Chế độ tài sản ước định trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân mà các vấn đề về quyền sở hữu đối với tài sản của vợ chồng không thể chỉ điều chỉnh bằng các quy định chung về sở hữu tài sản thông thường. Tất cả các quốc gia trên thế giới, dù chế độ xã hội khác nhau, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, điều kiện về phong tục tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau, tất cả quốc gia đó dù đã quy định về quyền sở hữu tài sản thông thường nhưng ít hay nhiều cũng đều có quy định riêng về vấn đề sở hữu tài sản vợ chồng. Như vậy, tài sản của hai người nam và nữ khi bước vào hôn nhân được điều chỉnh bởi một quy chế pháp lý có tên là “chế độ tài sản vợ chồng”. Theo một logic đơn thuần, khi chưa bước vào hôn nhân, từng cá nhân được tự do định đoạt tài sản của mình thì trong hôn nhân hai cá nhân đó có thể thỏa thuận định đoạt chế độ tài sản vợ chồng. Nói đến chế độ tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề về sở hữu đối với tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Trên tiêu chí hình thức, chế độ tài sản vợ chồng được chia thành chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho phép những người sắp kết hôn tự thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng bằng một văn bản có tên “hôn ước”, tuy nhiên ở Việt Nam thì không như vậy, chế độ tài sản vợ chồng chỉ do pháp luật quy định. Vậy, chế độ tài sản ước đinh là gì và có nên đưa chế độ này vào trong pháp luật Hôn nhân gia đình Việt Nam hay không? Để làm rõ vẫn đề này, em xin chọn đề tài Trình bày hiểu biết của mình về chế độ tài sản ước định để phân tích. Từ đó có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về chế độ tài sản vợ chồng trong luật Hôn nhân gia đình Việt Nam. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Chế độ tài sản vợ chồng. Nói đến chế độ tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề sở hữu đối với tài sản của vợ chồng. “Tổng hợp các qui định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng là chế độ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt) và cũng do đó chế độ tài sản vợ chồng không bao gồm các vấn đề thừa kế tài sản giữa vợ và chồng, vấn đề cấp dưỡng của vợ chồng. 1.1. Chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Về hình thức pháp lí, chế độ tài sản vợ chồng có thể được xác định theo căn cứ pháp luật (chế độ tài sản pháp định) hoặc theo thỏa thuận của vợ chồng(chế độ tài sản ước định). Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản pháp định được pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới dự liệu. Khác với chế độ tài sản pháp định, chế độ tài sản ước định là chế độ tài sản mà trong đó căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận. 1.2. Hôn ước Khi áp dụng chế độ tài sản ước định, vợ chồng được tự do thỏa thuận về chế độ tài sản trong thời kì hôn nhân. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó là hôn ước. Hôn ước là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng trong thời kì hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân. 2. Các đặc trưng cơ bản của hôn ước. Hôn ước (marriage contract) là thuật ngữ pháp lý xuất hiện trong pháp luật của các nước có nền kinh tế - xã hội và môi trường pháp lý đề cao quyền tư hữu và tự do cá nhân, trong đó có tự do thỏa thuận trong hôn ước. Có thể khẳng định hôn ước là chứng thư quy định chế độ tài sản cho gia đình trong thời kì hôn nhân của các đương sự Về chủ thể: Hôn ước chỉ phát sinh hiệu lực giữa những người có quan hệ hôn nhân hợp pháp (có làm các thủ tục cần thiết để đăng kí kết hôn vớicơ quan có thẩm quyền). Do hôn ước có tính hoạch định cao nên các cặp vợ chồng thuộc trường hợp hôn nhân thực tế, chung sống như vợ chồng dù được công nhận là hợp pháp cũng không được coi là chủ thể của hôn ước. Hôn nhân thực tế hay việc công nhận tính hợp pháp của các quan hệ chung sống như vợ chồng không phải là lạc hậu và chỉ tồn tại ở một số quốc gia đang phát triển. Hôn nhân thực tế được ghi nhận và thậm chí việc công nhận hôn nhân thực tế còn là xu hướng của pháp luật các quốc gia phương Tây đặc biệt là các quốc gia theo thông luật (common law). Về mục đích: Hôn ước tạo điều kiện cho vợ chồng tự chủ hơn trong việc quản lí tài chính, hoạch định tương lai (thậm chí tương lai đó bao gồm cả việc li hôn). Mặc dù không hoàn toàn, nhưng hôn ước và cả chế độ tài sản ước định cũng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình và có mục đích là góp phần vào sự vững bền của hạnh phúc gia đình. Về hình thức: Hôn ước buộc phải được lập bằng văn bản có chữ kí của hai bên nam nữ sắp trở thành vợ chồng. Pháp luật của nhiều nước thường qui định hôn ước phải được công chứng và cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính hợp pháp (bằng các hình thức công chứng và đăng kí hôn ước cùng với thời điểm đăng kí kết hôn). Về nội dung: Trong hôn ước, vợ chồng tối thiểu phải thỏa thuận về phương thức hay qui định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của mình. Những thỏa thuận trong hôn ước không được trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Trong hôn ước vợ chồng chỉ có thể thỏa thuận về vấn đề tài sản và không thể thỏa thuận hay làm khác đi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay các quan hệ nhân thân khác đã được pháp luật qui định. Về hiệu lực: Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn, để đảm bảo phát sinh hiệu lực, hôn ước phải được lập theo thể thức mà pháp luật nội địa (luật nơi vợ chồng cư trú và có quốc tịch) hoặc pháp luật nơi lập hôn ước qui định. Hôn ước phát sinh hiệu lực kể từ khi hai bên nam nữ trở thành vợ chồng hợp pháp. Về vấn đề sửa đổi, hủy bỏ: việc thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của hôn ước phải theo một thể thức nhất định, việc thay đổi thường được tiến hành theo hình thức lập hôn ước. Trước đây hôn ước là bất di bất dịch tuy nhiên qui định này đã trở nên lỗi thời, hiện nay các quốc gia cho phép vợ chồng thay đổi hoặc hủy bỏ hôn ước nhưng thường đặt điều kiện về thời gian có hiệu lực của hôn ước trước hoặc điều kiện về hình thức, về sự phê chuẩn. 3. Nguồn gốc hình thành chế độ tài sản ước định và việc áp dụng chế độ tài sản ước định tại một số nước trên thế giới. Xác định tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở hôn ước được xuất phát từ quan niệm của nhà làm luật ở các nước phương Tây. Theo họ, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập (việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước hoặc nhà thờ có thẩm quyền theo một nghi thức đặc biệt được qui định trong pháp luật) và trong việc chấm dứt (hôn nhân chỉ chấm dứt khi có sự kiện chết, có tuyên bố của Toà án một bên vợ, chồng đã chết hoặc khi có bản án hoặc quyết của Toà án về ly hôn có hiệu pháp luật, tất cả các trường hợp chấm dứt này phải tiến hành theo những thủ tục hành chính hoặc thủ tục tố tụng tại Toà án được pháp luật qui định). Bên cạnh đó, nhà làm luật ở các nước phương tây cũng đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng. Với quan niệm trên, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở hầu hết các nước phương Tây. Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để qui định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và qui định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước. Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965) đều qui định: Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các qui định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước. Như vậy, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật qui định mà do chính bản thân vợ chồng tự thoả thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng. Vợ chồng có thể thoả thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được qui định trong pháp luật hoặc họ có thể chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo qui định của pháp luật. Các thoả thuận của vợ chồng trong hôn ước mang tính ổn định cao. Về nguyên tắc, sau khi kết hôn việc thực hiện hôn ước là “bất di bất dịch”, Điều 1395 Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 qui định: Hôn ước không thể thay đổi sau khi đã kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc hôn ước không thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân có một hạn chế cơ bản là nó có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp, thu nhập; hoặc, chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn có thể chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, còn sau đó các qui định trong chế độ tài sản đã lựa chọn lại cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ họ, cũng như lợi ích của gia đình. Để khắc phục hạn chế trên, hiện nay, pháp luật một số nước đã thừa nhận, các thoả thuận trong hôn ước có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ, Điều 1397 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965, Luật số 89 – 18 ngày 13/1/1989) qui định: Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thoả thuận hoặc theo Luật định, hai vợ chồng có thể, vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn nhân bằng một chứng thư có chứng thực của công chứng viên và được Toà án nơi cư trú phê chuẩn. Bộ Luật Dân sự Nhật Bản không qui định cụ thể về vấn đề này, nhưng theo Điều 758, 759: Tài sản thuộc sở hữu chung có thể được thay đổi hoặc phân chia trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận hoặc trong trường hợp vợ, chồng quản lý tài sản củanhau, nhưng người đó thực hiện quản lý tài sản không tốt và người kia đã yêu cầu Toà án HN&GĐ tước bỏ việc quản lý nói trên. Việc thay đổi hoặc phân chia tài sản chung không được sử dụng để chống lại người thừa kế hợp pháp của chồng hoặc vợ, trừ khi việc này đã được đăng ký. Như vậy, theo pháp luật Nhật Bản, những căn cứ xác định tài sản của vợ chồng được qui định trong hôn ước cũng có thể được thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản giữa vợ và chồng. 4. Chế độ tài sản ước định vợ chồng trong pháp luật Việt Nam 4.1. Thời kì trước 1975 Trong thời kỳ pháp thuộc, luật pháp về dân sự ở Việt Nam mang đậm dấu ấn của Bộ luật dân sự Napoléon. Trong ba bộ dân luật được áp dụng ở ba miền bắc, trung, nam, Bộ dân luật bắc và Bộ dân luật trung đã ghi chép những nguyên tắc cơ bản của BLDS Pháp như : quyền tự do lập hôn ước và tính chất không thay đổi của chế độ hôn sản. Khác với BLDS Pháp, hai Bộ dân luật này chỉ dự liệu một chế độ chung để áp dụng cho những vợ chồng không lập hôn ước, mà không đề xuất những chế độ để vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn. Thực tế, những quy định này đã được thực hiện ở Việt Nam trong khoảng 20 năm. Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc, pháp luật về vấn đề này ở hai miền thể hiện những nội dung trái chiều. Luật hôn nhân và gia đình ngày 29 tháng 12 năm 1959 ở Miền bắc chỉ quy định về một hình thức của chế độ tài sản pháp định (chế độ cộng đồng toàn sản), và vì thế, không có một quy định nào về quyền lập hôn ước của vợ chồng. Trong khi đó, ở Miền nam, ba đạo luật đã được lần lượt ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình (Luật gia đình ngày 02 tháng 1 năm 1959, Luật 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 và Bộ dân luật ngày 20 tháng 12 năm 1972), đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lập hôn ước. Chẳng hạn, Bộ dân luật năm 1972 quy định : Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục (Điều 145) và Luật pháp chỉ quy định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước (Điều 144). 4.2. Thời kì đất nước thống nhất Luật HN-GĐ năm 1986 và Luật HN-GĐ năm 2000 đều chỉ tập trung quy định về một chế độ tài sản pháp định. Nhà lập pháp không dự liệu bất kỳ một điều khoản nào cho phép vợ chồng lập hôn ước, nhưng cũng không ấn định những quy định cấm. Trong bối cảnh đó, nhìn chung, giới luật gia và những người áp dụng pháp luật đều cho rằng chế độ hôn sản pháp định có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ hôn nhân hợp pháp, do vậy, mọi thỏa thuận của vợ chồng trái với các quy định của chế độ hôn sản pháp định cần bị tuyên bố là vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Nghị định số 70 của Chính phủ ngày 03 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 đã đem đến một yếu tố mới, mà chúng ta thấy có khả năng xuất hiện một chế độ tài sản của vợ chồng khác với chế độ pháp định. Khoản 2 điều 8 quy định : Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác . Mặt khác, các quy định ở điều 9 và điều 10 về khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng đòi hỏi vợ chồng đã chia tài sản chung mà sau đó muốn khôi phục lại chế độ tài sản chung thì phải lập thành văn bản có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực. Các quy định ở khoản 2 điều 8 và điều 9, 10 thể hiện sự lôgíc của một ý tưởng mới về những quan hệ tài sản giữa vợ và chồng theo thỏa thuận. Vậy thì chúng ta có thể đưa ra một giả thuyết rằng, chính người soạn thảo văn bản Luật đã muốn có một sự mềm dẻo trong việc thừa nhận chế độ hôn sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong những trường hợp cần thiết. Nếu giả thuyết này đúng, thì đây quả thực sẽ là một bước đệm quan trọng cho việc thiết lập những quy định về hôn ước trong Luật HN-GĐ tương lai. Mặt khác, vì Nghị định 70 vẫn đang có hiệu lực, chắc chắn, sau khi chia hết tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể thực hiện một chế độ tách riêng tài sản. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc đóng góp của các bên vợ, chồng vào đời sống chung của gia đình cần được các văn bản pháp luật dự liệu cụ thể. 5. Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Việc thừa nhận hay không thừa nhận chế độ tài sản ước định trong luật cần được xem xét trên hai khía cạnh, ưu điểm và hạn chế. 5.1. Ưu điểm của chế độ tài sản ước định. Tự xác lập hôn ước là bước cụ thể hóa nguyên tắc cá nhân có quyền tự quyết định các vấn đề của bản thân, trong đó có hôn nhân và quyền sở hữu tài sản trong hôn nhân. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, sở hữu cá nhân và tự do kinh doanh đang dẫn đến ý thức độc lập và tự chủ ngày càng cao của cá nhân về lợi ích tài sản. Tự do lập hôn ước cho phép vợ chồng tự quyết định quyền sở hữu trong gia đình, tạo ra khả năng đôi bên có thể tự giác thực hiện các nghĩa vụ và quyền được thỏa thuận. Do đó, nếu có tranh chấp về tài sản của vợ chồng, hôn ước giúp các cơ quan tư pháp thực hiện tốt công tác xét xử và thi hành án. 5.2. Hạn chế của chế độ tài sản ước định Chế độ này đề cao lợi ích cá nhân, điều này mâu thuẫn với bản chất của gia đình là “bổn phận và trách nhiệm”. Gia đình thường bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em Trong trật tự đó không có chỗ cho cá nhân, không thừa nhận tính ích kỉ của bất kì người nào. Nó đòi hỏi các chủ thể khi thực hiện nghĩa vụ của mình phải đặt lợi ích của gia đình lên trước lợi ích cá nhân. Trong tự do lập hôn ước, “cái tôi” thường được đề cao, lợi ích riêng này của cá nhân trong gia đình không được đảm bảo sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xa cách về mặt tình cảm và các quan hệ gia đình có thể bị phá vỡ bởi yếu tố vật chất. Hạn chế này của hôn ước ó thể ảnh hưởng đến mục tiêu của hôn nhân là xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Thêm vào đó, chế độ tài sản ước định không hoàn toàn phù hợp với tập quán truyền thống và tâm lý chung của nhân nhân ta. Với người Việt Nam, hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong cuộc sống. Con người sống gắn chặt với gia đình, phẩm chất và giá trị của từng người phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình của họ. Do đó, trong các vấn đề hôn nhân và gia đình nói chung và các vấn đề về tài sản trong gia đình nói riêng, con người Việt Nam thường đề cao lợi ích chung của gia đình hơn là lợi ích riêng của cá nhân. Nhân dân ta đã có những quan niệm nói lên sự đồng tâm hiệp lực của cả hai vợ chồng trong việc tạo lập và sở hữu tài sản chung của hai vợ chồng, chẳng hạn về lao động sản xuất: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”; “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” hay về quyền sở hữu có quan niệm “ Của chồng công vợ” Như vậy, quan niệm rạch ròi,tự do quá đà trong các vấn đề gia đình nói chung và tài sản nói riêng không phải là tập quán tâm lí chung của nhân dân ta, do vậy, việc áp dụng chế độ này vào đời sống hôn nhân cũng như pháp luật ở Việt Nam còn tương đối khó khăn. 5.3. Đề xuất giải pháp Từ những phân tích trên, ta có thể thấy, để đuợc một cách thức tổ chức hợp lý nhất các quan hệ tài sản của vợ chồng, Luật HN-GĐ Việt Nam cần quan tâm xử lý hai vấn đề cơ bản sau : Thứ nhất, nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận trong các quan hệ dân sự, được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, đảm bảo cho các cá nhân có quyền tự do thỏa thuận để xác lập các quyền và nghĩa vụ, miễn sao các thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Trong các quan hệ gia đình, vợ chồng có bổn phận, trách nhiệm phải đảm bảo những điều kiện về tinh thần cũng như vật chất cho sự tồn tại và phát triển của gia đình mình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả các đôi vợ chồng đều cần phải thực hiện một chế độ tài sản chung nhất. Quyền tài sản của vợ chồng là quyền gắn với nhân thân vợ chồng, vì vậy cần phải để cho chính họ cùng nhau thỏa thuận, quyết định lựa chọn một hình thức thực hiện hợp lý, có lợi nhất cho bản thân và cho gia đình. Mặt khác, để bảo vệ lợi ích của gia đình, của con cái, Luật HN-GĐ cần tập trung quy định một cách rõ ràng hơn những những nghĩa vụ và quyền về tài sản của vợ và chồng – áp dụng chung nhất cho mọi trường hợp, đồng thời phải đi kèm với những biện pháp đảm bảo thực hiện. Trong bối cảnh luật pháp như vậy, sự tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không phá vỡ tính cộng đồng của hôn nhân, mà trái lại, nó sẽ củng cố những quan hệ gia đình một cách thực chất và theo tinh thần tự nguyện hơn. Thứ hai, thực tế kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều thay đổi so với thời kỳ những năm 80-90. Gia đình không còn bó hẹp với chức năng duy trì cuộc sống của các thành viên, mà thực sự đã tham gia tích cực vào nền kinh tế xã hội. Những quan hệ kinh tế đòi hỏi vợ, chồng phải có những quyết định nhanh nhạy, nhưng muốn vậy họ phải chủ động về tài sản. Chúng tôi cho rằng, Luật HN-GĐ hiện hành chưa theo kịp diễn biến của những quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay. Nếu vợ, chồng thực hiện đúng theo quy định pháp luật, trong nhiều trường hợp, họ sẽ bỏ lỡ những cơ hội làm ăn. Mặt khác, việc đưa những tài sản chung của vợ chồng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng hàm chứa những rủi ro và có thể dẫn đến nguy cơ tiêu tán tài sản của gia đình, đặt cuộc sống gia đình vào trong tình trạng bấp bênh. Vì thế, ở những nước mà luật pháp thừa nhận chế độ hôn sản ước định, những người vợ, chồng làm nghề kinh doanh thường nghĩ đến một chế độ tách riêng tài sản. Chế độ đó vừa tạo điều kiện cho họ chủ động trong hoạt động kinh doanh, vừa tránh được những rủi ro có thể xảy đến cho cuộc sống gia đình. C. KẾT LUẬN Tóm lại, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không phải là một điều mới lạ đối với xã hội Việt Nam, thậm chí nó đã từng được thực hiện trong một thời gian khá dài (nhất là ở Miền nam). Thực chất, việc duy trì duy nhất một chế độ tài sản của vợ chồng, cho đến nay, phản ánh sự thắng thế của một quan điểm lập pháp, chứ không phải hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn kinh tế-xã hội. Chúng tôi không phủ nhận sự phù hợp của chế độ cộng đồng tạo sản mà mà Luật Hôn nhân và gia đình đang thực hiện, nhưng sự áp đặt của chế độ này cho mọi quan hệ vợ chồng thì không thể được coi là hợp lý. Hơn nữa, xã hội Việt Nam, thực ra, không quá khác so với môi trường các nước trên thế giới, đến mức mà chúng ta phải có một cách tổ chức các quan hệ tài sản của vợ chồng, theo cách riêng biệt đến như vậy. Do đó, cũng như quan điểm của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực Luật Hôn nhân và gia đình, chúng tôi cho rằng pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam cần thay đổi lại phương thức tổ chức các chế độ tài sản của vợ chồng, theo hướng thừa nhận quyền tự do của vợ chồng trong việc chọn chế độ tài sản áp dụng. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009. 2. Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 3. Nghị định của Chính phủ số 70/2001 NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 4. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuât bản Tư pháp, 2008 5. Nguyễn Hồng Hải, Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản định ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tạp chí Luật học, số 3 năm 1998. 6. Bùi Minh Hồng, Chế độ tài sản theo chế độ thỏa thuận của vợ chồng lliên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam 7. Phạm Thị Linh Nhâm, Tìm hiểu về hôn ước và khả năng áp dụng hôn ước ở Việt Nam, Khóa luật tốt nghiệp, đại học Luật Hà Nội, năm 2010. http://www.lawsaigonminhluat.com/ind.inh&Itemid=522

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 2185 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chế độ tài sản ước định trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DÀN BÀI CHI TIẾT A. ĐẶT VẤN ĐỀ B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Chế độ tài sản vợ chồng. Chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Hôn ước Các đặc trưng cơ bản của hôn ước. 3. Nguồn gốc hình thành chế độ tài sản ước định và việc áp dụng chế độ tài sản ước định tại một số nước trên thế giới. Chế độ tài sản ước định vợ chồng trong pháp luật Việt Nam 4.1. Thời kì trước 1975 Thời kì đất nước thống nhất Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 5.1. Ưu điểm của chế độ tài sản ước định. 5.2. Hạn chế của chế độ tài sản ước định 5.3. Đề xuất giải pháp C. KẾT LUẬN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân mà các vấn đề về quyền sở hữu đối với tài sản của vợ chồng không thể chỉ điều chỉnh bằng các quy định chung về sở hữu tài sản thông thường. Tất cả các quốc gia trên thế giới, dù chế độ xã hội khác nhau, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, điều kiện về phong tục tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau, tất cả quốc gia đó dù đã quy định về quyền sở hữu tài sản thông thường nhưng ít hay nhiều cũng đều có quy định riêng về vấn đề sở hữu tài sản vợ chồng. Như vậy, tài sản của hai người nam và nữ khi bước vào hôn nhân được điều chỉnh bởi một quy chế pháp lý có tên là “chế độ tài sản vợ chồng”. Theo một logic đơn thuần, khi chưa bước vào hôn nhân, từng cá nhân được tự do định đoạt tài sản của mình thì trong hôn nhân hai cá nhân đó có thể thỏa thuận định đoạt chế độ tài sản vợ chồng. Nói đến chế độ tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề về sở hữu đối với tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Trên tiêu chí hình thức, chế độ tài sản vợ chồng được chia thành chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho phép những người sắp kết hôn tự thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng bằng một văn bản có tên “hôn ước”, tuy nhiên ở Việt Nam thì không như vậy, chế độ tài sản vợ chồng chỉ do pháp luật quy định. Vậy, chế độ tài sản ước đinh là gì và có nên đưa chế độ này vào trong pháp luật Hôn nhân gia đình Việt Nam hay không? Để làm rõ vẫn đề này, em xin chọn đề tài Trình bày hiểu biết của mình về chế độ tài sản ước định để phân tích. Từ đó có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về chế độ tài sản vợ chồng trong luật Hôn nhân gia đình Việt Nam. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Chế độ tài sản vợ chồng. Nói đến chế độ tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề sở hữu đối với tài sản của vợ chồng. “Tổng hợp các qui định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng là chế độ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt) và cũng do đó chế độ tài sản vợ chồng không bao gồm các vấn đề thừa kế tài sản giữa vợ và chồng, vấn đề cấp dưỡng của vợ chồng. Chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Về hình thức pháp lí, chế độ tài sản vợ chồng có thể được xác định theo căn cứ pháp luật (chế độ tài sản pháp định) hoặc theo thỏa thuận của vợ chồng(chế độ tài sản ước định). Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản pháp định được pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới dự liệu. Khác với chế độ tài sản pháp định, chế độ tài sản ước định là chế độ tài sản mà trong đó căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận. Hôn ước Khi áp dụng chế độ tài sản ước định, vợ chồng được tự do thỏa thuận về chế độ tài sản trong thời kì hôn nhân. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó là hôn ước. Hôn ước là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng trong thời kì hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân. Các đặc trưng cơ bản của hôn ước. Hôn ước (marriage contract) là thuật ngữ pháp lý xuất hiện trong pháp luật của các nước có nền kinh tế - xã hội và môi trường pháp lý đề cao quyền tư hữu và tự do cá nhân, trong đó có tự do thỏa thuận trong hôn ước. Có thể khẳng định hôn ước là chứng thư quy định chế độ tài sản cho gia đình trong thời kì hôn nhân của các đương sự Về chủ thể: Hôn ước chỉ phát sinh hiệu lực giữa những người có quan hệ hôn nhân hợp pháp (có làm các thủ tục cần thiết để đăng kí kết hôn vớicơ quan có thẩm quyền). Do hôn ước có tính hoạch định cao nên các cặp vợ chồng thuộc trường hợp hôn nhân thực tế, chung sống như vợ chồng dù được công nhận là hợp pháp cũng không được coi là chủ thể của hôn ước. Hôn nhân thực tế hay việc công nhận tính hợp pháp của các quan hệ chung sống như vợ chồng không phải là lạc hậu và chỉ tồn tại ở một số quốc gia đang phát triển. Hôn nhân thực tế được ghi nhận và thậm chí việc công nhận hôn nhân thực tế còn là xu hướng của pháp luật các quốc gia phương Tây đặc biệt là các quốc gia theo thông luật (common law). Về mục đích: Hôn ước tạo điều kiện cho vợ chồng tự chủ hơn trong việc quản lí tài chính, hoạch định tương lai (thậm chí tương lai đó bao gồm cả việc li hôn). Mặc dù không hoàn toàn, nhưng hôn ước và cả chế độ tài sản ước định cũng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình và có mục đích là góp phần vào sự vững bền của hạnh phúc gia đình. Về hình thức: Hôn ước buộc phải được lập bằng văn bản có chữ kí của hai bên nam nữ sắp trở thành vợ chồng. Pháp luật của nhiều nước thường qui định hôn ước phải được công chứng và cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính hợp pháp (bằng các hình thức công chứng và đăng kí hôn ước cùng với thời điểm đăng kí kết hôn). Về nội dung: Trong hôn ước, vợ chồng tối thiểu phải thỏa thuận về phương thức hay qui định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của mình. Những thỏa thuận trong hôn ước không được trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Trong hôn ước vợ chồng chỉ có thể thỏa thuận về vấn đề tài sản và không thể thỏa thuận hay làm khác đi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay các quan hệ nhân thân khác đã được pháp luật qui định. Về hiệu lực: Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn, để đảm bảo phát sinh hiệu lực, hôn ước phải được lập theo thể thức mà pháp luật nội địa (luật nơi vợ chồng cư trú và có quốc tịch) hoặc pháp luật nơi lập hôn ước qui định. Hôn ước phát sinh hiệu lực kể từ khi hai bên nam nữ trở thành vợ chồng hợp pháp. Về vấn đề sửa đổi, hủy bỏ: việc thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của hôn ước phải theo một thể thức nhất định, việc thay đổi thường được tiến hành theo hình thức lập hôn ước. Trước đây hôn ước là bất di bất dịch tuy nhiên qui định này đã trở nên lỗi thời, hiện nay các quốc gia cho phép vợ chồng thay đổi hoặc hủy bỏ hôn ước nhưng thường đặt điều kiện về thời gian có hiệu lực của hôn ước trước hoặc điều kiện về hình thức, về sự phê chuẩn. 3. Nguồn gốc hình thành chế độ tài sản ước định và việc áp dụng chế độ tài sản ước định tại một số nước trên thế giới. Xác định tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở hôn ước được xuất phát từ quan niệm của nhà làm luật ở các nước phương Tây. Theo họ, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập (việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước hoặc nhà thờ có thẩm quyền theo một nghi thức đặc biệt được qui định trong pháp luật) và trong việc chấm dứt (hôn nhân chỉ chấm dứt khi có sự kiện chết, có tuyên bố của Toà án một bên vợ, chồng đã chết hoặc khi có bản án hoặc quyết của Toà án về ly hôn có hiệu pháp luật, tất cả các trường hợp chấm dứt này phải tiến hành theo những thủ tục hành chính hoặc thủ tục tố tụng tại Toà án được pháp luật qui định). Bên cạnh đó, nhà làm luật ở các nước phương tây cũng đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng. Với quan niệm trên, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở hầu hết các nước phương Tây. Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để qui định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và qui định chế độ tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước. Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965)… đều qui định: Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các qui định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước. Như vậy, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật qui định mà do chính bản thân vợ chồng tự thoả thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng. Vợ chồng có thể thoả thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được qui định trong pháp luật hoặc họ có thể chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo qui định của pháp luật. Các thoả thuận của vợ chồng trong hôn ước mang tính ổn định cao. Về nguyên tắc, sau khi kết hôn việc thực hiện hôn ước là “bất di bất dịch”, Điều 1395 Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 qui định: Hôn ước không thể thay đổi sau khi đã kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc hôn ước không thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân có một hạn chế cơ bản là nó có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp, thu nhập; hoặc, chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn có thể chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, còn sau đó các qui định trong chế độ tài sản đã lựa chọn lại cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ họ, cũng như lợi ích của gia đình. Để khắc phục hạn chế trên, hiện nay, pháp luật một số nước đã thừa nhận, các thoả thuận trong hôn ước có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ, Điều 1397 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965, Luật số 89 – 18 ngày 13/1/1989) qui định: Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thoả thuận hoặc theo Luật định, hai vợ chồng có thể, vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn nhân bằng một chứng thư có chứng thực của công chứng viên và được Toà án nơi cư trú phê chuẩn. Bộ Luật Dân sự Nhật Bản không qui định cụ thể về vấn đề này, nhưng theo Điều 758, 759: Tài sản thuộc sở hữu chung có thể được thay đổi hoặc phân chia trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận hoặc trong trường hợp vợ, chồng quản lý tài sản củanhau, nhưng người đó thực hiện quản lý tài sản không tốt và người kia đã yêu cầu Toà án HN&GĐ tước bỏ việc quản lý nói trên. Việc thay đổi hoặc phân chia tài sản chung không được sử dụng để chống lại người thừa kế hợp pháp của chồng hoặc vợ, trừ khi việc này đã được đăng ký. Như vậy, theo pháp luật Nhật Bản, những căn cứ xác định tài sản của vợ chồng được qui định trong hôn ước cũng có thể được thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản giữa vợ và chồng. Chế độ tài sản ước định vợ chồng trong pháp luật Việt Nam 4.1. Thời kì trước 1975 Trong thời kỳ pháp thuộc, luật pháp về dân sự ở Việt Nam mang đậm dấu ấn của Bộ luật dân sự Napoléon. Trong ba bộ dân luật được áp dụng ở ba miền bắc, trung, nam, Bộ dân luật bắc và Bộ dân luật trung đã ghi chép những nguyên tắc cơ bản của BLDS Pháp như : quyền tự do lập hôn ước và tính chất không thay đổi của chế độ hôn sản. Khác với BLDS Pháp, hai Bộ dân luật này chỉ dự liệu một chế độ chung để áp dụng cho những vợ chồng không lập hôn ước, mà không đề xuất những chế độ để vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn. Thực tế, những quy định này đã được thực hiện ở Việt Nam trong khoảng 20 năm. Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc, pháp luật về vấn đề này ở hai miền thể hiện những nội dung trái chiều. Luật hôn nhân và gia đình ngày 29 tháng 12 năm 1959 ở Miền bắc chỉ quy định về một hình thức của chế độ tài sản pháp định (chế độ cộng đồng toàn sản), và vì thế, không có một quy định nào về quyền lập hôn ước của vợ chồng. Trong khi đó, ở Miền nam, ba đạo luật đã được lần lượt ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình (Luật gia đình ngày 02 tháng 1 năm 1959, Luật 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 và Bộ dân luật ngày 20 tháng 12 năm 1972), đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lập hôn ước. Chẳng hạn, Bộ dân luật năm 1972 quy định : Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục (Điều 145) và Luật pháp chỉ quy định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước (Điều 144). Thời kì đất nước thống nhất Luật HN-GĐ năm 1986 và Luật HN-GĐ năm 2000 đều chỉ tập trung quy định về một chế độ tài sản pháp định. Nhà lập pháp không dự liệu bất kỳ một điều khoản nào cho phép vợ chồng lập hôn ước, nhưng cũng không ấn định những quy định cấm. Trong bối cảnh đó, nhìn chung, giới luật gia và những người áp dụng pháp luật đều cho rằng chế độ hôn sản pháp định có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ hôn nhân hợp pháp, do vậy, mọi thỏa thuận của vợ chồng trái với các quy định của chế độ hôn sản pháp định cần bị tuyên bố là vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Nghị định số 70 của Chính phủ ngày 03 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 đã đem đến một yếu tố mới, mà chúng ta thấy có khả năng xuất hiện một chế độ tài sản của vợ chồng khác với chế độ pháp định. Khoản 2 điều 8 quy định : Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác . Mặt khác, các quy định ở điều 9 và điều 10 về khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng đòi hỏi vợ chồng đã chia tài sản chung mà sau đó muốn khôi phục lại chế độ tài sản chung thì phải lập thành văn bản có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực. Các quy định ở khoản 2 điều 8 và điều 9, 10 thể hiện sự lôgíc của một ý tưởng mới về những quan hệ tài sản giữa vợ và chồng theo thỏa thuận. Vậy thì chúng ta có thể đưa ra một giả thuyết rằng, chính người soạn thảo văn bản Luật đã muốn có một sự mềm dẻo trong việc thừa nhận chế độ hôn sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong những trường hợp cần thiết. Nếu giả thuyết này đúng, thì đây quả thực sẽ là một bước đệm quan trọng cho việc thiết lập những quy định về hôn ước trong Luật HN-GĐ tương lai. Mặt khác, vì Nghị định 70 vẫn đang có hiệu lực, chắc chắn, sau khi chia hết tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể thực hiện một chế độ tách riêng tài sản. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc đóng góp của các bên vợ, chồng vào đời sống chung của gia đình cần được các văn bản pháp luật dự liệu cụ thể. Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Việc thừa nhận hay không thừa nhận chế độ tài sản ước định trong luật cần được xem xét trên hai khía cạnh, ưu điểm và hạn chế. 5.1. Ưu điểm của chế độ tài sản ước định. Tự xác lập hôn ước là bước cụ thể hóa nguyên tắc cá nhân có quyền tự quyết định các vấn đề của bản thân, trong đó có hôn nhân và quyền sở hữu tài sản trong hôn nhân. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, sở hữu cá nhân và tự do kinh doanh đang dẫn đến ý thức độc lập và tự chủ ngày càng cao của cá nhân về lợi ích tài sản. Tự do lập hôn ước cho phép vợ chồng tự quyết định quyền sở hữu trong gia đình, tạo ra khả năng đôi bên có thể tự giác thực hiện các nghĩa vụ và quyền được thỏa thuận. Do đó, nếu có tranh chấp về tài sản của vợ chồng, hôn ước giúp các cơ quan tư pháp thực hiện tốt công tác xét xử và thi hành án. 5.2. Hạn chế của chế độ tài sản ước định Chế độ này đề cao lợi ích cá nhân, điều này mâu thuẫn với bản chất của gia đình là “bổn phận và trách nhiệm”. Gia đình thường bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em… Trong trật tự đó không có chỗ cho cá nhân, không thừa nhận tính ích kỉ của bất kì người nào. Nó đòi hỏi các chủ thể khi thực hiện nghĩa vụ của mình phải đặt lợi ích của gia đình lên trước lợi ích cá nhân. Trong tự do lập hôn ước, “cái tôi” thường được đề cao, lợi ích riêng này của cá nhân trong gia đình không được đảm bảo sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xa cách về mặt tình cảm và các quan hệ gia đình có thể bị phá vỡ bởi yếu tố vật chất. Hạn chế này của hôn ước ó thể ảnh hưởng đến mục tiêu của hôn nhân là xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Thêm vào đó, chế độ tài sản ước định không hoàn toàn phù hợp với tập quán truyền thống và tâm lý chung của nhân nhân ta. Với người Việt Nam, hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong cuộc sống. Con người sống gắn chặt với gia đình, phẩm chất và giá trị của từng người phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình của họ. Do đó, trong các vấn đề hôn nhân và gia đình nói chung và các vấn đề về tài sản trong gia đình nói riêng, con người Việt Nam thường đề cao lợi ích chung của gia đình hơn là lợi ích riêng của cá nhân. Nhân dân ta đã có những quan niệm nói lên sự đồng tâm hiệp lực của cả hai vợ chồng trong việc tạo lập và sở hữu tài sản chung của hai vợ chồng, chẳng hạn về lao động sản xuất: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”; “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”… hay về quyền sở hữu có quan niệm “ Của chồng công vợ”… Như vậy, quan niệm rạch ròi,tự do quá đà trong các vấn đề gia đình nói chung và tài sản nói riêng không phải là tập quán tâm lí chung của nhân dân ta, do vậy, việc áp dụng chế độ này vào đời sống hôn nhân cũng như pháp luật ở Việt Nam còn tương đối khó khăn. 5.3. Đề xuất giải pháp Từ những phân tích trên, ta có thể thấy, để đuợc một cách thức tổ chức hợp lý nhất các quan hệ tài sản của vợ chồng, Luật HN-GĐ Việt Nam cần quan tâm xử lý hai vấn đề cơ bản sau : Thứ nhất, nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận trong các quan hệ dân sự, được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, đảm bảo cho các cá nhân có quyền tự do thỏa thuận để xác lập các quyền và nghĩa vụ, miễn sao các thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Trong các quan hệ gia đình, vợ chồng có bổn phận, trách nhiệm phải đảm bảo những điều kiện về tinh thần cũng như vật chất cho sự tồn tại và phát triển của gia đình mình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả các đôi vợ chồng đều cần phải thực hiện một chế độ tài sản chung nhất. Quyền tài sản của vợ chồng là quyền gắn với nhân thân vợ chồng, vì vậy cần phải để cho chính họ cùng nhau thỏa thuận, quyết định lựa chọn một hình thức thực hiện hợp lý, có lợi nhất cho bản thân và cho gia đình. Mặt khác, để bảo vệ lợi ích của gia đình, của con cái, Luật HN-GĐ cần tập trung quy định một cách rõ ràng hơn những những nghĩa vụ và quyền về tài sản của vợ và chồng – áp dụng chung nhất cho mọi trường hợp, đồng thời phải đi kèm với những biện pháp đảm bảo thực hiện. Trong bối cảnh luật pháp như vậy, sự tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không phá vỡ tính cộng đồng của hôn nhân, mà trái lại, nó sẽ củng cố những quan hệ gia đình một cách thực chất và theo tinh thần tự nguyện hơn. Thứ hai, thực tế kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều thay đổi so với thời kỳ những năm 80-90. Gia đình không còn bó hẹp với chức năng duy trì cuộc sống của các thành viên, mà thực sự đã tham gia tích cực vào nền kinh tế xã hội. Những quan hệ kinh tế đòi hỏi vợ, chồng phải có những quyết định nhanh nhạy, nhưng muốn vậy họ phải chủ động về tài sản. Chúng tôi cho rằng, Luật HN-GĐ hiện hành chưa theo kịp diễn biến của những quan hệ kinh tế, dân sự hiện nay. Nếu vợ, chồng thực hiện đúng theo quy định pháp luật, trong nhiều trường hợp, họ sẽ bỏ lỡ những cơ hội làm ăn. Mặt khác, việc đưa những tài sản chung của vợ chồng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng hàm chứa những rủi ro và có thể dẫn đến nguy cơ tiêu tán tài sản của gia đình, đặt cuộc sống gia đình vào trong tình trạng bấp bênh. Vì thế, ở những nước mà luật pháp thừa nhận chế độ hôn sản ước định, những người vợ, chồng làm nghề kinh doanh thường nghĩ đến một chế độ tách riêng tài sản. Chế độ đó vừa tạo điều kiện cho họ chủ động trong hoạt động kinh doanh, vừa tránh được những rủi ro có thể xảy đến cho cuộc sống gia đình. C. KẾT LUẬN Tóm lại, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không phải là một điều mới lạ đối với xã hội Việt Nam, thậm chí nó đã từng được thực hiện trong một thời gian khá dài (nhất là ở Miền nam). Thực chất, việc duy trì duy nhất một chế độ tài sản của vợ chồng, cho đến nay, phản ánh sự thắng thế của một quan điểm lập pháp, chứ không phải hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn kinh tế-xã hội. Chúng tôi không phủ nhận sự phù hợp của chế độ cộng đồng tạo sản mà mà Luật Hôn nhân và gia đình đang thực hiện, nhưng sự áp đặt của chế độ này cho mọi quan hệ vợ chồng thì không thể được coi là hợp lý. Hơn nữa, xã hội Việt Nam, thực ra, không quá khác so với môi trường các nước trên thế giới, đến mức mà chúng ta phải có một cách tổ chức các quan hệ tài sản của vợ chồng, theo cách riêng biệt đến như vậy. Do đó, cũng như quan điểm của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực Luật Hôn nhân và gia đình, chúng tôi cho rằng pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam cần thay đổi lại phương thức tổ chức các chế độ tài sản của vợ chồng, theo hướng thừa nhận quyền tự do của vợ chồng trong việc chọn chế độ tài sản áp dụng. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009. Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 Nghị định của Chính phủ số 70/2001 NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuât bản Tư pháp, 2008 Nguyễn Hồng Hải, Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản định ước trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tạp chí Luật học, số 3 năm 1998. Bùi Minh Hồng, Chế độ tài sản theo chế độ thỏa thuận của vợ chồng lliên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam Phạm Thị Linh Nhâm, Tìm hiểu về hôn ước và khả năng áp dụng hôn ước ở Việt Nam, Khóa luật tốt nghiệp, đại học Luật Hà Nội, năm 2010.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChế độ tài sản ước định trong luật hôn nhân gia đình việt nam.doc