự do lựa chọn nhành học hợp với khả năng và sở thích . Họ không phải quá chú trọng đến vấn đề có việc làm sau khi ra trường. Ngược lại, đối với những sinh viên sống trong gia đình có mức sống thấp thì vấn đề có việc làm sau khi ra trường là đặc biệt quan trọng . Vì nhu cầy kinh tế thúc bách nên những sinh viên này chấp nhận việc theo học mà họ không yêu thích nhưng có thể đảm bảo việc làm sau này. Ngoài ra những sinh viên có gia đình mức sống thu nhập thấp còn có thể không học được những trường và ngành học mà họ thấy hợp với khả năng và sở thích của mình những chi phí kinh tế quá cao : học phí quá cao. Chi phí sinh hoạt trong quá trình học tập không thể đáp ứng được… trong những ngành học đòi hỏi phải đầu tư nhiều về dụng cụ học tập : kiến trúc , mỹ thuật ,… có thể thấy rằng mức sống của gia đình không chỉ ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên học tập của sinh viên suốt trong quá trình học tập Không ú sinh viên vì không có tiền mà phải nghỉ hoặc hoặc sinh hoạt kham khổ dẫn đến sức khỏe yếu , tác động trực tiếp đến kết quả học tập . Môi trường sống khác nhau , giữa thành thị và nông thôn cũng là một yếu tố có tác động đến lựa chọn ngành nghề của sinh viên . Theo kết quả số liệu khảo sát thu được thì sinh viên sống ở thành thị chọn ngành học phù hợp với khả năng và sở thích cao hơn sinh viên sống ở nông thôn Lý do vào học Nơi ở sinh viên trước khi vào trường Thành thị Nông thôn Hợp với khả năng và sở thích 60 27.7 Dễ tìm việc làm 17.2 12.5 Điểm chuẩn vừa sức 9.4 20.9 Như vậy sinh viên sống ở thành thị được tự do lựa chọn ngành học hợp với sở thích hơn sinh viên sống ở nông thôn rất nhiều . Điều này có thể được lý giải bởi nguyên nhân : Sinh viên thành thị tự tin , quyết đoàn hơn sinh viên nông thôn trong việc lựa chọn ngành học vì họ tiếp xúc với nhiều thông tin hơn , ít chịu ảnh hưởng của yếu tố kinh tế và có nhiều tự do trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Ngoài ra có thể nói rằng chất lượng học tập của học sinh ở nông thôn không cao bằng chất lượng học tập học sinh thành thị . Học sinh ở nông thôn không có điều kiện học tập tốt do kinh tế kem , quỹ thời gian eo hẹp do họ phải tham gia công việc đồng áng việc gia đình , Cơ sở vật chất của trường cũng không được đảm bảo … Chính vì vậy khi đi thi họ phải tự lượng sức mình , Điều này cũng thể hiện trong số các tài liệu tham khảo thu được về tỷ lệ sinh viên ở nông thôn chọn ngành học có điểm chuẩn vừa sức cao hơn tỉ lệ sinh viên ở thành thị , Đó cũng là một trong những lý do khiên sính viên ở nông thôn khó theo học được các ngành nghề mà họ yêu thích Riêng lý do “ dễ tìm việc làm “ tỷ lệ lựa chọn khá tương đương giữa thành thị và nông thôn. Tuy cũng có những sự khác biệt giữa 2 môi trường sống nhưng độ chênh lệch ở lý do nào đó là không đáng kể khi so sánh 2 lý do đã nêu ở trên . Nghề nghiệp của cha mẹ cũng là yếu tố tác động đến lựa chọn nghề của sinh viên Khi so sánh giữa sinh viên nam có cha mẹ là công nhân viên nhà nước và sinh viên có cha mẹ làm buôn bán dịch vụ cho thấy . tỷ lệ sinh viên có cha mẹ làm công nhân viên chức lựa chọn trường và ngành học vì lý do “ dễ tìm việc làm cao hơn hẵn tỷ lệ sinh viên có cha mẹ làm buôn bán dịch vụ ( 73.3 % ) Như vậy những sinh viên mà cha mẹ làm nghề buôn bán dịch vụ có nhu cầu việc làm sau khi ra trường thấp hơn những sinh viên mà cha mẹ họ là cán bộ công nhân viên nhà nước ,. Có sự chênh lệch này là do những sinh viên sau khi ra trường thấp hơn những sinh viên mà cha mẹ họ là cán bộ công nhân nhà nước . Có sự chênh lệch này là do những sinh viên mà cha mẹ làm nghề buôn bán dịch vụ có thể phụ giúp công việc của cha mẹ mình nếu sau khi sau trường mà họ không có việc làm . Đôi khi , ngay từ đầu họ đã xác định alf nơi làm việc sau khi ra trường là nơi sản xuất kinh doanh , dịch vụ là đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ của cha mẹ , Cũng có thể vì lý do này mà họ lại ít được chọn ngành học phù hợp với khả năng và sở thích hơn những sinh viên có cha mẹ là cán bộ , công nhân viên nhà nước ( tỷ lệ ở đây là 42.9 và 69.8 % ) . Trong những trường hợp mà cha mẹ sinh viên là nông dân thì hầu như là không có tác động đến định hướng nghề nghiệp cho con cái, Nguyên nhân ở đây là có sự hạn chế về trình độ học vấn của họ cũng như sự khó khăn trong việc tiếp xúc với tông tin có liên quan đến việc định hướng nghề nghiệp cho con cái . Những sinh viên có cha mẹ là nông dân do những đặc điểm về nơi cư trú cũng như điều kiện sống nên họ có sự lựa chọn những ngành học mà điểm chuẩn vừa sức cao hơn hẳn những sinh viên có cha mẹ là cán bộ công nhân viên nhà nước (25% so với 4.8 % ) . Theo ý kiến của một số sinh viên xuất thân từ nông thôn thì họ quyết định như vậy cũng do mong muốn của cha mẹ muốn con được vào đại học , Những điều này cho thấy ý kiến của cha mẹ là một yếu tố quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái . Là những người có kinh nghiệm sống , cha mẹ thường có tác động tốt đến việc xác định nghề nghiệp trong tương lai của con cái . Tuy nhiên cũng còn một số trường hợp cha mẹ áp đặt con cái phải đi theo những nghành nghề không phù hợp nên dẫn đến những kết quả học tập và làm việc không có chất lượng 3. TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ VIỆC LÀM ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN Hiện nay ở nước ta do cơ chế quản lý kinh tế đang có nhiều thay đổi , ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực tới thị trường lao động nên vấn đề việc làm rất được quan tâm , Giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề kinh tế xã hội cấp bách của Đảng và nhà nước , Tuy nhiên nền kinh tế thị trường phát triển dường như khó có thể giải quyết hoàn toàn vấn đề thất nghiệp . Thất nghiệp đã trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Trong thị trường, trừ những nghành mới xuất hiện , nhu cầu lao động cao còn thì giải quyết việc làm cho sinh viên ra trường là một vấn đề khó khăn . Thường thì sinh viên mới ra trường , kinh nghiêm chưa có, kỹ năng lao động chưa tốt , do vậy làm gì ? làm ở đâu ? làm thế nào? Là những câu hỏi lớn đặt ra cho họ … Số liệu thống kê ở phần trên cho thấy , vấn đề việc làm luôn được mọi đối tượng sinh viên quan tâm khi họ lựa chọn ngành và trường học cho dù sinh viên đó là nam hay nữ , sống ở thành thị hay nông thôn , cha mẹ làm nghề gì , hoàn cảnh gia đình như thế nào. Có thể nói rằng việc làm đã trở thành một vấn đề quan trọng số một của mọi sinh viên sau khi họ trải qua giai đoạn đào tạo nghề nghiệp Ở đây, khi xem xét tác động của yếu tố việc làm dẫn đến định hướng nghề nghiệp cho sinh viên , chúng tôi tìm hiểu những nhu cầu của họ đối với công việc mà họ sẽ có được sau khi ra trường . Nhu cầu cần việc làm này bao gồm những yếu tố về nơi công tác, nhành nghề chuyên môn, thu nhập… Đấy chính là những yếu tố sẽ hình thành nên những tiêu chuẩn mà mối sinh viên tự đề ra cho mình và phấn đấu. Do đó nó có ảnh hưởng đến định hướng của sinh viên mỗi khi lựa chọn ngành nghề . Trong khuôn khổ luận văn này , tôi xem nó như là một yếu tố chủ đạo trong rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan có tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên – cái quyết định cả cuộc đời và cả cuộc sống lâu dài sau này của mỗi người . 3.1 Nhu cầu về việc làm đúng chuyên môn Việc làm đúng chuyên môn là một nhu cầu hết sức quan trọng là tiền đề để người lao động có thể sử dụng và phát huy những tri thức , kỹ năng đã được lình hội và tích lũy trong quá trình học tập. Đó cũng là một điều kiện để sinh viên hình thành và củng cố thế mạnh về tri thức mà họ đã có vào công việc . Được sử dụng đúng chuyên môn , người sinh viên sẽ có thêm cơ may hoàn thiên và tiếp tục theo đuổi chuyên môn đó , tăng khả năng được học hành nâng cao trình độ , tay nghề Theo một cuộc điều tra nghiên cứu của Viện nghiên cứu thanh niên đạt 51.3 % số sinh viên được hỏi cho rằng học vấn và đào tạo là nhân tố quyết định sự thành đạt về nghề nghiệp của họ trong tương lai .Tuy nhiên , tiềm năng về trình độ chuyên môn của sinh viên có thế được phát huy ở mức độ nào còn tùy thuộc vào việc mà họ có được sử dụng đúng chỗ hay không , năng lực của anh ra có được phát huy tối đa không? Trước đây , trong cơ chế tập trung bao cấp, vấn đề việc làm đúng chuyên môn .tuy cũng đã được đặt ra song với một phạm vi và mức độ khác nhiều so với hiện nay . Cụ thể do sự quản lý , phân công là của nhà nước nên sinh viên có nhiều phạm vi lựa chọn nghề nghiệp . Mặt khác yếu tố năng suất và hiệu quả lao động chưa được coi trọng đúng mức như hiện nay, Do vậy làm khác nghề đào tạo không là vấn đề quan trọng Hiện nay dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, yêu cầu chất lượng và hiệu quả công việc , vấn đề làm việc đúng nghề đào tạo đặt ra rất cấp bách . Khảo sát sinh viên 5 trường cho thấy 30% sinh viên chọn yếu tố “ việc làm đúng chuyên môn “ và 70% coi đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất . Như vậy chúng ta có thể thấy sinh viên hiện nay hết sức quan tâm đến việc họ có một ngành nghề đúng với chuyên môn đào tạo hay không? Sau đây là bảng số liệu về yếu tố “ việc làm đúng chuyên môn “ là tiêu chuẩn quan trọng nhất khi họ lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai theo từng trường được khảo sát TRƯỜNG NGUYỆN VỌNG LÀM VIỆC ĐÚNG CHUYÊN MÔN Số lượng Tỷ lệ Bách Khoa 17 81% Kinh tế quốc dân 11 57.9 KHXH và Nhân văn 13 65 ĐH Ngoại ngữ 17 85 ĐH Dân lập Đông Đô 12 60 Những số liệu trên cho thấy sinh viên ĐH Ngoại ngữ và ĐH Bách Khoa có tỷ lệ mong muốn việc làm phù hợp với chuyên môn nhiều nhất ( hơn 80% ) Sinh viên ĐH Kinh tế quốc dân có tỷ lệ khẳng định muốn có việc làm với chuyên môn chỉ gần 60% . Điều này chứng tỏ ngành chuyên môn càng sâu thì đòi hỏi chuyên môn càng cao và do đó phải làm đúng chuyên môn đào tạo mới phát huy được khả năng của mình những nghành đào tạo khác có thể có di động trong việc làm . Do vậy , chú trọng đến sự phù hợp chuyên môn trong việc làm sau này thấp hơn . Điều này cũng dễ hiểu Xem xét các đặc trưng khác của đối tượng nghiên cứu cho thấy nhu cầu về việc làm nói chung và việc làm đúng chuyên môn nói riêng xuất hiện ở mọi đối tượng sinh viên nên nó ít chịu sự tác động của yếu tố giới tính , nơi cư trú, hoàn cảnh gia đình ..của họ . Số liệu thu được từ cuộc khảo sát chương trình chứng minh rằng nguyện vọng của họ tương đồng với nhau. Có thể nói giới sinh viên đã có một tiếng nói chung trong nhu cầu về một việc làm đúng chuyên môn được đào tạo tạo sau khi ra trường . Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng không phải sinh viên nào có nhu cầu về việc làm đúng chuyên môn đều nhằm phát triển trình độ và kỹ năng chuyên ngành đó , Thực tế nhu cầu về việc làm đúng chuyên môn hiện nay ở sinh viên đang có xu hướng giảm dần ý nghĩa tự thân , xa dần vai trò kích thích đam mê lòng yêu nghề . Ngược lại có xu hướng tăng dân ý nghĩa như là một phương tiện một công cụ tìm kiếm những điều kiện nhằm đảm bảo cuộc sống. Dù sao , tìm việc làm đúng chuyên môn là một nhu cầu chính đáng của sinh viên và giải quyết nhu cầu này là tăng cường được hiệu quả của quá trình đào tạo , giảm thiểu sự lãng phí nguồn lao động có tri thức . 3.2 Nhu cầu về việc làm có thu nhập cao: Nhu cầu việc làm có thu nhập cao tồn tại trong mỗi xã hội , là nguyện vọng của mỗi người , mỗi nhóm xã hội , Trong những xã hội mà sự công bằng và bình đẳng được tôn trọng ở mức cao thì lao động càng có tri thức, có tay nghề cao càng có thu nhập lớn Sinh viên là những người có đào tạo khá đầy đủ , toàn diện và có hệ thống nên sinh viên sau khi ra trường sẽ trở thành những người lao động có kỹ thuật và có tay nghề Trong xã hội ở đâu có thu nhập cao hơn thì ở đó sẽ thu hút được nhiều lao động có trình độ chuyên môn hơn. Hiện tại xã hội ta đang có nhiều biến chuyển . Những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng có xu hướng tăng cao . Để thỏa mãn những nhu cầu này, một bộ phận lao động giỏi có xu hướng tìm đến những nơi trả công cao . Đây chính là nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám ở nước ta hiện nay dao lao động và sinh viên ra trường , đặc biệt là những sinh viên giỏi thường đổ xô làm cho những công ty nước ngoài hoặc công ty liên doanh để có được thu nhập cao hơn. Bên cạnh đó ., nhu cầu tìm kiếm việc làm có thu nhập cao của sinh viên còn nhăm bù đắp lại những chi phí mà gia đình họ đã bỏ ra trong suốt quá trình học tập , Những chi phí này ( bao gồm học phí tiền sách vở tài liệu tham khảo , tiền học thêm , sinh hoạt phí…) đang ngày càng gia tăng và đã trở thành gánh nặng cho nhiều sinh viên cũng như gia đình họ Trong các tiêu chuẩn lựa chọn được việc làm sau này thì “ việc lam có thu nhập cao “ được 68% sinh viên đặt ra và 16.8 % coi đây là yếu tố quan trọng nhất khi họ lựa chọn ngành học . Như vậy tỷ lệ sinh viên xem thu nhập cao là ưu tiên số 1 chỉ đứng sau nhu cầu về việc làm đúng chuyên môn Khi xem xét các tác động của yếu tố nơi ở của sinh viên trước khi vào trường đối với nhu cầu việc làm có thu nhập cao ta thấy sinh viên sống ở thành thị có tỷ lệ mong muốn một cộng việc có thu nhập cao lớn hơn hẳn tỷ kệ snh viên sống ở nông thôn (75% sinh viên thành thị và 25 % sinh viên nông thôn có mong muốn này ) Nguyên nhân có sự chênh lệch này là do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế nơi sinh viên sống . Rõ ràng mức sống ở thành thị cao hơn , điều kiện sống tốt hơn nên nhu cầu trong cuộc sống cũng cao hơn . Chính vì vậy sinh viên ở thành thị cần có thu nhập từ việc làm cao hơn để thỏa mãn nhu cầu này Mặt khác sinh viên sống ở thành thị có nhiều điều kiện để xin làm việc phù hợp có thu nhập cao hơn ở nông thôn. Do vậy , nguyện vọng của sinh viên sống ở thành thị về chỗ làm việc có thu nhập cao là điều dễ hiểu Đối với yếu tố mức sống của gia đình, chúng ta thấy sự ảnh hưởng như sau : Số lượng mong muốn việc làm có thu nhập cao nhiều nhất rơi vào nhóm sinh viên có mức sống trung bình . Họ có nhu cầu nâng cao mức sống của gia đình để phù hợp với sự đi lên của toàn xã hội .Tuy nhiên con số này ở những sinh viên có mức sống khả giả và sinh viên có mức sống thì sinh viên nghèo là ngang nhau nhưng khi ta xem xét các nhu cầu của cùng một mức sống thì sinh viên nghèo quan tâm đến vấn đề thu nhập hơn hẳn . Có tới 33.3% sinh viên nghèo chọn việc làm với yêu cầu đầu tiên là thu nhập cao . Đây cũng là điều dễ hiểu, vì chỉ có đạt được điều đó mới có thể cải thiện được cuộc sống khó khăn hiện nay 3.3 Nhu cầu việc làm trong cơ quan nhà nước : Hầu hết sinh viên mặc dù còn đang học tập trong nhà trường nhưng họ đã có ý thức về nơi làm việc mong muốn khi ra trường. Nơi mà nhiều sinh viên muốn được nhận công tác nhất là các cơ quan xí nghiệp nhà nước . Có tới 72% tổng số sinh viên được hỏi mong muốn này và 10% xếp yếu tố này lên hành đầu họ tìm việc làm . Sở dĩ nhiều sinh viên muốn làm việc trong cơ quan nhà nước là do ở đây có điều kiện lao động và việc làm ổn định , có khả năng được học tập nâng cao trình độ chuyên môn , thu nhập ổn định . Như vậy tâm lý thời bao cấp vẫn để lại dấu vết của nó. Phần lớn sinh viên vẫn có hướng tìm việc trong biên chế nhà nước . Khi mà cơ chế quản lý thay đổi , vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên ra trường thả nổi, không có cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm . Sự khác nghiệt của cơ chế kinh tế mới cùng với chất lượng đào tạo đi xuống do việc mở rộng của cơ chế kinh tế mới cùng với chất lượng đào tạo đi xuống do việc mở rộng quy mô đào tạo không hợp lý đã gây ra nhiều khó khăn cho sinh viên khi kiếm tìm việc làm . Tuy nhiên , một nền kinh tế nhiều thành phần cũng tạo ra nhiều hướng tìm việc làm mới cho sinh viên đồng thời kích thích tính chủ động , tích cực của họ trong việc thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của bản thân Đối với nhu cầu làm việc trong cơ quan nhà nước thì ảnh hưởng từ các yếu tố “ nghề nghiệp “ cha mẹ là khá lớn . Trong những sinh viên coi làm việc trong cơ quan nhà nước là quan trọng nhất thì tỷ lệ sinh viên có cha mẹ cũng đang là cán bộ công nhân viên chức chiếm tới 60.7% . Trong khi đó sinh viên có cha mẹ làm các nghề khác chọn việc làm trong cơ quan nhà nước chỉ có : làm ruộng : 3.6% buôn bán : 17.9% nghỉ hưu :14.3 % Như vậy tác động của cha mẹ đến việc xác định nơi làm việc của sinh viên là khá rõ Do tâm lý muốn làm việc ổn định mà sinh viên nữ muốn tìm được việc làm trong biên chế nhiều hơn sinh viên nam . Tỉ lệ này là 60 :40 Với những ưu điểm vốn có , các cơ quan nhà nước đang là nơi làm việc lý tưởng của nhiều sinh viên khi ra trường . Xu hướng này sẽ có tiếp diễn trong thời gian tới vì sinh viên hiện nay vẫn rất coi trọng yếu tố ổn định việc làm . Chính vì vậy , tuy có nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động , các cơ sở làm việc đa dạng nhưng làm việc trong cơ quan nhà nước và được vào biên chế vẫn là mong muốn của đa số sinh viên mong muốn của đa số sinh viên 3.4 Nhu cầu làm việc tự do: Hiện nay có những sinh viên sau khi tốt nghiệp không muốn rõ rằng buộc mình vào các đơn vị quốc doanh , liên doanh cũng như tư nhân mà họ muốn làm việc tự do .Họ muốn có quyền chủ động trong công việc , thời gian lao động và thu nhập cao . Tuy nhiên , để tồn tại một cách độc lập, bảo đảm được cuộc sống ổn định lâu dài , những sinh viên này phải có một trình độ chuyên môn vững vàng , tính năng động nhạy bén , khả năng nắm bắt thời cơ , đầu óc quản lý và nhiều yếu tố nữa . Đây là những đòi hỏi cao nên chỉ có 16% sinh viên được hỏi thích làm việc tự do sau khi tốt nghiệp Tuyệt đại đa số sinh viên mong muốn làm việc tự do là các sinh viên nam , Tuy vậy họ cũng không coi trọng yếu tố này lắm vì họ chỉ xếp nó ở mức độ ưu tiên thứ 3 khi lựa chọn các yếu tố mà họ muốn có ở công việc của mình Phần lớn các sinh viên muốn làm việc tự do sau khi ra trường sống ở thành thị (78.6% ) Chỉ ở môi trường thành thị thì họ mới có nhiều điều kiện thể hiện sức mình trong khi làm việc một cách độc lập với nhiều cạnh tranh khắc nghiệt . Những sinh viên sống ở nông thôn thường thiếu về điều kiện vật chất cũng như tâm lý vững vàng , dám làm để hoạt động tự do. Thông thường những sinh viên thích làm việc tự do là những sinh viên ít nhiều có kinh nghiệm sống , muốn độc lập hoặc có chút bản tính “ liều lĩnh “ . Tuy thành công chưa nhiều song việc đứng vững trong cuộc sống nhờ chính sức mình của một số sinh viên đã trở thành tấm gương, một mẫu hình cho những sinh viên sau học tập 3.5 Nhu cầu làm việc ở thành phố Khi lựa chọn ngành và trường học , thông thường các sinh viên đẫ có dự kiến trước về nơi làm việc sau này. Đây là một yếu tố các tác động đến định hướng của sinh viên và nó dần được củng cố trong suốt thời gian học tập Nơi chủ yếu các sinh viên dự định làm việc sau khi tốt nghiệp là các thành phổ lớn như Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh 53% số sinh viên được hỏi muốn tìm công việc ở thành phố . Ngoài số sinh viên sống ở Hà Nội trước khi vào trường thì hầu hết số sinh viên xuất thân từ nông thôn không muốn trở về làm việc tại quê hương Bảng 6: Tỷ lệ sinh viên muốn tìm việc làm ở thành phố Nơi xuất thân Tỷ lệ sinh viên muốn tìm việc làm ở thành phố Số lượng Tỷ lệ Thành thị 26 76.5% Nông thôn 8 23.5% Họ muốn thoát ly ra thành phố để có thể tìm được việc làm ổn định . Ngoài ra họ còn muốn ở lại Hà Nội vì lý do thành phố có đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần cao hơn hẳn khu vực nông thôn Tình trạng sinh viên ra trường không muốn về quê mà muốn ở lại thành phố diễn ra từ nhiều năm và gây nên hiệu quả tiêu cực . Trước hết là hậu quả về mặt dân số và quản lý nhân khẩu . Do số sinh viên này không có hộ khẩu thành phố nên họ thường phải thuê nhà trọ trong các khu dân cư. Điều này các khu vực trong các khu dân cư. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu. Nó cũng trở thành môi trường phát triển cho các loại tội phạm , các tệ nạn xã hội như cờ bạc , nghiện hút , mại dâm …..gây mất an ninh trật tự . Hậu quả thứ hai là sự mất mát cân đối nghiêm trọng về lực lượng lao động có tri thức giữa các vùng . Đặc biệt là sinh viên các ngành như sư phạm , y …. Thường không muốn làm việc theo phân công ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xã gây nên tình trạng thiếu giáo viên và bác sỹ ở các khu vực này. Trong khi đó, ở thành phố số nhân lực các nhành lại quá dư thừa , các cơ sở không tạo ra đủ điều kiện việc làm cho các sinh viên này vào tình trạng thất nghiệp kéo dài . Do gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm việc làm như không có hộ thành phố , thiếu phương tiện….. Những sinh viên ngoại tỉnh thường phải làm những công việc đơn giản , không đúng chuyên môn được đào tạo gây lãng phí nguồn nhân lực có tri thức trong thời gian họ bám trụ tại Hà Nội Để giải quyết tình trạng sinh viên ngoại tỉnh ở lại thành phố cần có sự nỗ lực giải quyết cả từ 2 phía , sinh viên các cơ quan chức năng. Cần có các hình thức tuyên truyền .giáo dục để số sinh viên này thấy có sự cần thiết của họ họ quay trở về quê hương làm việc hoặc tuân theo sự phân công công tác , Mặt khác cũng cần có những thay đổi về các chính sách xã hội nhằm thúc đẩy sự quan tâm của nhiều ban ngành và đã có kết quả bước đầu. Tuy nhiên để giải quyết một cách triệt để để thì cần sự nổ lực hơn nữa từ cả phía trong một khoảng thời gian thích hợp . Nhìn chung , nguyện vọng của đa số sinh viên về việc làm sau khi ra trường bao gồm các yếu tố được sắp xếp theo thứ tự : đúng chuyên môn , có thu nhập cao , ở thành phố . Đây cũng là những tiêu chí hình thành nên một việc làm lý tưởng hiện nay. Cũng vì vậy mà việc tìm thấy nơi công tác như vậy là rất hiếm nhất là đối với sinh viên ra trường. Do đó mối sinh viên lại có những kế hoạch cho trường hợp không tìm được công việc lý tưởng mà mình đã đề ra Khi trả lời câu hỏi “ nếu không nhận được công việc và nơi công tác thích hợp bạn sẽ làm gì ?” sinh viên trả lời như sau : Việc sẽ làm Giới tính Nam Nữ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ ở nhà 4 8.3 3 5.8 Học ngành khác 13 27.15 11 21.2 Cứ nhận 30 62.5 36 69.2 Khác 1 2.1 2 3.8 Những số liệu tổng hợp trên cho thấy , phần lớn sinh viên được hỏi chấp nhận phương án cứ nhận một việc nào đó để có chỗ làm việc tạm thời và có thu nhập . Điều này cho thấy nhu cầu việc làm cho sinh viên ra trường đang là một vấn đề bức xúc . Tuy nhiên cũng còn tới 24 % sinh viên khẳng định rằng họ sẽ đi học thêm một ngành nghề khác để tăng khả năng thích ứng với thị trường , dễ kiếm việc làm . Đây cũng là những ý định tốt . Thực tế là có nhiều sinh viên sau khi ra trường đã vừa học vừa làm . Đây cũng là những ý định tốt. Thực tế là có nhiều sinh viên sau khi ra trường đã vừa học vừa làm rất tích cực . Họ làm để học và học để tăng cường làm việc. Chính vì vậy , không ít sinh viên đã thành đạt theo phương châm này. Riêng 7% tổng số sinh viên được hỏi chấp nhận ở nhà không nhận việc khi không có công việc thích hợp Tóm lại , nhu cầu việc làm và những tiêu chuẩn sinh viên yêu cầu ở việc làm đó là một yếu tố đặc biệt quan trọng . Nó không chỉ tác động đến định hướng nghề nghiệp ban đầu của sinh viên mà còn có ảnh hưởng trong suốt quá trình học tập cũng như sau khi họ ra trường

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCác yếu tố tác động đến việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên hiện nay (nghiên cứu 5 trường ĐH ).doc