Chuyên đề Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài Hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngày nay đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của lĩnh vực ngoại thương nói riêng và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, được sự quan tâm và tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước. Nên hoạt động xuất khẩu, thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát trỉển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc, cho công nghiệp hoá đất nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền kinh tế quốc dân. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thế giới bên ngoài thì Việt Nam mới có điều kiện, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều khách hàng đặc biệt là khách hàng nước ngoài. Thủ công mỹ nghệ là một ngành có giá trị không lớn, song có giá trị xuất khẩu cao, tuy nhiên lại góp phần tăng nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra, ngành thủ công mỹ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động thủ công, đồng thời làm tăng thu nhập cho người dân trong những ngày tháng nông nhàn. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, sau quá trình thực tập tại Công ty cổ phẩn XNK EUFOOD Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. MỤC LỤC Lời cảm ơn . 1 Lời mở đầu . 5 Chương 1: Khái quát về Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam . 8 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 8 1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 9 1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 9 1.2.2. Quyền hạn của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 10 1.2.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. 11 1.3. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ - đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ 14 1.3.1. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ 14 1.3.2. Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ 15 Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 17 2.1.Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam trong những năm gần đây 17 2.2. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam . 19 2.2.1. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam . 19 2.2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 26 2.2.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam . 29 2.2.4. Hình thức xuất khẩu 33 2.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phẩn xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam . 37 2.3.1. Những thành tựu đạt được . 37 2.3.2. Hạn chế 39 2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 40 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam . 41 3.1. Định hướng phát triển của Công ty cổ phần XNK EFOOD Việt Nam trong giai đoạn 2011 đến 2015 41 3.1.1. Định hướng phát triển chung của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 41 3.1.2. Định hướng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam . 42 3.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 45 3.2.1.Tăng cường công tác nghiên cứu và xây dựng chiến lược thị trường toàn diện 45 3.2.2. Hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin . 46 3.2.3. Tăng cường hoạt động giao tiếp, giới thiệu và quảng bá sản phẩm 47 3.2.4. Nâng cao chất lượng tay nghề công nhân 48 3.2.5. Hoàn thiện công tác lãnh đạo và tổ chức nhân sự . 49 3.3. Một số kiến nghị với Nhà Nước 50 Kết luận: 52 Danh mục tài liệu tham khảo: 53

doc53 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/04/2013 | Lượt xem: 2310 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ương án kinh doanh đó được Giám đốc duyệt trong thời hạn 3 ngày phải đáp ứng vốn của các đơn vị thực hiện hợp đồng. - Thanh toán tiền hàng với bạn hàng trong nước và nước ngoài - Giám sát việc sử dụng vốn của các đơn vị, đôn đốc thu hồi vốn. - Lựa chọn phương án hoạch toán phù hợp và hướng dẫn kế toán các đơn vị trong công tác hoạch toán. Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo kế toán, thống kê thuế kịp thời chính xác đúng quy định. - Kế toán trưởng liên đới chịu trách nhiệm khi để các đơn vị trực thuộc sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn. + Phòng tổ chức hành chính: - Có chức năng tổ chức quản lý, tuyển chọn lao đông, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên và nâng cao trình độ quản lý cho các bộ phận. - Xây dựng phương án bố trí sắp sếp nhân viên toàn Công ty. - Lên kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nhân viên. - Xây dựng phương án bảo vệ đảm bảo công tác an ninh trật tự an toàn cơ quan. - Làm tốt công tác văn thư, lưu trữ, quản lý dấu Công ty, dấu chức danh. - Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường cơ quan. + Các đơn vị trực tiếp sản xuất – kinh doanh trong Công ty: Các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh hoạt động trên nguyên tắc khoán với 3 hình thức: • Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện (do Giám đốc Công ty giao) Giám đốc Công ty khoán các chi phí, 100% lợi tức nộp Công ty. • Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu do các đơn vị tự khai thác: Giám đốc Công ty khoán lợi tức phải nộp cho Công ty (mức nộp tuỳ theo từng mặt hàng). • Đối với mặt hàng xuất nhập khẩu uỷ thác qua Công ty và hàng hoá kinh doanh nội địa, Giám đốc Công ty quy định mức lợi tức phải nộp cho Công ty theo phần trăm (%) tính trên hoa hồng uỷ thác hoặc tính trên doanh số kinh doanh đối với hàng nội địa. 1.3. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ - đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ. 1.3.1. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ. Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam có các hình thức kinh doanh chủ yếu sau: - Buôn bán và kinh doanh thực phẩm như: Bơ, phomat, sữa, đồ uống, nước có ga, nước giải khát…. - Nhập khẩu các mặt hàng về thực phẩm, đồ uống, rượu, thuốc lá, cà phê… - Kinh doanh các mặt hàng về thủ công mỹ nghệ, mây, tre đan, len, các mặt hàng sơn mài, khảm điêu khắc, dệt….trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Nhận xuất khẩu và nhập khẩu uỷ thác cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế… Sau hơn 10 năm hoạt động với nhiều thăng trầm nhưng hiện nay, Công ty đã vươn lên ngày một vững mạnh hơn khẳng định chỗ đứng trên thị trường, các sản phẩm ngày càng đa dạng. Không những thế Công ty còn giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, nhất là những lao động nông thôn, tận dụng được thời gian nông nhàn tham gia sản xuất hàng xuất khẩu như: các mặt hàng sơn mài, khảm điêu khắc ở Chuyên mỹ, Bình Minh, Vạn Điểm, mây tre đan ở Phú Vinh, Trường Yên, Phú Nghĩa, dệt lụa Vạn Phúc, thêu ren ở Thường Tín… Các sản phẩm nhập khẩu của Công ty được tiêu thụ chính tại các siêu thị, đại lý, đối tác trên toàn quốc nhưng thị trường chính vẫn là thị trường Miền Bắc. Ngoài việc buôn bán kinh doanh nội địa, thị trường của Công ty còn mở rộng buôn bán với nhiều nước trên thế giới, trong đó một số thị trường chính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Tây Ban Nha, Mỹ. 1.3.2. Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ thường là những hàng hoá, tiêu dùng phục vụ cho đời sống của người tiêu dùng, nhưng một đặc điểm nổi bật ở hàng thủ công mỹ nghệ chính là tính mỹ thuật cao, gắn liền với thuần phong, mỹ tục, văn hoá truyền thống, tập quán của từng địa phương, quốc gia. Với những nét riêng biệt như vậy đã tạo cho hàng thủ công mỹ nghệ có những đặc điểm rất riêng ngay từ nguyên liệu sản xuất, với những nguyên liệu có sẵn, tại chỗ, phong phú về chủng loại như: mây, tre, nứa, sơ dừa, đay, gai, sương động vật, ngà voi…. Với những nguyên liệu thô sơ này, qua bàn tay người lao động, tạo nên cho hàng thủ công mỹ nghệ một đặc điểm nữa mà các ngành chế biến khác không có, đó chính là các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ được làm hoàn toàn bằng đôi bàn tay khoé léo của người thợ, chỉ có một vài công đoạn có sử dụng đến máy móc như cắt, xẻ, xén…lực lượng lao động tham gia ngoài những người thợ chính xuất thân từ nông nghiệp thì còn rất nhiều những lao động họ đi làm mang tính thời vụ, nhưng những sản phẩm họ làm ra rất tinh tế và đẹp mắt đã lọt vào mắt của những khách hàng khó tính như Mỹ, Châu Âu… Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ luôn đa dạng về màu sắc, chủng loại, chất liệu, mang nét truyền thống. Là tinh hoa của từng địa phương, dân tộc, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, nó được coi như nhịp cầu giao lưu văn hoá giữa các vùng, miền. Ngày nay, hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đáp ứng thị hiếu tiêu dùng trong nước mà đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách nước ngoài, đó chính là sự khám phá những nét đẹp văn hoá nhờ các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN XUẤT NHẬP KHẨU EUFOOOD VIỆT NAM. 2.1 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam trong những năm gần đây. Trong những năm gần đây, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách hàng, nhất là khách hàng nước ngoài, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước ở khắp các châu lục của thế giới. Với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đa dạng phong phú đã chiếm được cảm tình của khách hàng quốc tế. Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã trở nên quen thuộc với các thương hiệu như: ASIA Lạc Phương Nam, Làng Việt….. Với những điều kiện thuận lợi và tiềm năng sẵn có, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu của mình. Hiện nay, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã được Nhà nước khuyến khích đầu tư và được đưa vào danh sách ngành hàng được ưu đãi, đầu tư. Nguồn nguyên liệu phong phú, các mặt hàng có thể sản xuất phân tán tại các làng nghề, thậm chí tại các hộ gia đình. Không đòi hỏi nguồn đầu tư nhiều cho sản xuất. Song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn mà hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đang phải đối mặt đó chính là sự cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm của các nước cũng sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống ở các nước như : Thái lan, Trung Quốc, Ấn Độ, philippin… Đứng trước sự cạnh tranh với các nước trên thế giới, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có lợi thế là nhóm hàng truyền thống lâu đời với nhiều làng nghề và thương hiệu nổi tiếng. Hiện nay, nước ta có trên 1.400 làng nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất trên 300 chủng loại hàng, với nguồn nguyên vật liệu phong phú, đa dạng về chủng loại như: Gốm sứ, mây tre, thêu dệt, thảm,… cùng với nhiều sự kết hợp, cải tiến về mẫu mã mang phong cách riêng về tập quán sinh hoạt đất nước làng quê Việt Nam, các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam được sếp vào danh sách 10 hàng xuất khẩu có mức tăng trưởng cao nhất, hiện đã có mặt trên 100 nước và vùng lãnh thổ và đang dần thâm nhập vào thị trường khó tính như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU… Những năm qua EU đã nhập khẩu khoảng 7 tỷ USD sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Bộ công thương đã nhận định, trong tương lai EU là thị trường đầy hứa hẹn, trong năm 2011 mục tiêu hướng tới là kim ngạch xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt trên 600 triệu USD. - Mỹ: là nước có nhu cầu nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ rất cao, kim ngạch đạt 13 tỷ USD/ năm nhưng hàng của Việt Nam chỉ chiếm 1,5% thị phần. Năm 2006 Việt Nam xuất khẩu khoảng 77 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường Mỹ chủ yếu là gốm sứ chiếm 36,8%. Đây là thị trường mà chúng ta cần phải khai thác, muốn vậy hàng thủ công mỹ nghệ phải được cải tiến hơn nữa về mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đây cũng chính là đòi hỏi chung cho tất cả các thị trường của Việt Nam. - Nhận Bản: Là thị trường đầy tiềm năng nhưng lại là thị trường khó tính đòi hỏi khắt khe về chất lượng sản phẩm vì vậy cần có những biện pháp xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Song bên cạnh đó hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu của thị trường, việc tiếp cận để tranh thủ cơ hội còn gặp nhiều khó khăn, chính điều này đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu, học hỏi và tìm ra giải pháp để đưa hàng thủ công mỹ nghệ của chúng ta đạt được kỹ xảo riêng, chất liệu riêng, đặc trưng để đáp ứng thị hiếu khách hàng tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường Quốc tế. 2.2. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam. 2.2.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam. Kết quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Công ty trong những năm gần đây. Để biết được hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phẩn xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam ta có thể xem xét các chỉ tiêu qua bảng Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2008, 2009 và 2010 và sáu tháng đầu năm 2011 sau đây: BẢNG 2.1: BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY XNK EUFOOD VIỆT NAM TỪ 2008 - 2011 Đơn vị tính: 1000đ TT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 1 Tổng doanh thu 10,718,600 12,567,000 15,769,700 17,968,900 2 Giá vốn 9,781,000 11,027,000 13,760.000 15,489,600 3 Lãi gộp 937,600 1,540,000 2,009,700 2,479,300 4 Tổng chi phí KD 897,000 990,270 1,376,900 1,567,800 5 Lợi nhuận TT 40,600 549,730 632,800 911,500 6 Thuế thu nhập 11,360 153,924 177,184 255,220 7 Lợi nhuận ST (7= 5 – 6) 29,240 395,806 455,616 656,280 8 Tổng tiền lương 487 585 601 705 9 Thu nhập bq/tháng/người 1170 1300 1550 1720 Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của phòng tài chính kế toán Công ty XNK EUFOOD Việt Nam. Chú thích bảng 2.1: Thứ tự 4: Tổng chi phí kinh doanh Thứ tự 5: Lợi nhuận trước thuế Thứ tự 7: Lợi nhuận sau thuế Từ bảng số liệu kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam từ năm 2008 – 2011, được miêu tả rõ hơn qua biểu đồ dưới đây: Qua bảng số liệu trên ta thấy 3 năm gần đây, kết quả kinh doanh của Công ty có nhiều khởi sắc: Về doanh thu: Tăng dần qua các năm, năm sau nhiều hơn năm trước với tỷ lệ khá cao: Năm 2009 tăng 11,24% so với năm 2008, năm 2010 tăng 25,48% tương đương với trên 3 tỷ đồng so với năm 2009. Sáu tháng đầu năm 2011 tăng 13,95% so với năm 2010. Giá vốn: Thể hiện tổng giá trị gốc của hàng hoá, dịch vụ đang thực hiện tại Công ty, chỉ tiêu này cho thấy lượng giá vốn các mặt hàng kinh doanh của Công ty qua 3 năm đều tăng dần, đồng thời chỉ tiêu này là căn cứ để tính phần lãi gộp. Lãi gộp: Là chênh lệch giữa chỉ tiêu doanh thu và giá vốn hay chính là chênh lệch giữa doanh thu mang về và giá vốn sản xuất hoặc mua vào của hàng hoá và dịch vụ, chỉ tiêu này không bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và kinh doanh của Công ty. Qua bảng số liêu trên ta thấy lãi gộp của Công ty cũng tăng dần qua các năm, nhất là năm 2009 tăng 64,25% so với năm 2008, sang năm 2010 có giảm đi chỉ tăng 30,5% so với năm 2009. Sáu tháng đầu năm 2011 tăng lên 23,37% so với năm 2010 và có thể từ nay đến hết năm 2011 lãi gộp sẽ còn tăng hơn nữa. Chi phí: Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh có hiệu quả Công ty phải chi phí về vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản…các chi phí này cũng tăng dần qua các năm, được thể hiện rõ trong bảng số liệu trên. Năm 2009 tăng 10,39% so với năm 2008, lượng tăng tuyệt đối là 93,270 nghìn đồng. Năm 2010 tăng 39,04% so với năm 2009, lượng tăng tuyệt đối là 386,630 nghìn đồng. Sáu tháng đầu năm 2011 tăng 13,86% so với năm 2010. Nguyên nhân dẫn đến mức chi phí tăng đó là do Công ty phải chụi sự tăng giá của cước phí vận chuyển, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi phí thu mua bốc dỡ nguyên vật liệu…Một phần là do sự biến động của nền kinh tế trong nước làm giá cả đều tăng cao. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty ta phải xem xét tốc độ tăng của doanh thu với tốc độ tăng của chi phí: - Tốc độ tăng của doanh thu năm 2009 so với năm 2008 bằng 1,172 lần (1,172%). - Tốc độ tăng của doanh thu năm 2010 so với năm 2009 bằng 1, 2548 lần ( 125,48%). - Tốc độ tăng của doanh thu sáu tháng đầu năm 2011 so với năm 2010 bằng 1,1395 lần (113,95 %) - Tốc độ tăng của chi phí năm 2009 so với năm 2008 bằng 1,1039 lần (110,39%). - Tốc độ tăng của chi phí năm 2010 so với năm 2009 bằng 1,3904 lần (139,04%). - Tốc độ tăng của chi phí sáu tháng đầu năm 2011 so với năm 2010 bằng 1,1386 lần ( 113,86%). Xét năm 2009 so với năm 2008 tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu là 6,81%, điều này hoàn toàn là có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2010 so với năm 2009 tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí là 13,56%. Song, xét sáu tháng đầu năm 2011 so với 2010 tốc độ tăng của doanh thu so với tốc độ tăng chi phí là 9%. Nhìn tốc độ tăng này ta thấy mặc dù năm 2010 Công ty đã bỏ khá nhiều chi phí họat động kinh doanh của mình, đồng thời chỉ rõ những khó khăn mà Công ty đang gặp phải đó chính là ảnh hưởng rõ rệt sự biến động đối với nền kinh tế. Nắm được điều này, sang năm 2011 Công ty đã phải cố gắng tìm mọi cách để hạ thấp chi phí hơn nữa, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, cho ta thấy muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi công ty phải thực hiện việc tiết kiệm chi phí tốt hơn, tính toán các khoản chi phí một cách hợp lý và tránh các khoản chi tiêu không hợp lý gây ảnh hưởng xấu đến kết quả của Công ty. Về lợi nhuận trước thuế: Đây là chỉ tiêu thể hiện lợi nhuận thu về của Công ty nhưng chưa trừ đi phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp qua các năm. Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh ta thấy năm 2009, lợi nhuận tăng vọt so với năm 2008 với mức tăng 135,4% đạt giá trị tuỵêt đối là 509,130 nghìn đồng, đây là mức tăng khá nhanh cho thấy năm 2009 là năm có nhiều thành tựu nhất đối với Công ty, sang năm 2010 lợi nhuận này vẫn tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn, tăng 15,1% so với năm 2009. Sau tháng đầu năm 2011 tốc độ tăng vọt lên 44%, năm 2011 đang là năm hy vọng khởi sắc lớn của Công ty. Thuế thu nhập doanh nghiệp: Chỉ tiêu này cho biết số tiền thuế mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách nhà nước, được tính bằng cách lấy doanh thu trước thuế nhân với phần trăm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Ở bảng kết quả kinh doanh trên, năm 2008 áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 32%, sang đến năm 2009 mức thuế này được Nhà nước khuyến khích giảm xuống chỉ còn là 28%. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy số thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty đã nộp cho Nhà nước rất nhiều qua các năm nhất là năm 2009 và năm 2010. Lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu này đánh giá lợi nhuận mà Công ty được hưởng sau khi trừ đi tất cả các chi phí. Trong ba năm nay, Công ty luôn có lợi nhuận, nhất là năm 2009 và năm 2010 và sáu tháng đầu năm 2011, lợi nhuận của Công ty tăng khá nhanh cụ thể năm 2009 tăng 135,38% so với năm 2008 và năm 2010 tăng 15,11% so với năm 2009, năm 2011 tăng vọt 44% so với năm 2010. Qua sự tăng trưởng ở số liệu trong bảng trên, ta thấy năm 2009 năm Công ty đạt được lợi nhuận cao nhất, sang đến năm 2010 thì lợi nhuận có tăng, nhưng chậm hơn. Sang 6 tháng đầu năm 2011 thì lợi nhuân tăng vọt so với năm 2010 và con số này chắc chắn sẽ còn tăng trong sáu tháng cuối năm 2011. Lợi nhuận tăng, điều này góp phần làm tăng nguồn vốn của Công ty và chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng của Công ty, kết quả sử dụng các yếu tố lao động, vật tư… nó là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ hoạt động kinh doanh và là đòn bẩy kinh tế của doanh nghiệp trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn. Về tiền lương: Nhìn chung tiền lương bình quân của lao động hàng năm đều tăng, điều này là động lực để khuyến khích người lao động thêm hăng say làm việc tạo hiêụ quả trong lao động sản xuất. Nhìn chung, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng phát triển tốt. Tổng doanh thu tăng dần với quá trình nâng cao mức sống người dân, đảm bảo được đời sống và thu nhập ổn định cho người lao động, đây là một trong những yếu tố không nhỏ trong việc đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. 2.2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. Trên thực tế, cơ cấu mặt hàng của Công ty luôn có sự biến đổi cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng trên thị trường. Cụ thể bảng số liệu sau đây sẽ chỉ ra cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty trong 3 năm gần đây: Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam từ năm 2008 - 2010 Đơn vị: 1000 USD Năm Khu vực 2008 2009 2010 KNXK Tỷ trọng (%) KNXK Tỷ trọng (%) KNXK Tỷ trọng (%) Mây tre đan 73.938 - 107.083 44,8 121.386 13,35 Thêu ren 13.124 - 13.830 5,38 14.110 2,0 Gốm sứ 6.120 - 5.138 83,95 6.720 26,0 Thảm mỹ nghệ 3.358 - 3.908 16,8 4.112 5,2 Tổng 96.540 - 130.139 34,8 146.328 12,43 Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu phòng tài chính của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Từ bảng số liệu kim ngạch xuất khẩu của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam từ năm 2008 – 2010, được miêu tả rõ hơn qua biểu đồ dưới đây: Qua bảng số liệu trên ta thấy mặt hàng chủ lực của Công ty là mây tren đan, chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm, tiếp theo là mặt hàng thêu ren, các mặt hàng như: Gốm sứ, thảm mỹ nghệ chiếm tỷ trọng không nhiều trong tổng kim ngạch. Ta có thể xem xét cụ thể qua sự phân tích sau: Trong năm 2009, xét về tổng kim ngạch xuất khẩu ta có thể thấy năm 2009 tăng 34,8% so với năm 2008 tương ứng với: 33,599 USD. Xem xét chi tiết cơ cấu các mặt hàng thì hàng mây tre đan tăng 44,8% với mức tăng tuyệt đối: 33,145 USD chiếm 82,3% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009. Mặt hàng thêu ren tăng 5,38% so với năm 2008 với tỷ lệ tăng tuyệt đối là 706 USD, chiếm 10,62% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009. Mặt hàng gốm sứ lại bị giảm 16,05% với mức tương ứng 982 USD so với năm 2008 chỉ chiếm 3% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng so với năm 2008 mặt hàng này tăng 16,8%. Mặt hàng thảm mỹ nghệ tăng 16,3% với mức tương ứng 550 USD so với năm 2008 chiếm 3% tổng kim ngạch. Năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 12,43% so với năm 2009. Mặt hàng mây tre đan tăng 13,35% so với năm 2009 và chiếm 82,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng thêu ren tăng 2% so với năm 2009, chiếm 9,6% trong tổng kim ngạch. Sang đến năm 2010 mặt hàng gốm sứ đã tăng trở lại khá nhanh 26% so với năm 2009 chiếm 4,6% tổng kim ngạch, mặt hàng thảm mỹ nghệ cũng tăng 5,2% so với năm trước và chiếm 2,9% tổng kim ngạch. Qua bảng số liệu trên ta thấy mặt hàng chủ lực là mây tre đan và thêu ren có kim ngạch xuất khẩu luôn tăng qua các năm, điều này cho thấy Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam luôn chú trọng triển khai và tập trung khai thác để nâng cao kim ngạch mặt hàng chủ lực của mình. Bên cạnh đó các mặt hàng xuất khẩu khác mặc dù không chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch nhưng cũng đều tăng qua các năm, riêng mặt hàng gốm sứ bị giảm trong năm 2009 nhưng sang năm 2010 lại phục hồi trở lại và hiện nay vẫn đang trên đà phát triển. Như phân tích trên ta có thể thấy trong những năm gần đây, Công ty đã có sự chuyển biến rõ rệt trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, thể hiện nỗ lực của Công ty qua việc đưa kim ngạch xuất khẩu ngày một tăng không chỉ của Công ty mà còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. 2.2.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. Để thấy được thị trường xuất khẩu mạnh nhất của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam ta xem bảng số liệu sau: Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu thị trường của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Đơn vị: 1000USD Năm Khu vực 2008 2009 2010 KNXK Tỷ trọng (%) KNXK Tỷ trọng (%) KNXK Tỷ trọng (%) Châu Á – TBD 33.238 - 40.400 21,547 55.121 36,438 Tây – Bắc Âu 48.301 - 48.225 99,84 68.757 42,575 Đông Âu 7.120 - 7.891 10,82 8.820 11,77 Thị trường khác 4.981 - 5.008 5,4 5.630 12,4 Tổng 93.640 - 105.524 8,4 146.328 38,667 Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu phòng tài chính của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Từ bảng số liệu kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu thị trường của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam trên, được miêu tả rõ hơn qua biểu đồ dưới đây: Qua bảng kim ngạch xuất khẩu trên ta có thể thấy thị trường lớn nhất của Công ty chính là thị trường Châu Á – Thái Bình Dương và Tây - Bắc Âu. Xem xét từng chi tiết cơ cấu thị trường cụ thể: - Về tổng kim ngạch: Năm 2009 tăng 8,4% so với năm 2008 đạt 11,884 USD. Năm 2010 tăng vọt lên 38,667% ứng với 20,532 USD so với năm 2009. - Thị trường Tây - Bắc Âu: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ba năm gần đây, nhưng năm 2009 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này bị giảm đi chút ít chỉ đạt 99,84% với với năm 2008 (giá trị tuyệt đối bằng 76 USD). Nhưng sang năm 2010 tăng vọt 38,99% so với năm 2009 chiếm 65,157 % tổng kim ngạch. - Thị trường Châu Á – Thái Bình Dương: Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm 2010 tăng 36,438% so với năm 2009 và chiếm 52,235 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu. - Thị trường Đông Âu: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường không cao lắm nhưng vẫn tăng qua các năm. Năm 2009 tăng 10,82% so với năm 2008 và năm 2010 tăng 11,77% so với năm 2009 chiếm 83,58% tổng kim ngạch. - Thị trường khác: Chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng đây cũng là thị trường đang được Công ty khai thác và phát triển thể hiện ở việc kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này năm 2009 tăng 5,4% so với năm 2008 và 12,4% của năm 2010 so với năm 2009. Qua đây chúng ta cũng có thể thấy rằng thị trường Tây - Bắc Âu đang là thị trường tiềm năng, Công ty cần duy trì khai thác và mở rộng hơn thị trường này để có thể khai thác triệt để đưa kim ngạch xuất khẩu của Công ty ngày một cao hơn. Đồng thời cũng thấy được thị trường Châu Á – Thái Bình Dương là thị trường đầy triển vọng, kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu của Công ty vào thị trường này có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây. Thị trường Đông Âu và thị trường khác chiếm tỷ trọng không cao trong tổng kim ngạch nhưng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường đều tăng, điều này cho thấy kim ngạch chưa cao là do Công ty chưa có quan hệ rộng, chưa thâm nhập vào được thị trường này. Tóm lại, để có được thị trường lớn và ổn định Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam cần chú trọng giữ tăng trưởng ổn định trên các thị trường chủ đạo và có biện pháp tích cực để khai thác các thị trường tiềm năng, thị trường triển vọng để kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty ngày một cao hơn và ổn định hơn. 2.2.4. Hình thức xuất khẩu Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng đòi hỏi tính mỹ thuật cao, màu mã và chủng loại phong phú, đồng thời đáp ứng được thị hiếu của khách hàng mà nhất là đối với khách hàng nước ngoài. Để đảm bảo tính an toàn cho sản phẩm và đến tay khách hàng một cách nhanh nhất và thuận lợi. Công ty đã phải nghiên cứu để đưa ra những hình thức xuất khẩu phù hợp nhất với từng thời điểm, điều kiện kinh doanh của Công ty, thuận lợi cho sự hợp tác của các đối tác để hai bên cùng có lợi ích kinh tế. Trong giao dịch xuất khẩu có rất nhiều hình thức nhưng Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam áp dụng chủ yếu một số hình thức xuất khẩu chủ yếu sau đây: • Hình thức trực tiếp Công ty trực tiếp xuất khẩu với người nước ngoài, người mua và người bán trực tiếp thiết lập quan hệ mua bán với nhau. Có người đại diện bán hàng bên nước ngoài và giao dịch trên mua bán trực tiếp trên mạng. Đặc điểm cơ bản của hình thức này là quan hệ mua bán giữa các chủ thể được thiết lập một các trực tiếp. Các bên đều có khả năng, kinh nghiệm và chủ động trong quan hệ giao dịch mua bán. Các chủ thể tham gia không cần phải thông qua người khác để thiết lập quan hệ mua bán như tư vấn, dịch vụ xuất nhập khẩu, thanh toán… Hình thức này mang về cho Công ty lợi nhuận cao hơn, nhân viên liên tục được trao dồi kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ giao dịch xuất khẩu được nâng cao. Quan hệ mua bán tiền – hàng đảm bảo sự công bằng, sòng phẳng nên các bên chấp thuận dễ dàng, tự quyết được các vấn đề trong nội dung mua bán. Xuất khẩu trực tiếp tiết kiệm được chi phí môi giới. Tuy nhiên hình thức này đôi khi cũng mang gây khó khăn cho Công ty như nghiệp vụ giao dịch, văn hoá, kinh nghiệm và tiếp cận thông tin, mỗi một nghiệp vụ đòi hỏi cán bộ nhân viên phải khéo léo ứng xử khác nhau để mang lại hiệu quả trong giao dịch, muốn vậy Công ty cũng luôn luôn phải đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật nghiệp vụ giao dịch thường xuyên liên tục. • Hình thức gián tiếp Là giao dịch mua bán thông thường mà quan hệ mua bán được thiết lập thông qua người thứ ba (người trung gian). Người trung gian có thể là người đại lý (đại lý toàn quyền, tổng đại lý, đại lý đặc biệt, đại lý hoa hồng, đại lý gửi bán, đại lý độc quyền…) hoặc người môi giới. Tuy nhiên phương thức giao dịch gian tiếp của Công ty cũng có những ưu điểm như biết tận dụng lợi thế của trung gian như kinh nghiệm, thông tin, tiết kiệm về chi phí. Đôi khi giao dịch được nhanh, hiệu quả cao. Nhưng bên cạnh đó hình thức này cũng có nhược điểm như người tiêu dùng và nhà sản xuất ít có khả năng tiếp xúc trực tiếp để biết được họ đánh giá chính xác về sản phẩm của mình ra sao, trên cơ sở đó có thể hoàn thiện hơn về sản phẩm. Bị chia sẻ lợi nhuận và phải đáp ứng nhiều về chi phí quảng cáo, tiếp thị, trang thiết bị kinh doanh… từ phía trung gian. • Hình thức mua bán đối lưu Hàng đổi hàng tức là vừa mua, vừa bán giao nhận hàng hoá tương đương gần như diễn ra đồng thời. Nguyên tắc của mua bán đối lưu: Hàng quý hiếm đổi hàng quý hiếm, hàng tồn kho đổi hàng tồn kho. Cân bằng về mặt giá trị: Hàng tính đắt đổi lấy hàng tính đắt và cân bằng về tổng giá trị: hàng giao đi tương đương hàng nhận về. Những ưu điểm của hình thức này là hàng hoá trao đổi thường không sử dụng tiền tệ làm trung gian nên các bên không bị ảnh hưởng của vấn đề tỷ giá trong giao dịch ngoại thương. Nên giảm được chi phí giao dich và chi phí thanh toán của Công ty. Bên cạnh những mặt ưu điểm thì mua bán đối lưu có nhược điểm như sự phức tạp về nghiệp vụ và nguyên tắc ứng dụng vì cán bộ nhân viên phải thông thạo cả về nghiệp vụ xuất và nhập liên quan đến nhau, nếu một trong hai bên thông thạo nghiệp vụ hơn thì bên đó sẽ tận dụng mọi khả năng để có nhiều lợi ích cho mình chính vì vậy hay xảy ra tình trạng phá vỡ sự cân bằng trong mua bán đối lưu. Biết được nhược điểm này nên Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam luôn phải thận trọng, trao dồi nghiệp vụ và kinh nghệm trong quá trình giao dịch để tránh thất thoát rủi ro. • Hình thức giao dịch tái xuất Tái xuất là một hình thức kinh doanh quốc tế theo đó hoạt động xuất khẩu diễn ra cho những mặt hàng ngoại nhập mà chưa gia công chế biến ở trong nước. Nghĩa là xuất khẩu sản phẩm ngoại nhập nhằm nhận được một khoản thu nhập nhất định từ dịch vụ tái xuất. Thực chất, Công ty đã thực hiện giao dịch tái xuất để có thù lao trên cơ sở kinh doanh hàng hoá nước khác (nước thứ 3 nào đó). Công ty đã phải nhập khẩu hàng hoá nước ngoài, sau đó sẽ tái xuất khỏi quốc gia mình mà hàng hoá không bị thay đổi (mẫu mã, kích thước, trọng lượng…). Hình thức giao dịch tái xuất có ưu điểm: Là đem lại nhiều lợi nhuận cho Công ty, thúc đẩy được mối quan hệ giữa các nước không có hàng hóa sản xuất tại nước mình mà vẫn có thể trao đổi thông qua hàng hoá nước khác. Nhược điểm: Do mình không có hàng hoá trong tay nên phải tìm hiểu rõ sản phẩm của phía bên kia, giá cả cạnh tranh trên thị trường quốc tế để tránh tình trạng hàng hoá kém phẩm chất không đúng yêu cầu của hợp đồng dẫn đến rui ro về kinh tế và uy tín cho Công ty. • Hình thức giao dịch tại hội chợ và triển lãm Hội trợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian, một địa điểm cụ thể và trong một thời hạn nhất định mà tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký hợp đồng mua bán. Triển lãm là nơi trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế hoặc của một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật… Hình thức giao dịch này thuận tiện, nhanh chóng, tiếp xúc được khách hàng tiềm năng đã lựa chọn vì triển lãm là để tìm đối tác, bạn hàng lớn cho mình. Có thể ký kết được hợp đồng luôn tại trong hội chợ nếu sản phẩm mình thực sự chất lượng mà khách hàng đang cần. Muốn làm được điều đó cán bộ nhân viên Công ty phải có trình độ chuyên môn cao trong giao dịch để có thể được nhiều đối tác quan tâm. 2.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phẩn xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam 2.3.1. Những thành tựu đạt được Một là tăng doanh thu và lợi nhuận: Trải qua, nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của mình, Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam đã không ngừng vươn lên trụ vững trong cơ chế thị trường khắc nghiệt. Để đưa kim ngạch xuất khẩu của Công ty tăng dần qua các năm thì Công ty cũng phải cạnh tranh khá nhiều với các nước, có mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, như một số nước đã nêu ở mục “ thực trạng hàng thủ công mỹ nghệ” đó là các nước Thái Lan, Nhật Bản, Ấn độ, Trung Quốc…Và từ bảng 2.1 kết quả kinh doanh của Công ty ta thấy được sự phát triển đều đặn các chỉ tiêu của qua từng năm cụ thể là từ năm 2008 – nay đã góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người lao động. Hai là nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, phong phú về chủng loại: Việc đầu tiên, Công ty làm là nâng cao được chất lượng sản phẩm (độ bền, đẹp, phong phú mẫu mã kiểu dáng) để đáp ứng được những thị trường khó tính. Từ những sản phẩm sẵn có của nước ta, Công ty đã sản xuất và làm đa dạng hoá về chủng loại, màu sắc mang đậm nét văn hoá từng địa phương, vùng, quốc gia. Chính vì vậy các mặt hàng: Mây tre đan, thuê ren, gốm sứ, thảm mỹ nghệ…như đã nêu ở bảng 2.2 đã đạt kim ngạch xuất khẩu tăng đều đặn qua các năm và đã đứng vững trên thị trường quốc tế. Ba là duy trì và mở rộng các mối quan hệ với các bạn hàng trong và ngoài nước: Công ty đã tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hội trợ quốc tế, đẩy mạnh công tác thị trường. Ngoài, những nỗ lực của tập thể Công ty về tất cả các lĩnh vực để duy trì và phát triển các mối quan hệ thì qua bảng kết quả kinh doanh và bảng kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu thị trường ta thấy rất rõ Công ty đã cố gắng củng cố thị trường tiềm năng của mình đó là thị trường Tây - Bắc Âu và Châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời không ngừng mở rộng hoạt động của mình để thăm dò và tìm kiếm thị trường mới. Hoạt động tiếp thị của Công ty được coi trọng. Quan tâm xây dựng mối quan hệ tốt với các đơn vị cung cấp nguồn hàng tạo mối quan hệ lâu dài, liên doanh liên kết nhiều hình thức để sản xuất hàng xuất khẩu. Ngoài những thành tựu đạt được ở trên, thì Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam đã quan tâm đến nguồn nhân lực đó là công tác tổ chức quản lý và cơ chế hoạt động Công ty chú trọng đến việc nâng cao trình độ, nghiệp vụ của cán bộ quản lý bằng việc mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên, nhất là cho phòng nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó tính giảm lực lượng quản lý và tăng cường lực lượng kinh doanh trực tiếp tăng thêm các phòng nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu trực tiếp. 2.3.2. Hạn chế Bên cạnh những thành tựu đã đạt được Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế sau: Một là công nghệ kỹ thuật: Mặc dù, có sự đầu tư nhiều cho sản xuất nhưng hiện nay, Công ty vẫn chưa thể đầu tư về chiều sâu, để nâng cao chất lượng. Nhất là về công nghệ kỹ thuật chưa đổi mới vẫn non kém trong các khâu ép, sấy, bảo quản nên đôi khi sản phẩm còn hỏng hóc, nứt, cong, bong. Các sản phẩm tuy có sự cải tiến về mẫu mã song chất lượng vẫn chưa thể cạnh tranh với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các nước khác như: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Đài Loan… về tiêu chuẩn quốc tế. Hai là thị trường tiêu thụ còn nhỏ hẹp: Do sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế trong nước của thời kỳ mở cửa và sự cạnh tranh khắc nhiệt của thị trường quốc tế giá cả chất lượng, kiểu dáng. Nguồn tài nguyên gỗ ngày một cạn kiệt nên không đáp ứng được đầy đủ sản phẩm với khách hàng nên ngày lại ngày thị trường dần bị thu hẹp. Ba là trong khâu thanh toán còn mất nhiều thời gian: Mặc dù hiện nay, nhà nước đã giảm thiểu rất nhiều thủ tục thanh toán đối với việc xuất nhập khẩu nhưng vẫn còn những vướng mắc và mất nhiều thời gian khi thanh toán với đối tác. Hơn nữa là Công ty cổ phần nhưng đôi khi vẫn thiếu vốn quay vòng, việc vay của ngân hàng cũng khó khăn nhất là thời điểm hịên nay, đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ mới có thể vay được vốn. Đối với nhân viên đôi khi trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ còn yếu nên việc thanh toan cung gây trở ngại khi thanh toán với đôi tác. 2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. Một là thiếu nhạy bén trong thị trường của đơn vị sản xuất: Do Công ty không trực tiếp sản xuất hầu hết sản phẩm hàng hoá nên không có điều kiện cải tiến mẫu mã chất lượng mà điều đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận biết và thiện chí của các cơ sở sản xuất hàng mây tre ngoài Công ty. Công ty nhiều khi cũng không chủ động được trong hoạt động kinh doanh làm ảnh hưởng tới uy tín và lợi nhuận. Công ty mặc dù có xưởng sản xuất hàng mây tre, nhưng cũng chưa đủ điều kiện để đầu tư chiều sâu cho sản xuất và chế biển các sản phẩm mây tre có chất lượng cao phục vụ cho sản xuất. Hai là còn yếu và thiếu thị trường truyền thống : Thị trường lớn của Công ty chưa có, hầu hết các thị trường mới, tính bền vững chưa cao, việc mở rộng thị trường còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn đang ở dạng thăm dò, các hợp đồng chuyến Công ty đã cố gắng để đưa ra các giải pháp thực sự hữu hiệu nhằm giữ vững thị trường nhưng hiệu quả chưa cao. Ba là hiệu quả xuất khẩu các mặt hàng kém: Nhiều mặt hàng giao dịch rất mất thời gian và chi phí nhưng không thành công hoặc hiệu quả kém. Một số khách hàng cũng có nhu cầu rất lớn nhưng lại đang gặp khó khăn trong khâu thanh toán. Nên dẫn đến hạn chế khả năng xuất khẩu của Công ty. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU EUFOOD VIỆT NAM. 3.1. Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam trong giai đoạn 2011 đến 2015 3.1.1. Định hướng phát triển chung của Công ty Cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Trong giai đoạn 2010 đến 2015 Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam vạch ra cho mình hướng phát triển như sau: • Về thị trường: Mở rộng thị trường là việc làm quan trọng số một đối với hoạt động kinh doanh của Công ty. Càng có nhiều thị trường, nhiều bạn hàng thì công việc kinh doanh càng ổn định và dẫn tới nhanh chóng phát đạt. Thị trường quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Có mối quan hệ với nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ,…Duy trì và mở rộng là phương châm mà Công ty đã và đang thực hiện. Trong tương lai, Công ty có xu hướng mở rộng thêm thị trường ra nhiều khu vực khác, đặc biệt là tập chung khai thác thị trường Châu Âu. • Về sản phẩm: Tập trung vào các mặt hàng chủ lực đó là mây tre đan và hàng thêu ren. Nâng cao chất lượng, chủng loại mặt hàng nhiều hơn nữa, đổi mới về kiểu dáng và công nghệ phù hợp với thị hiếu khách hàng. Chủng loại mặt hàng mây tre đan rất phong phú và đa dạng. Trong những năm đầu thế kỷ 21 này, mặt hàng mây tre đan cần phải hoàn thiện hơn nữa về hình dáng, màu sắc và đặc biệt là chất lương hàng hoá. Mặt hàng này cần được xử lý chống mối mọt, ẩm mốc, hoặc mất màu mới có thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu như: Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan trên thị trường thế giới. • Về công tác thị trường: Tích cực tham gia các hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, marketing, quảng cáo sản phẩm…Khai thác, thâm nhập vào thị trường mới đồng thời tìm ra nguồn hàng cũng như nhà cung cấp nội địa tìm ra sản phẩm mới để mở rộng thị trường xuất khẩu. • Về công tác quản lý: Xây dựng và hoàn thiện quy chế ban hành trong Công ty. Nâng cao trình độ quản lý và trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ nhằm tạo hiệu quả trong công tác quản lý kinh doanh. Nâng cao trình độ về tin học và thương mại điện tử, của phòng nghiệp vụ để phù hợp với nhu cầu công việc. Vấn đề về nhà xưởng, kho tàng phải được đảm bảo phù hợp với điều kiện có cho sản xuất kinh doanh. 3.1.2. Định hướng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Để cho công tác kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hoạt động ổn định và có định hướng phát triển rõ ràng, Công ty cổ phẩn XNK EUFOOD Việt Nam đã vạch ra định hướng phát triển những mặt hàng thủ công mỹ nghệ chủ lực của mình trong tương lai gần thông qua bảng số liệu như sau: Bảng 3.1: Định hướng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty XNK EUFOOD Việt Nam giai đoạn 2011 -2015 Đơn vị: 1000USD Năm Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 Mây tre đan 125.000 129.500 132.000 133.500 135.800 Thêu ren 14.500 15.000 15.500 16.000 16.900 Gốm sứ 6.800 7.000 7.500 7.900 8.800 Thảm mỹ nghệ 4.500 5.000 5.500 5.900 6.300 Tổng 150.800 165.500 160.500 163.300 167.800 Nguồn: Phòng kế hoạch tài chính của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam Từ bảng số liệu định hướng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty XNK EUFOOD Việt Nam giai đoạn 2011 -2015 trên, được miêu tả rõ hơn qua biểu đồ dưới đây: Để mục tiêu trên thực hiện được một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi Công ty phải tìm ra cho mình đường lối phát triển đúng đắn nhất và đảm bảo được các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản phẩm luôn ổn định. Giá cả và chất lượng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng. Mặt hàng đa dạng về chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc nhất là phải tập chung vào các mặt hàng chủ lực đó là: Mây tre đan và thêu ren, nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng thị trường xuất khẩu mới, củng cố, duy trì khách hàng truyền thống. Đa dạng các hình thức xuất khẩu, chú trọng nâng cao kim ngạch xuất khẩu. 3.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 3.2.1. Tăng cường công tác nghiên cứu và xây dựng chiến lược thị trường toàn diện. Để Công ty có doanh thu và lợi nhuận tăng hàng năm thì Công ty đã luôn nghiên cứu thị trường từ đó đưa ra những chiến lược, hoạch định phù hợp nhất để mở rộng thị trường mới, giữ vững thị trường truyền thống. Qua đó nắm bắt được nhu cầu về mặt hàng đang kinh doanh của mình. Trên thị trường quốc tế những đặc điểm của từng khu vực, để xác định đúng đắn chính sách sản phẩm, xu hướng giá cả xuất khẩu, mặt hàng xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới việc thu mua các loại mặt hàng này. Do thị trường xuất khẩu của Công ty hiện nay chưa ổn định vì vậy cần phải có những định hướng rõ ràng về từng thị trường, từng khu vực và thị trường Châu Âu- Châu Á, Công ty có thể tìm ra được nhu cầu của thị trường này đối với từng mặt hàng xuất khẩu, đây là thị trường khó tính, để thâm nhập cần phải đáp ứng những mặt hàng đạt tiêu chuẩn Quốc tế về tính mỹ thuật và chất lượng, mẫu mã. Đây là thị trường chính của Công ty do đó đòi hỏi nguồn hàng cung cấp rất lớn, chính vì vậy cần tập chung lớn nguồn tài chính vào thị trường này. Để duy trì và mở rộng mối quan hệ tốt với bạn hàng, Công ty nên có những chính sách ưu đãi, sự chăm sóc, quan tâm riêng cho từng đối tượng khách hàng. Nắm bắt được tâm lý, sở thích họ, từ đó tạo ra những mối quan hệ tốt để giữ vững được khách hàng truyền thống và xây dựng thêm những khách hàng mới cho Công ty. Một cách tiếp cận thị trường tốt nhất để tìm kiếm khách hàng mới chính là việc tham gia vào các buổi dự thảo, triển lãm quốc tế về xuất nhập khẩu để học hỏi kinh nghiệm và phát hiện ra nhu cầu của thị trường. Đó là những công việc rất sát thực và rất hữu hiệu cho định hướng tương lai gần của việc phát triển sản phẩm của Công ty. 3.2.2. Hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin Để khai thác hiệu quả các thông tin trên thị trường thế giới, Công ty cần có các biện pháp để tiếp cận một cách nhanh nhất nhưng đòi hỏi chính xác thì mới đem lại hiệu quả tốt cho hoạt động của mình, hiện tại Công ty khai thác các thông tin chủ yếu qua mạng internet, báo chí, hội trợ, hội thảo các Doanh nghiệp. Để giành quyền chủ động cũng như các lợi thế về thông tin, Công ty cần tạo cho mình mối quan hệ chặt chẽ với nhà phân phối trong việc quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ hai bên khi nhà phân phối cung cấp thông tin chính xác. Xây dựng cho mình hệ thống thu thập thông tin hoàn chỉnh bằng cách lập trang web riêng giới thiệu đầy đủ về ngành nghề hoạt động sản phẩm của mình. Hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin cũng chính là cải thiện được một phần sự mất thời gian trong khâu thanh toán như: Thông tin nhanh được điều kiện, tình trạng thanh toán ra sao, đã nhận được hàng chưa, đã chuyển tiền qua ngân hàng chưa…bằng con đường điện thoại, thư điện tử, mail, fax…để gửi uỷ nhiệm chi, giấy giao nhận hàng… Để thị trường tiêu thụ ngày một mở rộng thì hệ thống tin cực kỳ quan trọng, nhất là thị trường nước ngoài vì thị trường này ở xa không dễ gì tiếp cận được trực tiếp nên phải khai thác qua các nguồn tin từ internet, sách báo…chính điều đó mà hệ thống thông tin luôn luôn phải thông suốt và hoàn thiện. 3.2.3. Tăng cường hoạt động giao tiếp, giới thiệu và quảng bá sản phẩm Để cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, và hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, khai thác thị trường gặp nhiều thuận lợi thì việc giao tiếp, giới thiệu và quảng bá sản phẩm là phương pháp phổ biến giúp Công ty đạt được mục đích giới thiệu sản phẩm của mình thông qua các hình thức quảng cáo, báo chí, catalog… Do đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ của công ty phần lớn là xuất khẩu cho những công ty trung gian nước ngoài chứ không phải đến được tận tay người tiêu dùng, nên phương pháp quảng cáo qua tivi, bằng phim quảng cáo hay radio không thích hợp lắm, nó chỉ có tác dụng đặc biệt đối với người tiêu dùng cuối cùng. Mặt khác, sử dụng các phương tiện này ở nước ngoài rất tốn kém. Công ty không nên sử dụng vừa gây lãng phí, hiệu quả không cao. Quảng cáo thông qua báo chí cũng là một trong những biện pháp tiết kiệm chi phí. Ngày nay, trên các loại báo chí, tạp chí luôn xuất hiện quảng cáo về Doanh nghiệp và sản phẩm, cho thấy đây là hình thức phổ biển và việc quảng cáo trên báo chí có vai trò rất quan trọng. Công ty cũng nên tận dụng hình thức quảng cáo này để có hiệu quả nhất. Viêc giới thiệu và quảng bá sản phẩm bằng hình ảnh, khách hàng có thể lựa chọn cho mình những sản phẩm thích hợp nhất, phương pháp này giúp Công ty tập trung quảng cáo, kết hợp chào hàng cho những Công ty trung gian nước ngoài, chi phí lại không lớn lắm. Ngày này, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử đã tạo ra thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp trong việc quảng bá sản phẩm của mình với thế giới một cách nhanh nhất mà lại tiết kiệm được chi phí. Công ty đang xây dựng cho mình một trang web để giới thiệu Công ty và sản phẩm của mình đối với các bạn hàng quốc tế. Ngoài ra, Công ty có thể tăng cường hoạt động giao tiếp bằng cách tham gia các hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế hàng năm do hiệp hội các nhà xuất khẩu thủ công mỹ nghệ tổ chức. Đây vừa là cơ hội để công ty có thể ký kết các hợp đồng kinh tế, quảng bá cho Công ty và sản phẩm của mình vừa có thể học hỏi kinh nghiệm cũng như các mẫu mã, sản phẩm mới của các đối thủ cạnh tranh. Công ty nên tiến hành quảng cáo định kỳ và cho nhiều khách hàng. 3.2.4. Nâng cao chất lượng tay nghề công nhân và công nghệ kỹ thuật Bất kỳ một nhà sản xuất nào cũng đặt tiêu chí chất lượng lên hàng đầu, nó quyết định nên thương hiệụ và uy tín của doanh nghiệp. Để có sản phẩm tốt, kiểu dáng đẹp, đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng đòi hỏi rất nhiều vào tay nghể của công nhân, đặc biệt là đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì yêu cầu này càng đòi hỏi khắt khe hơn về tính mỹ thuật cũng như độ tinh xảo của sản phẩm. Đế đáp ứng được đòi hỏi đó, Công ty cần làm chặt trong khâu quản lý, tạo ra cho người công nhân có trách nhiệm đối với sản phẩm mình làm ra, đồng thời cũng nên quan tâm đến đời sống của người công nhân để họ có thể làm tốt công việc của mình, đảm bảo cho hàng hoá xuất khẩu có chất lượng đúng như hợp đồng. Ngoài việc nâng cao chất lượng tay nghề cho công nhân, Công ty cải thiện, đổi mới công nghệ kỹ thuật máy móc để sản phẩm được bền, đẹp và phong phú mẫu mã hơn. Thuận tiện và rút ngắn được thời gian sản xuất nhằm đáp ứng đúng thời gian giao hàng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho Công ty. 3.2.5. Hoàn thiện công tác lãnh đạo và tổ chức nhân sự Với đội ngũ quản lý hầu hết có trình độ về kinh tế và ngoại ngữ, mặc dù thời gian va chạm trên thị trường chưa lâu. Song đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm, có trình độ nghiệp vụ và phải thực sự năng động. Do đó việc nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp làm nghiệp vụ xuất khẩu luôn được đặt lên hàng đầu. Muốn vậy, Công ty phải có kế hoạch đào tạo lại và đào tạo bổ xung cũng như bồi dưỡng lực lượng làm công tác nghiệp vụ này. Khuyến khích các cán bộ theo học khoá ngắn hạn về kinh tế và nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương. Tạo điều kiện cho các cán bộ đi học nhưng vẫn có lương. Trong công việc, tuyên dương khen thưởng các cán bộ có ý kiến sáng tạo, có thành tích trong công việc. Tạo sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ, góp phần đưa hiệu quả công việc lên cao. Để khắc phục, sự thiếu nhạy bén đối với thị trường của đơn vị sản xuất thì Công ty nên mở các lớp thiết kế, lớp đào tạo cho công nhân sản xuất về nhu cầu, thị hiếu của thị trường, kiến thức, kinh nghiệm thực tế. Từ đó, công nhân áp dụng vào công việc sản xuất của mình để luôn luôn thay được đổi mẫu mã sản phẩm… 3.3. Một số kiến nghị với Nhà Nước Qua quá trình thực tập, tìm hiểu hoạt động xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. Tác giả thấy cần có một số kiến nghị với Nhà Nước sau: + Do đặc thù nước ta là nước có nền nông nghiệp phát triển lâu đời. Sẵn có nguyên vật liệu của hàng thủ công mỹ nghệ. Nhưng phần nhiều các nguyên liệu từ mây tre đan là sản xuất tự phát của bà con nông dân chưa có sản xuất tập trung. Điều này khiến cho các nhà sản xuất rất khó thu mua nguyên liệu để phục vụ sản xuất. Nguyên liệu phục vụ sản xuất còn thiếu. Chính điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hoạt động sản xuất, xuất khẩu (như thiếu hàng của đối tác, chất lượng chưa đạt yêu cầu, thời gian giao hàng không đúng…). Dẫn đến ảnh hưởng tới uy tín Công ty, lợi ích kinh tế bị rủi ro, ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu, đến lợi ích quốc gia. Chính vì vậy, Nhà nước nên có chính sách ưu đãi riêng cho các ngành nghề, khoanh tròn từng vùng, từng miền trồng Mây, Tre, Nứa, Cói, cây lấy gỗ… và hỗ trợ bà con nông dân tiền đầu tư: Cây giống, phân bón…để nông dân yên tâm sản xuất. + Về phía doanh nghiệp thì Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ về thủ tục, thuế, hải quan… làm sao nhanh và giảm bớt thủ tục hơn nữa. Không nhất thiết phải có hóa đơn đỏ từ thu mua nguyên vật liệu của bà con nông dân. Nhà nước có chính sách vay vốn tại các ngân hàng được thuận lợi với lãi suất thấp mới có thể cạnh tranh cân sứng với thị trường quốc tế. Nhà nước cũng nên bình ổn được tỷ giá hối đoái để có thể giao dịch được mọi lúc mọi nơi, thuận tiện cho việc thanh toán quốc tế. + Nhà nước cần có những chương trình xúc tiến thương mại hơn nữa, để các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thâm nhập mở rộng thị trường ra khắp thế giới. Nhà nước nên ủng hộ chi phí (bằng cách giảm lãi xuất ngân hàng, hoặc giảm giá xuất nhập khấu…) hội chợ quốc tế để Công ty đưa được các mặt hàng ra với khách hàng nước ngoài. + Nhà nước nên thường xuyên đưa những thông tin về diễn biến giá cả trên thị trường, những thay đổi về luật quy định đối với hàng thủ công mỹ nghệ. Được như vậy doanh nghiệp mới yên tâm hoạt động sản xuất và kinh doanh trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khắc nhiệt hiện nay. KẾT LUẬN Hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay đang là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và hiện nay có xu hướng phát triển rất mạnh. Đi cùng xu hướng phát triển chung đó, Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam là doanh nghiệp thực hiện khá thành công trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ mà mạnh nhất chính là mặt hàng mây tre đan. Trong những năm gần đây, đã chứng tỏ là một đơn vị kinh doanh có hiệu quả, tranh thủ được thời cơ cùng các yếu tố thuận lợi đi vào kinh doanh ổn định và phát triển. Dần đưa kim ngạch xuất khẩu đi lên, góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận đồng thời giải quyết được việc làm cho người lao động tham gia sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh đó, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và tìm ra cho mình những giải phát khắc phục để hoạt động xuất khẩu ngày một phát triển hơn, đưa kim ngạch xuất khẩu cao hơn nữa. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam, Tác giả đã được tìm hiểu và học hỏi kiến thức, kinh nghiệm thực tế về hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhất là về hàng thủ công mỹ nghệ, cụ thể là tác giả đã phân tích và trình bày ở trong bài. Tuy nhiên do thời gian và trình độ có hạn, sự hiểu biết chưa nhiều nên không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong thầy cô giáo và ban lãnh đạo Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam đóng góp để bài chuyên đề của tác giả hoàn thiện hơn. Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ – NCS Nguyễn Thị Thuý Hồng đồng cảm ơn tới Ban giám đốc cùng tập thể anh chị trong phòng xuất nhập Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam đã tận tính hướng dẫn tác giả làm chuyên đề tốt nghiệp này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách, giáo trình: 1.1. Đỗ đức Bình “2010” giáo trình “kinh tế quốc tế” NXB ĐHKTQD. 1.2.NguyễnThị Hường, (2007), giáo trình “nghiệp vụ ngoại thương” NXB ĐHKTQD. 1.3. Trần Văn Hoè, (2009), giáo trình “ nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu” NXB ĐHKTQD. 1.4. Đặng Đình Đào, (2008), giáo trình “kinh tế thương mai” NXB ĐHKTQD. 1.5. Hoàng Minh Đường, (2005), giáo trình “ Quản trị kinh doanh thương mại” NXB ĐHKTQD. 1.6. Nguyễn Xuân Quang, (2007), giáo trình “marketing thương mại” NXB ĐHKTQD. 2. Báo: 2.1. Báo thương mai 2.2. Thời báo kinh tế 3. Tạp chí: 3.1.Tạp chí nghiên cứu kinh tế của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. 4. Web: 5. Một số tài liệu XNK của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. 6. Một số chuyên đề, luận văn của trường ĐHKTQD

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChuyên đề tốt nghiệp 2011- Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam.doc
Luận văn liên quan