Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân - Thực tiễn ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới thì có nhiều vấn đề nảy sinh trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Để có sự phát triển không ngừng như hiện nay thì nền kinh tế - xã hội ở nước ta phải được xây dựng trên một nền tảng cơ sở vật chất nhất định. Trong đó, con người đóng vai trò trung tâm của sự phát triển xã hội. Để có thể tồn tại thì con người cần thiết lập những yếu tố có lợi nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Hay nói cách khác là ngay từ khi xuất hiện con người đã học được cách chiếm hữu nhằm thỏa mãn những yêu cầu nhất định. Chính điều đó đã làm xuất hiện Sở hữu. Sở hữu được xem là: “ vật liệu xây dựng” của con người, là xuất phát điểm cho mọi quá trình kinh tế. Vấn đề sở hữu là vấn đề quan trọng có tính chất sống còn của mọi giai cấp, mọi tổ chức và cá nhân trong quá trình phát triển của xã hội. Bởi sở hữu được xem là: Là cơ sở kinh tế đầu tiên quyết định địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền; Là cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Sau hơn hai mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới ở nước ta, với những thành công và hạn chếđã có trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới đã có những vấn đề lý luận tưởng chừng như đã được giải quyết nhưng đến nay lại nổi lên trước yêu cầu của thực tiễn. Việc củng cố và hoàn thiện hệ thống lý luận khoa học trong đó có lý luận về vấn đề: " sở hữu nói chung và sở hữư tư nhân nói riêng" là điều tất yếu khách quan. Điều này trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước. Điều 15, Hiến pháp 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận: “ .Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức, sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng”. Chế độ sở hữu tư nhân đã trở thành vấn đề cần thiết và cấp bách thể hiện rõ chức năng quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính ưu việt và tầm quan trọng của chế độ sở hữu tư nhân giữ vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Do vậy, việc tạo ra một nền tảng pháp lý cơ bản điều chỉnh về vấn đề sở hữu tư nhân một cách có hiệu quả nhất là điều cần thiết. Quá trình ban hành các quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực Dân sự nói riêng đã điều chỉnh một cách trực tiếp các quan hệ xã hội về sở hữu tư nhân. Điều này đã giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật về sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Thực tế ở nước ta, bên cạnh những thành quả đã đạt được trong vấn đề quy định về vấn đề sở hữu tư nhân còn bộc lộ những hạn chế trong quá trình thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM" góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về vấn đề sở hữu tư nhân trong lĩnh vực Dân sự và vướng mắc trong quá trình thực hiện ở nước ta . Qua đó nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân nói riêng và hệ thống pháp luật về sở hữu nói chung. Ngoài ra còn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện tại và trong tương lai.

doc35 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/02/2013 | Lượt xem: 2032 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân - Thực tiễn ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ách thể hiện rõ chức năng quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính ưu việt và tầm quan trọng của chế độ sở hữu tư nhân giữ vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Do vậy, việc tạo ra một nền tảng pháp lý cơ bản điều chỉnh về vấn đề sở hữu tư nhân một cách có hiệu quả nhất là điều cần thiết. Quá trình ban hành các quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực Dân sự nói riêng đã điều chỉnh một cách trực tiếp các quan hệ xã hội về sở hữu tư nhân. Điều này đã giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật về sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Thực tế ở nước ta, bên cạnh những thành quả đã đạt được trong vấn đề quy định về vấn đề sở hữu tư nhân còn bộc lộ những hạn chế trong quá trình thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu đề tài : “CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM " góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về vấn đề sở hữu tư nhân trong lĩnh vực Dân sự và vướng mắc trong quá trình thực hiện ở nước ta . Qua đó nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân nói riêng và hệ thống pháp luật về sở hữu nói chung. Ngoài ra còn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện tại và trong tương lai. 2. Mục đích nghiên cứu Chọn hình thức sở hữu tư nhân làm đối tượng nghiên cứu chúng ta có thể đi sâu phân tích lý luận chung và các quy định cơ bản về vấn đề này. Vấn đề sở hữu tư nhân đã và đang được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm. Đồng thời, được xem xét dưới nhiều góc độ: Chính trị, kinh tế - xã hội, pháp luật...Nhất là cụ thể trong các quy định của pháp luật dân sự về chế độ sở hữu tư nhân. Điều đó càng khẳng định tầm quan trọng của sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật Dân sự về hình thức sở hữu tư nhân ở Việt Nam. Rút ra những ưu, hạn chế của pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân và những vướng mắc trong quá trình thực thi ở Việt Nam. Từ đó đề ra những giải pháp góp phần phát triển và hoàn thiện pháp luật về sở hữu tư nhân, đồng thời tìm ra phương hướng khắc phục những khó khăn trong quá trình tổ chức quản lý, thực thi pháp luật về sở hữu tư nhân. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây: - Những vấn đề lý luận chung nhất về hình thức sở hữu tư nhân như khái niệm sở hữu tư nhân; nội dung của quyền sở hữu tư nhân; các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu tư nhân; sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự hiện hành về sở hữu tư nhân. - Thực tế áp dụng pháp luật về sở hữu tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn trở lại đây. Đánh giá thực trạng, tìm hiểu những hạn chế và khó khăn trong quá trình áp dụng. - Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật dân sự về hình thức sở hữu tư nhân nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung. Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các văn bản pháp luật như: Bộ Luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thực hiện có liên quan. Nội dung niên luận chỉ giới hạn trong những vấn đề lý luận chung về sở hữu tư nhân và các quy định của pháp luật Dân Sự điều chỉnh vấn đề này. Giới hạn khảo sát của niên luận là quá trình áp dụng pháp luật Dân sự về sở hữu tư nhân ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp sử dụng cho niên luận là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: - Kết hợp giữa phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp làm rõ nội dung cần nghiên cứu. - So sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích số liệu, kết quả tổng kết và các quan điểm khác nhau để rút ra kết luận, tìm hiểu nguyên nhân vấn đề và các giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của niên luận có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Tạo một cái nhìn sâu hơn, rộng hơn về vấn đế sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng trong hoạt động quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của xã hội. Thông qua niên luận có thể cung cấp một cái nhìn rõ nét về các quy định của pháp luật trong chế độ sở hữu tư nhân.. Đồng thời, với sự tiếp cận những vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam sẽ giúp chúng ta nhìn nhận về thực tiễn của tình hình áp dụng pháp luật về hình thức sở hữu tư nhân và vai trò của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Đặc biệt, đối với sinh viên, kết quả của niên luận là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo khi học tập, nghiên cứu, nhất là khi hoàn thành các báo cáo khoa học cấp khoa, cấp trường… Ngoài ra, niên luận còn có ý nghĩa thiết thực đối với một số đối tượng quan tâm đến hình thức sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân. Điều này phù hợp với sự phát triển tất yếu của các quan hệ xã hội phát sinh trong quan hệ về sở hữu nhất là đối với vấn đề sở hữu tư nhân. 6. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài có 2 chương: - Chương 1: Khái quát về sở hữu tư nhân và sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự về hình thức sở hữu tư nhân. - Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật Dân sự về sở hữu tư nhân ở Việt Nam và một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Dân sự về sở hữu tư nhân. ( Giai đoạn 1996 đến nay). B. PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC SỞ HỮU TƯ NHÂN 1.1. Khái quát về hình thức sở hữu tư nhân 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật Dân sự về chế độ sở tư nhân 1.1.1.1. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ sở hữu tư nhân trong lịch sử loài người Trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào thì quan hệ kinh tế( quan hệ sản xuất) vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo, quyết định tính chất, nội dung, phương hướng phát triển của các quan hệ xã hội. Bản thân các quan hệ kinh tế cũng rất đa dạng, như: quan hệ sở hữu, quan hệ trao đổi hàng hóa, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Trong đó, quan hệ sở hữu đóng vai trò quan trọng nhất vì bản thân quan hệ này đã quyết định tính chất và nội dung của các quan hệ kinh tế khác. Quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong xã hội loài người đã ghi nhận sự hình thành và phát triển của chế độ sở hữu nói chung trong đó có chế độ sở hữu tư nhân. Chế độ Cộng sản nguyên thủy: Vào giai đoạn cuối do sự phát triển của lực lượng sản xuất thông qua ba cuộc phân công lao động xã hội [ơlần 1: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; lần 2: thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; lần 3: thương nghiệp xuất hiện( với sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân và nghề thương mại)). Điều đó đã làm xuất hiện chế độ tư hữu, làm phân hóa xã hội và làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng tăng. Khi xã hội đã phân thành các giai cấp đối lập nhau, có giai cấp tất yếu có đấu tranh giai cấp. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị thì thị tộc đã không còn phù hợp. Xã hội đòi hỏi có một tổ chức mới đủ sức giữ xã hội trong vòng trật tự. Đồng thời mang lại lợi ích cho người có của và giữ vững địa vị thống trị. Tổ chức đó chính là Nhà nước. Chế độ Chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của Nhà nước chủ nô ra đời duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu của giai cấp chủ nô đối với tất cả tư liệu sản xuất của xã hội ngay cả bản thân người nô lệ. Nô lệ chỉ là công cụ biết nói chứ không phải là người. Ở đây, trình độ tư hữu còn thấp nhưng tính chất khắc nghiệt và bất bình đẳng được xem là tuyệt đối. Chế độ Phong kiến : Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện ở chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất của giai cấp thống trị. Nhà nước và pháp luật phong kiến bảo vệ và duy trì chế độ sở hữu của địa chủ, lãnh chúa phong kiến đối với ruộng đất. Giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền sở hữu phần lớn ruộng đất (gồm cả sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) và tiến hành bóc lột địa tô (dưới nhiều hình thức: tô lao dịch, tô sản phẩm, tô tiền...hay những hình thức kết hợp) đối với nông dân không có hay có ít ruộng đất (dưới những hình thức và mức độ lệ thuộc khác nhau). Chế độ Tư bản chủ nghĩa: Là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư ( do công nhân làm thuê sáng tạo bị giai cấp tư sản và bị chiếm hữu). Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản đó là: Nhìn nhận quyền sở hữu tư nhân, tự do sản xuất, kinh doanh được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp. Và được coi như một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người. Với những hình thức bóc lột tinh vi bằng những phương pháp, thủ đoạn bóc lột ở trình độ cao thì các tư liệu sản xuất tập trung chủ yếu trong tay giai cấp tư sản, tập đoàn tư bản và các nhà tư sản. Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội: Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì có hai phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đối với Việt Nam do xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu cho nên việc có một thời kỳ lịch sử với sự tồn tại của đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu là điều cần thiết. Trong đó, sở hữu tư nhân cùng với các hình thức sở hữu khác tận dụng một cách triệt để sức mạnh và ưu thế của các thành phần kinh tế. Tất cả nhằm tạo ra một tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho Chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra ở nước ta hiện nay với mục tiêu là phát triển một lực lượng sản xuất tiên tiến thì sở hữu nhà nước - kinh tế nhà nước được xem là nền tảng của nền kinh tế. Đồng thời, sở hữu nhà nước - kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo để định hướng cho sở hữu tư nhân - kinh tế tư nhân đi theo đúng quỹ đạo dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.Trong tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản thì C.Mác và F. Ănghen đã nhấn mạnh: Chủ nghĩa cộng sản không xóa bỏ của ai quyền chiếm hữu của các của cải mà chỉ xóa bỏ việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao động của người khác. 1.1.1.2. Quá trình phát triển của pháp luật Dân sự về sở hữu và hình thức sở hữu tư nhân ở Việt Nam a. Giai đoạn 1945 - 1959 Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Với mục tiêu xây dựng một chế độ xã hội đi theo con đường của Chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp 1946 ( thông qua tháng 11/1946) đã tạo một nền tảng pháp lý cơ bản và từ đây quyền sở hữu tài sản riêng của công dân đã trở thành quyền hiến định. Điều này được ghi nhận tại điều 12, Hiến pháp 1946 như sau: " Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm". Trong giai đoạn này, nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là xóa bỏ chế độ sở hữu đối với tư liệu sản xuất của thực dân Pháp, địa chủ phong kiến... Pháp luật về sở hữu thời kỳ 1946 - 1959 đã tạo những tiền đề quan trọng cho việc xác lập mối quan hệ sở hữu mới dưới chính quyền nhân dân. Từ đó, xây dựng những cơ sở vật chất làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của chế độ mới. Chính quyền do giai cấp vô sản làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản làm công cụ cải tạo xã hội, thiết lập các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Và coi công hữu là mục tiêu. b. Giai đoạn 1959 - 1980. Đây là giai đoạn Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong điều kiện mới. Chiến thắng 30/4/1975, đất nước thống nhất, với những thành quả mà công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc đã làm tiền đề cho quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hiến pháp 1959 ra đời đã ban hành những quy định về hình thức sở hữu trong nền kinh tế - xã hội nước ta. Với nhiệm vụ của thời kỳ này là: Xác lập và hoàn thiện chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc. Từ đó, tạo nền tảng cho con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta sau khi giải phóng đất nước. Điều 12, Hiến pháp 1959 khẳng định: “ Kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước đảm bảo ưu tiên phát triển...”. Bên cạnh hình thức sở hữu nhà nước còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác như: Sở hữu của các nhà tư sản dân tộc, của những người tiểu thương, thợ thủ công... Vì vậy, điều 11, Hiến pháp 1959 đã xác nhận và bảo hộ những hình thức sở hữu chủ yếu đó là quy định rằng : " Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẽ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc". Pháp luật về sở hữu trong giai đoạn này chưa xác nhận việc công hữu hóa hoàn toàn đất đai ( theo Hiến pháp 1959) nên quyền tư hữu của các hộ nông dân cá thể vẫn được Nhà nước bảo hộ cùng với các quyền tài sản khác. Đây là kết quả của quá trình đấu tranh của nhân dân ta qua những chặng đường dài của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ta đã thực hiện các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ III, IV đó là: Vừa xây dựng vừa cải tạo, trong cải tạo có xây dựng...Các văn bản pháp luật về sở hữu thời kỳ này đã tạo ra một tiền đề quan trọng có ý nghĩa to lớn trong thời kỳ tiếp theo ở nước ta. c. Giai đoạn 1980 – 1992. Hiến pháp 1980 ra đời thay thế cho bản hiến pháp 1959 đã ghi nhận phạm vi và bản chất của sở hữu nhà nước mà các bản Hiến pháp 1946, 1959 chưa quy định. Theo Hiến pháp 1980, tại các điều 18, 19, 23, 24 và 27 đã quy định một cách chi tiết về các hình thức sở hữu. Điều 18, Hiến pháp 1980 đã ghi nhận như sau: “ Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu của nhân dân lao động. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên”. Trước khi tiến hành đổi mới Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và hoàn thiện một cách cơ bản về chế độ sở hữu Xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu cơ bản đó là: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đánh giá một cách tổng quan thì với hai hình thức sở hữu này đã đóng góp và phát huy vai trò to lớn trong quá trình đấu tranh giành chính quyền cũng như trong tiến trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng thực tế ở nước ta, do xuất phát điểm thấp, trình độ của lực lượng sản xuất còn chưa cao, năng suất lao động thấp. Thêm vào đó là do tư duy chủ quan, thiếu hiểu biết, tư tưởng nóng vội, duy ý chí đã tuyệt đối hoá tính hơn hẳn của sở hữu Xã hội chủ nghĩa. Trong một thời gian dài chúng ta đã định kiến với sở hữu cá nhân của người lao động. Đồng thời coi đây là mầm mống khôi phụ chế độ bóc lột làm kìm hãm sự phát triển của đất nước trên nhiều phương diện. d. Giai đoạn từ 1992 cho đến nay Với đường lối đổi mới đã được đề ra thì công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhất là trong những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ trước. Hiến pháp 1992 ra đời đã kế thừa những quy định của các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời xác nhận chế độ kinh tế của nước ta gồm ba hình thức sở hữu được quy định một cách cụ thể tại điều 15, Hiến pháp 1992( sửa đổi, bổ sung năm 2001): “ Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Cùng với xu thế phát triển một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp 1992 đã xác nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, nhiều thành phần kinh tế. Điều 21, Hiến pháp 1992 ( đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “ Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế, dân sinh. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”. Bên cạnh đó, về vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất quan trọng là đất đai, Hiến pháp 1992 đã khẳng định: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả ( điều 18). Đồng thời, có sự thay đổi trong chính sách sử dụng đất cho phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn mới. Thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng đó là quy định về tài sản và quyền sở hữu trong Phần hai Bộ Luật Dân Sự. Với các quy định tương đối hoàn thiện và đầy đủ về sở hữu chắc chắn tạo ra những nền tảng thuận lợi cho việc ổng định và phát triển các quan hệ hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần của Hiến pháp 1992 và \được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì Bộ Luật Dân sự 1995( có hiệu lực ngày 01/7/1996) và sau này là Bộ Luật Dân sự 2005( có hiệu lực vào ngày 01/01/2006) tại điều 172 quy định một cách cụ thể như sau : “...sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp”. Hiến pháp năm 1992 thừa nhận một số hình thức sở hữu hỗn hợp, đan xen, được hình thành từ mối liên hệ liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế. Điều 22 Hiến pháp năm 1992 qui định: “...Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước theo qui định của pháp luật”. Đây là cơ sở pháp lý để thừa nhận sự tồn tại hình thức sở hữu của các tổ chức kinh tế do các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế liên kết liên doanh như sở hữu của các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, sở hữu của xí nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, trong khu vực sản xuất có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng được xem là một thành phần kinh tế. Khi các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động ở nước ta cũng có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận nguồn gốc của vốn đó: có thể là vốn của một công ty cổ phần “con” của “công ty mẹ” là công ty xuyên quốc gia, có thể là vốn của một nhà tư bản nước ngoài v.v… Như vậy, về thực chất, nền kinh tế của nước ta chấp nhận cả sở hữu tư nhân Tư bản công nghiệp, dù chỉ giới hạn ở công ty có 100% vốn của tư bản nước ngoài và hoạt động theo Luật Đầu Tư Nước Ngoài tại Việt Nam. 1.1.2. Khái niệm về sở hữu tư nhân Sở hữu là một phạm trù kinh tế biểu hiện các quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu của cải vật chất, trước hết là đối với tư liệu sản xuất. Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là “ Sự chiếm hữu”. Sự chiếm hữu là phạm trù tất yếu khách quan, là điều kiện trước tiên của hoạt động sản xuất. Chiếm hữu là việc nắm giữ vật thuộc về mình trên cơ sở pháp luật, là một trong ba quyền năng chủ yếu của chủ sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng, quyền định đoạt)… là quyền trước tiên phải có của chủ sở hữu. Trên cơ sở đó Sở hữu được biết đến là hình thức xã hội – lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, cho nên có thế xem: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính chất lịch sử cụ thể của con người mà những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi sản xuất. Pháp luật Dân sự Việt Nam ghi nhận quyền sở hữu là những quyền năng dân sự đối với tài sản. Đây là chế định pháp lí quan trọng, là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Khái niệm quyền sở hữu vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù pháp lý quan trọng. Điều 164, Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”. Quyền sở hữu bao giờ cũng gắn liền với chủ thể, vì vậy đây được coi là loại quyền tuyệt đối.  Sự tác động khác nhau đến quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và các quy chế của quyền sở hữu đối với mỗi hình thức mang những nét riêng biệt. Trong quá trình phát triển đó, sở hữu tư nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước. Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sản xuấtTheo quy định của Bộ Luật dân sự 2005 tại điều 211 ghi nhận định nghĩa về hình thức sở hữu tư nhân như sau: “ Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân”. Hình thức sở hữu tư nhân là cơ sở quan trọng để hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện thực hiện các quy định của pháp luật Dân sự từ lý luận vào thực tiễn một cách có hiệu quả. Mang lại tính bền vững và đem lại lợi ích kinh tế - xã hội cao nhất. 1.1.3. Vai trò sở hữu tư nhân đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay cùng với sự phát triển không ngừng của các thành phần kinh tế giữ vị trí quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kinh tế tư nhân đã và đang hình thành và phát triển không ngừng. Đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hình thức này góp phần cho sự phát triển của nền kinh tế trước mắt và trong tương lai. Trong thời kì quá độ ở nước ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể để phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất, giải quyết việc làm, khai thác các nguồn vốn và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, một mặt, Nhà nước khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm. mặt khác, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lí để nó hoạt động có hiệu quả và khuyến khích phát triển ở những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm. Mặt khác, xét về lâu dài có thể hướng thành phần này đi vào kinh tế Nhà nước dưới những hình thức khác nhau. 1.2. Chế độ sở hữu tư nhân trong pháp luật Dân Sự Việt Nam 1.2.1. Nội dung sở hữu tư nhân Nội dung của sở hữu tư nhân được Bộ Luật dân sự Việt Nam ghi nhận cũng như các hình thức sở hữu khác cũng bao gồm ba quyền đó là : Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản. Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 tại điều 212 quy định tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân bao gồm : “ 1. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân. Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị. 2. Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức sở hữu sở hữu tư nhân”. Theo quy định của pháp luật Việt Nam có những tài sản không được xem là tài sản thuộc sở hữu tư nhân. Có thể kể đến là Đất đai. Điều 17, Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) quy định: “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Tại điều 213, Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định một cách chi tiết về nội dung quyền sở hữu tư nhân, cụ thể: “ 1. Cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật. 2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác ”. Theo quy định như trên đã cơ bản xác định các quyền và nghĩa vụ của cá nhân khi thực hiện nội dung quyền sở hữu của cá nhân mình trong quá trình phát triển kinh tế và trong đời sống xã hội. Việc thực hiện các quyền của hình thức sở hữu tư nhân không được xâm phạm vào các quy định mà pháp luật nghiêm cấm. Được thể hiện một cách chi tiết hóa trong Bộ luật Dân sự nói chung và các luật chuyên ngành nói riêng trong quá trình cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. 1.2.2. Những căn cứ xác lập quyền sở hữu Khái niệm về Quyền sở hữu được diễn đạt theo 2 nghĩa: nghĩa chủ quan và nghĩa khách quan. Theo nghĩa khách quan đó là toàn bộ các quy định của nhà nước về vấn đề sở hữu. Hiểu theo nghĩa chủ quan đó là toàn bộ những hành vi mà chủ sở hữu được pháp luật cho phép thực hiện trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình theo ý muốn. Cho nên quyền sở hữu rất quan trọng. Vì cơ sở kinh tế đảm bảo cho sự thống trị về chính trị - tư tưởng đó chính là các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị trong những hình thái kinh tế - xã hội của loài người. Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005 tại Điều 170 quy định các căn cứ xác lập quyền sở hữu như sau : “ Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây: 1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; 2. Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 3. Thu hoa lợi, lợi tức; 4. Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; 5. Được thừa kế tài sản; 6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên; 7. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này; 8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định”. Những căn cứ trên là những căn cứ đã được luật hóa với mục đích là làm nền tảng căn bản cho quá trình xác lập các quyền sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng. Đồng thời, quy định một cách rõ ràng cho việc xác định rõ các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. 1.2.3. Những căn cứ chấm dứt quyền sở hữu Bên cạnh đó Bộ Luật dân sự 2005 cũng quy định những căn cứ nhằm chấm dứt quyền sở hữu theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể, tại điều 171 quy định những căn cứ cơ bản nhằm chấm dứt quyền sở hữu như sau : “ Quyền sở hữu chấm dứt trong các trường hợp sau đây: 1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác; 2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình; 3. Tài sản bị tiêu huỷ; 4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu; 5. Tài sản bị trưng mua; 6. Tài sản bị tịch thu; 7. Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định; tài sản mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này; 8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định ”. Việc quy định các căn cứ nhằm chấm dứt quyền sở hữu là điều quan trọng tạo nền tảng cho việc thực hiện một cách đầy đủ và hợp lý các quy định của pháp luật đối với vấn đề sở hữu. Điều này góp phần hình thành nên cơ sở để phân biệt các hình thức sở hữu với nhau trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 1.3. Kết luận chung Như  vậy, có thể nói, sở hữu tư nhân giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Việc xác định các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung của sở hữu tư nhân sẽ hỗ trợ một phần lớn trong việc thiết lập các quy phạm pháp luật chặt chẽ nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về sở hữu ở Việt Nam. Việc đề ra các quy định đối với hình thức sở hữu tư nhân sẽ phục vụ đắc lực cho sự phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế ở hiện tại và trong tương lai. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Và từ các hình thức sở hữu cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005, đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen hỗn hợp. Để có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra thì đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu đài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.  Theo đó, có thể nói quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một là, đa dạng hoá các hình thức sớ hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường, mặt khác, là phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN 2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam Giai đoạn từ năm 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các kế hoạch kinh tế của nhà nước được thực hiện trên cơ sở hạch toán. Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động. Giai đoạn 1993-1997 là giai đoạn kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng. Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm 1998-1999. Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi vào tình trạng giảm phát và thiểu phát. Từ năm 2007 đến năm 2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ở mức 2 chữ số. Việc kiềm chế lạm phát, giữ vững tốc độ phát triển nền kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta. Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là: 1) nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản; 2) công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước); 3) thương mại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế... Trong năm 2009 theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kế đã được công bố thì: Trong năm 2009 thì Việt Nam đã hoàn thành những mục tiêu quan trọng đó là: Chống suy giảm kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; chủ động phòng ngừa lạm phát quay trở lại.Năm 2009, kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu đề ra và đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên thế giới. Sản xuất công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả năm đã tăng 7,6%. Sản xuất nông nghiệp được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt 38,9 triệu tấn, tăng 165.700 tấn so với năm 2008. Cân đối kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Mặc dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm sút, nhưng đầu tư trong nước đã được khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 7 042 000 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Thu ngân sách đạt dự toán cả năm và bội chi ngân sách bảo đảm được mức Quốc hội đề ra là không vượt quá 7% GDP. Lạm phát được kiềm chế, chỉ số tăng giá tiêu dùng tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn mục tiêu 7% Quốc hội thông qua; chỉ số giá bình quân năm 2009 là 6,88%, thấp nhất trong 6 năm gần đây.Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13,4% năm 2008 xuống còn 12,3%. Văn hóa, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng đạt được những thành tích vượt trội. 2.2. Sở hữư tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 2.2.1. Những kết quả đạt được Việc chia nền kinh tế nước ta thành 3 khu vực với 3 nhóm hình thức sở hữu khác nhau để so sánh tỷ trọng đầu tư và tỷ trọng đóng góp vào GDP của mỗi khu vực, trong một khoảng thời gian nhất định, có thể thấy được về cơ bản, hiệu quả và vai trò của các hình thức sở hữu. Bảng dưới đây nêu ra tỷ trọng đầu tư của 3 khu vực: nhà nước, ngoài QD, đầu tư nước ngoài (từ năm 1996 đến sơ bộ năm 2008), như sau: (Nguồn niên giám thống kế 1996 - 2008.) VỐN ĐẦU TƯ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ (Đơn vị: tỷ đồng) Tổng số Chia ra Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài quốc doanh Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Năm 1996 87394 42894 21800 22700 1997 108370 53570 24500 30300 1998 117134 65034 27800 24300 1999 131171 76958 31542 22671 2000 151183 89417 34594 27172 2001 170496 101973 38512 30011 2002 200145 114738 50612 34795 2003 239246 126558 74388 38300 2004 290927 139831 109754 41342 2005 343135 161635 130398 51102 2006 404712 185102 154006 65604 2007 532093 197989 204705 129399 2008 610876 174435 244081 192360 CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ (Đơn vị: %) Tổng số Chia ra Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài quốc doanh Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1996 100.0 49.1 24.9 26.0 1997 100.0 49.4 22.6 28.0 1998 100.0 55.5 23.7 20.8 1999 100.0 58.7 24.0 17.3 2000 100.0 59.1 22.9 18.0 2001 100.0 59.8 22.6 17.6 2002 100.0 57.3 25.3 17.4 2003 100.0 52.9 31.1 16.0 2004 100.0 48.1 37.7 14.2 2005 100.0 47.1 38.0 14.9 2006 100.0 45.7 38.1 16.2 2007 100.0 37.2 38.5 24.3 2008 100.0 28.6 40.0 31.4 Biểu đồ 1: CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ NĂM 1996 Biểu đồ 2: CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ NĂM 2008 Nhìn vào biểu đồ của 2 năm 1996 và năm 2008 cùng với bảng số liệu từ năm 1996 đến năm 2008 chochúng ta thấy rằng: Hiệu quả đầu tư và sử dụng vốn của khu vực nhà nước giảm sút. Vốn đầu tư của khu vực Nhà nước tăng từ 49% năm 1996 lên 58,1% năm 2001. Nhưng từ năm 2001 đến năm 2008 lại giảm từ 59,8% xuống còn 28,6%. Đồng thời, trong thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ( khu vực kinh tế tư nhân trong nước) tăng từ 27,6% năm 1995 lên 40,0% năm 2008. Đây là nguồn đóng góp GDP quan trọng cho ngân sách nhà nước. Tại khu vực có vốn đầu tư nước, tuy tỉ trọng vốn đầu tư có xu hướng phát triển không ổn định, lúc tăng, lúc giảm trong giai đoạn 1995 -2004. Nhưng từ năm 2005 đến sơ bộ năm 2008 lại có sự phát triển không ngừng từ 14,9% lên đến 31,4%. Đây là thành phần kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển trong xu hướng hội nhập hiện tại và trong tương lai. Trong quá trình phát triển của pháp luật của dân sự đã điều chỉnh một cách có hiệu quả các mối quan hệ về sở hữu. Quá trình thực hiện các quy định về sở hữu tư nhân đã đạt được những kết quả sau: Qua hơn hai mươi năm đổi mới, việc quy định một cách cụ thể vấn đề sở hữu tư nhân đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản nhằm cho các quan hệ về sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng. Đồng thời, điều này đã tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ và tích cực cho các cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu tư nhân trong nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Phát huy nguồn lực của xã hội vào sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách cho Nhà nước. Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, các doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, vị trí và vai trò ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ trọng thu ngân sách từ khu vực kinh tế tư nhân tăng từ 6% (năm 2002) lên trên 11% (năm 2008). Năng lực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế đã được nâng lên đáng kể. Tổng vốn đăng ký giai đoạn 2000-2008 là 2.110 tỷ đồng, lớn hơn cả vốn FDI cùng kỳ, vốn đăng ký bình quân tăng 61,5%. Cơ cấu về ngành nghề, sản phẩm và quy mô vốn đầu tư của kinh tế tư nhân cũng có nhiều thay đổi. Một số doanh nghiệp của tư nhân đã phát triển thành tập đoàn kinh tế, tạo dựng được thương hiệu cả trong nước và quốc tế. Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư năm 2008 có 65.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới và năm 2009 là 85.000. Bình quân vốn sở hữu năm 2009 là 9 tỉ đồng/doanh nghiệp, gấp chín lần so với năm 2000. Dự kiến năm nay khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 48% GDP, tăng 2% so với năm 2009. Điều này càng thể hiện tầm quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam. 2.2.2. Những tồn tại trong quá trình thực hiện 2.2.2.1. Về văn bản pháp luật Thứ nhất, việc quy định về hình thức sở hữu tư nhân trong pháp luật dân sự còn chưa rõ ràng. Còn mang tính chất chung chung và không chỉ rõ cụ thể các đối tượng trong các quy định về sở hữu tư nhân nói riêng và sở hữu tư nhân nói riêng. Thứ hai, không có sự thống nhất trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật dân sự về các hình thức sở hữu nói chung. Bên cạnh đó, gây khó khăn cho quá trình điều chỉnh một cách cụ thể các quan hệ sở hữu trong ở nước ta hiện nay. Thứ ba, còn thiếu những chính sách, đường lối nhằm vạch sẵn tiến trình phát triển của các hình thức sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng trong các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam Thứ tư, đối với thành phần kinh tế tư nhân còn thiếu các quy định của pháp luật nhằm phát huy vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong sự phát triển của đất nước. 2.2.2.2. Về công tác tổ chức thực hiện Trong công tác thực hiện còn xuất hiện những vướng mắc cần giải quyết. Một trong những vấn đề đó chính là việc phổ biến các chính sách về sở hữu tư nhân cho đông đảo người dân còn yếu. Trong quá trình thực hiện chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền nhằm thực hiện tốt các quy định về chế độ sở hữu. Bên cạnh đó là việc kiểm tra, giám sát công tác thực hiện còn chưa thật sự hiệu quả vì vậy kết quả thực hiện là không cao. 2.3. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về sở hữu tư nhân 2.3.1. Về văn bản pháp luật Đảng Cộng sản Việt Nam cần ban hành các Nghị quyết thể hiện rõ chủ trương chính sách của Đảng về chế độ sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân một cách nhanh chóng, đúng đắn, kịp thời, phù hợp...với đường lối phát triển của đất nước trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Bên cạnh đó, Nhà nước cần nhanh chóng kịp thời thể chế hóa các nghị quyết, đường lối chính sách của Đảng thành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ về sở hữu nhất là trong lĩnh vực dân sự một cách hoàn thiện hơn. Với các chính sách tập trung như: Chính sách về sở hữu tư nhân trong các lĩnh vực một cách cụ thể như Dân sự, Đất đai, Thương mại..; Chính sách đối với việc sử dụng, quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng. Quy định một cách rõ ràng về nội dung quyền sở hữu tư nhân trong lĩnh vực dân sự nói chung và các lĩnh vực khác nói riêng. Tạo nên một tập hợp các quy định của pháp luật về quyền sở hữu tư nhân trong các lĩnh vực một cách hoàn chỉnh hơn. Đồng thời, hoàn thiện chính sách đối với các thành phần kinh tế nói chung và thành phần kinh tế tư nhân nói riêng. Bằng việc đề ra những việc làm cụ thể phù hợp của từng giai đoạn trong tiến trình phát triển trên con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Là nền tảng quan trọng của việc thực hiện mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân đang cố gắng thực hiện nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo ra một nền tảng cơ sở kinh tế - vật chất – kỹ thuật, cũng như một môi trường kinh tế - xã hội ổn định, phát triển nhanh, đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát sinh, thay đổi, chấm dứt trong một hành lang pháp lý bền vững ở nước ta. Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, việc Nhà nước cần ban hành các quy định nhằm tạo sự bình đẳng trong thị trường. Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cần có có sự quản lý từ cơ quan có thẩm quyền, các ban ngành có chức năng...Đây là điều cần thiết nhằm tránh các tác động xấu của kinh tế thị trường trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời cần nhanh chóng giải quyết vấn đề trong phân biệt rõ quyền sở hữu, quản lý và sử dụng...trong quá trình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước trong tiến trình phát triển nền kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 2.3.2. Về mặt tổ chức và thực hiện Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân những kiến thức về sở hữu tư nhân để người người dân có thể tham gia vào các mối quan hệ có liên quan đến hình thức sở hữu tư nhân một cách tốt nhất. Để khắc phục nhược điểm này, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục là một biện pháp hữu hiệu nhất. Tuy vậy, không thể tuyên truyền một cách chung chung mà cần xác định rõ nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tượng. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về sở hữu tư nhân. Xây dựng và thực thi pháp luật sở hữu tư nhân phải được thực hiện dựa trên cơ sở gắn kết mối quan hệ giữa tất cả các cơ quan từ trực tiếp đến gián tiếp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện sở hữu tư nhân, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm pháp luật về Sở hữu tư nhân. Xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện sở hữu tư nhân sẽ không thể được thực hiện nếu không có công tác thanh tra, kiểm tra. Nâng cao vai trò của cơ quan có thẩm quyền trong thực thi chính sách về sở hữu tư nhân – xây dựng thành phần kinh tế tư nhân. Việc cần thiết hiện nay là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần chủ động, tích cực tham gia kết hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành rà soát, đánh giá các quy định của pháp luật về sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân trong cả nước nói chung. Từ đó đưa ra các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội của cả nước tạo cơ sở cho các cơ quan, các tổ chức cá nhân trong quá trình hoạt động. Có thể khẳng định sở hữu tư nhân – kinh tế tư nhân là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Với chức năng quy định nội dung cơ bản về hình thức sở hữu tư nhân đã đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan, pháp luật về sở hữu tư nhân ở nước ta còn rất nhiều tồn tại, thiếu sót như đối tượng điều chỉnh còn hẹp, hiệu quả chưa cao, chế độ chưa hợp lý, văn bản điều chỉnh còn thiếu tính tổng hợp… .Vì vậy, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống văn bản pháp luật quy định về vấn đề này hợp lý, hiệu quả và thiết thực hơn để sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân thực sự được phát huy những chức năng của nó xứng đáng với vị trí, vai trò và tầm quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta nhận định. C. PHẦN KẾT LUẬN Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước việc thúc đấy lực lượng sản xuất nhằm nên một nền tảng cơ bản cho nền kinh tế là vấn đề quan trọng. Bên cạnh đó, việc thừa nhận các hình thức sở hữu đa dạng đang tồn tại đan xen, hòa quyện, bổ sung và phát triển là điều tất yếu của quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Chế độ sở hữu tư nhân là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như khoa học kinh tế - chính trị; Lý luận chung về nhà nước và pháp luật; Luật dân sự; Luật đất đai; Luật doanh nghiệp.... Xét ở góc độ pháp lý, sở hữu tư nhân là tổng hợp những quy định của Nhà nước về hình thức để đảm bảo các điều kiện của sở hữu cá nhân đối với tài sản. Đối chiếu với tình hình thực hiện công tác về sở hữu trong lịch sử , có thể khẳng định các hình thức sở hữu nói chung và sở hưu tư nhân nói riêng đã thay đổi cơ bản cả về quan điểm, chính sách, cơ chế tổ chức thực hiện. Ngoài ra, các quy định của pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân đã và đang không ngừng được điều chỉnh, bổ sung để đáp ứng với nhu cầu đổi mới của đất nước, nhất là từ khi kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Chế độ sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân đã góp phần tạo ra một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh đó, việc phải hoàn thiện cơ sở lý luận và tổng hợp thực tiễn của hình thức sở hữu tư nhân trong pháp luật dân sự là điều cần thiết. Giúp cho nước ta phát huy được “ nội lực” tranh thủ “ ngoại lực” trong giao lưu hợp tác quốc tế nhằm chống lại 4 nguy cơ: Tụt hậu, chệch hướng, diễn biến hòa bình và tham nhũng, buôn lậu...Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để nâng cao đời sống của nhân dân, phát triển bền vững đất nước, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam. Tuy nhiên, do những đặc thù của nước ta trong vấn đề quản lý nên bên cạnh những ưu điểm nổi bật, quy định của pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân ở nước ta còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, thiếu sót. Trên một số lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực dân sự nói riêng thì việc quy định hình thức sở hữu tư nhân còn chưa rõ ràng hoặc đã có những quy định nhưng cơ chế thực hiện chưa thông thoáng đã tạo nên hiện tượng vướng mắc trong quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước. Bên cạnh đó, đối tượng của chế độ sở hữu tư nhân trong luật dân sự còn bị giới hạn trong một phạm vi hẹp đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. TÀI LIỆU THAM KHẢO Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Bộ luật Dân sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật Dân sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam. Trường Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. PGS.TS Nguyễn Văn Thạo; TS. Nguyễn Hữu Đạt (2004), Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay. Minh Đức (2002), Phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, dân chủ cơ sở và xây dựng Đảng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 4. Niên giám thống kê năm 2008. Các website: www.na.gov.vn www.chinhphu.gov.vn www.mpi.gov.vn MỤC LỤC A. PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................1 2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..............................................................3 4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................4 5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.....................................................4 6. Bố cục của đề tài.........................................................................................5 B. PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................6 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ HÌNH THỨC SỞ HỮU TƯ NHÂN..........6 1.1. Khái quát về hình thức sở hữu tư nhân...................................................6 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu và hình thức sở tư nhân....................................................................................................6 1.1.2. Khái niệm về sở hữu tư nhân..........................................................13 1.1.3. Vai trò của sở hữu tư nhân đối với nền kinh tế...............................14 1.2. Chế độ sở hữu tư nhân trong pháp luật Dân Sự Việt Nam...................15 1.2.1. Nội dung sở hữu tư nhân................................................................15 1.2.2. Những căn cứ xác lập quyền sở hữu..............................................16 1.2.3. Những căn cứ chấm dứt quyền sở hữu..........................................17 1.3. Kết luận chung.....................................................................................18 Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN...........................20 2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam.............................................20 2.2. Sở hữư tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.....21 2.2.1. Những kết quả đạt được.................................................................21 2.2.2. Những tồn tại trong quá trình thực hiện.........................................24 2.3. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về sở hữu tư nhân...25 2.3.1. Về văn bản pháp luật......................................................................25 2.3.2. Về mặt tổ chức và thực hiện..........................................................26 C. KẾT LUẬN CHUNG...................................................................................28 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................28

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChế độ pháp lý về sở hữu tư nhân Thực tiễn ở Việt Nam.doc
Luận văn liên quan