CHuyên đề Chủ nghĩa xã hội khoa học của Học viện chính trị

Về phương thức lao động , phương thức sản xuất : Đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính công nghiệp hiện đại và xã hội hoá cao - Về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN : Đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất , phải bán sức lao động cho tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư • Phân tích : - ngày nay , do sự phát triển của CNTB , bộ mặt của giai cấp công nhân co nhiều thay đổi . Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân cũng có sự biến đổi theo hướng mở rộng : bên cạnh công nhân của nên công nghiệp cơ khí đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp hoá với viếc ứng dụng phổ biến của công nghệ thông tin vào sản xuất . Cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật , giai cấp công nhân có su hướng tri thức hoá ngày càng tăng và ngày càng tiếp thu thêm nhiều từ tầng lớp trí thức vào hàng ngũ mình . Do đó , giai cấp công nhân ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng . Nhưng sự phát triển của trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân là người làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản , trước đây giai cấp công nhân bán sức lao động chân tay thì nay họ phải bán cả sức lao động chân tay và trí óc - Ở các nước tư bản do sự phát triển của sản xuất và văn minh , đời sống của người công nhân đã có sự thay đổi quan trọng : phần đông họ không còn là người vô sản hoàn toàn , đã bắt đầu có những TLSX phụ , một số công nhân đã có cổ phần trong xi nghiệp . Nhưng thực tế TLSX quyết định cơ bản nền sản xuât TBCN vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản , người công nhân vân chỉ là người đi bán sức lao động cho giai cấp tư sản , họ bi bóc lột với các hình thức ngày càng tinh vi hơn . - Ở các nước XHCN , giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền , lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại xã hội cũ , xây dựng xã hội mới . Trong thời kì tiến lên XHCN , xét toàn bộ giai cấp thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ , nhưng trong điều kiện còn nhiều thành phần kinh tế thì còn một bộ phận công nhân phải làm thuê cho các doanh nghiệp tư nhân , họ vẫn bị các chủ sở hữu bóc lột về giá trị thặng dư

doc20 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 29/01/2013 | Lượt xem: 1484 | Lượt tải: 8download
Tóm tắt tài liệu CHuyên đề Chủ nghĩa xã hội khoa học của Học viện chính trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Như vậy khái niệm chủ nghĩa xã hội có nghĩa rộng hơn so với chủ nghĩa xã hội khoa học . Có nhận thức đúng và đầy đủ về khái niệm chủ nghĩa xã hội chính là cơ sở để làm rõ chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách là lý luân chính trị xã hội dẫn dắt thực tiễn hoạt động xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và đảng của nó trên thực tiễn . Câu 5 . phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa mác – lênin về sự phân kì hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa . Sự hình thành và phát triển của hình kinh tế - xã hội CSCN là một quá trình biện chứng trải qua các giai đoạn từ thấp đến cao và phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản hợp thành xã hội trong đó xét đến cùng yếu tố quyết định chính là sự phát triển của LLSX và QHSX . Trước khi phân kì hình thái kinh tế - xã hội CSCN các nhà kinh điển của chủ nghĩa mác lênin quán trị một số quan điểm có tính nguyên tắc sau : Thứ nhất : không nên và không xây dựng một sơ đồ hay lí luận trừu tượng cho những quá trình lịch sử phức tạp và chứa nhiều mẫu thuẫn như quá trình hình thành và phát triển của HTKT- XH CSCN . Vì nó là một phong trào hiện thực cho nên các giai đoạn phát triển của nó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng quốc gia cụ thể cũng như bối cảnh thế giới tại những thời kì khác nhau . Thứ hai : các giai đoạn phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội được quy định vào mọi quan hệ giữa trình độ phát triển của LLSX và QHSX , cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cụ thể được xem xét . Thư ba : các HTKT-XH trong quá trình hình thành đều trải qua các giai đoạn phát triển , mỗi giai đoạn trong đó lại có thể bao gồm các thời kì , với những nội dung bước đi cụ thể . Hình thái kinh tế - xã hội CSCN ra đời trước hết phải trải qua một thời kì cải biến cách mạng , thời kì quá độ chính trị và nhà nước của thời kì này không thể là cái gì khác hơn nền chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân . Trên cơ sở những quan điểm có tính nguyên tắc trên các nhà kinh điển của chủ nghĩa mác lênin phân kì hình thái kinh tế - xã hội CSCN như sau : + Theo mác : HTKT-XHCNCS sẽ phát qua hai giai đoạn : giai đoạn thấp (CNXH – giai đoạn vừa thoát thai từ xã hội cũ ) và giai đoạn cao (CSCN – giai đoạn trên những cơ sở của chính nó ) về bản chất của hai giai đoạn là đông nhất . Sự khác biệt giữa hai giai đoạn là trình độ chín muồi của những điều kiện kinh tế , chính trị , văn hoá , xã hội . Ở giai đoạn thấp thực nguyên tắc phân phối theo lao động , còn ở giai đoạn cao thực nguyên tắc phân phối theo nhu cầu . + Theo lênin : các giai đoạn đó là : Những cơn đau đẻ kéo dài Giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Trên cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa mác lênin từ những kết quả nghiên cứu , tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội , có thể phân kì quá trình phát triển của HTKT- XHCSCN như sau . Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội : bắt đầu từ khi chính quyền đã thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động , dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản – “ là thời kì cải biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới . Thích ứng thời kì ấy là một thời kì quá độ chính trị và nhà nước của thời kì ấy không thể là gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản . Giai đoạn đầu – xã hội xã hội chủ nghĩa hay chủ nghĩa xã hội : là giai đoạn đầu của HTKT- XHCSCN , là kết quả trực tiếp của thời kì quá độ chủ nghĩa xã hội , khi đã cơ bản xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế , chính trị , xã hội , tư tưởng và văn hoá . Tuy nhiên xã hội chủ nghĩa vẫn là xã hội cộng sản chủa đầy đủ , vì nó chứa đựng những dấu vết xã hội cũ và nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động chưa cho phép mọi người có quyền ngang nhau trong việc hưởng thụ những sản phẩm do xã hội làm ra . Do đó , ở mức độ nào đó tình trạng bất bình đẳng xã hội vẫn tồn tại . + Giai đoạn cao xã hội chủ nghĩa hay chủ nghĩa cộng sản : là giai đoạn cao của HTKT- XHCSCN với những đặc trưng cơ bản như : Sở hữu toàn dân là sở hữu duy nhất đối với tư liệu sản xuất của toàn xã hội . Tạo ra năng xuất lao động cao . Phân phối của xã hội theo nhu cầu . Không còn giai cấp , không còn nhà nước . Sự khác biết cơ bản giữa tư tưởng và nhận thức , giữa lao động trí óc và lao động chân tay sẽ mất đi Cá nhân được giải phóng được phát triển toàn diện . Đối với các nước vốn là nước nông nghiệp lạc hậu “ tiền tư bản “ thì “ quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa . Đó là kiểu đặc biệt của đặc biệt . Với điều kiện là đảng lãnh đạo nhân dân dành chính quyền , có đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội , tận dụng được những thành qủa của nhân loại để quá lên chủ nghĩa xã hội . Câu 6 : Nêu rõ những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội và thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ? Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Các hình thái kinh tế - xã hội đều có nhưng tiêu chí giống nhau và cái để phân biệt giữa HTKT- XH này với HTKT- XH khác chính là những đặc trưng cơ bản được biểu hiện trên các mặt chính trị , kinh tế , văn hoá xã hội . Trên lĩnh vực chính trị : Do vẫn còn sự khác biệt giai cấp ( trong đó có cả giai cấp bóc lột ) do đó nhà nước vẫn tồn tại đó là nhà nước chuyên chính vô sản . Dù hình thức nhà nước XHCN có khác nhau do đặc điểm lich sử của mỗi quốc gia dân tộc , nhưng đều mang bản chất giai cấp công nhân do đảng cộng sản lãnh đạo . Đó là nhà nước kiểu mới , nhà nước của dân do dân và vì dân công cụ chủ yêu nhất để cải tạo xây dựng và bảo vệ các thành quả cuả CNXH . Trên lĩnh vực kinh tế : Cơ sở vật chất của CNXH là nền công nghiệp hiện đại , nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hoá . Ở giai đoạn đầu tồn tại vẫn còn nhiều thành phần kinh tế , do đó giai cấp công nhân một mặt phát triển mạnh mẽ LLSX , mặt khác sử dụng nhà nước để từng bước xoá bỏ chế độ tư hữu , cải tạo QHSX cũ , thiết lập QHSX mới trên cơ sở của chế độ công hữu những TLSX lớn và chủ yếu . Tổ chức quản lí lao động bằng kỉ luật : chặt chẽ , có kế hoạch và giáo dục cao . Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động ( làm theo năng lực hưởng theo lao động ) Trên lĩnh vực văn hoá – xã hội : Nền văn hoá XHCN là nền tảng tinh thần của XHCN . Vì vậy , văn hoá XHCN hướng mọi hoạt động vào việc xây dựng con người phát triển toàn diện thực hiện công cuộc giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột và bất công . Đây là thời kì giai cấp công nhân thực hiện nhiệm vụ giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc , giữa dân tộc và quốc tế và giải quyết tốt các vấn đề tôn giáo ... cũng như phát triển văn hoá giáo dục . Những đặc điểm cở bản của thời kì quá độ lên CNXH Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến cách mạng sâu sắc , toàn diện và lâu dài trên các lĩnh vực của đời sống xã hội , nhằm tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết cho xã hội mới . Những đặc điểm đó là : đặc điểm nổi bật của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại giữa những nhân tố của xã hội và những thành tích của xã hội cũ trên tất cả các hình thức của đời sống xã hội . Về mặt chính trị : Nhà nước của giai cấp công nhân được thiết lập và củng cố và không hoàn toàn hoàn thiện nhằm thực hiện dân chủ cho nhân dân , bảo vệ thành quả cách mạng và đập tan âm mưu của những thế lực thù địch . Về kinh tế : Thời kì này tồn tại nên kinh tế nhiều thành phần , với nhiều hình thức khác nhau về sở hữu TLSX trong đó sở hữu nhà nước đóng vai trò chủ đạo . Về mặt xã hội : gắn liền với các thành phần kinh tế là cơ cấu xã hội có nhiều giai cấp , có nhiều lợi ích chung và những lợi ích khác nhau . Còn có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn , giữa các vùng miền trong một quốc gia , giữa lao động trí óc và lao động chân tay . Về văn hoá tinh thần : Bên cạnh hệ văn hoa tư tưởng của GCCN , nền văn hoá mới của XHCN đang được hình thành và phát triển , thì những tàn dư của văn hoá cũ , hệ tư tưởng lạc hậu từng bước được đẩy lùi . Theo lêniin thời kì quá độ lên CNXH là thời kì tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp với những nội dung và hình thức mới của đời sống xã hội để tổ chức và xây dựng thành công một xã hội mới xã hội XHCN . Như vậy xét về mặt bản chất thì thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nằm trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội CSCN . Nhưng do điểm xuất phát , trình độ phát triển , điều kiện lịch sử , truyền , truyền thống khác nhau cho nên từng quốc gia có tính đặc thù khác nhau , dẫn đến bước đi , hình thức nhịp độ phát triển không giống nhau . Nó đòi hỏi ĐCS phải vận dụng linh hoạt , sáng tạo các nguyên lý , quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình , dân tộc mình . Câu 9 : phân tích những đặc điểm của giai cấp công nhân và những nội dung để xác định khái niệm về giai cấp công nhân . Khái niệm về giai cấp công nhân Về phương thức lao động , phương thức sản xuất : Đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính công nghiệp hiện đại và xã hội hoá cao Về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN : Đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất , phải bán sức lao động cho tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Phân tích : ngày nay , do sự phát triển của CNTB , bộ mặt của giai cấp công nhân co nhiều thay đổi . Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân cũng có sự biến đổi theo hướng mở rộng : bên cạnh công nhân của nên công nghiệp cơ khí đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp hoá với viếc ứng dụng phổ biến của công nghệ thông tin vào sản xuất . Cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật , giai cấp công nhân có su hướng tri thức hoá ngày càng tăng và ngày càng tiếp thu thêm nhiều từ tầng lớp trí thức vào hàng ngũ mình . Do đó , giai cấp công nhân ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng . Nhưng sự phát triển của trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân là người làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản , trước đây giai cấp công nhân bán sức lao động chân tay thì nay họ phải bán cả sức lao động chân tay và trí óc Ở các nước tư bản do sự phát triển của sản xuất và văn minh , đời sống của người công nhân đã có sự thay đổi quan trọng : phần đông họ không còn là người vô sản hoàn toàn , đã bắt đầu có những TLSX phụ , một số công nhân đã có cổ phần trong xi nghiệp . Nhưng thực tế TLSX quyết định cơ bản nền sản xuât TBCN vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản , người công nhân vân chỉ là người đi bán sức lao động cho giai cấp tư sản , họ bi bóc lột với các hình thức ngày càng tinh vi hơn . Ở các nước XHCN , giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền , lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại xã hội cũ , xây dựng xã hội mới . Trong thời kì tiến lên XHCN , xét toàn bộ giai cấp thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ , nhưng trong điều kiện còn nhiều thành phần kinh tế thì còn một bộ phận công nhân phải làm thuê cho các doanh nghiệp tư nhân , họ vẫn bị các chủ sở hữu bóc lột về giá trị thặng dư Định nghĩa hoàn chỉnh : Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định , hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại , với nhịp độ phát triển của TLSX có tính chất xã hội hoá ngày càng cao ;là LLSX cơ bản và tiên tiến và gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất , tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo quan hệ xã hội ; là lực lượng chủ yếu của tiến trình từ CNTB nên CNXH . Ở nước ta tư bản , giai cấp công nhân là những người không có hoặc cơ bản không có TLSX , phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; Ơ các nước XHCN ,họ là những người cùng nhân dân lao động làm chủ những TLSX chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội , trong đó có lợi ích của chính đảng và bản thân họ . Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Trong thời kì chuyển biến của cách mạng xã hội loài người , từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác hơn luôn có một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm , đóng vai trò là động lực chủ yếu là lực lượng lãnh đạo của quá trình chuyển biến đó . Giai cấp này có nhiệm vụ lịch sử là thủ tiêu chế độ xã hội cũ , xây dựng chế độ xã hội mới phù hợp với yêu cầu khách quan của tiến trình lịch sử . Toàn bộ những nhiệm vụ và mục tiêu đó được gọi là sứ mệnh của một giai cấp Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lãnh đạo các tâng lớp nhân lao động đấu tranh để xoá bỏ giai cấp tư sản , từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và CNCS . Tức là xoá bỏ chế độ người bóc lột người , xoá bỏ áp bức bất công và phân chia xã hội thành những giai cấp đối kháng để giải phóng bản thân và xã hội , xây dựng một xã hội tự do cho mọi người là tự do cho tất cả mọi người . Đây là nội dung cơ bản bao trùm sứ mệnh lich sử của giai cấp công nhân Câu 8: Những quan điểm quan điểm cơ bản của các nhà xác lập của CNKH về điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ? Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất : Tính chất tiên tiến được biểu hiện trong lao động sản xuất , trong đấu tranh xây dựng xã hội mới ...tính chất tiên tiến này là đặc điểm cơ bản quy định sứ mệnh của giai cấp công nhân . Nó do các yếu tố khach quan quy định : Họ là lực lượng nằm trong guồng máy sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại , guồng máy trên đòi hỏi giai cấp công nhân cần phải không ngừng nâng cao trình độ tri thức , khoa học công nghệ kĩ năng kĩ sảo ....... Tính chất tiên tiến của giai cấp công nhân còn do giai cấp công nhân ngày càng được bổ xung những tri thức do nhận thức được quy luật tất yếu của lịch sử hình thành và phát triển của chính giai cấp mình . Mặt khác trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản , đã cung cấp cho giai cấp công nhân những kinh nghiệm đấu tranh chính trị giúp cho họ trở thành giai cấp tiên tiến . Họ có một học thuýêt cách mạng và khoa học soi đường , đó là chủ nghĩa mác lênin . Họ có sự lãnh đạo của đảng cộng sản là đội tiền phong chính trị chỉ đường dẫn lối cho phong trào đấu tranh giai cấp công nhân . Giai cấp công nhân là lực lượng có tinh thần cách mạng triệt để : Tính triệt để trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân là không phải duy trì chế độ tư hữu mà xoá bỏ toàn bộ chế độ tư hữu , xoá bỏ hình thức bóc lột , xoá bỏ sự khác biệt giai cấp , xây dựng một chế độ xã hội mới , ấm no hạnh phúc . Một xã hội mà : làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu . Tính triết để cách mạng đó có được là do : Dưới chế độ TBCN giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất , bị áp bức bóc lột nặng lề . Mẫu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng gay gắt không thể điêu hoà được . Do đó mọi yêu cầu đặt ra là : muốn giải phong giai cấp vô sản thì phải làm một cuộc cách mạng lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thiết lập một chế độ xã hội mới XHCN và CNCS . Do giai cấp công nhân được vũ trang hoá bằng hệ tư tưởng tiên tiến là học thuyết mac lenin được đảng cộng sản lãnh đạo , giúp giai cấp công nhân nhận thức thế giới và cải tạo thế giới theo luật phát triển của lịch sử . Giai cấp công nhân là giai cấp co tính tổ chức và kỉ luật cao Tính tổ chức kỉ luật thể hiện ở chỗ : họ được tập hợp thành một đội ngũ có sự kết cấu trặt chẽ , kỉ luật nghiêm minh trong sản xuất cũng như trong chiến đấu . Đặc điểm này có được là do : Điều kiện sản xuất tập trung và trình độ kĩ thuật ngày càng hiện đại , có cơ cấu tổ chức sản xuất chặt chẽ .... đã tôi luyện giai cấp công nhân có tính hiện đại tính tổ chức và kỉ luất cao . Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản , với bộ máy đàn áp khổng lồ và nhiều thủ đoạn của giai cấp tư sản , đòi hỏi giai cấp công nhân phải đoàn kết lại thành một tổ chức mới chiến thắng được kẻ thù . Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế và bản chất dân tộc : Đặc điểm này thể hiện ở tinh thần đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản chân chính cùng đấu tranh vi mục tiêu chung là xoa bỏ chủ nghĩa TBCN , xây dựng xã hội mới xã hội XHCN và CSCN của giai cấp công nhân . Bản chất trên có được là do : Do phương thức sản xuất của giai cấp TBCN quy định , đó là quy trình quốc tế hoá sản xuất tạo cho giai cấp liên minh với nhau . Do giai cấp tư sản liên minh với nhau trên phạm vi thế giới để chống lại phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức . Do đó muốn hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc , giải phóng giai cấp trên toàn thế giới , công nhân phải đoàn kết lại , phối hợp đấu tranh trên phạm vi toàn quốc tế . TÓM LẠI : trên đây là những đặc điểm cơ bản mang tính phổ biến của giai cấp công nhân trên toàn thế giới , được hình thành từ địa vi kinh tế - xã hội trong lòng phương thức sản xuất TBCN . Vì thế , nó được lịch sử giao phó cho sứ mệnh lịch sử trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản , xây dựng CNXH và CSCN . Nhưng do điều kiện đặc thù của từng nước mà giai cấp công nhân có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình ở các mức độ khác nhau . CÂU 10 : phân tích quan điểm của lênin và hồ chí minh về điều kiện thành lập đảng cộng sản và mối quan hệ của đảng với giai cấp công nhân ? Các quan điểm của lênin và hồ chi minh về thành lập đảng cộng sản . Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất hiện một cách khách quan song để biến khả năng khách quan ấy thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ quan . Trong những nhân tố chủ quan ấy , việc thành lập đảng là yếu tố quyết định nhất đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình . Giai cấp công nhân nằm trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa , nó ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng , đi từ tự phát lên tự giác . Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt tới tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng chủ nghĩa mác lênin thì giai cấp công nhân mới nhận thức được vị trí và vai trò của mình trong xã hội , nguồn gốc tạo nên sức mạnh và biết tạo nên sức mạnh đó bằng sự đoàn kết , nhận rõ mục tiêu con đường và những biện pháp giải phóng giai cấp mình , giải phóng xã hội và giải phóng nhân loại . Phải có chủ nghĩa mác soi sáng , giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ nhận thức lí luận về vai trò lịch sử của mình . Sự xâm nhập của chủ nghĩa mác vào phong trào công nhân đã dẫn tới sự hình thành chính đảng của giai cấp công nhân . Lênin đã thấy được tính quy luật khi ông nghiên cứu vấn đề thành lập đảng trong điều kiện CNTB đã chuyển sang CNĐQ , Lênin chỉ ra rằng : đảng là sự kết hợp phong trào công nhân với chủ nghĩa mác . + Sự kết hợp đó tạo cơ sở vững chắc cho cả hai : chủ nghĩa mác cần phong trào công nhân với tư cách là lực lượng để thực hiện chủ nghĩa của mình và phong trào công nhân cần chủ nghĩa mác làm con đường soi , dẫn lối đấu tranh . + Nhưng lênin cũng chỉ ra mỗi nước khác nhau sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử được thực hiện bằng con đường đặc biệt , tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian . Hồ chí minh khi tiếp thu luận điểm này đã khẳng định tính đúng đắn của nó . Nhưng người cũng nhận thấy hạn chế là luận điểm này chưa tính đến các quốc gia lạc hậu kém phát triển nơi có phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ và chiếm ưu thế . Trong các nước đó , bên cạnh phong trào công nhân , phòng trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân chiếm vị trí vô cùng to lớn . Chính vì vậy Hồ chí minh đã cho rằng : ở các nước kém phát triển như viêt nam , đảng cộng sản ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa máclênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước . Chỉ có sự lãnh đạo của đảng cộng sản , giai cấp công nhân mới chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác . C.mác đã nhấn mạnh rằng trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản , chỉ khi nào GCVS tự tổ chức được một chính đảng độc lập thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp được . Mối quan hệ giữa đảng cộng sản và giai cấp công nhân . Đảng chính là tổ chức cao nhất , đại biểu tập trung cho trí tuệ và lợi ích của toàn giai cấp đối với giai cấp công nhân và đảng công sản , chẳng những đại biểu cho tri tuệ và lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động và dân tộc . Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội – giai cấp của đảng , là nguồn bổ sung cho lực lượng của đảng . Đảng là đội ngũ tiên phong chiến đấu , là bộ tham mưu giai cấp , là biểu hiện tập trung lợi ích , nguyện vọng phẩm chất trí tuệ của giai câp công nhân và dân tộc . Giữa đảng cộng sản và giai cấp công nhân có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời . Những đảng viên của DCS có thể không phải là của giai cấp công nhân nhưng phải là người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và đứng trên lập trường của giai cấp này . Với một đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đảng chính là sự lãnh đạo của giai cấp . Đảng với giai cấp là thống nhất nhưng đảng có trình độ lí luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo cả giai cấp và dân tộc vì thế không thể lẫn lộn giữa đảng và giai cấp . Đảng đem lại giác ngộ cho toàn giai cấp , sức mạnh đoàn kết , và nghị lực cách mạng ,trí tuệ và hành động cách mạng của toàn bộ giai cấp , trên cơ sở đó lôi quấn tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác và cả dân tộc đứng lên hành động theo hướng đường lối của đảng nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình . CÂU 5 : Phân tích điều kiện để giai cấp công nhân Viêt nam làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình đối với cách mạng việt nam ? Vài nét về sự ra đời của giai cấp công nhân việt nam Giai cấp công nhân việt nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần một của thực dân pháp và liên tục phát triển mạnh mẽ trong cuộc khai thác thuộc địa lần hai . Ra đời muộn , cuộc khai thác thuộc địa lần một của thực dân pháp . Số lượng còn bé , trình độ thấp hơn nhiều so với công nhân các nước TBCN phát triển . Đa số là giai cấp nông dân bị phá sản do chính sách cướp ruộng đất của thực dân pháp . Truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân VN Giai cấp công nhân nhanh chóng vươn lên đảm nhận sứ mệnh của mình . Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , giai cấp công nhân là người lãnh đạo cách mạng cách mạng Việt nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác . Như cách mạng tháng 8/1945; cuộc kháng chiến chống pháp 9 (1946-1954). Đặc biệt là thời kì đổi mới , hiện nay giai cấp công nhân đang là lực lượng xung kích trên mọi mặt trận như : phát triển kinh tế văn hoá , xã hội , và bảo vệ tổ quốc , nhằm góp phần đưa đất nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH và CSCN . Tuy nhiên hiện nay giai cấp công nhân việt nam đang đứng trước hiện trạng : Hiện nay giai cấp công nhân việt nạm có khoảng 5 triệu người . Họ lao động ở mọi thành phần kinh tế của đất nước chiếm 1.6 thành phần dân số , 1.6 lực lượng xã hội , đây là lực lượng làm ra sản phẩm chiếm 3.7%tổng sản phẩm toàn quốc . So với trình độ của đất nước thì số lượng công nhân vẫn còn thấp , trình độ văn hoá không đồng đều . Trước sự chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế , đội ngũ giai cấp công nhân nước ta có sự biến động mạnh về nơi làm việc thu nhập mức sống điều kiện làm việc chăm sóc sức khoẻ . Đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân việt nam . Từ khi xuất hiện vũ đài đấu tranh , giai cấp công nhân việt nam là giai cấp mới xuất hiện , là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới , có địa vị kinh tế xã hội và những đặc trưng cơ bản có sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế . Song sự hình thành của giai cấp công nhân việt nam có những đặc điểm riêng . Do những đặc điểm riêng về kinh tế chính trị vê xã hội về lịch sử văn hoá cho nên giai cấp công nhân việt nạm vừa có đặc điểm riêng vừa có đặc điểm chung . Điều đó cắt nghĩa vì sao giai cấp công nhân viêt nam giai cấp công nhân việt nạm tuy non trẻ chưa phát triển về số lượng cũng như chất lượng , nhưng đã đảm bảo là người lãnh đạo cách mạng dân chủ nhân dân , sau đó tiến hành lên cách mạng XHCN . Những đặc điểm chủ yếu là : Thứ nhất : họ không phải là sản phẩm trực tiếp nền đại công nghiệp mà là sản phẩm của hai cuộc xâm lược khai thác của thực dân pháp . Thứ hai : Giai cấp công nhân việt nam ra đời trước khi giai cấp tư sản xuất hiện sớm có đảng mac-lênin lãnh đạo , do phần lớn xuất thân từ giai cấp nông dân nên dễ dàng thực hiện liên minh công nông bền vững , cơ sở của mối đại đoàn kết rộng rãi . Thứ ba : Ra đời muôn ở một nước nửa thực dân nửa phong kiến , công nghiệp chưa phát triển , chịu ba tầng áp , bóc lột ( Phong kiến , tư sản , đế quốc) nhưng kế thừa lòng yêu nước nồng làn ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc Thứ tư : giai cấp công nhân viêt nam xuất hiện sau cách mạng tháng mười nga vĩ đại không bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa , no luôn gắn bó với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế . TÓM LẠI : Những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế kết hợp với những đặc điểm riêng của giai cấp công nhân viêt nam đã giúp cho giai cấp công nhân viêt nam sớm đứng trên vị trí tiên phong lãnh đạo cách mạng việt nam trong cách mạng dân tộc dân chủ và ngày nay giai cấp công nhân việt nam cùng toàn thể dân tộc lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN từng bước dành thắng lợi hết sức to lớn CÂU 4 : Quan niệm thời đại hiện nay ? Phân tích rõ nội dung cơ bản , tính chất và những mẫu thuẫn cơ bản của thời đại hiện nay ? Quan niệm về thời đại ngày nay : Cách mạng tháng mười mở đầu cho một thời kì xã hội mới trong lịch sử thế giới . Đó là thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH , đưa nhân dân lao động lên làm chủ . Chủ nghĩa xã hội với tính ưu việt của nó đã thúc đẩy hàng loạt các nước đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc dân chủ cho nhân dân , xoá bỏ tàn tích của chủ nghĩa thực dân phong kiến . Nhiều nước trong số đó đã lựa chọn con đường lên chủ nghĩa xã hội . Chủ nghĩa xã hội đã vượt qua phạm vi của một nước trở thành một hệ thống trên toàn thế giới độc lập với thế giới tư bản chủ nghĩa . Cách mạng tháng mười đã mở đầu cho thời đại mới thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới vì : Sau cách mạng tháng mười nga chủ nghĩa xã hội từ lí luận đã trở thành thực tiễn , đã xuất hiện HTKT – XHCSCN Xu hướng vận động của lich sử từ sau cách mạng tháng mười là đấu tranh xoá bỏ trật tự TBCN , thiết lập và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Sau cách mạng tháng mười nga các nước xã hội chủ nghĩa phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế trở thành lực lượng nòng cốt đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hoà bình , dân tộc dân chủ trên phạm vi toàn thế giới Sau cách mạng tháng mười , cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng xã hội chủ nghĩa , nhiều nước sau khi dành được độc lập dân tộc đã đi lên con đường chủ nghĩa xã hội Tính chất của thời đại ngày nay Thời đại ngày nay đang diễn ra cuộc đấu tranh gay go , quyết liệt giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trên tất cả các mặt đời sống xã hội : + Trong lĩnh vực kinh tế : CNTB đang dựa vào lợi thế kinh tế của mình nhằm mọi cách để phá hoại , hạn chế sự phát triển kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa bằng cách bao vây cấm vận kinh tế , hoặc thông qua chính sách kinh tế toàn cầu hoá để tiếp tục áp bức bóc lột những nước nghèo . Chủ nghĩa xã hội đang tìm cách khẳng định mình bằng cách huy động mọi tiềm năng , trí tuệ nhân dân , điều chỉnh những sai lầm trong cải cách , đổi mới khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế , tranh thủ những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại để chứng minh tính ưu việt của nên kinh tế xã hội chủ ngiã . + Trong lĩnh vực chính trị : các đảng tư sản chủ nghĩa đế quốc đang dùng mọi cách để tuyên truyền quảng bá cho chế độ dân chủ tư sản , tự do tư sản , và can thiệp công việc nội bộ của các nước dùng chiến lược diễn biến hoà bình nhằm lật đổ nhà nước XHCN .Các nước XHCN các DCS phải tỉnh táo và chủ động kiên quyết đấu tranh nhằm làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù bảo vệ đảng ,boả vệ nhà nước xhcn , bảo vệ thành quả cách mạng . + Trong lĩnh vực tư tưởng : chủ nghĩa tư bản dựa vào ưu thế kinh tế khoa học công nghệ và sức mạnh quân sự đang tìm mọi cách phổ biến những giá trị của phương tây tuyên truyên tư tưởng đa nguyên chính trị , đa đảng hoặc phi giai cấp , phi ý thức phi chính trị , nhằm làm lẫn lộn đúng sai phải trái nhằm chống lại chủ nghĩa xã hội và những lực lượng hoà bình tiến bộ trên thế giới . Đặc biệt với những nước CNXH ,CNDQ đã thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình , tuyên truyền những lý thuyết tư sản , tìm mọi cách phủ nhân học thuyết mac lênin , mặt khác chúng tìm mọi cách mua chuộc , làm thoái hoá về tư tưởng đạo đức nối sống trong một bộ phận cán bộ đảng viên , tìm mọi cách chia rẽ cán bộ với đảng với nhân dân ....cá c đảng cộng sản phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh tư tương bằng nhiều cách khác nhau , phê phán những tư tưởng phản động .... Những mẫu thuẫn cơ bản của thời đại hiên nay Nội dung cơ bản cuả thời đại ngày nay do những mẫu thuẫn cơ bản của thời đại quy đinh . Hiiện nay trên phạm vi trên toàn thế giới tồn tại 4 mâu thuẫn sau : Mâu thuẫn giữa CNTB và CNXH . Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất vì sự vận động của mâu thuẫn nay tác động đến những mâu thuẫn còn lại . Các nước đế quốc nhằm tìm mọi cách xoá bỏ chur nghĩa xã hội trên thế giới từ cách mạng tháng 10 cho tới nay . Ngày nay một số nước XHCN đã có quan hệ ngoại giao , kinh tế với các nước tư bản chủ nghĩa nhưng không có gnhĩa là mâu thuẫn nay đã dịu bớt mà nó được biểu hiện ở những dạng mới vừa hớp tác vừa đấu tranh trên nhiêu phương diện Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân , giữa tư bản và lao động . Trừng nào chủ nghĩa tư bản còn tông tại thi mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản vẫn còn tồn tại một cách khach quan . Hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thực hiện tăng phúc lợi xã hội nhưng sự phân hoá giầu nghèo vẫn diễn ra quyết liệt sự phân hoá giầu nghèo gia tăng (ở mỹ 1% người giầu chiếm 37% tài sản quốc dân , ở pháp 10% người giầu chiếm 51%tài sản xã hội ) . Trước đây trong các nước TBCN mâu thuẫn cơ bản xảy ra giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản thì nay nó phát triển thành mẫu thuẫn giữa tb và lao động , tức là cả những người lao động khác cũng bị bóc lột Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc với ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 và hệ thống các nước XHCN , hơn 100 nước đã dành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau . Song các nước này có trrình độ kinh tế văn hoá thấp kém nên vẫn phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa về khoa học kĩ thuật , tài chính ..... ở các mức độ khác nhau nên tất yếu bị phụ thuộc về chính trị . Hiện nay các nước chậm phát triển một mặt phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại sự can thiệp và xâm lược bằng quân sự kinh tế văn hoá của các nước phương tây ; mặt khác phải đấu tranh chống lại nghèo đói bệnh tật lạc hậu .... Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa . Các nước tư bản co sự thống nhất với nhau về bản chẩt chế độ , về lợi ích giai cấp , về mục tiêu chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng , những lực lượng tiến bộ trên thế giới . Song giữa chúng có những mâu thuẫn về lợi ích quốc gia lợi ich của các tập đoàn tư bản do vậy luôn diễn ra những cuộc đấu tranh lúc công khai lúc ngấm ngầm hiện nay mâu thuẫn này được thể hiện thông qua mâu thuẫn giữa ba trung tâm tư bản lớn : Mỹ - Nhật – Tây âu . Thế giới hiện nay đang tồn tại 4 mâu thuẫn cơ bản trên . Những mâu thuân nay quy định nội dung cơ bản của thời đại hiện nay . Sự vận động của những mâu thuân này là quanh co phức tạp do sự vận động của quá trình đi nên chủ nghĩa xã hội trên thế giới cung quanh co phức tạp . CÂU 11: Dân chủ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là gì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- lênin ? Dân chủ đó là việc thực thi quyền lực của nhân dân Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa : Về chính trị : dưới lãnh đạo duy nhất của một đảng của một giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân , thể hiện qua các quyền dân chủ , quyền con người , thoả mãn nhu cầu ngày càng cao và lợi ích của nhân dân . Hồ chí minh chỉ rõ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là nhân dân , bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân , bao nhiêu lợi ích vì đều vì nhân dân ,dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất của giai cấp công nhân , vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc . Về kinh tế : Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuầt dựa trên khoa học công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao của những nhu cầu vất chất tinh thần của nhân dân , kinh tế xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa phát triển của mọi thành tựu của nhân loại . Về tư tưởng văn hoá : Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng mác- lênin làm nền tảng , chủ đạo với mọi hình thái ý thức xã hội khác . Đồng thời kế thừa , phát huy những tinh hoa văn hoa truyền thống các dân tộc . Quan niệm của chủ nghĩa Mác- lênin về dân chủ : Kế thừa những nhân tố hợp lí , những hoạt động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ , chủ nghĩa Mác- lênin cho rằng : + Dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động ; dân chủ là quyền lực của nhân dân ,giai cấp . Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất thống trị xã hội . + Từ khi có nhà nước dân chủ , thì dân chủ còn có ý nghĩa là một hình thức nhà nước , trong đó chế độ bầu cử , bãi miện các thành viên của nhà nước , có quàn lý xã hội theo pháp luật và thừa nhận nhà nước đó “ quyền lực thuộc về nhân dân “ . + Với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng , đều do một giai cấp thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của xã hội , do vậy nó cũng chi phối tính dân tộc , chế độ chính trị , kinh tế , văn hoá ... CÂU 17 : Thế nào là hệ thống chính trị , Cơ cấu của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ? Phương hướng cải cách nhà nước ta hiện nay ? Định nghĩa : Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là : Đó là hệ thống các tổ chức chính trị căn bản có quy mô quốc gia , có ý nghĩa chiến lược đối với sự tồn tại , ổn định và phát triển của một nhà nước xã hội chủ nghĩa ; được hình thành và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật , phù hợp với vai trò nhiệm vụ , chức năng của mỗi tổ chức và mối quan hệ giữa các tổ chức đó . Cơ cấu vai trò của các tổ chức trong hệ thống:trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa gồm: đảng ,nhà nước , công đoàn và một số tổ chức khác như “ những bánh răng cưa “ tạo ra “ mối liên hệ giữa đội tiên phong với quân chúng “ Hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm : + Đảng cộng sản + Nhà nước XHCN + Các đoàn thể của nhân dân Chức năng cơ bản của các tổ chức là : Đảng lãnh đạo , nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ tất cả quyền lực là của dân .Về nhà nước XHCN -Bản chất của nhà nước XHCN (nhà nước chuyên chính vô sản) do đó trước hết nó mang bản chất giai cấp công nhân(tức giai cấp vô sản) vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc. -Nhà nước ta: Đó là nhà nước của dân,dodân,vì dân...cũng nói lên một cách tổng hợpvề bản chất , thực chất Nhà nước của ta-nhà nước XHCN. -Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước XHCN thể hiện tập trung ở việc quản lý XH trên tất cả các lĩnh vực của toàn XH chủ yếu bằng pháp luật,chính sách ,pháp chế XHCN và hệ thống cơ quan nhà nươcs từ TƯ đến cơ sở. -Nhà nước ta quán triệt và thể hoá quan điểm, đường lối cách mạng ,chủ trương lãnh đạo của đảng thành hiến pháp, pháp luật,chế pháp,chính sách,kế hoạch biện pháp...của nhà nước để chỉ đạo thực hiện thông qua quá trình thưch hiện của toàn đảng,toàn dân và toàn quân trên mọi lĩnh vực. -Nhà nước XHCN thực hiện chức năng chuyên chính đối với mọi tộ phạm và mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập,chủ quyền đất nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhân dânngà càng thể hiện được quyền lực, các quyền dân chủ và lợi ích của mình về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá thông qua nhà nước. Đó là những chức năng, nhiệm vụ đối nội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn có chức năng, nhiệm vụ đối ngoại là mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị đối với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. . Về xây dựng và chỉnh đốn đảng Mục đích là nhằm giữ vững nâng cao vai trò, năng lực, hiệu quả và uy tín của đảng Vai trò chức năng của đảng là lãnh đạo xã hội trên mọi lĩnh vực Phương thức lãnh đạo của đảng: chủ yếu là lãnh đạo bằng hệ tư tưởng Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua đường lối cách mạng, chử trương lớn, chiến lược phương pháp cách mạng Phương pháp lãnh đạo chủ yếu của đảng phải tương xứng: đó là phương pháp giáo dục tuyên truyền lý luận, nhận thức, phương pháp tổ chức thực tiễn, phương pháp kiểm tra và phương pháp nêu gương Đổi mới đảng phải chú ý đổi mới tư duy lý luận, đổi mới và dân chủ hơn trong sinh hoạt đảng nâng cao chất lượng cán bộ đảng viên, đổi mới nâng cao chất lương các tổ chức đảng . Các đoàn thể nhân dân Đổi mới nội dung phương thức hoat động của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Mặt trận tổ quốc là tổ chức chính trị rộng rãi nhất tập hợp tất cả các giai câp, các tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo...cùng tán thành mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Đó là khối đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng Các tổ chức này cần quán triệt chức năng nhiệm vụ trong quá trình đổi mới là: vừa bảo vệ lợi ích chính đáng của các đoàn viên, vừa tập hợp động viên giúp đỡ lân nhau...chấp hành tốt đường lối cách mạng của đảng, pháp luật nhà nước...vì lợi ích của mình và toàn dân tộc Phương châm hoat động thẻ hiện ở tính: tự nguyện, dân chủ hiệp thương, phối hợp hành động Các tổ chức này đều hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam (ở các cấp tương dương) và trong khuôn khổ pháp luật nhà nước. Phương hướng cải cách nhà nước ta hiện nay . Đại hội IX của đảng đã đề ra là : Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ,dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam . Đảng ta chỉ rõ : “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân , là nhà nước pháp quyền do dân vì dân . Quyền lực của nhà nước là thống nhất , có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp và hành pháp , tư pháp .... Đổi mới quốc hội cơ quan quyền nước cao nhất của nhà nước ta . Ở nước ta do cử tri cả nước bầu r bằng phiếu kín. Chức năng quyền hạn lớn nhất của quốc hội là nghiên cứu ban hành hiến pháp và hệ thống pháp luật ; đồng thời làm chức năng giám sát vì vậy cần nâng cao năng lực am hiểu về pháp luật của các cơ quan đại biểu quốc hội .Trên cơ sở đổi mới Quốc hội mà kiện toàn , nâng cao năng lực và hiệu quả của các cấp hội đồng nhân dân với những chức năng nhiệm vụ quyền hạn và nội dung cụ thể ,gắn với các địa phương cơ sở . Đối với chính phủ và các cơ quan hành pháp . Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của việc thực hiện các quyền dân chủ , làm chủ , quyền con người , quyền lực của nhân dân trên thực tế mọi lĩnh vực xã hội Phải tiến hành cải cách hành chính . Trước hết là cải cách thủ tục hành chính , đặc biệt là thủ tục liên quan đến công nhân và doanh nghiệp . Cải cách bộ máy hành chính theo hướng bố trí lại cơ quan nhà nước cho tinh gọn , năng động và quản lý vĩ mô có hiệu quả ...thực thi chính sách , pháp luật , kế hoạch ...phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên cả nước . Từng bước hiện đại hoá cơ quan hành chính các cấp , trong đó có vấn đề vai trò , hoạt động ( hành chính công ) Đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước bằng cách nâng cao chất lượng đào tạo , đào tạo lại công chức theo yêu cầu cải cách nhà nước , đổi mới việc quản lý , đánh giá sử dụng đãi ngộ cán bộ . Tăng cường vai trò lãnh đạo của trung ương đảng và các cấp uỷ đảng đối với mọi mặt tổ chức và hoạt động của nhà nước ta trong quá trình cải cách nhà nước ,sao cho đúng định hướng : Nhà nước ta ngày càng vững mạnh , thể hiện trên thực tế là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam , của dân ,do dân và vì dân . CÂU 13 : Dân tộc là gì ? hai xu hướng khách quan của sự phát triển của các dân tộc trong thời đại ngày nay ? Dân tộc được hiểu theo hai khái niệm sau : Một là : chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững , có sinh hoạt kinh tế chung , có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù ; xuất hiện sau bộ lạc ; bộ tộc; kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Hai là : chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước , có lãnh thổ , quốc gia , nền kinh tế thống nhất quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình , gắn bó với nhau , bởi lợi ích chính trị , kinh tế truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và dữ nước . Với nghĩa thứ nhất , dân tộc là một bộ phận của một quốc gia . Với nghĩa thứ hai , dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó quốc gia dân tộc Hai xu hướng khach quan của sự phát triển các dân tộc : Nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc . Xu hướng sự thức tỉnh , sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để xác định các cộng đồng dân cư độc lập . Xu hướng các dân tộc trong cùng quốc gia , thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau . Các nước xã hội chủ nghĩa Hai xu hướng này tác động cùng chiều , bổ xung hộ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc . Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện , bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ phồn vinh xích lại gần nhau giữa các dan tộc trong cung quốc gia có nghĩa là những tinh hoa , những giá trị của từng dân tộc đó thâm nhập vào nhau , bổ xung hoà quyện vào nhau để tạo thành những giá trị chung , Tuy nhiên , nó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc , ngược lại nó bảo lưu giữ gìn phát triển tinh hoa , bản sắc của từng dân tộc .Trong các nước xã hội chủ nghĩa hai xu hướng trên đều loại trừ tư tưởng và hành vi kì thị dân tộc, chia rẽ dân tộc , tư ti dân tộc , dân tộc hẹp hòi , xung đột dân tộc . Xét trên phạm vi toàn thế giới . Thời đại ngày nay là thời đại mà các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy xoá bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc vả giành lấy sự tự quyết định vào vận mệnh của đất nước minh. Thời đại ngày nay còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại thành một quốc gia thống nhất . Đặc vào những năm 90 của TK XX xu hướng toàn cầu hoá , khu vực hoá của thế giới tăng lên rõ rệt không chỉ có tác động đến kinh tế mà còn tác động tới chính trị . Sự liên minh đó tạo ra sức hút trên toàn cầu nhằm giải quyết những vấn đề của nhân loại . _ Dựa trên hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc Đảng ta đã khẳng định : “ giữ vững độc lập tự chủ , đi đôi , mở rộng hợp tác quốc tế , đa phương hoá , đa dạng hoá quan hệ đối ngoại . Đây là nguyên tắc trong đối ngoại của đàng ta. CÂU 14 : Phân tích nội dung cơ bản “ Cương lĩnh dân tộc “ của chủ nghĩa Mác lênin và nội dung cơ bản của các chính sách dân tộc của đảng và nhà nước việt nam. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng : Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là các dân tộc dù lớn hay nhỏ , không phân biệt trình độ phát triển cao thấp , trong quan hệ với nhau đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau , không dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi , về địa vị kinh tế văn hoá chính trị ... trong quan hệ xã hội ,cũng như trong quan hệ quốc tế , không dân tộc nào được đi áp bức bóc lột dân tộc khác . Quyền bình đẳng là quyền thiêng liêng của dân tộc , là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc , là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ giữa các dân tộc Các dân tộc trong một quốc gia bình đẳng nhau về quyền lợi và nghĩa vụ , quyền bình đẳng đó được pháp luật bảo vệ . Tuyên ngôn độc lập ngày mùng 2-9-1945 của nước ta được chủ tịch hồ chí minh công khai tuyên bố trước đồng bào ta và trên thế giới : “ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng , dân tộc nào cũng có quyền sống , quyền sung sướng và quyền tự do “ . Nghị quyết của đảng IX khẳng định : “ Mở rộng quan hệ với các nước ...theo nguyên tắc tôn trọng độc lập , chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ , không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau , không dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực , bình đẳng cùng có lợi giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình , làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép , áp đặt và cường quyền “. b.Các dân tộc được quyền tự quyết : - Quyền tự quyết của các dân tộc trước hết là quyền tự quyết về mặt chính trị , tức là quyền làm chủ của dân tộc , quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình , là quyền tự do phân lập thành cộng đồng các dân tộc độc lập , tự do liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện , Khi thực hiện quyền tự quyết cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân , đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu ly khai , chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch - Dân tộc đã tự lựa chọn con đường đi cho mình do ĐCSVN và HCM lãnh đạo , đó là con đường lên chủ nghĩa xã hội con đường duy nhất mang hạnh phúc đến cho dân tộc ta . c. Liên hiệp công nhân khắp cả nước - Đây là nội dung quan trọng trong cương lĩnh về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- lênin , phán ánh sự thống nhất về bản chất của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp . - Đoàn kết liên hiệp công nhân các dân tộc lại là cơ sở cho sự đoàn kết nhân dân lao động các nước , các dân tộc trong cuộc đấu tranh giai cấp ,giải phóng dân tộc . - Liên hiệp công nhân các dân tộc lại không chỉ là khẩu hiệu chiến lược , mà còn là mục tiêu phấn đấu để giai cấp công nhân thế giới có đủ sức mạnh để hoàn thành sứ mệnh lịch sử . - Về mặt này đảng đã khẳng định : “ Tiếp tục mở rộng mối quan hệ bạn bè với các nước truyền thống , các nước độc lập dân tộc , các nước đang phát triển .... các nước phong trào không liên kết ủng hộ lẫn nhau cùng phát triển , phối hợp bảo vệ chính đảng của nhau ..củng cố và tằng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác của đảng cộng sản và công nhân , với các đảng cánh tả , các phong trào giải phóng dân tộc , với các phong trào tiến bộ trên thế giới “. Ngày nay vấn đề mâu thuẫn dân tộc là một vấn đề có tính chất thời đại , nhiều mâu thuẫn dân tộc , nhiều cuộc xung đột xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới mà nguyên nhân sâu xa của nó đều do chủ nghĩa tư bản gây ra . Để giải quyết được vấn đề đó chỉ có thể dựa trên cương lĩnh dân tộc của Lênin . CÂU 15 : Gia đình là gì ? Các đặc trưng cơ bản của gia đình ? Mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội ? Chức năng cơ bản của gia đình ? Định nghĩa gia đình : Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người , một thiết chế văn hoá xã hội đặc thù , được hình thành , tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân , quan hệ huyết thống , quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục ...giữa các thành viên . Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội ,gia đình được hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu dài , nó chịu sự quy định của những biến đổi trong sản xuất , trong đời sống kinh tế x ã hội . Gia đình được coi là một thiết chế xã hội đặc thù ,nhỏ nhất và cơ bản nhất . Gia đình còn là một văn hoá xã hội . Tính chất , bản sắc của gia đình được duy trì , bảo tồn là sáng tạo và phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình . Các đặc trưng cơ bản của gia đình . Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình thành , tồn tại và phát triển gia đình . Huyết thống , quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản đặc trưng của gia đình . Xuất phát từ những yêu cầu được đặt ra trong quan hệ với tự nhiên và giữa con người với nhau , cộng đồng gia đình đã luôn cư trú , quan hệ quần tụ trong một không gian sinh tồn . Quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và thế hệ thành viên trong gia đình là một nghĩa vụ và trách nhiệm , đồng thời là một quan hệ thiêng liêng của gia đình , của các thành viên gia đình với nhau . Mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội . Gia đình là tế bào của xã hội : + Nếu xã hội là một cơ thể sống hoàn chỉnh và không ngừng được biến đổi được sắp xếp , tổ chức trong nhiều mối quan hệ thì trong đó gia đình được xem là một tế bào của xã hội , một thiết chế cơ bản đầu tiên + Mỗi chế độ xã hội được sinh thành , vận động và biến đổi trên cơ sở một phương thức sản xuất xác định và có vai trò quy định đối với mỗi gia đình . Nhưng xã hội ấy lại tồn tại thông qua các hình thức kết cấu và quy mô gia đình . + Mỗi gia đình hạnh phúc , hoà thuận thì cả cộng đồng và xã hội tồn tại và vận động một cách yên bình . + Mục đích chung sự vận động của xã hội là vì lợi ích của các thành viên trong xã hội nhưng lợi ích của mỗi thành viên lại chịu sự chi phối lợi ích các tập đoàn giai cấp thống trị trong xã hội . Trình độ phát triển kinh tế - xã hội có vai trò quyết định đối với quy mô kết cấu hình thức tổ chức và tính chất của gia đình : + Quá trình tồn tại , phát triển và tiến bộ của gia đình phụ thuộc chủ yếu và trước hết vào những bước tiến trong sản xuất , trong trình độ phát triển của kinh tế của mỗi thời đại lịch sử . Gia đình là một thiết chế cơ sở , đặc thù của xã hội , là cầu lối giữa các thành viên gia đinh vỡi xã hội . Gia đình là tổ ấm mang lại giá trị hạnh phúc , sự hài hoà trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên , mỗi công dân xã hội . Chức năng của gia đình Chức năng tái sản xuất ra con người : là chức năng cơ bản và riêng có của mỗi gia đình : thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững chắc cho tổ chức đời sống gia đình . Chức năng giáo dục của gia đình : giáo dục con người tương đối toàn diện , cả về giáo dục tri thức lẫn kinh nghiệm , giáo dục và lợi ích lối sống , giáo dục nhân cách ý thức cộng đồng . + giáo dục gia đình là một bộ phận có quan hệ hỗ trợ , bổ xung hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà trường và xã hội . Chức năng thoả mãn các nhu cầu về tâm – sinh lý , tình cảm : Đây là chức năng có tính văn hoá – xã hội của gia đình . Chức năng nay có vị trí đặc biệt quan trong , cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc . VIỆN ĐAI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ TIN HỌC BÁO CÁO TỐT NGHIỆP MÔN HỌC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Sinh viên : .................................................................... Lớp : ......................... Hệ : ................................................... Giáo viên hướng dẫn : ......................................................... Ngày hoàn thành : ............................................................... HÀ NỘI 2007

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCNXH.doc
Luận văn liên quan