Chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các loại cho các thành phần kinh tế. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Mở rộng thông tin và tăng khả năng lãnh đạo của Đảng và định hướng của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế để bảo đảm sản xuất, kinh doanh đúng hướng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể các thành phần kinh tế tiếp cận với thị trường khu vực và quốc tế, giúp cho việc chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới, tăng sức cạnh tranh, tiếp thu được những tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ của thế giới. đ – Coi trọng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế nhằm bảo đảm phát triển ổn định, bền vững. Kiên quyết phát hiện, ngăn chặn kịp thời những vi phạm làm ô nhiễm môi trường gây tổn thất cho sản xuất, kinh doanh và gây tác hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người. e – Thực hiện nghiêm việc xử phạt những chủ thể kinh tế, các đơn vị kinh tế sản xuất, kinh doanh hàng kém phẩm chất, làm hàng giả, gian lận trong sản xuất, kinh doanh để tạo nên nền kinh tế lành mạnh, bền vững, khắc phục những biểu hiện sai trái, tiêu cực của các thành phần kinh tế có thể xảy ra gây nên những biến động về kinh tế – xã hội của đất nước.

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/02/2013 | Lượt xem: 5180 | Lượt tải: 19download
Tóm tắt tài liệu Chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I, Sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành prhần ở nước ta. Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được Đảng ta đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI. Có thể nói, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng, bởi lẽ phát triển kinh tế nhiều thành phần lúc này được coi là một tất yếu: - Thời kỳ trước đổi mới, nước ta đang tồn tại nhiều loại trình độ lực lượng sản xuất khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì đòi hỏi phải có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. - Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế tập trung, bao cấp. Kinh tế tập trung, bao cấp được đặc trưng bằng việc nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới; các doanh nghiệp làm ăn lỗ thì nhà nươc bù, lãi thì nhà nước thu; các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại ko chiu trach nhiệm về vât chất và pháp lý dối với các quyết định của mình; quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ chỉ là hình thức quan hệ hiện vật là chủ yếu.nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát -giao nộp"; bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian hoat đông kém hiệu quả sinh ra quan liệu phong cách cửa quyền nhưng lai dược hưởng quyền lợi cao hơn người lao động... Chế độ bao cấp đã trở thành vật cản lớn trên con đường phát triển của nước ta kéo nước ta, kinh tế khủng hoảng, trì trệ Trích dữ liệu cụ thể tại PHỤ LỤC . Lúc này, một tình thế đặt ra cho đất nước thời bấy giờ là "đổi mới hay là chết”? Đổi mới kinh tế mà nội dung là phát triển kinh tế nhiều thành phần là sự lựa chọn tất yếu lúc này. - Nước ta có lực lượng lao động dồi dào (gần 40 triệu lao động) cần cù thông minh nhưng số người chưa có việc làm còn nhiều, vừa lãng phí sức lao động, vừa gây những khó khăn lớn về kinh tế. Trong khi khả năng thu hút lao động của khu vực kinh tế nhà nước không nhiều thì việc tận dụng, khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế khác là một giải pháp quan trọng để tăng thêm việc làm cho người lao động. - Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, II. Chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ; về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI được là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Đại hội VIII của Đảng nêu 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đại hội IX của Đảng xác định, ở nước ta hiện nay, cần phát triển 6 thành phần kinh tế, tức là ngoài 5 thành phần kinh tế nêu trên, có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhấn mạnh các thành phần kinh tế đó đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Có thể nói đây là quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thác phát huy mọi tiềm năng, nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định cơ cấu nền kinh tế nước ta gồm năm thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điểm mới ở đây là đã gộp kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân thành thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời khẳng định đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội X cũng khẳng định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau. Điều này có tác dụng tích cực tạo sự yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế phi nhà nước. Sự phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất, tính kế thừa trong phát triển, cũng như đặc điểm cụ thể của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, v.v. quy định sự tồn tại đa dạng, đan xen của các hình thức sở hữu và tương ứng với đó là sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. Trong cơ cấu nền kinh tế đó, kinh tế nhà nước được Đảng xác định là thành phần đóng vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác góp phần quan trọng trong việc huy động mọi tiềm năng, nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh, phát triển lực lượng sản xuất. Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, có những thành phần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình, song cũng có những thành phần kinh tế còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Về kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế này lấy sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế. Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm các tài sản, công cụ kinh tế quan trọng thuộc sở hữu nhà nước, v.v.. Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, v.v.. Vai trò đó được thể hiện cụ thể: Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt ở những ngành, lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước, các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong tiến bộ khoa học công nghệ; kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Mặc dù có vai trò chủ đạo nhưng kinh tế nhà nước lại bộc lộ nhiều yếu kém: Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao (trên dưới một nửa) trong tổng đầu tư xã hội nhưng tỷ lệ đóng góp vào GDP không cân xứng chỉ ở mức 37-39% và tạo công ăn việc làm cho khoảng 4,4% của  tổng  số lao động. Suốt hàng chục năm khu vực kinh tế nội địa, mà có lẽ chủ yếu là khu vực kinh tế nhà nước, luôn nhập siêu ở mức cao, khu vực đầu tư nước ngoài lại xuất siêu, nói cách khác các doanh nghiệp nhà nước đã tiêu dùng và đầu tư hơn mức nó tạo ra rất nhiều trong thời gian dài. Sự kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước là một trong những nguyên nhân chính gây bất ổn kinh tế vĩ mô, tăng lạm phát. Đấy là những con số thống kê biết nói về thành tích của khu vực kinh tế giữ vai trò “chủ đạo”. Thực trạng trên là đáng báo động, đòi hỏi cần phải xem xét lại vai trò của thành phần kinh tế nhà nước, từ đó có biện pháp cải tổ. Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được coi là một thành phần kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển dựa trên hình thức sở hữu tập thể và sở hữu của các thành viên. Sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và vững chắc thành phần kinh tế này, bởi như V.I.Lênin đã nhấn mạnh, đó là mô hình dễ tiếp thu nhất của những người nông dân để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Rút bài học kinh nghiệm sâu sắc từ phong trào tập thể hoá trước đổi mới và thực tế những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phát triển thành phần kinh tế này, chủ trương xây dựng các hợp tác xã kiểu mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và nhu cầu của các chủ thể sản xuất. Những năm qua, mặc dù được xác định là cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, song sự phát triển của kinh tế tập thể còn nhiều hạn chế: hoạt động chưa có hiệu quả, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn lạc hậu, tỷ trọng GDP liên tục giảm. Do vậy, để kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước thật sự trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, chúng ta cần có những biện pháp tích cực để kinh tế tập thể phát triển từng bước, vững chắc. Kinh tế tư nhân bao gồm cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Nhìn chung, sau hơn 20 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong những năm gần đây, kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP (trong đó kinh tế hợp tác đóng góp 6,8%GDP). Như vậy, kinh tế tư nhân đạt 38,9% GDP, tương đương với tỷ trọng GDP của kinh tế nhà nước(5). Trong kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, có vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn, có khả năng huy động vốn và lao động. Đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủ trong lĩnh vực nông nghiệp khá lớn, tỷ trọng GDP khá cao nhưng lại đang giảm liên tục. Sự giảm sút này không đáng lo ngại, thậm chí là một dấu hiệu tích cực, phản ánh sự di chuyển khá mạnh mẽ của nó vào các bộ phận, các thành phần kinh tế có trình độ cao hơn; thực chất, là sự thu hẹp cách thức sản xuất nhỏ lẻ để tiến lên những hình thức sản xuất tiến bộ hơn. Đây là một xu thế tất yếu, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ buộc những thành viên của kinh tế cá thể, tiểu chủ phải thay đổi, di chuyển vào các bộ phận, các thành phần kinh tế khác để bảo đảm lợi ích, do đó làm tăng sức cạnh tranh và cơ hội để phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Đối với kinh tế tư bản tư nhân, đây là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bộ phận kinh tế này đã đóng góp tích cực vào việc phát triển ực lượng sản xuất, huy động vốn, tạo việc làm cho người lao động, v.v.. Từ khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời (21/12/1990), các doanh nghiệp tư nhân đã thực sự đi vào hoạt động với đầy đủ tư cách pháp nhân, kinh tế tư bản tư nhân đã có sự phát triển đáng kể, phát huy có hiệu quả khả năng huy động vốn và tạo việc làm mới cho người lao động; đóng góp của nó cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, do mới hình thành, nên tỷ trọng cơ cấu GDP của nó chưa cao. Đối với thành phần kinh tế này, Đảng ta chủ trương khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để nó phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, v.v.. Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước dưới các hình thức hợp tác, liên doanh. Trong quan niệm của V.I.Lênin, kinh tế tư bản nhà nước là hình thức kinh tế quá độ đặc biệt quan trọng và cần thiết để đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, sự vận động hiện thực của thành phần kinh tế này ở nước ta đang còn tồn tại nhiều vấn đề. Các cơ chế, chính sách, điều kiện ở Việt Nam hiện nay chưa tạo ra sự thuận lợi cho thành phần kinh tế này phát triển. Những năm đầu tiên khi chúng ta mới thực hiện đường lối mở cửa, có lẽ các doanh nghiệp nước ngoài hy vọng vào việc khai thác những tiềm năng của một thị trường còn rất mới mẻ, nên họ đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam, liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các doanh nghiệp nước ngoài diễn ra mạnh mẽ, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ở mức cao. Tuy nhiên, chỉ sau đó một thời gian, số vốn này giảm mạnh. Chính vì nguồn vốn đầu tư giảm nên tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế này cũng liên tục giảm. Đầu tư nước ngoài là bộ phận phát triển nhất của kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta, nếu đầu tư nước ngoài giảm sút thì tất yếu sẽ làm cho thành phần kinh tế này kém phát triển, thậm chí là không phát triển. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta đang tìm mọi biện pháp tích cực và hiệu quả để cải thiện môi trường đầu tư và từ đo, kinh tế tư bản tư nhân cũng có cơ hội phát triển Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới nảy sinh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Năm 1987, khi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới thực sự có bước phát triển nhanh chóng. Hiện nay, đã có hàng ngàn công ty nước ngoài có dự án đầu tư ở Việt Nam. Tính từ năm 1988 đến năm 2003, nước ta đã thu hút được trên 40 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã thực hiện được hơn 20 tỷ USD. Năm 2005, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 15,9% GDP, năm 2007 khoảng 17%. Từ khi chúng ta gia nhập WTO, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam tăng đột biến, năm 2007 là hơn 20 tỷ USD (tăng khoảng 70% so với năm 2006), sáu tháng đầu năm năm 2008 là 31,6 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phát triển của thành phần kinh tế này đã và đang nảy sinh một vấn đề - đó là sự lệ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Giả định rằng, vì lý do nào đó, chẳng hạn lạm phát, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút một số lượng lớn nguồn vốn đầu tư thì tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam sẽ thế nào? Hoặc là tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế này ngày càng lớn đến mức ngang bằng hoặc vượt kinh tế nhà nước thì liệu kinh tế nhà nước có thể duy trì được vai trò chủ đạo của mình không? Nhà nước có thể kiểm soát được thành phần kinh tế này hay không? Rõ ràng, sự phát triển của thành phần kinh tế này đem lại những lợi ích kinh tế – xã hội rất lớn, đồng thời cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một biện pháp cần đặt ra lúc này là chúng ta phải phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước để tạo nên sức mạnh thực sự của Nhà nước; mặt khác, phải có biện pháp hướng thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào kinh tế tư bản nhà nước. Như vậy, cùng với quá trình tổng kết kinh nghiệm và phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã bước đầu tìm ra những biện pháp, bước đi mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những biện pháp đó, xét về mặt kinh tế, là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Để nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt, chúng ta phải tạo môi trường phát triển thuận lợi, đảm bảo tính độc lập, tự chủ của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước phải thực sự đóng vai trò chủ đạo; mặt khác, chúng ta phải tăng cường vai trò của Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý kinh tế. III. Những giải pháp để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Để khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi, tiếp tục thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế, phát huy các nguồn lực xây dựng nền kinh tế quốc dân vững mạnh trước, cần thiết phải đặt ra những giải pháp cụ thể sau: 1- Nhận thức đúng về sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Phải thực sự giải phóng tư tưởng cho các chủ thể các thành phần kinh tế, tạo "sân chơi" bình đẳng, lành mạnh cho các thành phần kinh tế. Khắc phục tâm lý mặc cảm, kỳ thị, sợ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, mất độc lập chủ quyền, đi theo hướng tư bản chủ nghĩa… Từ đó ngại ngùng, không dám cho các thành phần kinh tế phát triển với mọi năng lực của nó. Thực tế chúng ta có Đảng vững mạnh; có Nhà nước với hệ thống pháp luật và các cấp quản lý chặt chẽ; ý thức độc lập tự chủ của nhân dân rất cao nên không dễ gì chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội khiến ta phải băn khoăn, lo ngại không dám chấp nhận nó. Phải coi đây là hình thức quá độ cần thiết, tạo sức mạnh vật chất cho nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội. 2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật để định hướng, điều chỉnh, quản lý kinh tế vĩ mô đối với các thành phần kinh tế bằng pháp luật; xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách, thích hợp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế bình đẳng, tự chủ, tự do phát triển lâu dài. Đổi mới nội dung, phương thức quản lý của Nhà nước sao cho đúng, hiệu quả, thực sự "chặt" mà không gò ép, cứng nhắc; "thoáng" mà không buông. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chúng ta có cơ chế "thoáng" song vẫn giữ được độc lập tự chủ của đất nước để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài giúp ta phát triển nhanh, mạnh, vững chắc ở một số ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng tâm trọng điểm như một số nước đã làm. c – Thực hiện công khai, công bằng, dân chủ trong chính sách đầu tư, quản lý, thuế, tài chính v.v.. đối với các thành phần kinh tế. Xóa cơ chế "xin – cho"; ngăn chặn hữu hiệu xu hướng quay lại bao cấp trong một số ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế. Khắc phục mọi biểu hiện đặc quyền đặc lợi, ban phát, chạy chọt, tham nhũng, hối lộ v.v.. trong các khâu của quá trình vận hành nền kinh tế nhiều thành phần gắn với thị trường. d – Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các loại cho các thành phần kinh tế. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Mở rộng thông tin và tăng khả năng lãnh đạo của Đảng và định hướng của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế để bảo đảm sản xuất, kinh doanh đúng hướng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể các thành phần kinh tế tiếp cận với thị trường khu vực và quốc tế, giúp cho việc chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới, tăng sức cạnh tranh, tiếp thu được những tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ của thế giới. đ – Coi trọng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế nhằm bảo đảm phát triển ổn định, bền vững. Kiên quyết phát hiện, ngăn chặn kịp thời những vi phạm làm ô nhiễm môi trường gây tổn thất cho sản xuất, kinh doanh và gây tác hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người. e – Thực hiện nghiêm việc xử phạt những chủ thể kinh tế, các đơn vị kinh tế sản xuất, kinh doanh hàng kém phẩm chất, làm hàng giả, gian lận trong sản xuất, kinh doanh để tạo nên nền kinh tế lành mạnh, bền vững, khắc phục những biểu hiện sai trái, tiêu cực của các thành phần kinh tế có thể xảy ra gây nên những biến động về kinh tế – xã hội của đất nước.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.doc
Luận văn liên quan