Chính phủ điện tử ở Việt Nam thực trạng và phương hướng phát triển

Mở rộng việc tham gia của nhân dân vào các hoạt động của chính phủ Chính phủ điện tử còn có khả năng huy động công dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước qua việc trao đổi đối thoại với các nhà lập pháp ở mọi cấp chính quyền. Đẩy mạnh việc đối thoại giúp xây dựng lòng tin của cộng đồng vào chính phủ. Nghĩa tương tác trong chính phủ điện tử có thể có 2 cách bắt đầu các chức năng cơ bản sau: Thư điện tử qua lại với công chức để lấy thông tin Hoặc thông qua các phiếu phản hồi để công dân gửi ý kiến đóng góp cho các dự án luật hoặc dự án xây dựng cuộc sống Ở giai đoạn này cũng có thể tạo ra các diễn đàn trực tuyến Công dân- Chính phủ để mọi người có thể trao đổi ý kiến, nâng cao nhận thức tạo cơ hội tham gia cho nhiều người mà không bị lệ thuộc vào khoảng cách

docx28 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 4102 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chính phủ điện tử ở Việt Nam thực trạng và phương hướng phát triển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hiều thủ tục rườm rà.Để giải quyết tình trạng này, chính phủ cần phải rút gọn lại bộ máy hành chính của mình.Như vậy thì một công dân thất nghiệp khi muốn hưởng trợ cấp thất nghiệp, bồi thường hay trợ cấp về y tế có thể ngồi ở nhà và gọ điện thoại hay một máy tính cá nhân thay vì cứ phải đi tới nhiều cơ quan khác nhau của chính phủ để yêu cầu. d, Tính cạnh tranh của nền kinh tế. Các chính phủ dân chủ tự do trên thế giới thấy rằng chính phủ cũng là một thành viên quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Chính phủ nhận thức rõ rằng chính phủ cần thực hiện thêm chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số- một động lực cho sự phát triển nền kinh tế của thế kỷ XXI.Vai trò mới này của chính phủ yêu cầu phải có thêm nhiều công cụ quản lý hơn ngoài công cụ truyền thống. Cơ sở hạ tầng vật chất cũ như hệ thống đường bộ, đường sắt, đường ống hệ thống ga điện vân quan trọng song chúng ta cần được bổ sung thêm cơ sở hạ tầng mới như mạng điện thoại cố định, điện thoại không dây, internet, vệ tinh.Nếu không có cơ sở hạ tầng viễn thông tiên tiến cũng như hệ thống giáo dục và hệ thống kỹ thuật số hiện đại cho các dịch vụ của chính phủ thì nước đó sẽ không có lợi thế cạnh tranh so với các nước khác. Trên đây là một số lý do chính khiến cho chính phủ các nước nhất là các nước phát triển đã nhanh chóng triển khai thực hiện chuyển đổi sang chính phủ điện tử và đặt mục tiêu cho cho chiến lược xây dựng chính phủ điện tử của mình. 2 Các nhân tố thúc đẩy sự ra đời của chính phủ điện tử. Toàn cầu hóa. Trong điều kiện toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, các quốc gia trở nên gắn bó với nhau về kinh tế, văn hóa , xã hội. Giữa các nước khác nhau là cơ sở cho việc hình thành nền văn hóa toàn cầu.Để ham gia vào việc hình thành nền văn hóa toàn cầu này cũng như việc thừa nhận những nét đặc sắc trong văn hóa mình.Các quốc gia phải tìm cách giúp đỡ công dân và các tổ chức kinh doanh trong môi trường toàn cầu hóa. Do đó việc cung cấp thông tin cho các công ty trong nước, giúp đỡ công ty trong nước cũng như các công ty nước ngoài hoạt động cần phải có sự tham gia của chính phủ. Nếu vẫn cứ tồn tại dưới hình thức chính phủ trước kia tức là không có sự giúp đỡ của công nghệ hiện đại trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ, thì chính phủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vai trò của mình. Chính phủ điện tử ra đời có thể dễ dàng đáp ứng được yêu cầu của toàn cầu hóa bằng cách áp dụng công nghệ hiện đại.Hơn nữa trong điều kiện toàn cầu hóa quốc tế hóa các quốc gia cần trao đổi thông tin một cách hiệu quả để cùng giải quyết những vấn đề mang tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường, chia sẻ các nguồn tài nguyên chiến lược và những vấn đề khác không thể giải quyết bởi từng quốc gia riêng lẻ. Chính phủ điện tử hoàn toàn có thể đáp ứng được những yêu cầu này bởi chính phủ điện tử giúp rút ngắn không gian và tiết kiệm thời gian tạo ra khả năng kiểm soát các “rủi ro toàn cầu” một cách hiệu quả. b, thị trường hóa. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.Các công ty đang tự tổ chức lại thành các doanh nghiệp điện tử nhằm thu lợi nhuận tối đa.Thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin và viễn thông các công ty có thể giảm chi phí giá thành và tăng chất lượng dịch vụ từ đó thu hút được nhiều khách hàng hơn. Như vậy nếu chính phủ điện tử được nhìn nhận như một nhà cung cấp dịch vụ mà vẫn sử dụng các phương thức truyền thống thì sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ khu vực tư nhân. Chính phủ cần phải áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến chất lượng dịch vụ. Xây dựng một cơ sở hạ tầng quản lý và bảo mật thông tin thì mới có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công dân và doanh nghiệp. Qua một số phân tích ở trên chúng ta đã hiểu phần nào lý do khiến chính phủ điện tử lại là điều mong muốn chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên để trả lời câu hỏi chính phủ điện tử là gì thì mỗi nước lại đưa ra những khái niệm khác nhau. Vì vậy vẫ chưa có một khái niệm thống nhất về chính phủ điện tử. 3 Khái niệm chính phủ điện tử. Khái niệm chính phủ điện tử của world bank thì cho rằng chính phủ điện tử là việc cơ quan chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông (ICT- như mạng diện rộng internet, tính toán di động). Để thực hiện các quan hệ với công dân với doanh nghiệp và những cơ quan hành chính. Những công nghệ này có thể cải thiện các dịch vụ bao gồm giao dịch với các doanh nghiệp và công dân,nâng cao hiệu quả quản lý lợi ích thu được sẽ giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính thông suốt, sự tiện lợi, sự tăng trưởng và giảm chi phí. Theo nhóm công tác e-ASEAN và chương trình phát triển thông tin châu Á Thái Bình Dương của UNDP (UNDP- APDIP) thì: Các định nghĩa về chính phủ điện tử bao gồm từ “ việc sử dụng ICT để giải phóng các luồng di chyển thông tin nhằm khắc phục những rào cản về mặt vật lý của các hệ thống vật lý dựa trên giấy tờ truyền thống” cho tới “ sử dụng ICT để cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân, các đối tượng kinh doanh và người lao động”.Hàm ý chung ở sau những định nghĩa này là chính phủ điên tử bao gồm việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các thủ tục, giấy tờ hiện hành và qua đó sẽ tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, giao dịch kinh doanh, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin. Cuối cùng chính phủ điện tử nhằm cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ của chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân.Quan trọng hơn nữa, chính phủ điện tử còn nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý , điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển. Dân chủ điện tử là việc các cá nhân và các tổ chức có thể tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định của chính phủ thông qua các phương tiện điện tử như mạng world wide web.Do đó chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù chính phủ điện tử và dân chủ điện tử không loại trừ nhau nhưng lại khác nhau ở chỗ nền dân chủ điện tử vào quá trình thực hiện các chức năng của chính phủ, đặc biệt là việc điều hành xã hội. trong khi đó, chính phủ điện tử là chính phủ tập chung vào việc cung cấp dịch vụ điện tử tới công chúng. Nói một cách ngắn gọn hơn, chính phủ điện tử đề cập tới cung cấp dịch vụ còn nền dân chủ điện tử đề cập đến việc tham gia của dân chúng vào chính phủ. 4 Mục tiêu của chính phủ điện tử. a, Tạo môi trường kinh doanh tốt. Công nghệ đã được chứng minh là một chất xúc tác trong việc nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế,đặc biệt là tại khu vực nông thôn và nơi xa xôi hẻo lánh. Việc sử dụng ICT trong chính phủ và việc xây dựng cơ sở hạ tầng CPĐT sẽ giúp tạo ra một môi trường thúc đẩy kinh doanh thông qua việc cải thiện mối tác động qua lại và tương tác giữa chính phủ với doanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Bằng việc giảm bớt các khâu rườm rà trong thủ tục và chú trọng đến việc cung cấp các dịch vụ nhanh chóng hiệu quả,CPĐT có thể tạo ra các điều kiện thu hút đầu tư nhiều hơn. Mục tiêu trên phụ thuộc vào từng nước vào sức mạnh công nghiệp và các lơi thế cạnh tranh của nước đó trên phạm vi toàn cầu.Một khi đã được xác định các mục tiêu trên có thể được kết hợp trong chiến lược chính phủ điện tử của đất nước cùng với các bộ ngành, bộ máy công quyền và các dịch vụ công sẽ được kết hợp theo hướng thúc đẩy phát triển các ngành này.ví dụ việc mua sắm điện tử có thể mở ra các thị trường mới cho các doanh nghiệp địa phương qua việc công khai các thủ tục mua sắm của chính phủ,làm cho các thủ tục này trở nên cạnh tranh hơn và công bằng hơn. b, Khách hàng trực tuyến không phải xếp hàng.Điều này liên quan đến việc cung cấp một cách hiệu quả các hàng hóa và dịch vụ công cộng cho người dân thông qua việc phản hồi nhanh chóng của chính phủ với sự tham gia tối thiểu cả các nhân viên chính phủ. c, Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia rộng rãi của người dân. Nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ thông qua việc đẩy nhanh ứng dụng ICT trong quản lý và điều hành cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động trong quá trình tham gia vào việc hoạch định chính sách của chính phủ. Như một công cụ chủ chốt trong việc xây dựng truyền thống điều hành minh bạch và hiệu quả, chính phủ điện tử có thể đi tiên phong trong cuộc đấu tranh chống lại nạn tham nhũng .Tuy nhiên, chính phủ điện tử, bản thân nó không thể đặt dấu chấm hết cho nạn tham nhũng,chính phủ điện tử phải thực hiện cùng với các cơ chế khác để trở nên có hiệu lực một cách đầy đủ. Đồng thời chính phủ điện tử cũng hỗ trợ việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ và nhanh chón. Việc phổ biến rộng rãi thông tin hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết định của chính phủ.Tính minh bạch của thông tin sẽ không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn gây dựng dần sự tin cậy giữa những nhà lãnh đạo chính phủ và tính hiệu quả bắt buộc trong việc điều hành chính phủ. d, Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan chính phủ. Việc tái lập lại các quy trình và thủ tục để giam bớt nạn quan liêu, hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ,nâng cao năng suất về mặt hành chính và tăng cường tiết kiệm là những lợi ích mà chính phủ điện tử đem lại. -Nâng cao năng suất lao động của các nhân viên chính phủ,giảm chi phí hành chính qua việc cắt giảm văn phòng và việc quản lý giấy tờ,nâng cao năng lực quản lý kế hoạch của chính phủ (sử dụng công cụ tốt hơn và cải tiến việc truy cập tới các thông tin quan trọng như lập kế hoạch phát triển thành phố thông qua việc sử dụng GIS) và nâng cao doanh thu khi doanh nghiệp và người dân xin cấp phép nhiều hơn do một thực tế là thủ tục đã trở nên dễ dàng hơn và tình trạng tham nhũng cũng giảm bớt. -Thự hiện tiết kiệm chi phí trong thời gian trung và dài hạn . Tuy nhiên, trong thời gian ngắn hạn,các chi phí về nhân viên và các chi phí khác có khuynh hướng tăng vì chính phủ phải tạo ra nhiều nền tảng cung cấp hàng hóa và dịch vụ (bao gồm theo cả cách truyền thống và theo cách CPĐT) trong suốt quá trình chuyển dịch ban đầu. -Đơn giản các hoạt động của chính phủ. Phần lớn các thủ tục của chính phủ đã được thực hiện trong nhiều năm qua và thường bao gồm nhiều bước, nhiều nhiệm vụ và nhiều hoạt động.Việc đơn giản hóa các thủ tục của chính phủ thông qua ứng dụng ITC sẽ xóa bỏ các khâu thủ tục rườm rà giúp giảm bớt nạn quan liêu. e, Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng vùng sâu vùng xa. ICT giúp cho chính phủ có thể vươn tới các nhóm cộng đồng thiểu số và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tại đó.Điều này cũng đồng nghĩa với việc trao thêm quyền cho người dân bằng cách họ tham gia vào các hoạt động chính trị cũng như cung cấp tối đa các dịch vụ hàng hóa, các dụng cụ thiết yếu. Phần 2 Những nội dung chính về chính phủ điện tử. I CÁC NHÓM VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ. 1Các dịch vụ chính phủ trực tuyến. Trước đây các cơ quan của chính phủ cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại trụ sở của mình, thì nay, nhờ vào công nghệ thông tin và viễn thông các trung tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập hoặc ngay trong trụ sở cơ quan của chính phủ hoặc gần với dân.Qua các cổng thông tin cho công dân người dân nhận thức được thông tin, có thể hỏi đáp pháp luật.Được phục vụ giải quyết các việc trong cuộc sống hàng ngày như: công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu sang tên trước bạ…mà không phải tới trực tiếp cơ quan của chính phủ như trước đây. 2 Vấn đề tác nghiệp chính phủ truyền thống. Là việc số hóa hay điện tử hóa bản thân các hoạt động trong chính phủ, giữa các cơ quan chính phủ các cấp từ trưng ương tới địa phương. Việc quản lý lưu trữ công văn, tài liệu trên nền công nghệ web, các biểu báo thống kê điện tử, và việc sử dụng mạng máy tính, intetnet để nâng cao hiệu quả các tác nghiệp của bản thân bộ máy chính phủ. Chính phủ điện tử tác động lên các mối quan hệ : - Giữa chính phủ với công dân. -Giữa chính phủ với giới doanh nghiệp. - Bản thân các cơ quan chính phủ với nhau. *Lợi ích mục tiêu của chính phủ điện tử: -Tăng cường năng lực điều hành nhà nước của chính phủ. -Mang lại thuận lợi cho dân chúng. -Tăng cường sự minh bạch ,giảm tham nhũng. -Làm tăng thu nhập quốc dân. * Các tiêu chí khi nói tới chính phủ điện tử. -Định hướng công dân và dễ dùng: Các dịch vụ trực tuyến 24/24 giờ , 7 ngày trong tuần, dễ hiểu, dễ dùng truy cập thông tin nhanh… -Có tinh thần trách nhiệm và định hướng kết quả.Người dân không chỉ muốn vào mạng nhanh mà còn muốn có kết quả nhanh, trọn vẹn, chính xác, một cửa. - Nhiều khả năng truy cập: có thể truy cập cào các mạng dịch vụ Chính phủ bằng nhiều cách ở nhà, ở công sở, ở trường học , ở nơi công cộng. -Tính cộng tác: Chính phủ điện tử phải được thiết kế, xây dựng và triển khai trên cơ sở hợp tác, phối hợp giữa chính phủ và cá nhân công dân. Tính đổi mới: Chính phủ điện tử không chỉ thuần túy là ứng dụng của công nghệ thông tin là website và việc chuyển giao các dịch vụ đó mà còn tính đến việc cỉa tiến quy trình công tác và tổ chức bộ máy. Chi phí hợp lý: Giảm chi phí cho bộ máy chính phủ. -An toàn và tôn trọng sự riêng tư. Các phạm trù liên quan tới điều hành nhà nước điện tử. +Phương pháp luận, kỹ thuật, công nghệ điều hành nhà nước. +Điều hành nhà nước trong mối quan hệ với thể chế và cấu trúc kinh tế, xã hội. +Điều hành nhà nước định hướng chuyển đổi sang số hóa việc xây dựng một xã hội tri thức. +Vai trò của chính phủ trong việc nâng cao quyền hạn vai trò của các cá thể cộng đồng và các tổ chức xã hội như chúng ta hay nói :nâng cao quyền làm chủ của nhân dân. Lợi ích điều hành nhà nước điện tử tạo ra. Một phong cách lãnh đạo mới. Cách bàn luận và quyết định chiến lược mới Một phương thức mới: +Trong giao dịch + Trong cung cấp dịch vụ với công dân. + Trong đào tạo nguồn lực. +Trong việc lắng nghe nhân dân. + Trong việc tổ chức và cung cấp thông tin Theo các nhà nghiên cứu: Điều hành nhà nước điện tử bao gồm các phạm trù: +Nền dân chủ điện tử + Chính phủ điện tử. +Giao dịch điện tử gồm cả vấn đề thương mại điện tử. >Giải quyết các vấn đề trên, điều hành nhà nước điện tử được coi là một cơ hội để chính phủ tự cải tiến đổi mới mình, gắn kết chặt chẽ hơn với nhân dân, với quyền lợi của các nhóm dân cư, có thực tế hơn và sự phát triển của quốc gia. Điều hành nhà nước điện tử tạo ra một phong cách lãnh đạo mới,cách bàn luận và quyết định chiến lược mới, một phương thức mới trong giao dịch, trong cung cấp dịch vụ với công dân, trong đào tạo nguồn lực, trong việc lắng nghe nhân dân và trong việc tổ chức và cung cấp thông tin. 3 Dân chủ số. Dân chủ số là thuật ngữ được sử dụng khi áp dụng ICT để tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình dân chủ.Đây là quá trình thực hiện vi tính hóa các bài diễn thuyết chính trị, các quá trình hoạch định chính sách và chính trị với quan điểm cuối cùng là tăng cường, nâng cao và củng cố thêm sự tham gia của người dân trong quá trình hoạch định chính sách và đưa ra các quyết định của chính phủ thông qua một loạt các hoạt động như- các chiến dịch vân động bầu cử, bỏ phiếu, tham vấn và tham gia vào quá trình lập chính sách và trao đổi truyền thông giữa các đại biểu được bầu và người dân. Trong khi nhiều cơ hội được mở ra để người dân có thể chủ động tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình hoạch định chính sách và đưa ra các quyết định của chính phủ, phần lớn các quyết định của chính phủ vẫn không được công bố rộng rãi với công chúng. Việc tích hợp ICT trong các thủ tục/ quy trình của chính phủ hỗ trợ hơn nữa sự cởi mở, tính minh bạch và độ tin cậy của chính phủ. Vì vậy càng có nhiều thông tin cung cấp cho người dân ngày càng có thể tham gia nhiều hơn vào quá trình hoạch định chính sách tổng thể. Đây được xem như sự tin cậy cần thiết đối với các quan chức chính phủ. 4 Chính phủ điện tử có thể hỗ trợ cho quá trình dân chủ số. *Nâng cao truy nhập tới các dịch vụ và thông tin công cộng.Chính phủ có trách nhiệm trong việc đảm bảo cho mọi người dân, cộng đồng, doanh nghiệp và xã hội đều được cung cấp thông tin đầy đủ để họ có thể đưa ra những quyết định chính xác và kịp thời trong cuộc sống của mình. Thông qua ICT, theo định nghĩa mở bao gồm cả ti vi, đài và điện thoại-công chúng có thể dễ dàng truy nhập đến các thông tin và dịch vụ công.Qua việc cung cấp cho dân chúng các thông tin chi tiết về các hoạt động của chính phủ cũng như địa điểm để người dân có thể tích cực tham gia vào các hoạt động này,CPĐT buộc các quan chức phải trở nên minh bạch hơn và tin cậy hơn trong các hoạt động cũng như quyết định của mình và cải tiến không chỉ việc cung cấp các dịch vụ mà còn chất lượng của các dịch vụ đó. *Tăng cường sự tham gia chính trị. ICT làm cho người dân trên toàn thế giới có thể tham gia vào tiến trình chính trị, có quyền phát biểu ý kiến của mình, tham gia vào quá trình phát triển chính trị, và cuối cùng là gây ảnh hưởng đến quá trình đưa ra các quyết định.ICT đã mở ra rất nhiều kênh tham gia mà thường không được công bố với cộng đồng dân cư. Nhiều ví dụ trên khắp thế giới đã cho thấy tiềm năng của ICT trong việc thay đổi xã hội qua việc tham gia của nhiều người khác nhau từ các thành phần văn hóa xã hội khác nhau, các tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhau. *Trao quyền cho phụ nữ. Chính phủ phải đặc biệt quan tâm tạo điều kiện cho phụ nữ không chỉ truy cập ICT mà còn giáo dục và đào tạo về ICT, ICT đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao tiếng nói của người phụ nữ tại các nước đang phát triển, những người theo truyền thống thường bị cô lập, thường ít xuất hiện và câm lặng. ICT tạo ra nhiều cơ hội mới cho người phụ nữ cải thiện cuộc sống của mình về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. CPĐT có thể cung cấp các dịch vụ marketing và khuyến mãi cho các công việc kinh doanh của phụ nữ như làm hàng thủ công, dệt may, mỹ nghệ truyền thống. Những người phụ nữ làm nghề nông có thể tăng năng suất và lơi nhuận của mình thông qua việc truy cập thông tin về các kỹ thuật công nghiệp cải tiến.Ngoài ra các chính sách nhằm cung cấp tín dụng cho phụ nữ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo.CPĐT cũng có thể được sử dụng để tăng cường tham gia của phụ nữ trong tiến trình chính trị, giúp người phụ nữ thực thi các quyền cơ bản của mình,nâng cao chất lượng hoạt động của các cán bộ nữ được dân bầu, tăng cường sự ủng hộ đối với các vấn đề nữ giới và phổ biến kiến thức.Cung cấp các kênh để phụ nữ có thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách với việc chú trọng với các mối quan tâm của phụ nữ là một trong những phần quan trọng của chính phủ điện tử. Cuối cùng, phụ nữ tại các nước phát triển mong muốn vượt lên đói nghèo, thoát khỏi cảnh bị tước bỏ quyền công dân và bị cô lập. Trong khi ICT không phải là thuốc chữa bách bệnh, nhiều dự án chính CPĐT khác nhau như các cổng điện tử cề sức khỏe và nông nghiệp tạo cho phụ nữ cơ hội cải thiện cuộc sống của mình. II CÁC YẾU TỐ ĐỂ TRIỂN KHAI THÀNH CÔNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ. Chính phủ điện tử nhìn từ một góc độ nào đó sẽ làm thay đổi cung cách giao dịch giữa chính phủ với người dân. Đây là một quá trình không đơn giản và không thể nhanh được Để triển khai thành công chính phủ điện tử phải thay đổi về cơ bản phương thức làm việc của chính phủ và phụ thuộc vào quan niệm của người dân về việc chính phủ phục vụ họ như thế nào, do vậy không có một chiến lược mẫu nào để triển khai chính phủ điện tử cho mọi quốc gia. Song 5 yếu tố sau đây là rất quan trọng để triển khai thành công chính phủ điện tử: 1 Cải cách hành chính. Chính phủ điện tử không có nghĩa là đưa công nghệ thông tin và viễn thông vào để tự động hóa quy trình công tác đã có sẵn nhất là những quy định không có hiệu quả.Các yêu cầu khi cải cách hành chính: +Định hướng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông +Tính toán kỹ lưỡng quy trình công tác và vận hành thử theo cách truyền thống trước khi đưa nó thành trực tuyến. + Đáp ứng yêu cầu thực tế của từng địa phương, tận dụng ý tưởng của người dùng hệ thống này. +Định hướng phục vụ người dân 2,Vai trò của người lãnh đạo. Lãnh đạo vững trắc về mặt chính trị là một yếu tố quan trọng trong thành công của CPĐT vì nó đảm bảo những cam kết lâu dài về các nguồn tài chính, nhân sự và chuyên gia kỹ thuật trong việc thiết kế, phát triển và triển khai các dự án CPĐT. Lãnh đạo vững chắc cũng có nghĩa là duy trì hỗ trợ cho các dự án ở tất cả các cấp của chính phủ bao gồm cả cộng đồng dân cư và đáp ứng các nhu cầu cũng như mong đơi của họ.Nó hoạt động như một chất xúc tác cho sự phối hợp liên chính quyền, sẵn sàng chia sẻ quyền lực và tín dụng, tổ chức và xác định thời gian họp và luôn nhấn mạnh tính khẩn chương, cấp bách trong việc hoàn tất các dự án CPĐT. Dự án chỉ thành công khi người lãnh đạo cao nhất của tổ chức thực sự muốn và đủ mạnh. Người lãnh đạo cao nhất kể cả tầm chính phủ trưng ương( tổng thống hay thủ tướng) cần phải ủng hộ và làm cho lãnh đạo các cấp phải ủng hộ chương trình xây dựng chính phủ điện tử. Phải có một tổ chức và chỉ thị một chuyên viên cao cấp làm đầu mối để triển khai chính phủ điện tử. 3, Chiến lược đầu tư. Chính phủ phải có lựa chọn các chương trình ưu tiên. Chính phủ các nước đang phát triển càng cần phải rất cẩn thận khi xét duyệt các dự án để có thể tối ưu việc đầu tư và việc sử dụng các nguồn lực. Các vấn đề cần lưu ý tới là: Xác định rõ mục tiêu của dự án. Rà xoát lại khả năng từ vốn đến nguồn lực. Xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và phải luôn lưu tâm tới cân bằng thu chi và thời hạn hoàn thành. Cử cá nhân hay tổ chức giám sát việc thực hiện kế hoạch và ngân sách. Phải tính toán sử dụng đa công nghệ vì nhiều nới dùng internet không thích hợp nhưng đài và ti vi thì lại rất thuận lợi. Nên lấy ý kiến đóng góp của nhân dân địa phương để lựa chọn công nghệ cho thích hợp. 4, Cộng tác. Cơ quan chính phủ phải cộng tác với nhau và có quan hệ tốt với tư nhân và các tổ chức phi chính phủ để có thể đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính và thực thi chính phủ điện tử.Các chuyên gia trong giới tư nhân hiểu biết rất rõ về thương mại điện tử, về công nghệ thông tin và truyền thông và xúc tiến thị trường, ngược lại giới tư nhân cũng có nhiều thuận lợi qua sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước nếu hai bên có quan hệ tốt. Một số cách làm trong lĩnh vực này là: Ngay từ giai đoạn lập kế hoạch đã xây dựng quy trình tư vấn để có thể nghe ý kiến của người dân của giới doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ. Tiếp thu ý kiến của giới tư nhân vào quá trình thiết kế hệ thống. Động viên các tư nhân tham gia vào cải cách. Khuyến khích sự phối hợp của các bộ nghành. Để tăng lòng tin của các cộng đồng địa phương nên huy động lãnh đạo địa phương tham gia dự án và dạy công nghệ thông tin cho họ để họ có thể thuyết phục được thành viên của các cộng đồng. Tạo ra cơ quan xúc tiến triển khai chính phủ điện tử tại địa phương với sự tham gia của của lãnh đạo địa phương. 5, Sự tham gia của nhân dân. Sự tham gia của người dân là yếu tố quan trọng để chính phủ điện tử thành công. Các lĩnh vực người dân có thể tham gia tư vấn như: Tư vấn thiết kế hệ thống Thiết kế các ứng dụng cụ thể định hướng phục vụ công dân. Có ý kiến về các vấn đề liên quan tới pháp luật quy định trong quy trình cải cách luật Cảnh báo các vấn đề liên quan tới văn hóa và truyền thống mỗi địa phương. Kiến nghị các hình thức tham gia phù hợp. III CÁC DẠNG GIAO DỊCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ. Các dịch vụ chính phủ điện tử tập chung vào 4 đối tượng khách hàng chính: người dân, cộng đồng doanh nghiệp, các công chức chính phủ và các cơ quan chính phủ. Mục đích của chính phủ điện tử là làm cho mối tác động qua lại giữa người dân, doanh nghiệp, nhân viên chính phủ và các cơ quan chính phủ với chính phủ trở nên thuận tiện, thân thiện, minh bạch, đỡ tốn kém,và hiệu quả hơn. Trong một hệ thống chính phủ điện tử, từng cá nhân có khả năng đưa ra yêu cầu với một dịch vụ cụ thể của chính phủ và nhận được dịch vụ đó thông qua internet. Hoặc một số cơ chế được vi tính hóa. Trong một số trường hợp, các dịch vụ của chính phủ được cung cấp thông qua một văn phòng chính phủ thay vì nhiều văn phòng chính phủ . Tron một số trường hợp khác, các giao dịch của chính phủ được hoàn tất mà không phải liên lạc trực tiếp với cac nhân viên của chính phủ. Có bốn dạng dịch vụ chính phủ bao gồm: chính phủ với công dân (G2C), chính phủ với doanh nghiệp (G2B) , chính phủ với người lao động (G2E) và chính phủ với chính phủ (G2G). 1 Chính phủ với công dân (G2C government to citien) G2C bao gồm phổ biến thông tin tới công chúng, các dịch vụ công dân cơ bản như gia hạn giấy phép , cấp giấy khai sinh/ khai tử/ đăng ký kết hôn và kê khai các biểu mẫu nộp thuế cũng như hỗ trợ người dân đối với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, chăm sóc y tế, thông tin bệnh viện, thư viện và rất nhiều dịch vụ khác. 2 Chính phủ với doanh nghiệp (G2B government to bussiness) Các giao dịch G2B bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau được trao đổi giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp bao gồm cả việc phổ biến các chính sách, biên bản ghi nhớ, các quy định và thể chế. Các dịch vụ được cung cấp bao gồm truy xuất các thông tin về kinh doanh, tải các mẫu đơn, gia hạn giấy phép,đăng ký kinh doanh, xin cấp phép và nộp thuế.Các dịch vụ được cung cấp thông qua các giao dịch G2B cũng hỗ trợ việc phát triển kinh doanh, đặc biệt là phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.Việc đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép. Hỗ trợ quá trình phê duyệt đối với các yêu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thúc đẩy kinh doanh phát triển.ở mức cao hơn các dịch vụ G2B bao gồm việc mua sắm điện tử và trao đổi trực tuyến giữa chính phủ với các nhà cung cấp để mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho chính phủ. Một ví dụ điển hình là website mua sắm điện tử sẽ cho phép người sử dụng đã đăng ký và được chấp nhận có thể tìm kiếm các người mua và người bán hàng hóa dịch vụ.Tùy theo từng phương pháp người mua hoặc người bán có thể xác định giá cả hoặc mở thầu.Việc mua sắm điện tử làm cho quá trình đấu thầu trở nên minh bạch và cho phép các doanh nghiệp nhỏ có thể tham gia đấu thầu đối với các dự án lớn của chính phủ. Hệ thống này cũng giúp cho chính phủ có thể tiết kiệm chi tiêu nhiều hơn thông qua việc cắt giảm chi phí cho người môi giới trung gian và giẩm chi phí hành chính của các đại lý mua bán. 3 chính phủ với người lao động.(G2E) Các dịch vụ G2E còn bao gồm cả các dịch vụ G2C và các dịch vụ chuyên ngành khác dành riêng cho các công chức chính phủ như việc cung cấp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực qua đó cải tiến các chức năng hành chính hàng ngày cũng như các cách thức giai quyết công việc với người dân. 4 Chính phủ vơi chính phủ (G2G government to government) Các dịch vụ G2G đã được triển khai ở hai cấp độ :địa phương hoặc trong nước hoặc ở cấp quốc tế. các dịch vụ G2G là các giao dịch giữa chính phủ trung ương/quốc gia và các chính quyền địa phương,giữa các vụ và các công ty, cơ quan liên quan.đồng thời các dịch vụ G2G là các giao dịch giữa các chính phủ và có thể được dử dụng như một công cụ của các mối quan hệ quốc tế và ngoại giao. IV TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ. 1 Ba giai đoạn triển khai chính phủ điện tử. Giai đoạn 1 Cung cấp thông tin. +Sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để mở rộng truy cập tới thông tin của chính phủ. +Chính phủ sử dụng các phương tiện truyền thống thích hợp nhất là internet để cung cấp nhanh và trực tiếp thông tin tới công dân. +Bắt đầu bằng các thông tin về: Pháp luật, quy định các thông báo, các biểu mẫu tạo điều kiện để công dân giới doanh nghiệp có thể truy cập tiếp cận mà không phải đi tới trụ sở cơ quan nhà nước, không phải xếp hàng chờ đợi hay phải chi phụ phí. +Làm tốt mức này cũng là một cuộc cách mạng đánh động tới nạn quan liêu tham nhũng. Yêu cầu đối với các dự án giai đoạn này: > Phải có chiến lược để có thể thông tin trực tuyến và thông tin phải phù hợp. >Cung cấp thông tin thực sự có ích cho cuộc sống hàng ngày của công dân bằng ngôn ngữ bản địa. >Có quy trình để mỗi công chức có trách nhiệm cung cấp thông tin trực tuyến của lĩnh vực mình chịu trách nhiệm. >Thiết kế các trang web dễ sử dụng, đảm bảo thông tin được cập nhật thường xuyên. >Nội dung của thông tin phải nhằm hỗ trợ nhiều lĩnh vực như: Phát triển kinh tế xã hội, chống tham nhũng, thúc đẩy đầu tư nước ngoài… Giai đoạn 2 Tương tác Mở rộng việc tham gia của nhân dân vào các hoạt động của chính phủ Chính phủ điện tử còn có khả năng huy động công dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước qua việc trao đổi đối thoại với các nhà lập pháp ở mọi cấp chính quyền. Đẩy mạnh việc đối thoại giúp xây dựng lòng tin của cộng đồng vào chính phủ. Nghĩa tương tác trong chính phủ điện tử có thể có 2 cách bắt đầu các chức năng cơ bản sau: Thư điện tử qua lại với công chức để lấy thông tin Hoặc thông qua các phiếu phản hồi để công dân gửi ý kiến đóng góp cho các dự án luật hoặc dự án xây dựng cuộc sống Ở giai đoạn này cũng có thể tạo ra các diễn đàn trực tuyến Công dân- Chính phủ để mọi người có thể trao đổi ý kiến, nâng cao nhận thức tạo cơ hội tham gia cho nhiều người mà không bị lệ thuộc vào khoảng cách. Yêu cầu khi xây dựng website tương tác +Nêu ra các vấn đề công dân có thể tham gia bàn thảo và cũng thông báo lại cho họ biết kết quả tiếp thu các ý kiến trực tuyến của họ. +Phân đoạn các chính sách tổng thể thành từng modul dễ hiểu để người dân có thể tham gia đóng góp ý kiến. +Tích cực kêu gọi họ tham gia. +Sử dụng các phương tiện truyền thống để công bố các ý kiến đóng góp. +Huy động công dân cộng tác từ giai đoạn đang thiết kế chính sách. Giai đoạn 3: Giao dịch xây dựng chính phủ trực tuyến. Xây dựng các website giao dịch để người dân có thể liên hệ trực tiếp với các dịch vụ chính phủ vào bất cứ khi nào. Các dịch vụ thường là : cấp sổ đỏ, xin cấp thẻ căn cước… Một số nước có sáng kiến xây dựng các trạm máy tính dịch vụ công trong siêu thị như Brazil, hồng kong, hay máy tính xách tay đưa tới nông thôn như Ấn độ. Thành công giai đoạn này góp phần giảm nạn quan liêu giấy tờ nhũng nhiễu vòi tiền. Yêu cầu đối với đối với các dự án giao dịch: + Nhằm vào các đối tượng có nhu cầu sử dụng ngay dịch vụ trực tuyến. + Tranh thủ sự ủng hộ của những người sử dụng website này giải quyết nỗi lo lắng của công chức do vai trò và ảnh hưởng của họ bị thay đổi. + Chính phủ điện tử phải tích hợp với cải cách hành chính và hoàn thiện nó trước khi đưa lên trực tuyến. +Phải luôn quán triệt, đầu tư ban đầu cho hệ làm giao dịch sẽ được thu hồi qua việc tiết kiệm, giảm chi phí và tăng năng suất lao động. +Xây dựng cổng giao dịch cho dịch vụ của chính phủ. Cần lưu ý: Các giai đoạn này là độc lập với nhau Không phải hoàn thành giai đoạn này mới bước sang giai đoạn kia. 2 Những thách thức đối với chính phủ điện tử. a, Làm thế nào để ngày càng có nhiều người thực sự sử dụng các dịch vụ của chính phủ điện tử. Bất cứ một chính sách chính phủ điện tử nào cũng phải xem xét phương pháp tiếp cận theo hướng tập chung vào người dân. Điều đó có nghĩa là CPĐT phải là một dịch vụ dành cho người sử dụng cuối cùng và phát triển theo hướng phục vụ nhu cầu. Tuy nhiên, nhiều người dân có thể không sử dụng CPĐT vì một vài nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chính như không sử dụng quen ITC, thiếu truy cập, thiếu đào tạo cũng như lo lắng vê sự riêng tư và tính bảo mật của thông tin. Trong khi chính phủ điện tử có thể giúp cho việc cung cấp các dịch vụ công được thuận tiện dễ dàng, cũng như làm cho các dịch vụ của chính phủ ngày càng được cải tiến, không một lý do nào trong số những lý do trên có thể làm cho người dân sử dụng ngay CPĐT trừ phi những mối quan tâm, lo lắng trên của họ được giải quyết. b, vấn đề bảo mật thông tin. An ninh nhìn chung liên quan tới việc bảo vệ các tài sản của hệ thống thông tin và kiểm soát việc truy cập thông tin.Các chính sách và chiến lược về an ninh thường được xây dựng cụ thể tùy thuộc vào bối cảnh và thông tin.Sự riêng tư ở đây muốn nói về quyền đối với những thông tin liên quan đến cá nhân và sẽ được xử lý với mức độ phù hợp.Luật bảo vệ các thông tin mang tính riêng tư thường được đặt ra để quy định về vấn đề trên.Việc bảo vệ riêng tư của công dân và đảm bảo rằng các thông tin cá nhân của họ sẽ không bị làm hại là một vấn đề hết sức quan trọng trong chính phủ điện tử bởi vậy đây là điều chính yếu trong việc lấy được niềm tin của dân chúng. Nếu không có được sự đảm bảo này, không một người nào ngay lập tức sử dụng các dịch vụ của chính phủ điện tử. c, Làm thế nào để xây dựng một cơ sở hạ tầng CPĐT phù hợp. Cơ sở hạ tầng thông tin chính phủ (GII)- một mạng lưới kết nối tất cả các cơ quan chính phủ, cần phải đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể hưởng lợi đầy đủ từ CPĐT. Xây dựng GII là một công việc hết sức tốn kém đòi hỏi phải lập kế hoạch liên ngành và liên chính quyền. Cần phải xem xét những vấn đề sau khi xây dựng một mạng đường trục CPĐT như vậy: Chi phí. Nghiên cứu khả thi về mặt tài chính là điều cần thiết trong việc triển khai chính phủ điện tử. Các phân tích về lợi ích , chi phí có thể giúp cho chính phủ quyết định hoặc mở một phần mạng đường trục của chính phủ và thu tiền phí kết nối đối với các nhà khai thác viễn thông để duy trì việc khai thác hoặc cùng sử dụng mạng tư nhân trong trường hợp có những hạn chế về mặt chi phí. Vấn đề cơ sở hạ tầng. Bao gôm cơ sở hạ tầng hiện nay của đất nước, tình hình phát triển internet,mật độ điện thoại, tốc độ thay đổi công nghệ, sự cho phép hội tụ và đầu tư về băng rộng. Các lợi ích và rủi ro. Có một mạng đường trục cảu riêng mình đảm bảo việc truyền thông của chính phủ được mở rộng và đảm bảo an ninh 24 tiếng một ngày, 7 ngày trong tuần và 365 ngày trong năm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải có vốn cho việc nâng cấp và bảo dưỡng mạng lưới và chi phí cho việc thuê một đội ngũ cán bộ kỹ thuật hỗ trợ mạng cả ngày. Một số chính phủ có thể quyết định việc xây dựng mạng đường trục của riêng mình là quá tốn kém về mặt chi phí và thời gian. Việc xây dựng một mạng đường trục bộ có thể mất vài năm và hàng tỉ đô la để hoàn thành và nếu chính phủ muốn ngay lập tức triển khai chính phủ điện tử, họ có thể không đủ thời gian tiền bạc để làm việc đó.Một phương pháp khác là sử dụng các mạng đường trục hiện có của tư nhân thường do một tập đoàn viễn thông lớn khai thác. Điều này có nghĩa là chính phủ phải ủy thác vấn đề an ninh của mạng cho nhà khai thác- người sử dụng sẽ chịu những khoản chi phí đối với các công việc thường xuyên như bảo dưỡng mạng và hỗ trợ về mặt kỹ thuật cũng như phải chịu các rủi ro đối với những phá hoại ngầm có thể xảy ra.Để giảm thiểu đe dọa đối với an ninh của mạng, các chính phủ sử dụng mạng đường trục cá nhân phải triển khai các biện pháp an ninh sau: các bức tường lửa, phần mềm phát hiện xâm nhập,mã hóa các mạng an ninh như ( mạng cá nhân ảo,WAN hoặc LAN) đối với cơ quan chính phủ cần phải có mức độ an ninh cao như quân đội. PHẦN 3 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM. I ĐÁNH GIÁ CÁC TIỀN ĐỀ CHO VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM. 1 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông. *Thực trạng sử dụng internet và viễn thông tại việt nam. Theo báo cáo của Netcitizens Việt nam tình hình sử dụng và tốc độ phát triển internet tại việt nam tháng 3/2010. Vào thời điểm cuối năm 2009 khoảng 1,7 triệu người đã sử dụng internet trên thế giới, chiếm tỉ lệ 26% dân số toàn cầu. Số người sử dụng internet đã tăng lên 5 lần trong vòng 10 năm trở lại đây.Tỉ lệ sử dụng internet cao nhất là ở Bắc mỹ (74%), Úc/ châu đại dương (60%) và châu đại dương (52%). Tại châu Á tỉ lệ sử dụng là 19% và là châu lục thấp thứ 2 bên cạnh châu Phi (nguồn internetwordstats.com). Tuy nhiên nếu nhìn con số tuyệt đối, số lượng người sử dụng internet tại châu Á lại cao hơn bất kì nơi nào trên thế giới, có khoảng 43% số lượng người sử dụng internet trên toàn thế giới là từ châu Á. Điều này chủ yếu do lượng dân số lớn ở Trung Quốc. Trong số các quốc gia trọng điểm ở châu Á,có hai mô hình khác nhau về tỉ lệ sử dụng internet. Tại các nước phát triển ( Hàn quốc , Nhật bản, Singapore,Hồng kong , Đài loan và Malaysia) tỉ lệ sử dụng internet ở mức 60-80%,với tốc độ tăng trưởng nhẹ qua mỗi năm. Còn ở các thị trường mới nổi như (Trung quốc, Việt nam, Philippine và Indonesia), tỉ lệ sử dụng internet chỉ khoảng 20-30%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng mỗi năm lại cao hơn nhiều. Hơn 50% người sử dụng internet là người Trung Quốc. Số lượng người sử dụng internet tại Trung Quốc ước đạt 360 triệu người, chiếm khoảng 20% dân số thế giới. Các quốc gia châu Á khác có số lượng lớn người sử dụng internet đó là Nhật bản 96 triệu, và Hàn Quốc 37 triệu. Tại Việt Nam hiện có 23 triệu người sử dụng internet, con số này hơi thấp so với Philippine và Indonesia. Tốc độ tăng trưởng số người sử dụng internet rất khác nhau ở mỗi quốc gia, ỏ các quốc gia có tỉ lệ người sử dụng internet cao, tốc độ tăng trưởng lại thấp hơn các quốc gia có tỉ lệ người sử dụng thấp Trong vòng 10 năm trở lại đây, việc sử dụng internet đã tăng từ 100-200% tại các nước phát triển ở châu Á (Hàn Quốc, Nhật Bản Hồng Kong và Singapore), và khoảng 500-1500% ở các thị trường mới nổi ở Châu Á. Việt Nam có một vị trí đặc biệt ở phương diện này. Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng internet nhanh nhất trong khu vực vàn nằm trong số các quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Từ năm 2000 số lượng người sử dụng internet đã nhân lên khoảng 100 lần. Cách đây 10 năm, tỉ lệ sử dụng internet của Việt Nam nằm cách xa hầu hết các nước châu Á khác. Hiện tại Việt Nam đã bắt kịp tốc độ sử dụng Internet và đã đạt tới cấp độ của các thị trường mới nổi khác. Theo VNNIC (trung tâm internet Việt Nam) 22,5 triệu người Việt nam đang sử dụng internet vào thời điểm cuối năm 2009, đại diện cho 26% dân số, Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2009, số lượng người sử dụng internet tăng lên 3,1 triệu người. Tỉ lệ tăng trưởng rất cao giai đoạn 2003-2006 sau đó chậm lại.Năm 2009 là năm đầu tiên có tỉ lệ tăng trưởng dưới 10%, tuy nhiên số lượng người sử dụng vẫn tăng 2 triệu người trong năm này. Trong các thành phố thực hiện nghiên cứu của Netcitizens, tỉ lệ sử dụng internet cao nhất là tại Hà nội nơi có hơn 60% dân số truy cập internet. Tại thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ này là 50%, còn các thành phố khác như (Đà nẵng , Nha trang, Cần thơ, Hải Phòng), tỉ lệ sử dụng internet khoảng 40% mỗi thành phố. Như vậy nhìn chung tại các khu vực thành thị của Việt nam khoảng 50% đã từng truy cập internet. Ở lĩnh vực viễn thông , tính đến tháng 12 năm 2009 , mật độ điện thoại đã đạt 133,5 máy/100 dân với 115,7 triệu thuê bao( đến tháng 7/2010, mật độ điện thoại đạt 176 máy/100 dân với 154,3 triệu thuê bao. Mạng viễn thông nông thôn cũng phát triển mạnh : 100% số xã đã có điện thoại. 8025 xã có điểm bưu điện văn hóa xã cung cấp dịch vụ điện thoại bưu chính và internet. 2 Nguồn nhân lực cho việc triển khai chính phủ điện tử. Để triển khai chính phủ điện tử,việc cần thiết nhất là phải có nguồn nhân lực dồi dào. Nguồn nhân lực ở đây được hiểu là đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông, đội ngũ cán bộ quản lý có nhận thức đầy đủ về công nghệ thông tin cũng như chính phủ điện tử. Nguồn nhân lực mạnh mẽ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của chiến lược xây dựng chính phủ điện tử. Cả nước hiện nay có 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 1.131 giáo sư,5.253 phó giáo sư, 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ, 30 nghìn cán bộ hoạt động khoa học công nghệ.Số lao động làm việc trong ngành CNTT hiện nay là hơn 200 ngàn người.Theo thống kê, tổng số các trường có ngành liên quan CNTT cả nước là 235 trường/ tổng số 390 trường trong cả nước, tuy nhiên chất lượng còn chưa cao.Chỉ tiêu tuyển sinh vào ĐH-CĐ chuyên nghành CNTT năm 2009 là 56.406 sinh viên. Theo dự báo,nhu cầu nhân lực công nghiệp CNTT đến năm 2020 sẽ tiếp tục tăng qua từng năm và nếu không có biện pháp điều chỉnh mạnh thì sư thiếu hụt nguồn nhân lực sẽ tăng và cung không đáp ứng đủ cầu. Dự kiến tới năm 2020 nhu cầu nhân lực cho CNTT là hơn 600 ngàn người nhưng khả năng đáp ứng chỉ đạt hơn 400 ngàn người. 3 Nhận thức của người dân và khả năng tiếp cận các dịch vụ điện tử của chính phủ. Nhận thức của người dân về chính phủ điện tử là rất thấp, hầu hết mọi người chưa biết tới chính phủ điện tử là gì và lợi ích của chính phủ điện tử đem lại ra sao.Có sự chênh lệch lớn trong quá trình nhận thức giữa người dân thành thị và nông thôn, khu vực miền núi và đồng bằng. Do vậy khả năng tiếp cận tới các dịch vụ công của chính phủ là thấp.Do vậy muốn tăng khả năng sử dụng các dịch vụ công của chính phủ cần thiết trước mắt là nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của công nghệ thông tin trong cuộc sống. Tổ chức đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ khả năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho đội ngũ cán bộ công chức. 4 Cơ sở pháp lý. Nắm bắt được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin đối với việc xây dựng và phát triển đất nước, ngày 17/10/2000.Bộ chính trị đã ban hành chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Chủ chương này được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội Đảng IX của Đảng. Để triển khai chỉ thị quan trọng của đảng,ngày 24/5/2001, thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg về việc duyệt chương trình hành động triển khai chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ chính trị và ngày 25/7/2001 Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 112/2001/QĐ-TTg phê duyệt đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005.Về công nghệ thông tin và viễn thông, ngày 23/8/2001, chính phủ ban hành nghị định số 55/2001/NĐ-CP về quản lý và cung cấp dịch vụ internet. Sự chỉ đạo của đảng và nhà nước trong các văn bản đã nêu, tạo điều kiện cho việc phát triển nhanh ngành kinh tế thông tin của nước ta và là bước khởi đầu quan trọng để tiến tới xây dựng một mô hình chính phủ điện tử. Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH 11 ngày 29/6/2006. Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 3/5/2007 về việc quy định chi tiết hướng dẫn việc thực hiện một số luật về CNTT về công nghiệp CNTT. Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Nghị định 63/2007/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CNTT. Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008 của thủ tướng chính phủ về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động cơ quan nhà nước. Quyết đinh số 19/2008/QĐ-BTTTT 9/4/2008 ban hành Quy đinh tiêu chuẩn ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Quyết định số 20/2008/QĐ-BTTTT 9/4/2008 Ban hành danh mục tiêu chuẩn về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg ngày 03/4/2009 Ban hành Quy chế quản lý chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt nam. II ĐÁNH GIÁ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM. Quá trình triển khai Chính phủ điện tử ở Việt nam từ trung ương tới địa phương,người dân trong thời gian qua vẫn còn rất trì trệ.Mặc dù trong thời gian qua Việt nam đã tiến hành nhiều hoạt động liên quan tới chính phủ điện tử như: đã hơn 50% bộ, ngành và hơn 80 tỉnh trực thuộc đã có trang web và có nhiều dịch vụ như: xin cấp giấy phép kinh doanh,làm thủ tục hải quan… được triển khai. Nhưng thông tin trên các website còn nghèo nàn các dịch vụ mới chỉ đạt được ở bước đầu, và thực hiện còn độc lập, sơ sài.Khả năng sẵn sàng cho chính phủ còn thấp. Theo báo cáo của liên hợp quốc, năm 2010 Việt nam đứng thứ 90 trong tổng số192 nước điều tra về ứng dụng công nghệ thông tin trong khu vực công, tăng 1 bậc so với năm 2008. Thực tế cho thấy trong bảng xếp hạng về chỉ số sẵn sàng của chính phủ điện tử (do Liên hợp quốc cung cấp) Việt nam xếp thứ 97/173 nước, với điểm số E-Gov Index là 0,357( điểm tối đa là 1, quốc gia điểm cao nhất là 0,927 quốc gia có điểm thấp nhất là 0,009) Trong khu vực ASEAN, Việt nam chỉ hơn Lào,Campuchia, Myanmar. Trong khi hiện nay Singapore đã đưa được gần 2000 dịch vụ hành chính lên mạng, trong đó có việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế, xin cấp hộ chiếu, đăng ký tham gia các trung tâm thể thao.Khoảng 75% dân Singapore đã sử dụng các công cụ điện tử trong giao dịch với chính quyền.Thì Việt nam mới có 6,67 người sử dụng internet /100 dân. III ĐỊNH HƯỚNG MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ. Cần nhận thức việc thực thi chính phủ điện tử là một vấn đề xã hội nhiều hơn là một vấn đề công nghệ. Cân đặ trọng tâm vào việc cải cách hành chính nhà nước. Cần quán triệt chính phủ, các cơ quan công quyền có trách nhiệm phục vụ nhân dân chứ không phải là quan hệ xin –cho. Cần nâng cao nhận thức về công nghệ thông tin cho lãnh đạo các cấp và cho nông dân. Cần phải có chương trình giáo dục về chính phủ điện tử được thiết kế xây dựng và triển khai một cách có bài bản, có sự tham khảo quốc tế. Một số viêc trước mắt có thể làm ngay như sau: 1 Nâng cao nhận thức về chính phủ điện tử. Việc này quốc gia nào cũng làm, song ở nước ta lại càng cần.Ngoài các lý do giống các quốc gia khác, còn lý do là một số phạm trù có liên quan tới chính phủ điện tử hoặc chưa tồn tại hoặc còn chưa rõ nét ở nước ta như: cung cấp dịch vụ chính phủ,nền dân chủ điện tử,kỹ thuật và công nghệ điều hành nhà nước. 2 Nâng cao trình độ của công chức chính phủ: trong điều hành tác nghiệp hành chính để thực thi nhiệm vụ của mình. Nhất là xác định được chỗ đứng của mình trong quan hê với người dân, khắc phục tình trạng xin- cho trong quan hệ giữa cơ quan chính phủ với người dân nhất là ở các cấp hành chính thấp. 3 Triển khai ngay và từng bước sử dụng internet. Là phương tiện điện tử để giải quyết nhóm việc trong khi triển khai, tức là tác động tới mối quan hệ trong nội tại các cơ quan chính phủ.Thời gian qua nhà nước đã có nhiều đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong chính phủ. Chúng ta đã có mạng diện rộng nối văn phòng chính phủ với các bộ ngành địa phương.Đây cũng là nền tảng để triển khai nhóm công việc này, song điều quan trọng là quy trình thể chế công tác nhằm đảm bảo cho mạng có thông tin để nó thực sự tác động và nâng cao hiệu quả điều hành công việc của chính phủ ở các cấp.Gần đây chính phủ có chỉ thị số 58 về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan chính phủ, đây cũng là một chỗ dựa tốt để triển khai chính phủ điện tử một cách bài bản ở các cấp. 4 Về việc cung cấp dịch vụ chính phủ trực tuyến. Việc này làm khó hơn,một mặt cần đầu tư hạn tầng, nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho công chức chính phủ.Một mặt cần phải khắc phục tình trạng người dân chưa có khả năng truy cập vào internet để hưởng thụ các dịch vụ trực tuyến của chính phủ. Tuy nhiên một mảng việc có thể làm được ngay là cung cấp dịch vụ trực tuyến cho giới doanh nghiệp tác động tới mối quan hệ G2B, vì giới doanh nghiệp hầu hết có khả năng truy nhập internet hay mạng chính phủ.Mảng việc này dễ triển khai hơn xong hiệu quả lại thấy ngay. Nên bắt đầu bằng những dự án nhỏ , khả thi. Một số hoạt động trong mảng việc này có thể triển khai là: Cung cấp thông tin pháp quy, chủ chương chính sách liên quan tới kinh doanh, xuất nhập khẩu, thuế… Cung cấp thông tin thị trường. Dịch vụ đăng ký cấp phép xuất nhâp khẩu trực tuyến. Dịch vụ đăng ký nộp thuế trực tuyến. Dịch vụ xin thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh trực tuyến. 2 Kết luận. Hiểu đúng nghĩa thì chính phủ điện tử là mơ ước của tất cả các quốc gia trên thế giới.Vì vậy bất cứ nước nào dù là tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa đều cần phải xây dựng chính phủ điện tử.Bởi chính phủ điện tử không chỉ làm thay đổi bản chất chế độ mà nước đó đang theo đuổi mà còn giúp cho nước đó nâng cao vị thế của mình. Có nhiều cách để xây dựng chính phủ điện tử,mỗi nước có một chiến lược phát triển chính phủ điện tử khác nhau,phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nước đó.Một nước nghèo như nước ta không thể áp dụng chiến lược chính phủ điện tử của Mỹ,Australia, hay của Singapore.Nếu áp dụng dập khuôn sẽ dẫn tới thất bại vì nó không phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội của nước ta.Vì vậy có xây dựng chính phủ điện tử thành công hay không chủ yếu phụ thuộc vào việc đề ra một chiến lược hợp lý và phải được chuẩn bị kỹ càng. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nghiên cứu chiến lược chính phủ điện tử của các nước này.Từ đó chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng. Con đường mà các nước đã đi qua trong lộ trình triển khai chính phủ điện tử mất một khoảng thời gian khá dài,hi vọng một nước đi sau như Việt nam sẽ không phải mất nhiều thời gian như vậy.Muốn vậy Việt nam phải tự tìm ra những hướng đi thích hợp trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chính quyền các cấp, đồng thời từng bước cung cấp dịch vụ công cho người dân qua internet nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kính doanh của các doanh nghiệp cũng như tiết kiệm thời gian và sức lực của người dân trong quan hệ với chính phủ. Chính phủ điện tử ở việt nam mới ở giai đoạn đầu, tức là giai đoạn ứng dụng công nghệ thông tin sao cho bộ máy Chính phủ hoat động có hiệu quả hơn, cung cấp các thông tin chính phủ phục vụ đời sống xã hội, tin học hóa quản lý hành chính nhà nước.Vì vậy nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Việt nam là phải thực hiện những bước đi hợp lý, thực hiện các biện pháp cụ thể và hiệu quả để nhanh chóng chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chính phủ điện tử .Để thực hiện điều này cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông,xây dựng và có kế hoạch hợp lý chặt chẽ đề án chính phủ điện tử, loại bỏ những trở ngại tâm lý trong chính phủ và tích cực tuyên truyền để nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp dân chúng về chính phủ điện tử. Hi vọng rằng trong thời gian sắp tới những người dân Việt nam sẽ được hưởng những lơi ích to lớn mà chính phủ điện tử mang lại. Danh mục tài liệu tham khảo: 1Chính phủ điện tử (patriciaJ.Pascual).Nhóm công tác ASEAN-APDIP. 2 Báo cáo của Netcitizens Việt nam, tình hình sử dụng và tốc độ phát triển internet tại Việt nam tháng 3/2010. 3 Công nghệ thông tin và truyền thông Việt nam.(Vietnam information and communication technology.) 4 chính phủ điện tử- giáo trình học viện hành chính quốc gia.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxChính phủ điện tử ở việt nam thực trạng và phương hướng phát triển.docx