Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Khái quát về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. 1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng: 1.1. Tài sản chung của vợ chồng là gì? Tài sản chung của vợ chồng được hiểu là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt vì nhu cầu chung của gia đình. Do tính chất cộng đồng của hôn nhân và với vai trò là hạt nhân của gia đình đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có một lượng tài sản chung nhất định để bảo đảm các chi phí cho cuộc sống chung và để thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, đặc biệt trong việc chăm sóc giáo dục và bảo vệ các con. Dựa trên cơ sở đó, kế thừa và phát triển điều 14 luật HN-GĐ năm 1986, Điều 27 luật HN-GĐ năm 2000 quy định:

doc20 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 2178 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ BÀI   Sinh con theo phương pháp khoa học đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, chính điều đó đã cho phép các cặp vợ chồng vô sinh có thể có con, niềm mong mỏi tha thiết của họ đã trở thành hiện thực. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản có thể giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường, hậu quả chiến tranh… đáp ứng được nguyện vọng làm cha, làm mẹ của họ, điều đó đã thể hiện những giá trị nhân bản cao đẹp. Thực tế việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản không đơn thuần thuộc lĩnh vực khoa học mà còn liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, pháp lí, về tâm lí tình cảm… Việc áp dụng các biện pháp này trong nhiều trường hợp không chỉ trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn có thể liên quan đến người thứ ba, đó là người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi, do đó vấn đề này càng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn bao giờ hết. Trước thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định” (Điều 63); Để cụ thể vấn đề này, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học (sau đây gọi tắt là Nghị định 12). Nghị định này đã quy định việc thụ tinh nhân tạo; thụ tinh trong ống nghiệm; việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn; cho, nhận phôi; lưu giữ phôi và xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này chúng tôi NỘI DUNG: 1. Khái quát về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học 1.1. Khái niệm: Nghị định số 12/2003/NĐ-CP quy định:  Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm… Sinh con theo phương pháp khoa học thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, chính điều đó đã cho phép các cặp vợ chồng vô sinh có thể có con, niềm mong mỏi tha thiết đó có thể trở thành hiện thực.Các phương pháp hỗ trợ sinh sản có thể giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường, hậu quả chiến tranh…Nhằm đáp ứng nguyện vọng của người làm cha, làm mẹ của họ, điều đó đã thể hiện những giá trị nhân văn cao đẹp. Thực tế việc áp dụng hỗ trợ sinh sản không đơn thuần là một lĩnh vực khoa học mà nó còn liên quan đến nhiều vấn đề khác như : đạo đức pháp lý, tâm lý , tình cảm …Việc áp dụng phương pháp này không chỉ trong nội bộ những cặp vợ chồng vô sinh mà nó còn liên quan đến người thứ ba đó là người cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi do đó vấn đề này càng trở lên phức tạp hơn. Trước thực tế đó Điều 63 luật HN-GĐ năm 2000 quy định :“ Việc xác định cha mẹ cho con sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính Phủ quy định”. Để cụ thể vấn đề này, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học, nghị đinh này đã quy định việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, việc cho và nhận tinh trùng, cho nhận phôi, xác định cha mẹ cho con sinh ra bằng phương pháp khoa học…  1.2. Các trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học: Theo điều 2 Nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định: “ Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ sống độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; người cho tinh trùng, người nhận tinh trùng, người gửi tinh trùng; người cho noãn, người nhận noãn; người cho phôi, người nhận phôi; cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; các cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con (sau đây gọi là cơ sở y tế).” a. Trường hợp thứ nhất: Sinh con theo phương pháp khoa học áp dụng cho các cặp vợ chồng vô sinh:  Theo y học, vô sinh là trường hợp hai người chung sống và giao hợp thường xuyên đã 1 năm (không tránh thai) mà không thấy thụ thai, hoặc có thụ thai nhưng lần nào cũng sẩy. Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con, cũng có thể là thứ phát, tức là đã từng có con, nhưng sau mất khả năng đó. Hiện nay tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 10% đến 18% các cặp vợ chồng. Ðây là một vấn đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà là chung cho xã hội. Từ năm 1993 đến 1997, qua số người đến khám vô sinh tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh cho thấy nguyên nhân do người vợ chiếm 54,5%, do người chồng là 36,6% và không rõ nguyên nhân là 9,9%. Nghị định của Chính phủ về "Sinh con theo phương pháp khoa học" không chỉ tạo điều kiện để mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý cho chuyên môn và cho mọi người muốn điều trị vô sinh. Các nguyên nhân có thể dẫn đến vô sinh có thể ở người đàn ông như chất lượng, khả năng vận chuyển tinh trùng kém nhưng cũng có thể do người phụ nữ thể là do người bị rối loạn hoocmôn không rụng trứng được…hoặc là do cả 2 người dề không thể có khả năg sinh sản. b. Trường hợp thứ hai: Sinh con theo phương pháp khoa học áp dụng cho phụ nữ độc thân.  Cuộc sống công nghiệp hiện đại, nhịp sống hối hả, không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ. Ngày càng nhiều phụ nữ không muốn bị ràng buộc bởi đàn ông nhưng họ lại muốn có một đứa con để vui vầy về sau đó là một trong những lý do chính dẫn đến trường hợp này.  Theo khảo sát ban đầu làn sóng sinh con theo phương pháp này xuất hiện ở các tầng lớp trí thức, giới nghệ sĩ và những người thành đạt, nhưng thời gian gần đây, khi mà khoa học phát triển, cũng như để không phải dính dáng, rắc rối về sau, một số phụ nữ độc thân chỉ muốn có con, không muốn có chồng đã tìm đến biện pháp có con bằng phương pháp khoa học. Những phụ nữ độc thân có nhu cầu như vậy, họ không chỉ là giới thành đạt mà có cả những người bình thường. 2. Một số phương pháp sinh con theo phương pháp khoa học tiêu biểu. 2.1. Thụ tinh nhân tạo Hiện nay vấn đề được quan tâm và có nhiều tranh luận đó là thụ tinh nhân tạo. Có nhiều người chưa biết hoặc suy nghĩ sai lệch về vấn đề này vì vậy cần phải hiểu đúng đắn và nghiêm túc về vấn đề này Theo quy định tại khoản 2 điều 3  nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định: Thụ tinh nhân tạo là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi. 2.2. Thụ tinh trong ống nghiệm Chúng ta điều biết rằng khi hai người yêu nhau và đi đến quyết định gắn kết cuộc sống cùng nhau, nguyện vọng chính đáng của họ là có một  đứa con khỏe mạnh và xinh xắn. Chính đứa con đó là nhịp cầu gắn kết cho tình yêu giữa họ, nhưng không phải cuộc sống hôn nhân nào cũng đơm hoa kết trái và để cải thiện, duy trì thiên chức làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng phương pháp thụ tinh nhân tạo ra đời như là một vị cứu cho họ. Theo quy định tại khoản 3, 5, 6 điều 3  nghị định của Chính phủ số 12/2003/NĐ-CP về phương pháp sinh con theo khoa học quy định:  “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi. Noãn là tế bào trứng. Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng” Theo các nhà khoa học thì: “Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) (In vitro fertilization) là phương pháp cho giao tử của chồng (tinh trùng) và giao tử của vợ (trứng) gặp nhau và thụ tinh bên ngoài cơ thể, sau đó chuyển hợp tử hoặc phôi vào buồng tử cung người mẹ, thường được thực hiện vào ngày thứ 2 sau khi cấy”. Hiện nay nước ta đã áp dụng được rất nhiều các biện pháp TTTON như thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển, tiêm tinh trùng vào bảo tương trứng hay nuôi trưởng thành trứng trong ống nghiệm… nhằm đáp ứng được nhu cầu của nhiều người hiện nay.  3. Những trường hợp sinh con bị pháp luật cấm: Nghị định số 12 đã cấm việc mang thai hộ và sinh sản vô tính. 3.1) Trường hợp mang thai hộ. Trước đây khi chưa có hành lang pháp lí cho vấn đề này đã có một số trường hợp mang thai hộ (em bé được mang thai hộ đầu tiên ra đời ở Việt Nam vào năm 2001) nếu xét về mặt khoa học thì có thể chấp nhận những trường hợp mang thai hộ vì người vợ trong cặp vợ chồng không thể mang thai được, nếu có một người phụ nữ đồng ý cho cặp vợ chồng vô sinh cấy phôi vào tử cung của họ để họ mang thai và sinh con thì capự vợ chồng đó vẫn được một đứa trẻ mang huyết thống của mình. Nhưng nếu xét dưới góc độ tình cảm, pháp lý, phong tục tập quán thì vấn đè này trở nên vô cùng phức tạp, người mang thai hộ trong thời kỳ mang thai sẽ phát sinh những tình cảm gắn kết với đứa trẻ tương lai vậy nếu sinh con ra mà họ không muốn trả con thì giải quyết như thế nào? Nếu những trường hợp người thân mang thai hộ nhau thì việc xác định thân thích như thế nào đó là một vấn đề phức tạp, Trường hợp mang thai hộ này hoàn toàn không có yếu tố tài sản giữa các bên. Trường hợp thứ hai,các bên kí kết hợp đồng thuê mang thai hộ một cách lén lút có sự thông đồng của nhân viên y tế và người mang thai hộ cũng không muốn trao con cho cặp vợ chồng vô sinh thì hai trường hợp này đều giống nhau tại một điểm đó là: cặp vợ chồng vô sinh chỉ muốn nhờ tử cung của người khác để mang phôi thai của mình. Tuy nhiên ở hai trường hợp này cũng có sự khác nhau có hoặc không có yếu tố tài sản giữa các bên làm điều kiện kí kết hợp đồng mang thai. Đây là trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học không đảm bảo được nguyên tắc vô danh , người mang thai và người cho phôi đều chủ động tự nguyện thoả thuận việc mang thai. Vậy ai là cha mẹ? là con? Vì thế mà việc xác định cha mẹ cho con là hết sức khó khăn. Mặt khác nếu mang thai hộ liệu có đảm bảo được một cơ chế giám sát đối với người mang thai hộ trong suốt quá trình mang thai hay không để đảm bảo sự an toàn cho thai nhi như hạn chế sự đi lại, không được phép quan hệ tình dục, có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý… Ngoài ra việc mang thai hộ có thể biến thành những vụ làm ăn mang tính thương mại, những vụ tống tiền đối với những cặp vợ chồng đang mong ước có con, cũng có thể khi nhờ người mang thai hộ mà vợ chồng nhờ mang thai lại mâu thuẫn muốn li hôn thì phải giải quyết thế nào?...về vấn đề này nhiều nước trên thế giới đã quy định như Pháp, Anh,Mỹ…đều cho phép mang thai hộ trên nguyên tắc không lấy tiền nhưng thực tế đã diễn biến khá phức tạp nên cũng bị cấm. Nhìn chung việc mang thai hộ còn nhiều điểm hạn chế vì thế cần phải có nhiều biện pháp xử lý nghiêm minh về vấn đề này. 3.2. Sinh sản bằng phương pháp vô tính. Sinh sản vô tính là quá trình nhân bản con người, việc xác định cha mẹ cho con trong trường hợp này là rất khó bởi người nhân bản và người được nhân bản rất giống nhau bởi lẽ nếu người nhân bản được ra đời là kết quả của quá trình nhân bản vô tính thì sẽ có mối quan hệ thế nào với người được nhân bản, là anh chị em sinh đôi. Tại liên hợp quốc vấn đề sinh sản vô tính đã gây ra nhiều cuộc tranh luận kể từ khi chú cừu đolly- con vật đầu tiên được nhân bản thành công bằng phương pháp vô tính. Có nhiều ý kiến cho rằng nên cấm sinh sản vô tính vì vi phạm quyền bất khả xâm phạm đến sự sống của con người nhưng một ý kiến trái chiều lại cho rằng không nên cấm nhân bản con người mà để từng quốc gia xem xét xem có nên cho phép nhân bản vô tính hay không việc nhân bản phôi người để lấy tế bào gốc phục vụ cho nghiên cứu chữa bệnh vì hàng trăm triệu người trên thế giới đang chết dần chết mòn vì những căn bệnh như Alzheimer, ung thư…hoặc không có nội tạng để cấy ghép trong khi việc nghiên cứu từ phôi người có nhiều hứa hẹn, tuy vậy hiện nay nhiều nước trên thế giới đã cấm nhân bản vô tính ở người. Tuyên bố toàn cầu về bộ gen người cũng như công ước lien minh Châu Âu về y sinh học đều lên án và cấm nhân bản vô tính ở người vì mục đích sinh sản. Như vậy pháp luật cấm mang thai hộ và nhân bản vô tính ở người là hoàn toàn phù hợp trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, đứa trẻ phải được sinh ra từ người vợ đối với cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con theo phương pháp khoa học. 4). Nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản  Thứ nhất: Các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Thứ hai:Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành. Thứ ba. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; cho noãn, nhận noãn; cho tinh trùng, nhận tinh trùng; cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện. Thứ tư: Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật. 5) Nguyên tắc xác định cha mẹ cho con sinh theo phương pháp khoa học 5.1) Khái niệm xác định cha mẹ cho con +) Dưới góc độ sinh học-xã hội: khi một người phụ nữ có quan hệ với một người đàn ông dẫn đến mang thai thì chính sự kiện sinh đẻ là sự kiện trực tiếp xác định mối quan hệ mẹ con và tiếp theo là cha của đứa trẻ chính là ngưòi đàn ông đó. +) Dưới góc độ pháp lý thì có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng cách hiểu đơn giản nhất đó là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con về mặt huyết thống. 5.2) Xác định cha mẹ cho con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. Điều 20- NĐ 12 của chính phủ quy định: “ Trẻ ra đời do được kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo phương pháp khoa học phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân”. Thứ nhất: căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh: Thời kỳ hôn nhân không chỉ là căn cứ xác định cha, mẹ, con được sinh ra bằng phương pháp khoa học mà còn là điều kiện bắt buộc để cặp vợ chồng vô sinh được phép áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản. Có thể thấy rằng thời kỳ hôn nhân là một căn cứ quan trọng nhất để xác định tư cách người cha, người mẹ đối với đứa con sinh ra theo phương pháp khoa học, đây là dấu hiệu về mặt pháo lý không thể thiếu được trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học, đặc biệt là có sự tham gia của người thứ ba có liên quan- người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi. Thứ hai: Căn cứ vào sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân của người cho và nhận noãn, phôi và tinh trùng. Khác với việc tự nguyện thùa nhận con sinh ra bằng con đường tự nhiên, phương pháp sinh con bằng khoa học các chủ thể phải thể hiện ý chí của mình ngay từ thời điểm bắt đầu tiến hành hỗ trợ sinh sản. Điều này nhằm ràng buộc trách nhiệm và là một trong những căn cứ xác định cha mẹ trong tương lại. Trước hết các chủ thể phải thể hiện sự tự nguyện tiến hành biện pháp sinh con bằng văn bản. Tức là phải có đơn để đề nghị thực hiện kỹ thuật sinh sản và một số văn bản cam kết khác.Tất cả các quy định này đều thể hiện sự tự nguyện của những chủ thể có liên quan. Sau khi hoàn tất các hồ sơ thì hồ sơ đó phải được hội chẩn, ohê duyệt và chỉ định áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.Ngoài ra còn có thêm bản cam kết theo mẫu quy định, trước khi bắt đầu thực hiện hỗ trợ sinh sản. Như vậy người có nhu cầu thực hiện hỗ trợ sinh sản phải thể hiện sự tự nguyện một lần nữa trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản. Việc sinh con theo phương pháp khoa học không chỉ áp dụng trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn có sự tham gia của người thứ ba. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định cha mẹ, con làm thay đổi truyền thống về cha mẹ và con cái. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có sự tham gia của các yếu tố sinh học bên ngoài chỉ được thực hiện khi không thực hiện sinh sản được bằng các hỗ trợ thong thường, do vậy đứa con sinh ra có thể mang mã gen của bố hoặc mẹ hoặc của cả hai người. Đây là một vấn đề hất sức phức tạp vì vậy thủ tục phải thật rõ rang.  Điều kiện quan trọng nhât liên quan đến việc xác định cha, mẹ, con là người cho noãn, tinh trùng, phôi phải tự nguyện cho không được tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ của người dân. Khoản 6 điều 6 NĐ12 thì “cán bộ y tế có trách nhiệm giữ các bí mật thông tin, tuổi địa chỉ…của người cho và nhận tinh trùng, phôi”. Như vậy nguyên tắc bí mật chỉ đặt ra đối với việc cho và nhận tinh trùng và phôi mà không áp dụng đối với noãn. Đối với các bệnh nhân tự nguyện yêu cầu thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm với trứng người cho thì phải thực hiện đầy đủ các cam kết, đó là hợp đồng giữa hai vợ chồng người xin, hợp đòng cam kết giữa hai vợ chồng người cho, hợp đồng fiữa người nhận, người cho và đơn xin bệnh viện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm với trứng của hai vợ chồng người xin trứng. Phương pháp này phải dựa trên nguyên tắc bí mật nhằm đảm bảo sự ổn định trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau này, không ảnh hưởng tới những người cho trứng, cho phôi và noãn. Mặt khác dễ dàng trong việc xác định người cho và người mẹ nhận tinh trùng, noãn và phôi chắc chắn là cha mẹ của đứa trẻ trong tương lai. Có thể nhận thấy một điều mới của việc sinh con theo phương pháp khoa học là pháp luật cho phép người phụ nữ độc thân được áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản. Đây là một quyền lợi chính đáng của người phụ nữ khi họ muốn hoặc không muốn có cơ hội kết hôn mà vẫn thực hiện được thiên chức của mình. nếu như trước đây khi chưa có cơ sở pháp lý về vấn đè này thì gười phụ nữ độc thân vẫn có thể thực hiện thiên chức của mình nhưng điều đó ảnh hưởng đến hạnh phúc của một gia đình khác thì hiện nay nếu áp dụng hỗ trợ sinh sản thì họ vẫn có thể thực hiện thiên chức mà không ảnh hưởng đến người khác. Tuy nhiên trong trường hợp này chỉ có mẹ con duy nhất người con không biết cha mình là ai thì đây là khó khăn mà người mẹ phải nuôi con một mình, mặt khác đây là sự đảm bảo sự tự nguyện của người phụ nữ độc thân vì họ muốn có đứa con cho riêng mình. Thứ ba: Căn cứ vào sự kiện sinh đẻ Như phân tích ở trên thì người vợ là người thực hiện quá trình sinh con từ khi thụ tinh cho đến khi mang thai và sinh con. Tuy nhiên đối với việc sinh con theo phương pháp khoa học thì toàn bộ quá trình sinh đẻ này phải thực hiện trong thời kỳ hôn nhân chứ không thể xảy ra trước ngày đăng ký kết hôn được. Theo quy định của pháp luật thì chỉ khi nào mà bắt đầu thời kỳ hôn nhân cặp vợ chồng vô sinh sau thời gian bắt buộc chung sống với nhau không sử dụng những biện pháp tránh thai mà không có thai và sinh con được mới sử dụng những biện pháp sinh con theo phương pháp khoa học (điều 3-NĐ12). Người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh không thể thụ thai trước thời kỳ hôn nhân và càng không thể sinh con trước thời kỳ hôn nhân. Đây là điểm khác biệt giữa sinh con theo chu trình tự nhiên và sinh con theo phương pháp khoa học. Do đó, căn cự dựa trên sự thừa nhận của cha mẹ đối với con sinh ra trước thời kỳ hôn nhân không được áp dụng đối với con sinh ra theo phương pháp khoa học. Đối với người phụ nữ độc thân không áp dụng căn cứ để xác định cha mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Việc xác định cha mẹ, con chỉ căn cứ vào sự tự nguyện của người phụ nữ độc thân đối với việc sinh con theo phương pháp khoa học và sự kiện sinh đẻ của người đó. Vì vậy trong trường hợp này chỉ có quan hệ mẹ con duy nhất. Như vậy dựa vào quan hệ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh, sự kiện sinh đẻ và ý chí tự nguyện của người cho và nhận tinh trùng, noãn, phôi thì còn phải kèm theo những điều kiện và những nguyên tắc nghiêm ngặt của quá trình thực hiện kỹ thuật sinh con  được cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân đồng ý bằng văn bản trước khi sinh con. Một số trường hợp đặc biệt khi xác định con chung của vợ chồng trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh sinh con theo phương pháp khoa học: Thứ nhất: đối với trường hợp sinh con trước thời kỳ hôn nhân và được cha mẹ thừa nhận không được áp dụng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. Thứ hai: Đối với trường hợp thụ thai trước thời kỳ hôn nhân và sinh con trong thời kỳ hôn nhân cũng không áp dụng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. Bởi vì việc tiến hành sinh con theo phương pháp khoa học chỉ được áp dụng đối với các trường hợp vô sinh. Việc tiến hành sinh con theo phương pháp khoa học không được thực hiện trước khi họ là vợ chồng của nhau. Do đó đứa trẻ chắc chắn được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân. Thứ ba: Trường hợp thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên được áp dụng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. Cặp vợ chồng vô sinh được xác định là cha mẹ của đứa trẻ dù cho việc sinh con đó có sự tham gia của người thứ ba. Thứ tư: Trường hợp thụ thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra ngay sau khi hôn nhân chấm dứt trong một thời hạn luật tối đa là 300 ngày cũng được áp dụng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học nhưng cần quy định chi tiết hơn, đặc biệt là cần có ngoại lệ nhất định. Thực tế đặt ra vấn đề là trong trường hợp chấm dứt hôn nhân có tiếp tục thực hiện sinh con theo phương pháp khoa học không?. Việc chấm dứt hôn nhân có thể là do vợ hoặc chồng chết hoặc do li hôn. nếu người vợ chết thì đương nhiên chấm dứt việc sinh con theo phương pháp khoa học, nếu 2 người li hôn thì phải tuỳ từng trường hợp cụ thể. Từ đó quyết định có tiếp tục thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học hay không. Thứ năm: Con do người vợ thụ thai trưứơc ngày đăng kí kết hôn và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong một thời hạn luật định cũng không được áp dụng trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học. 6. Những hạn chế trong các quy định của Pháp luật Việt Nam về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học và phương hương hoàn thiện. Hiện nay, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học được quy định rất ít trong luật Việt Nam, hầu như chỉ có Nghị định 12/2003/NĐ-CP là có quy định chi tiết về vấn đề này. Cụ thể, Nghị định này quy định về việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm; quy định việc cho tinh trùng, nhận tinh trùng; cho noãn, nhận noãn; cho phôi, nhận phôi; cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi và xác định cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Điều 1 Nghị định 12/2003/NĐ-CP). Tuy nhiên những quy định trong Nghị định này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần phải xem xét, hoàn thiện. Cụ thể: Thứ nhất, Nghị định 12 không chỉ quy định việc cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn mà còn quy định việc cho, nhận phôi. Như vậy, đứa trẻ khi ra đời không nhất thiết phải mang gen của người cha hay người mẹ về mặt pháp lí, điều này đảm bảo quyền được làm cha, làm mẹ và đặc biệt là đảm bảo cho người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình đó là chức năng sinh đẻ. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại cách hiểu truyền thống là đứa trẻ khi ra đời phải mang ít nhất huyết thống của người cha hoặc người mẹ. Cùng với việc cho, nhận tinh trùng; trứng; phôi là việc bảo đảm việc lưu giữ và bảo quản tinh trùng, phôi. Khoản 2 Điều 17 Nghị định 12 đã quy định: “Tinh trùng, phôi được lưu giữ trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”. Và khoản 2 Điều 18 Nghị định 12 quy định: “Người gửi tinh trùng phải chi phí lưu giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người gửi tinh trùng bị chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng phải huỷ số tinh trùng của người đó”. Về vấn đề này chúng tôi thấy rằng nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh đang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết và tinh trùng của người chồng đang được lưu giữ thì có nên huỷ tinh trùng của họ không? Theo chúng tôi là không thể huỷ tinh trùng của người đó nếu không có sự đồng ý của người vợ vì trước đó cả hai vợ chồng đã thể hiện sự tự nguyện mong muốn thực hiện việc sinh con theo phương pháp khoa học, nếu sau khi người chồng chết mà người vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc sinh con đó thì phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. Tuy nhiên, vấn đề này có liên quan đến quy định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “… con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết… thì được xác định là con chung của hai người”. Vì trường hợp trên sẽ không giống như trường hợp sinh con do có quan hệ tình dục giữa vợ và chồng, do đó thời gian này có thể không chỉ là trong vòng 300 ngày mà có thể là dài hơn, tuỳ thuộc vào quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản đối với người vợ. Như vậy, Nhà nước cần thiết phải có quy định pháp lí cho trường hợp đặc biệt này. Thứ hai, một câu hỏi cần phải đặt ra sau những quy định của Nghị định này là điều kiện hạn chế li hôn có nên áp dụng trong trường hợp khi hai vợ chồng đang tiến hành áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản để sinh con theo phương pháp khoa học không? Có thể trong trường hợp đang tiến hành thụ tinh đã thành phôi và đang trữ phôi, vì điều này rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người vợ và đứa con tương lai. Nếu cả hai bên quyết định li hôn thì họ phải quyết định huỷ bỏ yêu cầu áp dụng việc sinh con theo phương pháp khoa học. Còn trong trường hợp người chồng biệt tích thì vẫn tiến hành áp dụng như các trường hợp khác vì người chồng đã thể hiện mong muốn có con bằng văn bản. Thứ ba, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là rất đặc biệt do vậy việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét riêng biệt. Điều 20 Nghị định 12 quy định: “1. Trẻ ra đời do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân. 2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản”. Điều 21 Nghị định 12 quy định: “Con được sinh ra do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi”. Như vậy, với việc sinh con theo phương pháp khoa học đã đặt ra một thực tế là có sự khác biệt giữa người cha, người mẹ về mặt pháp lí và người cha, người mẹ về mặt huyết thống. Việc xác định như vậy cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng” (Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Đây là sự đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với trường hợp người phụ nữ độc thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con. Đặc biệt, trong trường hợp này cần quy định rõ sau khi đứa trẻ được sinh ra nếu người cha, người mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không được yêu cầu xác định lại vì quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, họ không được quyền yêu cầu giám định về gen di truyền. Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa con là con ruột của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng vô sinh, người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫn trong quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản thì nên chăng cho phép họ được quyền yêu cầu được xem xét lại trong phạm vi và mức độ nào đó. Vấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn khi có sự nhầm lẫn, do vậy cần có quy định cụ thể về vấn đề này. Tóm lại, vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là về mặt pháp lí, bởi trong chừng mực nào đó nó đã làm thay đổi những quan niệm truyền thống về quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con… vì vậy cần có những văn bản pháp lí hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Bên cạnh những điểm hạn chế, Nghị định 12/2003/NĐ-CP cũng có những quy định rất phù hợp, cả về lĩnh vực pháp lý lẫn phong tục, tập quán của dân tộc. Cụ thể: Nghị định 12 quy định: “Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm” (Điều 3). Như vậy, quy định này đã nêu phạm vi được phép áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản, pháp luật chỉ công nhận kĩ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo v à thụ tinh trong ống nghiệm. Thêm vào đó, Nghị định cũng đã cấm việc mang thai hộ và sinh sản vô tính (Điều 6). Quy định này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán truyền thống, tâm lí tình cảm và quan điểm chung của các nước trên thế giới. Thực tế cho thấy vấn đề mang thai hộ, xét thuần tuý về mặt khoa học thì có thể chấp nhận được nhưng xét đưới góc độ tâm lí, tình cảm, phong tục tập quán và pháp lí thì rất phức tạp, đặc biệt là quan hệ mẹ con vì, theo pháp luật hiện hành người nào sinh ra đứa trẻ sẽ là mẹ của nó (chứng minh bằng giấy chứng sinh), ngoài ra rất khó đưa ra cơ chế giám sát đối với người mang thai hộ hay những vấn đề về mặt tố tụng đối với cặp vợ chồng đang nhờ mang thai và người mang thai hộ, chẳng hạn vấn đề hạn chế li hôn có được áp dụng tương tự không?… Sinh sản vô tính là vấn đề mang tính toàn cầu, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này là rất khó khăn bởi nếu người nhân bản ra đời thì sẽ có mối quan hệ như thế nào với người được nhân bản, sẽ là anh chị em sinh đôi hay là quan hệ mẹ con, cha con duy nhất. Vì vậy, Nghị định 12 cấm mang thai hộ và sinh sản vô tính là hoàn toàn phù hợp. Không chỉ Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam có quy định về vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học mà rất nhiều nước trên thế giới cũng đã đưa vấn đề này vào quy định trong Luật của nước mình. Cụ thể, trong pháp luật của đa số nước, quyền làm cha và quyền làm mẹ được bảo vệ. Một số nước cho phép thụ tinh nhân tạo. Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc sinh con theo phương pháp khoa học này thì con sinh ra cũng là con của người chồng, kể cả việc cấy ghép tinh trùng của người đàn ông khác với người mẹ. Ví dụ, Điều 164 Luật Gia đình Philippine quy định, con sinh hra trong trường hợp thụ tinh nhân tạo cho dù với tinh trùng của chồng hay người khác cũng là con chung của vợ chồng nếu vợ chồng đã cùng ký vào một bản thỏa thuận. Về vấn đề đẻ thuê và mang thai hộ thì đây là vấn đề nhạy cảm và có nhiều quan điểm khác nhau. Nhìn chung có hai quan điểm phổ biến nhất là cho phép hoặc cấm đẻ thuê và mang thai hộ. Ví dụ: Ngay trong nội bộ nước Mỹ quy định về vấn đề nay giữa các tiểu bang là rất khác nhau, ở các bang Arizona, Indiana, Michigan, Uhtar, North Dakota cấm tuyệt đối, các bang Kentucky, Washington cho phép thỏa thuận mang thaivì mục đích kinh tế, các bang Alaska, Lowa, Nevada thì cho phép ngay cả khi thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích kinh tế. KẾT BÀI: Sinh con theo phương pháp khoa học đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, chính điều đó đã làm cho  những cặp vợ chồng mong mỏi có con đã thực hiện được thiên chức của mình. Tuy nhiên bên cạnh những tích cực của vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như tình trạng mang thai hộ và sinh sản vô tính. Vì vậy nhà nước phải có những biện pháp và những quy định cụ thể để hạn chế tối đa những tiêu cực nảy sinh từ vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học mang lại. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCơ sở lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.DOC
Luận văn liên quan