Chuyên đề Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí

LỜI NÓI ĐẦU Cùng với quá trình xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thành một Tập đoàn kinh tế mạnh, năm 2000 Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) đã được thành lập với nhiệm vụ chiến lược là đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam và vận hành sinh lời hiệu quả nhất mọi nguồn tài chính của ngành. Trên cơ sở đó, do hạn chế của việc quy định hạn mức tín dụng với các Tổ chức tín dụng và để tài trợ cho các dự án ngành với giá trị đầu tư ban đầu lên tới hàng nghìn tỷ đồng, hoạt động thu xếp vốn tín dụng đã được triển khai tại Công ty Tài chính Dầu khí nhằm đảm bảo có thể thực hiện được các dự án tốt mang lại hiệu quả cao cho sự phát triển của ngành và quốc gia. Có thể nói, hoạt động thu xếp vốn cho dự án được coi là nhiệm vụ trung tâm và hoạt động nền tảng của PVFC. Hơn nữa, cùng với sự lớn mạnh của Công ty Tài chính Dầu khí trong 6 năm vừa qua, hoạt động thu xếp vốn tín dụng dự án cũng đã được Công ty mở rộng đến các đơn vị, dự án ngoài Tổng Công ty, thuộc nhiều ngành kinh tế khác như điện, than, du lịch cao cấp, xây dựng cầu đường góp phần đem lại một khoản thu nhập đáng kể cho Công ty và nâng cao vị thế của Công ty Tài chính Dầu khí so với các Công ty Tài chính khác trực thuộc Tổng Công ty Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hoạt động thu xếp vốn tín dụng dự án, Công ty đã bộc lộ nhiều hạn chế về Quy trình nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan, cũng như hoạt động Marketing dòng sản phẩm thu xếp vốn tín dụng. Do đó, mặc dù hoạt động thu xếp vốn được coi là nhiệm vụ chính trị và được ưu tiên hàng đầu của PVFC trong giai đoạn vừa qua nhưng phương châm “không bỏ sót dự án của ngành dầu khí” vẫn chưa được thực hiện, đồng thời khả năng mở rộng ra các dự án ngoài ngành cũng chưa nhiều. Thực trạng đó đã đặt ra cho Công ty Tài chính Dầu khí nhu cầu cấp thiết phải có những giải pháp thích hợp và kịp thời để có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tập đoàn giao phó. Chính vì vậy, đề tài “Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí” đã được lựa chọn làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp. Nội dung chuyên đề được chia bố cục thành 3 chương. Trong đó: Chương 1: Khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến Công ty Tài chính và hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty Chương 2: Thực trạng hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 3 1.1. Những vấn đề chung về Công ty Tài chính 3 1.1.1. Khái niệm và phân loại Công ty Tài chính 3 1.1.2. Vai trò của Công ty Tài chính 6 1.1.3. Các hoạt động của Công ty Tài chính 6 1.2. Hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 8 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 8 1.2.2. Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn dự án 12 1.2.3. Quy trình thu xếp vốn cho dự án 15 1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu xếp vốn cho dự án 20 1.2.4.1. Các chỉ tiêu định lượng 20 1.2.4.2. Các chỉ tiêu định tính 21 1.3. Điều kiện để tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 22 1.3.1. Các diều kiện phía cung (phía Công ty Tài chính) 22 1.3.2. Các điều kiện phía cầu (phía ngoài Công ty Tài chính) 25 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 27 2.1. Giới thiệu về Công ty Tài chính Dầu khí 27 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 27 2.1.2. Mô hình tổ chức 29 2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh 30 2.2. Thực trạng hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu Khí 31 2.2.1. Sự cần thiết của hoạt động thu xếp vốn cho dự án đối với Công ty Tài chính Dầu khí 31 2.2.2. Các hình thức thu xếp vốn 34 2.2.1.1. PVFC nhận uỷ thác đàm phán, ký kết các hợp đồng tín dụng với các nhà tài trợ trong và ngoài nước cho các chủ đầu tư dự án. 35 2.2.1.2. PVFC cấp tín dụng trực tiếp cho dự án bằng nguồn vốn của Công ty hoặc nguồn vốn uỷ thác của TCT, và các tổ chức tài chính, tín dụng khác 38 2.2.1.3. Đồng tài trợ 40 2.2.3. Tình hình thực hiện hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 47 2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính Dầu khí 50 2.3.1. Kết quả đã đạt được 50 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 53 2.3.2.1. Hạn chế 53 2.3.2.2. Nguyên nhân 55 2.3.3. Đánh giá khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 57 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 59 3.1. Chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 59 3.1.1. Chiến lược phát triển Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 59 3.1.2. Nội dung chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 60 3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 63 3.2.1. Nâng cao chất lượng nhân sự trong bộ phận thu xếp vốn 63 3.2.2. Tăng cường phối hợp giữa các Tổ chức năng, phòng ban, các TCTD 64 3.2.3. Thiết lập hệ thống thông tin thẩm định dự án 65 3.2.4. Đẩy mạnh các hoạt động Marketing 67 3.2.5. Đa dạng hoá các nguồn huy động thu xếp vốn dự án 68 3.3. Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền 69 3.3.1. Kiến nghị với Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 69 3.3.2. Kiến nghị với Chính phủ và NHNN 70 KẾT LUẬN 72

doc79 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 15/05/2013 | Lượt xem: 1849 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
y tín của PVFC cũng như lợi ích của các bên tham gia. 2.2.3. Tình hình thực hiện hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí Như đã nói ở trên, hoạt động thu xếp vốn cho dự án luôn là một nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu và xuyên suốt của PVFC ngay từ những buổi đầu thành lập. Trong 6 năm qua với phương châm “không bỏ sót bất kỳ dự án nào trong ngành Dầu khí”, PVFC đã chủ động mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các ngân hàng thương mại trong nước nhằm tạo kênh huy động vốn trung và dài hạn một cách ổn định. Tính đến thời điểm hiện nay thì PVFC đã thu xếp được cho hơn 50 dự án với tổng giá trị thu xếp vốn hơn 7.000 tỷ đồng, trong đó thu xếp vốn cho dự án của ngành Dầu khí đạt 5.500 tỷ đồng, chiếm 70% tổng số dư thu xếp vốn với 38 dự án trong đó có trên 60% là các dự án lớn có số vốn vay trên 200 tỷ của Tổng Công ty và các đơn vị thành viên từ PVGAS, PTSC đến PVECC, PV Trans Co, PV Drilling…..Các dự án thu xếp thành công phải kể đến là Dự án Trung tâm phân phối khí Phú Mỹ, Đường ống dẫn khí Rạng Đông - Bạch Hổ, Cảng Đạm Phú Mỹ, Đường ống Phú Mỹ - TP Hồ Chí Minh, Tàu chở dầu 100.000 DWT…). Đến nay, hơn 4000 tỷ VNĐ được giải ngân sử dụng đúng mục đích và phát huy hiệu quả thực sự của đồng vốn đầu tư cho các dự án của ngành Dầu khí (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp 13/01/2007) Phát huy thế mạnh trong công tác thu xếp vốn cho các đơn vị trong ngành, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, năng động, PVFC cũng đã mở rộng hoạt động thu xếp vốn ra các đơn vị, dự án thuộc nhiều ngành kinh tế khác như điện lực, than, du lịch cao cấp; các ngành nghề sản xuất mới như: nhà máy giấy, nhà máy xi măng, nhà máy xử lý rác thải, các công ty đang phát triển, thị phần khá lớn như Thép Hoà Phát, Công ty xuất nhập khẩu Intimex…). Điển hình là thoả thuận nguyên tắc thu xếp khoản vốn vay cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) để đầu tư vào dự án đường dây 220 KV Tuyên Quang – Thái Nguyên; Hợp đồng thu xếp vốn cho dự án thuỷ điện Nậm Chiến với tổng số vốn thu xếp là 400 tỷ đồng được PVFC phối hợp thực hiện cùng EVN và Ngân hàng An Bình… Tình hình cụ thể về tổng số vốn thu xếp qua các năm và số các dự án được PVFC thu xếp vốn được thể hiện qua biểu đồ 2.1 và 2.2 dưới đây: Biểu đồ 2.1: Tổng giá trị thu xếp vốn qua các năm (Nguồn: Tổ Tổng hợp, Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng DN, PVFC) Tổng số vốn thu xếp được và số dự án tăng dần qua các năm được biểu thị trên biểu đồ là hoàn toàn phù hợp với tốc độ tăng trưởng của quy mô vốn điều lệ của PVFC (xem bảng 2.3), một yếu tố chi phối khả năng thu xếp vốn cho dự án thông qua hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng của Công ty. Nhưng trong 4 năm đầu tất cả các dự án là thuộc trong ngành và chủ yếu là được thu xếp bằng nguồn vốn uỷ thác hoặc PVFC chỉ đứng ra làm trung gian giữa TCTD và dự án chứ không tài trợ trực tiếp cho dự án. Nguyên nhân là do mạng lưới hoạt động của PVFC trên thị trường tài chính lúc còn chưa nhiều, khả năng tiếp cận các dự án ngoài ngành còn hạn chế vì trình độ cán bộ công nhân viên chưa cao, đặc biệt là am hiểu trong các ngành mới, hơn nữa vốn điều lệ thấp nên khó có thể “trường vốn” theo các dự án dài với lãi suất cạnh tranh. Trong quý I, năm 2007, PVFC đã tiến hành thu xếp vốn cho 4 dự án trong ngành với tổng số vốn thu xếp được là 750 triệu đồng. Biểu đồ 2.2: Tổng số dự án thực hiện qua các năm (Nguồn: Tổ Tổng hợp, Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng DN, PVFC) Biểu đồ 2.3. Thu nhập từ hoạt động thu xếp vốn (không bao gồm lãi cho vay trực tiếp từ nguồn vốn của PVFC) (Nguồn: Tổ Tổng hợp, Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng DN, PVFC) 2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính Dầu khí 2.3.1. Kết quả đã đạt được Xuất phát từ những trình bày và phân tích ở trên, ta thấy việc triển khai hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí đã thu được những thành tựu nhất định. Tuy là một dịch vụ tương đối mới, đòi hỏi phải có sự năng động, sáng của cán bộ thu xếp vốn, linh hoạt trong quá trình triển khai nhưng PVFC đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng của các dự án trong ngành cũng như ngoài ngành. Bên cạnh đó, PVFC đã tự xây dựng được một qui trình thu xếp vốn tương đối hoàn chỉnh cùng với các Quy trình, Quy chế bổ trợ liên quan đến Uỷ thác cho vay, cho vay dự án, các mẫu HĐ thu xếp vốn, HĐ uỷ thác cho vay, HĐ tín dụng chuẩn. Nhờ đó, công tác thu xếp vốn cho dự án của Công ty đã đi vào quy củ ngay từ đầu đồng thời chất lượng dịch vụ cũng được đảm bảo, xứng đáng là hoạt động trọng tâm và nền tảng của PVFC. Thông qua hoạt động thu xếp vốn mà PVFC giải quyết được những khó khăn của bản thân một CTTC trong việc cung cấp một lượng vốn lớn cho sự phát triển của Tập đoàn. Những thành tựu nói trên sở dĩ đạt được là do: Việc triển khai thực hiện hoạt động thu xếp vốn cho dự án là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu ra đời và chiến lược phát triển của Công Ty Tài chính Dầu khí. Mặt khác đây lại là hoạt động quan trọng và thiết yếu đối với một TCT lớn như Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, một ngành lớn của quốc gia nên hoạt động thu xếp vốn đã góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của các dự án trong ngành. Do đó, Ban lãnh đạo Công ty luôn ủng hộ và tạo điều kiện để cán bộ Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp có thể phát triển được tốt hoạt động thu xếp vốn cho dự án theo mục tiêu đã đề ra. Còn đối với các dự án trong ngành thì vốn vay thương mại bao giờ cũng có được sự bảo lãnh của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, điều này làm cho công tác thu xếp vốn của PVFC dễ dàng hơn do giảm thiểu được sự rủi ro đối với các nhà tài trợ. Cán bộ phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp đã mạnh dạn và chủ động trong việc triển khai một loại hình dịch vụ tài chính mang tính mới mẻ so với các TCTD khác. Chính vì thế, ban đầu mặc dù mục tiêu chỉ là thu xếp vốn tín dụng cho dự án ngành, hiện nay PVFC không ngừng mở rộng hoạt động này sang các ngành khác của nền kinh tế, đặc biệt là các ngành mũi nhọn, hiệu quả kinh tế cao của đất nước như điện, than, du lịch cao cấp…Hơn thế nữa, công tác thẩm định dự án, tính năng động sáng tạo trong việc thiết kế sản phẩm, các phương thức tiếp cận dự án và tiếp cận nguồn vốn tài trợ cũng được nâng cao. Hiện nay, 100% cán bộ của Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp đều là cử nhân, trong số đó có một số cán bộ đã là thạc sĩ. Điều này cũng cho thấy tiềm năng con người là một thế mạnh không thể phủ nhận của PVFC. Ngoài ra, do được đánh giá là sản phẩm trọng yếu của PVFC nên việc đầu tư công nghệ và con người luôn được coi trọng. Lợi thế về sự gia tăng qui mô vốn điều lệ: Sự tăng trưởng về qui mô vốn thu xếp được cho các dự án của PVFC cũng là do hạn mức tín dụng của TCTD đối với PVFC và của PVFC đối với khách hàng tăng lên. Như đã nói ở trên, hạn mức tín dụng là một yếu tố quan trọng dẫn đến việc hình thành hoạt động thu xếp vốn. Trong 6 năm qua, hạn mức tín dụng của PVFC cho khách hàng không ngừng tăng lên do sự tăng lên vốn điều lệ của PVFC. Mặt khác, nếu như năm 2003 hạn mức tín dụng của PVFC đối với 4 Ngân hàng thương mại Quốc doanh lớn nhất Việt Nam và một số Tổ chức tín dụng khác là 420 tỷ thì đến năm 2004 chỉ riêng hạn mức tín dụng của PVFC đối với 4 Ngân hàng Thương mại Quốc doanh lớn đã là 2335 tỷ. Sở dĩ con số này tăng nhanh như vậy một phần là do các Ngân hàng này tự mình tăng vốn điều lệ, một phần là do PVFC đã mở rộng mối liên hệ của mình với các ngân hàng từ hơn 10 ngân hàng và TCTD ban đầu nay đã lên đến gần 30 Ngân hàng và các TCTD. Ngoài ra, có thể nói hiện nay, số vốn điều lệ của PVFC là rất lớn so với quy mô của một CTTC, thậm chí là chỉ sau 4 Ngân hàng Quốc doanh, và hơn hẳn các NH CP. Điều này tạo thuận lợi cho PVFC trong việc triển khai nghiệp vụ uỷ thác cho vay. Thông thường, NH muốn tham gia đồng tài trợ cho dự án họ phải chấp nhận làm đầu mối đồng tài trợ, tức là chịu trách nhiệm cùng với PVFC về mọi giao dịch sau khi vay, đặc biệt là về tài khoản thanh toán trong giải ngân, thu gốc thu lãi (CTTC không có chức năng thanh toán). Mà điều này là rất khó khăn với một ngân hàng nhỏ, thiếu kinh nghiệm quản lý và mạng lưới thu thập thông tin. Vì thế, uỷ thác cho vay xem ra là một phương pháp hữu hiệu đối với các NH CP này. Họ vừa có thể mở rộng kênh tín dụng của mình, lại vừa giảm thiểu được rủi ro khi tham gia tài trợ cho 1 dự án quy mô vốn lớn mà thời hạn dài. Như vậy, hoạt động thu xếp vốn của PVFC đã đi đúng hướng khe hở của thị trường, tham gia thu xếp vốn cho dự án mà các NH lớn thường không quan tâm đúng mực và là cầu nối giữa NH nhỏ với các dự án lớn. Bảng 2.8: Vốn điều lệ của các CTTC STT Tên công ty Ngày cấp giấy phép Số vốn điều lệ 1 Công ty Tài chính Dệt may 3/8/1998 60 tỷ đồng 2 Công ty Tài chính Cao su 6/10/1998 500 tỷ đồng 3 Công ty Tài chính Bưu điện 10/10/2000 70 tỷ đồng 4 Công ty Tài chính Tàu thuỷ 16/3/2000 663 tỷ đồng 5 Công ty Tài chính Dầu khí 25/10/2000 3000 tỷ đồng 6 Handico 9/8/2005 50 tỷ đồng (Nguồn: Website chính thức của Ngân hàng Nhà nước) Sản phẩm thu xếp vốn cho dự án là một sản phẩm hoàn toàn mới, hầu như các CTTC cũng như các TCTD khác đều chưa triển khai được. Do đó, PVFC chưa có đối thủ cạnh tranh về sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đây chính là một điều kiện đặc biệt thuận lợi của PVFC. Ngoài ra, đặc tính của sản phẩm này là ngoài việc thu xếp vốn cho khách hàng mà PVFC còn “chịu trách nhiệm đến cùng với các dự án đầu tư của khách hàng” thông qua PVFC hỗ trợ trong việc tư vấn quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Như thế, PVFC đã làm gia tăng giá trị sản phẩm của mình và làm khác biệt hoá sản phẩm đó so với các sản phẩm tín dụng thông thường. 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1. Hạn chế Bên cạnh những thành tựu đáng kể nói trên của Công ty, hoạt động thu xếp vốn vẫn chưa thật sự được phát triển thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, số lượng dự án và tổng số vốn thu xếp được còn chưa nhiều Mặc dù hoạt động thu xếp vốn luôn là nhiệm vụ chính trị và được ưu tiên hàng đầu ngay từ khi thành lập Công ty nhưng mục tiêu “không bỏ sót dự án nào của ngành Dầu khí” vẫn không được thực hiện. Số lượng dự án và số vốn thu xếp được cho ngành Dầu khí còn quá ít so với tổng vốn đầu tư hàng năm của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam. PVFC vẫn chưa tiếp cận được hết các dự án của Tổng công ty và các đơn vị thành viên. Một số các đơn vị trong ngành vẫn phải tìm đối tác tài trợ khác cho dự án của mình Trong 3 năm trở lại đây, hoạt động thu xếp vốn của Công ty đã giành được uy tín trên thị trường vốn nên số lượng các dự án ngoài ngành được thu xếp vốn bắt đầu tăng lên. Tuy nhiên con số này vẫn còn là rất khiêm tốn so với đà tăng trưởng của đất nước, các dự án đầu tư cho phát triển ngày càng được triển khai nhiều, nhu cầu vốn lớn ngày càng tăng. Thứ hai, hoạt động thu xếp vốn chưa được triển khai một cách đầy đủ, quyền lợi khách hàng chưa được đảm bảo Hoạt động thu xếp vốn, ngoài mục tiêu thu xếp đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn của dự án, PVFC còn có mục tiêu tiếp cận dự án ngay từ đầu, tư vấn cấu trúc vốn cho dự án và cung cấp các dịch vụ tài chính đi kèm. Nhưng, hiện nay PVFC chỉ dừng lại ở công đoạn thu xếp vốn cho dự án khi có yêu cầu từ chủ đầu tư mà chưa tham gia được dự án ngay từ giai đoạn hình thành dự án. Hay nói cách khác, thiếu sự phối hợp giữa Phòng Thu xếp vốn và các phòng dịch vụ tài chính của Công ty. Quyền lợi của khách hàng thu xếp vốn cũng chưa được đảm bảo. Thời gian thu xếp vốn cho dự án còn kéo dài và mang tính không ổn định. Có thể lấy ví dụ của việc triển khai hoạt động thu xếp vốn đối với dự án Thuỷ điện Nậm chiến. Công văn đề nghị thu xếp vốn của chủ đầu tư (Công ty Cổ phần Thuỷ điện Nậm chiến) là vào ngày 22/2/06, nhưng đến tận 10/5/06 mới có HĐ thu xếp vốn ký kết giữa PVFC và chủ đầu tư với số vốn 400 tỷ đồng. Hơn nữa, sau đó, trong quá trình mời chào các nhà tài trợ, PVFC gặp rất nhiều khó khăn, đó là sự từ chối tham gia tài trợ của các NH Habubank, Eximbank, Techcombank, NH TMCP Quân đội… Đến tận tháng 2/2007 PVFC mới có thể thu xếp cho vốn cho dự án của mình bằng nguồn vốn tự có và nguồn vốn uỷ thác của NH An Bình, mà điều này là do vốn điều lệ của Công ty tăng lên 3000 tỷ đồng đầu năm 2007. Như vậy, quy trình thu xếp vốn như hiện nay còn chứa đựng rất nhiều rủi ro cho PVFC. Thứ ba, công tác thu thập thông tin về kết quả hoạt động thu xếp chưa được quan tâm đúng mức Hiện nay, số liệu về doanh thu của công tác thu xếp vốn còn chưa được rõ ràng và cụ thể. Trước đây, do hoạt động thu xếp vốn chỉ là hoạt động mang tính chính trị nên việc tính toán doanh thu của hoạt động này chưa được chú trọng. Hoạt động thu xếp vốn chỉ mang tính tự phát để làm thế nào khi có dự án của ngành thì tiến hành thu xếp thành công cho dự án đó; tức là hoạt động thu xếp vốn chưa được coi là một hoạt động mang tính chuyên nghiệp, cần hạch toán riêng. Có thể thấy ra điều đó qua việc tính phí thu xếp vốn của PVFC chưa thống nhất, cách tính phí khác nhau đối với từng dự án khác nhau và từng hình thức thu xếp vốn khác nhau Hơn thế nữa, nếu chỉ thống kê phí thu xếp thì chưa phản ánh được hết các nguồn thu từ hoạt động thu xếp vốn vì không phải dự án nào PVFC cũng thu phí thu xếp vốn theo đúng nghĩa của nó mà có rất nhiều dự án phí thu xếp vốn thường được coi như đã nằm trong lãi suất cho vay, phí uỷ thác cho vay... Rõ ràng, việc thống kê các nguồn thu từ hoạt động thu xếp vốn là rất khó khăn do tính linh hoạt trong các hình thức thu xếp vốn của loại hình dịch vụ này. Nhưng đây sẽ là một hạn chế đối với PVFC trong khi hoạt động thu xếp vốn đang bắt đầu vươn tới các dự án ngoài ngành và là một nguồn doanh thu lớn, tiềm năng cho PVFC. Không có các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh dịch vụ này, PVFC khó có thể đề ra mục tiêu kế hoạch phát triển. 2.3.2.2. Nguyên nhân Hạn chế nói trên là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Nguyên nhân chủ quan Có thể nói thu xếp vốn cho dự án là một nghiệp vụ khó khăn và mới đối với một cán bộ của Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng PVFC. Do đó, kinh nghiệm của CBTXV chưa nhiều, tính chuyên nghiệp chưa cao. Điều này dẫn đến khả năng xây dựng Quy trình nghiệp vụ và phối hợp hành động giữa các cá nhân, bộ phận có liên quan còn thấp. Chính vì thế mà quy trình thu xếp vốn cho dự án của PVFC còn tồn tại nhiều điểm chưa chặt chẽ, có nhiều rủi ro. Ngoài ra, chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa bộ phận quản lý và bộ phận kinh doanh nên bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn cán bộ trong phòng vừa phải tổng hợp số liệu, vừa phải ban hành Quy trình, Quy chế, đưa ra cách tính phí đối với mỗi dự án. Bên cạnh đó, hạn chế và kinh nghiệm cũng làm giảm khả năng tiên liệu của cán bộ thu xếp vốn về những tình huống có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nghiệp vụ. Chẳng hạn, cán bộ thu xếp vốn phải đối phó với các trường hợp từ chối tài trợ cho dự án của các Ngân hàng. Khi đó cán bộ thu xếp vốn phải hết sức nhanh nhạy để có thể giữ uy tín với khách hàng trong việc cung cấp vốn đủ và kịp thời. Kinh nghiệm của cán bộ thu xếp vốn cũng chưa đủ để có thể xây dựng một Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO cho sản phẩm thu xếp vốn. Vì vậy, PVFC chẳng những thiếu căn cứ để đánh giá mức độ phát triển nghiệp vụ mà còn thiếu căn cứ để định hướng phát triển trong những năm tiếp theo. Chất lượng thẩm định dự án còn thấp do PVFC chưa thiết lập được một hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án. Đây cũng là khó khăn đối với các nhà tài trợ nói chung vì thông tin về các dự án thường bị “nhiễu” do sai lệch một cách cố ý, hoặc có quá nhiều thông tin khác nhau mà không thể kiểm chứng được độ chính xác. Hệ thống thông tin còn thiếu và mối liên hệ chưa chặt chẽ và hiệu quả với các TCTD trong và ngoài nước cũng là một nguyên nhân dẫn đến hạn chế của thu xếp vốn, một hoạt động đòi hỏi nhiều đối tác tham gia. Các hoạt động Marketing của PVFC còn mỏng và yếu với những hình thức chưa phong phú (gửi bản chào, tổ chức hội thảo giới thiệu….) và kém hiệu quả. Ví dụ, đối với các dự án trong ngành, sau khi họp Tổng công ty và các đơn vị thành viên về kế hoạch triển khai dự án trong năm thì PVFC mới tiến hành hoạt động Marketing. Do đó, PVFC thường rơi vào thế bị động, dẫn đến khả năng tiếp cận dự án ngay từ đầu không cao. Rõ ràng, PVFC đang thiếu một chiến lược Marketing hoàn chỉnh. Nguyên nhân khách quan PVFC là một thành viên trong Tổng Công ty Dầu khí nên phải chịu sự chi phối của Tổng Công ty ở một mức độ nhất định. PVFC thường phải ưu tiên thu xếp vốn cho các dự án trong ngành trước, chính vì thế mà đôi khi bỏ lỡ cơ hội thu xếp vốn cho các dự án ngoài ngành có hiệu quả kinh tế tốt hơn. Hệ thống pháp luật và chính sách về kinh doanh còn nhiều mâu thuẫn, thiếu đồng bộ cũng là một trở ngại lớn đối với PVFC và do đó gây khó khăn trong việc PVFC mở rộng hoạt động thu xếp vốn của mình. Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng thì Công ty Tài chính không được thực hiện chức năng thanh toán, trong khi đó với vai trò của người thu xếp vốn thì PVFC có nghĩa vụ quản lý các khoản vay, nghĩa là mọi giao dịch liên quan đến giải ngân, thu gốc thu lãi PVFC không thể trực tiếp quản lý được mà thường phải nhờ vào tài khoản thanh toán của một Ngân hàng thương mại. Điều này không những cản trở mà còn gây ra một khoản chi phí cho PVFC. Riêng đối với đồng tài trợ, một hình thức thu xếp vốn thì NHNN mới chỉ đưa ra hướng dẫn chung nhất về trách nhiệm và lợi ích của các bên tham gia đồng tài trợ, chưa cụ thể về việc xác định lãi suất, phí và vai trò của NHNN đối với hoạt động đồng tài trợ của các TCTD trong và ngoài nước. Sự chung chung này khiến cho các NH khó thống nhất về các điều khoản khi tham gia đồng tài trợ Như vậy, có thể khẳng định hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí còn chưa thật sự mang tính chuyên nghiệp và xứng đáng với tầm vóc của nó. Để giải quyết nhu cầu vốn cho các dự án trong nước đồng thời huy động được các nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức, phát huy được tính ưu việt của hoạt động thu xếp vốn, PVFC cần có những giải pháp thích hợp và kịp thời. Vấn đề này sẽ được bàn tiếp ở Chương sau. 2.3.3. Đánh giá khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí Như phân tích ở chương 1, khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn của PVFC phụ thuộc vào một số điều kiện nhất định, đó là các điều kiện về cung và cầu của hoạt động này. Đồng thời các đánh giá quá trình thực hiện hoạt động thu xếp vốn dự án ở phần 2.3.2 đã chứng minh PVFC đã thực hiện hoạt động này trong 06 năm qua với chủ yếu các dự án trong ngành nhưng hoàn toàn cũng có khả năng mở rộng ra các dự án ngoài ngành. Về phía cầu, nhu cầu của hoạt động thu xếp vốn càng ngày càng lớn hay nói cách khác, thị trường đầu vào cho hoạt động này tương đối dồi dào, đặc biệt là nguồn dự án cần thu xếp vốn của Tập đoàn Dầu khí. Thật vậy, tháng 2 năm 2007 vừa qua, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã chính thức ra mắt và bắt đầu triển khai hoạt động theo cơ chế vận hành mới “Công ty mẹ - Công ty con”, từng bước hoàn thành các mục tiêu trong Chiến lược phát triển đã được Chính phủ duyệt. Năm 2007, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đề ra kế hoạch: khai thác 24,8 triệu tấn dầu qui đổi; tiếp tục đẩy mạnh các dự án thăm dò dầu khí trong nước và nước ngoài, phấn đấu thêm 6 – 7 hợp đồng dầu khí mới ở các lô còn mở, gia tăng trữ lượng dầu khí từ 35 – 40 triệu tấn quy đổi; đẩy mạnh thi công các công trình trọng điểm của Nhà nước và của ngành; tăng cường phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh (kinh doanh phân phối sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, thương mại, tài chính…) theo hướng từng bước mở rộng tầm hoạt động ra khu vực và quốc tế; tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới doanh nghiệp như cổ phần hoá các đơn vị đã được Chính phủ phê duyệt trong cơ cấu Tập đoàn, chuyển đổi một số đơn vị sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con và tiến hành thành lập một số TCT trực thuộc Tập đoàn; tăng cường hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh với các tỉnh/ thành phố, các tập đoàn kinh tế trong cả nước để góp phần thúc đẩy các địa phương, các ngành cùng phát triển. Với mục tiêu chiến lược phát triển của Tập đoàn Dầu khí như trên thì nhu cầu về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc đi kèm để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn là hết sức cần thiết. Do đó, số lượng các dự án và nhu cầu vốn sẽ gia tăng, trở thành một thị trường tiềm năng nhưng cũng đầy thách thức cho hoạt động thu xếp vốn của PVFC Bên cạnh đó, các ngành nghề mà PVFC tham gia thu xếp vốn bao gồm cả du lịch cao cấp, điện, than, xây dựng cầu đường…Đây cũng là những ngành kinh tế lớn của đất nước và vẫn đang trên đà phát triển nhưng lại chưa đủ điều kiện để có thể thành lập một CTTC riêng, chuyên trách về vấn đề huy động vốn cho các dự án thuộc các ngành đó. Như vậy, nhu cầu về dòng sản phẩm thu xếp vốn cho dự án ở hiện tại và trong tương lai là rất lớn. Với những gì PVFC đã làm được qua 06 năm qua, có thể nói hoạt động thu xếp vốn cho dự án của PVFC hoàn toàn có cơ hội phát triển và trở thành một thế mạnh của Công ty trong giai đoạn tới. Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 3.1. Chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 3.1.1. Chiến lược phát triển Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 Chiến lược phát triển ngành Dầu khí đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 xác định phải nhanh chóng xây dựng Petro Vietnam trở thành một Tập đoàn Công nghiệp – Thương mại – Tài chính Dầu khí quan trọng, hoàn chỉnh hoạt trong và ngoài nước. Tổng số vốn đầu tư phát triển công nghiệp Dầu khí từ nay đến năm 2025 dự kiến 41 tỷ USD, giai đoạn từ nay đến năm 2015 khoảng 20 tỷ USD, giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 là 21 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu trên, chiến lược của PV trong hoạt động tài chính là: Đầu tư tài chính vào lĩnh vực, dự án dầu khí đảm bảo nền tài chính của PV được cân đối, ổn định. Đối với các dự án thăm dò dầu khí cần tranh thủ tối đa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ưu tiên một tỷ lệ thích hợp vốn chủ sở hữu của PV cho công tác tự thăm dò, khai thác trong và ngoài nước, chế biến dầu khí. Phát huy tối đa thu xếp vốn theo phương thức tài trợ dự án với sự tham gia vốn chủ sở hữu tối thiểu đạt 30% đối với các dự án phát triển mỏ dầu, khí. Tận dụng tối đa nguồn vốn tài trợ phát triển để xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở cho vận chuyển và phân phối khí. Cổ phần hoá các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ hiện có và huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế đầu tư vào các dự án dịch vụ dầu khí. Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn trên thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển, đặc biệt chú trọng phát hành trái phiếu quốc tế. Duy trì tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu của PV ở mức 50 – 70% vào giai đoạn 2005 – 2015 và ở mức 40 – 50% giai đoanj 2015 – 2025. Xác lập cơ chế điều hành hoạt động tài chính tiền tệ của PV và vận hành theo nguyên tắc sinh lời. Với vai trò là định chế tài chính và công cụ tài chính để phát triển Tập đoàn, quy mô tài chính, nhiệm vụ thu xếp vốn, quản trị vốn của Tập đoàn Dầu khí là căn cứ để xác lập nhiệm vụ và quy mô hoạt động của PVFC. 3.1.2. Nội dung chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 Chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển PVFC là: dựa vào vị thế, tiềm năng và nhu cầu tài chính của ngành Dầu khí để xây dựng PVFC thành một định chế đầu tư tài chính mạnh, hiện đại (đủ điều kiện hợp tác và hội nhập với các định chế tài chính của Việt Nam và Thế giới) đáp ứng nhu cầu đầu tư, quản trị vốn đầu tư và hoạt động trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ của Tập đoàn Dầu khí. Cụ thể về chiến lược phát triển sản phẩm và dịch vụ của PVFC như sau: Các sản phẩm dịch vụ mũi nhọn: Các sản phẩm dịch vụ mũi nhọn bao gồm thu xếp vốn và tài trợ các dự án, đầu tư tài chính và các dịch vụ tài chính tiền tệ khác. Đến năm 2010, đưa hoạt động đầu tư tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ trở thành hoạt động mũi nhọn mang lại lợi nhuận chủ yếu của Công ty. Đến năm 2010, tỷ trọng doanh thu, tỷ trọng lợi nhuận mang lại từ hoạt động đầu tư tài chính chiếm 30% và các dịch vụ tài chính tiền tệ chiếm 30% trong tổng doanh thu và tổng lợi nhuận của PVFC. Thu xếp vốn và tài trợ các dự án: Đây là nghiệp vụ trọng yếu của Công ty. PVFC phải chuẩn bị đủ điều kiện về cán bộ, về nghiệp vụ, mạng lưới và quan hệ hợp tác với các định chế tài chính trong và ngoài nước đảm bảo: thu xếp thành công vốn cho tất cả các dự án đầu tư phát triển của PV và các đơn vị thành viên, tài trợ cho các dự án của các tổ chức và các cá nhân khác phù hợp với mục tiêu kinh doanh và hợp tác của PVFC. Triển khai đồng bộ và kết hợp nhuần nhuyễn các dịch vụ và sản phẩm tài chính ( đồng tài trợ; tín dụng xuất nhập khẩu; gọi vốn cổ phần; uỷ thác đầu tư…) để thoả mãn nhu cầu to lớn về vốn cho các dự án trong và ngoài ngành Dầu khí. Đầu tư tài chính: Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư với phương châm hoạt động “PVFC là nhà đầu tư chiến lược”. Phát huy tối đa hạn mức đầu tư dự án được phép, nâng cao khối lượng vốn uỷ thác đầu tư, tập trung vào các dự án trong ngành và tham gia một số dự án ngoài ngành đạt hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo an toàn vốn đầu tư. Nhận uỷ thác và quản lý vốn đầu tư theo yêu cầu của khách hàng. Đầu tư dự án song song với cung cấp các dịch vụ tài chính của PVFC. Các dịch vụ tài chính tiền tệ Về hoạt động tư vấn: PVFC xác định các hoạt động tư vấn trọng tâm là: Tư vấn tài chính dự án: từ tư vấn đầu tư, lập nghiên cứu khả thi dự án đến thanh quyết toán; làm cơ sở để PVFC quyết định tham gia các hoạt động đầu tư tài chính tại đơn vị đó. Tư vấn tài chính doanh nghiệp: tư vấn và hướng dẫn xây dựng hệ thống lập kế hoạch và kiểm soát tài chính gồm các khâu lập ngân sách, tính chi phí, định giá, thẩm định quyết toán đầu tư XDCB, dự báo các nguồn thu nhập và quản lý tài sản, tư vấn và hướng dẫn việc tổ chức vận hành bộ máy tài chính kế toán của các doanh nghiệp Cùng các dịch vụ tư vấn khác như: tư vấn cổ phần hoá, tư vấn phát hành chứng từ có giá, tư vấn đầu tư chứng khoán… Quản lý vốn và tài sản: Đẩy mạnh dịch vụ liên quan đến ngoại hối, uỷ thác đầu tư, quản lý dòng tiền cho khách hàng. Thẩm định: từng bước cung cấp dịch vụ thẩm định cho các đơn vị trong và ngoài ngành. Đến năm 2010, thực hiện thẩm định tất cả các dự án đầu tư phát triển của PV. Phát triển các dịch vụ trên thị trường chứng khoán, Bao thanh toán, Hoạt động ngoại hối cũng được PVFC quan tâm phát triển trong thời gian tới. Các sản phẩm dịch vụ nền tảng: duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ nền tảng làm cơ sở để phát triển các dịch vụ mũi nhọn của Công ty. Huy động vốn: đảm bảo tạo dựng được nguồn vốn vững chắc, ổn định đáp ứng nhu cầu kinh doanh của Công ty đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Các nguồn huy động vốn đa dạng, chú trọng tạo vốn từ nguồn tiền tệ của Tổng công ty và các đơn vị thành viên thông qua tài khoản trung tâm PV, các nguồn vốn từ hệ thống NHTM VN, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Thực hiện chủ trương “tối đa hoá hạn mức tín dụng tại các NHTM và các tổ chức tài chính VN, tăng cường nguồn vốn bổ sung từ các tổ chức tài chính quốc tế” Đa dạng hoá các hình thức huy động trong nước, sử dụng thị trường chứng khoán và huy động vốn qua phát hành trái phiếu Công ty là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Tìm kiếm và khơi thông nguồn vốn quốc tế qua các hình thức vay thương mại, đồng tài trợ, nguồn đầu tư trực tiếp FDI vào ngành Dầu khí trong đó PVFC là đơn vị nhận uỷ thác trung chuyển. Hoạt động tín dụng : Thực hiện phương châm “sử dụng tổng hoà các loại nguồn vốn để hình thành lãi suất hoà đồng, có tính cạnh tranh cao”. Đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn, quan tâm đến phát triển tín dụng uỷ thác. Hoạt động tín dụng được thực hiện đảm bảo an toàn, được kiểm soát chặt chẽ. Các sản phẩm dịch vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị: PVFC thực hiện nhiệm vụ trung tâm tài chính tiền tệ và công cụ quản lý đầu tư tài chính của PV. Thực hiện các nhiệm vụ do Tập đoàn uỷ quyền như phát hành trái phiếu Dầu khí trong và ngoài nước, quản lý tài chính quản lý dự án… Nâng cao chất lượng dịch vụ và thực hiện thu xếp vốn thành công cho mọi dự án đầu tư phát triển của PV và tạo ra các sản phẩm tài chính phục vụ CBNV ngành Dầu khí. 3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 3.2.1. Nâng cao chất lượng nhân sự trong bộ phận thu xếp vốn Như phân tích ở trên, rủi ro trong hoạt động thu xếp vốn của PVFC được đánh giá là cao, do vậy để hạn chế rủi ro đòi hỏi cán bộ thu xếp vốn phải có một trình độ chuyên môn nhất định. Các cán bộ thu xếp vốn tại PVFC đã được đào tạo về chuyên môn cũng như về nghiệp vụ thu xếp vốn, được trang bị kiến thức về uỷ thác cho vay, đồng tài trợ, tuy nhiên các dự án thu xếp vốn được thực hiện mới chỉ là các dự án của các Tổng Công ty Nhà nước, là khoản tín dụng không có tài sản đảm bảo mà chủ yếu là được đảm bảo bằng hình thức thu bảo lãnh của Tổng công ty. Trong tương lai, các khoản thu xếp vốn sẽ không chỉ bó hẹp trong đối tượng là các doanh nghiệp quốc doanh như vậy mà còn mở rộng sang các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các khoản thu xếp vốn cần có tài sản đảm bảo. Do vậy, cán bộ thu xếp vốn phải được đào tạo nâng cao trình độ để có thể nâng cao được chất lượng thẩm định dự án, khả năng đánh giá tài sản đảm bảo cũng như quản lý các khoản cho vay. Các biện pháp có thể thực hiện như: Cử cán bộ tham gia các lớp huấn luyện về nghiệp vụ, các hội thảo chuyên đề về ngân hàng tài chính Khuyến khích việc học tập ở bậc cao hơn tại các trường đại học, các cơ sở đào tạo có chất lượng trong và ngoài nước. Tổ chức các cuộc thi chuyên môn nhằm thúc đẩy tinh thần tự học, tự trau dồi kiến thức trong cán bộ công nhân viên. Bên cạnh đó, chính sách nhân sự của PVFC cần tiếp tục hoàn thiện để tạo điều kiện cho CBCNV Công ty đạt được các mục tiêu cá nhân về lương bổng, thăng tiến hoặc đào tạo. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy CBCNV hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao và có nhiếu sáng kiến đóng góp cho Công ty trong việc phát triển hoạt động thu xếp vốn. Trong chính sách nhân sự ở trên, vai trò của chính sách đào tạo nhân viên cần được nhấn mạnh hơn nữa như một giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng nhân sự. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là không ngừng xây dựng và hoàn thiện môi trường văn hoá PVFC sao cho văn hoá ấy thấm nhuần trong thái độ, tác phong của CBCNV để bất cứ khách hàng nào khi tiếp xúc với CBCNV đều có thể hài lòng. Thực tế đã chứng minh một phần quan trọng trong thành công chung của PVFC ngày hôm nay chính là nhờ vào môi trường văn hóa PVFC, ở đó, mọi người đều có cơ hội phát triển để đóng góp cao nhất cho sự thành công của Công ty. 3.2.2. Tăng cường phối hợp giữa các Tổ chức năng, phòng ban, các TCTD Có thể nói hoạt động thu xếp vốn là một hoạt động đòi hỏi sự phối hợp cao nhất của các cá nhân, Tổ chức năng cũng như các Phòng ban trong toàn Công ty. Vì hoạt động thu xếp vốn không chỉ liên quan đến bản thân Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp mà còn liên quan đến công tác chuyển tiền và hạch toán của Phòng kế toán, công tác cân đối dòng tiền của Phòng Quản lý dòng tiền, công tác tư vấn phương án tài chính dự án của Phòng Dịch vụ Tài chính, công tác thẩm định dự án của Phòng thẩm độc lập… Do đó, để tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân, bộ phận liên quan trong quá trình triển khai hoạt động thu xếp vốn, PVFC cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp hành động cho toàn Công ty. Cơ chế phối hợp hành động đó chẳng những thúc đẩy tính thống nhất giữa các Phòng, Ban nói chung mà còn thúc đẩy tính thống nhất giữa các Tổ chức năng của Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp nói riêng. Hiện nay, Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp gồm có 4 tổ chức năng: Tổ tư vấn và thu xếp vốn, tổ tín dụng, tổ bảo lãnh – bao thanh toán và tổ tổng hợp. Trong đó, Tổ tín dụng doanh nghiệp sẽ cung cấp các thông tin về khách hàng, dự nợ cho vay và hạn mức tín dụng đối với các chủ đầu tư để giúp cho Tổ thu xếp vốn đưa ra các quyết định về phương án thu xếp. Tổ tổng hợp có chức năng thu thập thông tin về doanh thu chi phí của các hoạt động trong phòng và tư vấn về các vấn đề pháp lý cho HĐ được ký kết. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì hoạt động thu xếp vốn là một dịch vụ tài chính trung gian, liên quan đến dàn xếp tài chính giữa chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc phân biệt rạch ròi giữa quyền và nghĩa vụ của PVFC đối với các bên trong HĐ có liên quan đến trách nhiệm của PVFC sau khi thu xếp. Ngoài ra, công tác thẩm định cũng nên tách biệt nhiệm vụ giữa Phòng Thu xếp vốn và Phòng Thẩm định độc lập bằng cách xác định rõ là tái thẩm định hay thẩm định song song giữa hai phòng để giảm bớt thời gian đánh giá năng lực khách hàng, tính khả thi dự án, tăng tính chủ động theo nhóm làm việc. Tăng cường công tác phối hợp tiếp xúc khách hàng từ các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn cổ phần hoá, chuyển đổi doanh nghiệp, cấu trúc tài chính của Phòng Dịch vụ Tài chính với Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp để có cách tiếp cận dự án hợp lý, khuyến khích khách hàng sử dụng các nguồn vốn của PVFC thu xếp được ngay từ giai đoạn cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Phối hợp cùng Phòng Đầu tư trong việc quản lý khoản vay tại các dự án có sự tham gia đầu tư của PVFC. Mặt khác, do hoạt động thu xếp vốn có sự tham gia của nhiều TCTD nên muốn cho hoạt động này phát triển thì PVFC nhất định phải xây dựng được một mạng lưới phối hợp giữa các TCTD. Điều này có ý nghĩa trong việc tạo thuận lợi cho PVFC mời chào được các đối tác tin cậy tham gia tài trợ cho dự án, nâng cao chất lượng thẩm định dự án thông qua thành lập Hội đồng thẩm định chung giữa các TCTD, và quan trong hơn là giúp cho PVFC dễ dàng thực hiện được vai trò của người thu xếp vốn là quản lý các khoản vay cho các nhà tham gia đồng tài trợ. 3.2.3. Thiết lập hệ thống thông tin thẩm định dự án Hoạt động thu xếp vốn tín dụng dự án mang tính chất của một hoạt động cho vay thông thường, do đó thẩm định dự án đóng một vai trò quan trọng hàng đầu. Kết quả thẩm định sẽ quyết định PVFC có đồng ý thu xếp vốn cho dự án hay không; tính khả thi và mức độ rủi ro của dự án có đáp ứng được yêu cầu của nhà tài trợ hay không… Tuy nhiên khó khăn lớn nhất trong công tác thẩm định dự án của PVFC không phải vấn đề kỹ thuật tính toán mà chính là ở bước thu thập và xử lý dữ liệu đầu vào. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, PVFC cần phải thiết lập hệ thốn thông tin nhằm thu thập, phân loại, xử lý và đánh giá được tính đúng đắn của từng loại thông tin. Để cập nhật và xử lý thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác, cán bộ thẩm định cần phải lưu ý thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả các thông tin trái ngược nhau để phân tích đánh giá. Từ đó có những kết luận thẩm định dự án một cách khách quan, toàn diện về nội dung của của dự án. Các nguồn thông tin có thể và cần phải thu thập là thông tin do điều tra trực tiếp và thông tin do thu thập từ bên ngoài. Trong đó, thông tin do điều tra trực tiếp có từ nguồn thông tin do báo cáo, hồ sơ đề nghị vay vốn và phỏng vấn trực tiếp khách hàng. Thông tin thu thập từ bên ngoài bao gồm: kết quả kiểm toán, thông tin từ cơ quan thuế, thông tin từ báo chí, phát thanh, truyền hình, internet…Đây là nguồn cung cấp thông tin hàng ngày rất quan trọng và có giá trị với công tác thẩm định dự án. Hơn thế nữa, đề có thể thẩm định hiệu quả dự án, ngoài các yếu tố liên quan đến năng lực tài chính của chủ đầu tư, tính khả thi của dự án về mặt tài chính…cán bộ thu xếp vốn còn cần phải có những am hiểu nhất định về lĩnh vực ngành nghề hoạt động của dự án đó. Xây dựng hệ thống thông tin phong phú sẽ hỗ trợ cho cán bộ thu xếp vốn tích luỹ được hiểu biết của mình về các ngành nghề có dự án mà PVFC tham gia thu xếp vốn, từ đó có thể đánh giá dự án một cách toàn diện hơn. Cuối cùng, để cập nhật thông tin, PVFC cần đổi mới công nghệ thu thập thông tin theo hướng hiện đại bằng cách mạnh dạn đầu tư hệ thống tranh thiết bị, công nghệ thẩm định hiện đại, áp dụng những kỹ thuật phân tích, tính toán hiện đại để xử lý thông tin cần thiết một cách nhanh chóng và kịp thời. 3.2.4. Đẩy mạnh các hoạt động Marketing Marketing là khâu yếu nhất trong hoạt động thu xếp vốn cho dự án của PVFC . Như phân tích ở chương 2, các hình thức Marketing của PVFC còn thiếu phong phú và kém hiệu quả do thiếu định hướng chiến lược. Chính vì vậy, giải pháp lâu dài đối với PVFC để đẩy mạnh các hoạt động Marketing là phải xây dựng được một Chiến lược Marketing hoàn chỉnh, trong đó, có sự thống nhất, phối hợp của các cá nhân, bộ phận liên quan. Trong tương lai gần, PVFC nên thành lập một bộ phận chuyên trách về công tác Marketing thuộc Phòng Kế hoạch và Thị trường nhằm nâng cáo tính chuyên nghiệp của hoạt động này. Bộ phận Marketing sẽ chịu trách nhiệm xây dựng Chiến lược, sau đó cụ thể hoá thành các chính sách và tổ chức thực hiện. Đồng thời bộ phận này còn là đầu mối thu thập thông tin từ Tập đoàn Dầu khí và các tập đoàn kinh tế trọng điểm khác. Đây là tiền đề để các bộ phận thu xếp vốn tại Trụ sở chính và các chi nhánh kịp thời tiếp xúc với dự án ngay từ giai đoạn thành lập báo cáo tài chính, xây dựng phương án tài chính nhằm chủ động sẵn sàng hợp tác với các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế để huy động vốn hiệu quả cho các dự án trong và ngoài ngành. Ngoài ra, Marketing còn được thực hiện bằng chính sách hỗ trợ lãi suất và các ưu đãi khác để khuyến khích khách hàng sử dụng nguồn vốn mà PVFC thu xếp. PVFC cần xây dựng được mức lãi suất cạnh tranh trên thị trường đảm bảo quyền lợi cho khách hàng nhưng cũng đủ hẫp dẫn để lôi kéo các nhà tài trợ. Cần phân chia khách hàng truyền thống và khách hàng quan trọng, khách hàng trong ngành và khách hàng ngoài ngành để có chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp. 3.2.5. Đa dạng hoá các nguồn huy động thu xếp vốn dự án Có thể thấy nguồn vốn mà PVFC hiện nay huy động để phục vụ cho hoạt động thu xếp vốn của Công ty chưa thật sự đa dạng và phong phú, phần lớn là nguồn vốn đồng tài trợ, uỷ thác từ các NH trong nước hoặc là nguồn vốn của chính PVFC. Điều đó dẫn đến rủi ro cho PVFC trong việc thực hiện các cam kết thu xếp vốn cho khách hàng bởi vì PVFC không thể lúc nào cũng đem vốn của mình ra tài trợ các dự án lớn như vậy mà chủ yếu phải huy động từ nguồn vốn bên ngoài. Nếu nguồn vốn này không phong phú và ổn định sẽ khó có thể đảm bảo cho việc thu xếp vốn thành công. Những tổ chức kinh tế mà PVFC có thể thúc đẩy hợp tác để tìm kiếm đối tác tài trợ cho các khách hàng của mình bao gồm: Các Công ty Bảo hiểm: Hiện nay ở nước ta có khoảng gần 30 Công ty Bảo hiểm, bao gồm các Công ty Bảo hiểm, môi giới Bảo hiểm và tái Bảo hiểm. Số vốn nhàn rỗi mà các Công ty Bảo hiểm này đầu tư trở lại nền kinh tế chủ yếu ở dạng tiền gửi tiết kiệm và mua trái phiếu Chính phủ (chiếm gần 90% số vốn đầu tư). Trong khi đó, để tham gia nhiều hơn trên thị trường tài chính, đa dạng hoá khoản mục đầu tư, mang lại thu nhập cao hơn nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an toàn thì các Công ty Bảo hiểm cần có sự hỗ trợ về nghiệp vụ tín dụng. Do đó, PVFC có thể đứng ra đại hiện cho họ thực hiện tài trợ dự án đồng thời quản lý các khoản cho vay đó. Các TCTD nước ngoài tại Việt Nam: Là một thành viên mới gia nhập WTO, Việt Nam còn là miền đất hứa hẹn của nhiều nhà đầu tư trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực Ngân hàng Tài chính, một lĩnh vực mới phát triển những năm gần đây. Các TCTD nước ngoài có ưu thế vượt trội hơn hẳn các đối thủ trong nước về vốn, nhân lực, công nghệ nhưng lại chưa thể cạnh tranh bình đẳng với các TCTD trong nước ngay được do những rào cản về mặt pháp lý, cũng như hạn chế về am hiểu thị trường nội địa. Do đó, nhu cầu uỷ thác cho vay đối với các dự án trong nước là rất cần thiết với các TCTD nước ngoài. PVFC cần phải tăng cường hợp tác để có thể tận dụng được tốt cơ hội này. Ngoài 2 nguồn trên, PVFC cũng có thể khai thác nguồn vốn từ các Tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước, các Công ty Quản lý Quỹ thông qua nghiệp vụ uỷ thác cho vay để thu xếp vốn cho khác hàng. Đồng thời, PVFC cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các nhà tài trợ dưới dạng văn bản cam kết hợp tác tài trợ cho các dự án trong và ngoài ngành trên cơ sở tính toán mức lãi suất và phí thu xếp hợp lý để có thể hạn chế được rủi ro không đáp ứng đủ số vốn cần thu xếp cho khách hàng. 3.3. Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền 3.3.1. Kiến nghị với Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Công ty Tài chính Dầu khí được thành lập với mục tiêu điều hoà vốn của Tổng công ty và các đơn vị thành viên, đồng thời tiến hành thu xếp vốn cho các dự án trong ngành. Tuy nhiên, hiện nay trong Tổng công ty chưa có một cơ chế nào để hỗ trợ cho PVFC có thể tiếp cận được với các dự án trong ngành, và là đầu mối thu xếp vốn chính thức cho Tổng công ty và các đơn vị thành viên. Ngoài ra, TCT Dầu khí Việt Nam nên để PVFC toàn quyền quyết định phương án sử dụng số vốn huy động được từ việc phát hành trái phiếu của Tổng công ty theo một tỷ lệ nhất định hoặc trao quyền quyết định nguồn vốn đó cho PVFC thông qua nghiệp vụ uỷ thác cho vay. Có như vậy PVFC mới có thể gia tăng được nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay dự án, đồng thời đa dạng hoá được nguồn vốn thu xếp. Trong tương lai, về lâu dài, PV cũng cần trao thêm quyền tự chủ kinh doanh cho PVFC bằng cách thay đổi hình thức sở hữu. Hiện nay, các Công ty Tài chính trong Tổng công ty hiện nay thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước là hình thức ít được áp dụng trên thế giới. Mô hình phổ biến là công ty tài chính cổ phần trong đó Nhà nước tham gia với tư cách là một cổ đông sẽ là loại hình công ty ưu việt hơn. 3.3.2. Kiến nghị với Chính phủ và NHNN Điều chỉnh một số các Quy định đối với riêng CTTC Là Tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn của TCT Dầu khí Việt Nam, đồng thời là một Doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, PVFC vừa phải chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp vừa phải tuân theo các quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn kèm theo. Ngoài ra, PVFC còn phải hoạt động theo qui định tại Nghị định 79/2002/NĐ – CP của Chính phủ ngày 04/10/2002 về tổ chức, hoạt động của CTTC. Như vậy, với tư cách là một CTTC trực thuộc TCT Nhà nước, PVFC gặp nhiều khó khăn hơn so với các tổ chức kinh tế khác do phải tuân theo quá nhiều văn bản luật. Làm thế nào để có thể thoả mãn đồng thời ba ràng buộc nói trên quả là một thách thức không nhỏ đối với PVFC trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Nghị định 79/2002/NĐ – CP còn nhiều bất cập, theo đó, CTTC thuộc TCT không được thực hiện dịch vụ thanh toán. Việc không thực hiện được dịch vụ thanh toán dẫn đến việc giải ngân, thu nợ, thanh toán lãi đều phải nhờ đến tài khoản thanh toán tại NHTM. Điều này làm hạn chế vai trò thu xếp vốn, quản lý khoản vay của PVFC, đồng thời khiến cho không thể thanh toán được giữa các doanh nghiệp thành viên trong khi nhu cầu thanh toán, điều hoà vốn giữa các DN thành viên là rất lớn. Hiện nay, mức cho vay đối với một khách hàng của TCTD được NHNN quy định là 15% vốn tự có (theo Quyết định 457/2005/QĐ – NHNN ngày 19/4/2005 về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động TCTD). Đây là một tỷ lệ khá thấp so với nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án. Chính vì thế hoạt động thu xếp vốn ra đời nhằm khắc phục hạn chế về tỷ lệ cho vay như trên bằng cách hùn vốn với các NHTM hoặc tìm các nhà tài trợ khác để tài trợ cho dự án. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, các CTTC chỉ được tham gia với tư cách là một đơn vị đồng tài trợ chứ không được đứng ra làm đầu mối để tổ chức hợp vốn, do đó vai trò thu xếp vốn của CTTC là khó có thể thực hiện. Giống như tình trạng bất cập của PVFC hiện nay, mặc dù là đơn vị chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi thủ tục giao dịch giữa các thành viên đồng tài trợ nhưng về danh nghĩa chỉ là lại không được coi là đầu mối đồng tài trợ. Do đó, muốn thực hiện được hoạt động thu xếp vốn theo hình thức đồng tài trợ thì PVFC buộc phải mới một NHTM đứng ra làm đầu mối,và theo quy định NHTM này vẫn được hưởng phí đầu mối. Như thế, cả danh tiếng và thu nhập của PVFC đều bị giảm. Thiết nghĩ, với những hạn chế trong quy định hiện hành như trên, NHNN nên sớm có văn bản hướng dẫn sửa đổi, bổ sung cụ thể để tạo hành lang pháp lý rộng rãi hơn cho hoạt động thu xếp vốn như một loại hình dịch vụ tư vấn và dịch vụ tài chính. Xây dựng và phát triển hiệp hội Tổ chức Tín dụng Như đã nói ở trên, trong hoạt động thu xếp vốn, mối quan hệ giữa các thành viên tham gia tài trợ là một yếu tố quan trọng làm nên thành công. Vì vậy để tạo điều kiện cho các NH, CTTC có thể tạo lập mối quan hệ với nhau, lựa chọn được những thành viên tốt nhất tham gia vào các dự án thì cần phải có một hiệp hội các TCTD vững mạnh. Hiệp hội này cũng là nơi các TCTD trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội ký kết hợp đồng, đồng thời cũng là nơi trao đổi kinh nghiệm trong ngành. Vì vậy, một hiệp hội mạnh thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên và sự quản lý hiệu quả của NHNN. KẾT LUẬN Trong 6 năm qua, với hoạt động thu xếp vốn cho dự án, PVFC không những tạo được lối đi riêng trên con đường phát triển của mình mà còn đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư cho ngành Dầu khí và nền kinh tế. Mặc dù còn có nhiều hạn chế khiến cho hoạt động này chưa được mở rộng đến các dự án ngoài ngành. Trong thời gian tới, PVFC cần chủ trọng khâu Marketing, nâng cao chất lượng nhân sự cũng như hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, Phòng ban và Tổ chức Tín dụng để có thể phát huy được hết vai trò của hoạt động thu xếp vốn trong nền kinh tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, PGS.TS Lưu Thị Hương Giáo trình Ngân hàng thương mại, TS Phan Thị Thu Hà Giáo trình Thẩm định Tài chính Dự án, PGS.TS Lưu Thị Hương Tiền tệ Ngân hàng và Thị trường Tài chính, Frederic S. Mishkin Văn bản pháp qui Luật các Tổ chức Tín dụng Luật Doanh nghiệp Nhà nước Nghị định 79/2002/ NĐ – CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/10/2002 về tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính Quyết định 742/2002/ QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN VN ngày 17/07/2002 về việc ban hành Quy định nhận Uỷ thác và Uỷ thác cho vay vốn của các Tổ chức Tín dụng Quyết định 154/1998/ QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN VN ngày 29/04/1998 về việc ban hành Quy chế đồng tài trợ của các Tổ chức Tín dụng Quyết định 457/2005/QĐ – NHNN ngày 19/04/2005 về việc ban hành Quy định về các tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức Tín dụng Tài liệu của Công ty Tài chính Dầu khí Mẫu Hợp đồng tín dụng trung và dài hạn, Hợp đồng thu xếp vốn và Hợp đồng uỷ thác cho vay của PVFC Quy trình quy chế thu xếp vốn, uỷ thác cho vay, cho vay dự án của PVFC Các báo cáo đã được kiểm toán của Công ty Tài chính Dầu khí (2002 – 2005) Chiến lược phát triển của PVFC giai đoạn 2005 – 2007 và định hướng đến năm 2025 Báo cáo tổng kết hoạt động thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp giai đoạn 2000 – 2006 (13/01/2007) Các websites www.pvfc.com.vn www.petrovietnam.com.vn www.sbv.gov.vn www.vneconomy.com.vn DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TCTD : Tổ chức tín dụng CTTC : Công ty Tài chính TCT : Tổng Công ty NHTM : Ngân hàng thương mại PVFC : Petro Vietnam Finance Company PV : Petro Vietnam CBCNV : Cán bộ công nhân viên CBTXV : Cán bộ thu xếp vốn NHNN : Ngân hàng Nhà nước NH : Ngân hàng HĐ : Hợp đồng DANH MỤC BẢNG BIỂU MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 3 1.1. Những vấn đề chung về Công ty Tài chính 3 1.1.1. Khái niệm và phân loại Công ty Tài chính 3 1.1.2. Vai trò của Công ty Tài chính 6 1.1.3. Các hoạt động của Công ty Tài chính 6 1.2. Hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 8 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 8 1.2.2. Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn dự án 12 1.2.3. Quy trình thu xếp vốn cho dự án 15 1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu xếp vốn cho dự án 20 1.2.4.1. Các chỉ tiêu định lượng 20 1.2.4.2. Các chỉ tiêu định tính 21 1.3. Điều kiện để tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty 22 1.3.1. Các diều kiện phía cung (phía Công ty Tài chính) 22 1.3.2. Các điều kiện phía cầu (phía ngoài Công ty Tài chính) 25 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 27 2.1. Giới thiệu về Công ty Tài chính Dầu khí 27 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 27 2.1.2. Mô hình tổ chức 29 2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh 30 2.2. Thực trạng hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu Khí 31 2.2.1. Sự cần thiết của hoạt động thu xếp vốn cho dự án đối với Công ty Tài chính Dầu khí 31 2.2.2. Các hình thức thu xếp vốn 34 2.2.1.1. PVFC nhận uỷ thác đàm phán, ký kết các hợp đồng tín dụng với các nhà tài trợ trong và ngoài nước cho các chủ đầu tư dự án. 35 2.2.1.2. PVFC cấp tín dụng trực tiếp cho dự án bằng nguồn vốn của Công ty hoặc nguồn vốn uỷ thác của TCT, và các tổ chức tài chính, tín dụng khác 38 2.2.1.3. Đồng tài trợ 40 2.2.3. Tình hình thực hiện hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 47 2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính Dầu khí 50 2.3.1. Kết quả đã đạt được 50 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 53 2.3.2.1. Hạn chế 53 2.3.2.2. Nguyên nhân 55 2.3.3. Đánh giá khả năng tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 57 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 59 3.1. Chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 59 3.1.1. Chiến lược phát triển Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 59 3.1.2. Nội dung chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2005 – 2015 và định hướng đến năm 2025 60 3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí 63 3.2.1. Nâng cao chất lượng nhân sự trong bộ phận thu xếp vốn 63 3.2.2. Tăng cường phối hợp giữa các Tổ chức năng, phòng ban, các TCTD 64 3.2.3. Thiết lập hệ thống thông tin thẩm định dự án 65 3.2.4. Đẩy mạnh các hoạt động Marketing 67 3.2.5. Đa dạng hoá các nguồn huy động thu xếp vốn dự án 68 3.3. Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền 69 3.3.1. Kiến nghị với Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 69 3.3.2. Kiến nghị với Chính phủ và NHNN 70 KẾT LUẬN 72

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí.doc
Luận văn liên quan