Cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và nhận thức mới về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế

Tiểu luận dài 10 trang: Học thuyết Mác khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, các phương thức sản xuất: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghiã và cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử tự nhiên và loài người nhất định sẽ tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Xã hội cộng sản chủ nghĩa mà loài người hướng tới là xã hội phát triển cao nhất, tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại, cao hơn hẳn chủ nghĩa tư bản về mọi phương diện: kinh tế, văn hoá, xã hội. Quá trình hình thành và phát triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn đâù là chủ nghĩa xã hội, giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh. Vì chủ nghĩa cộng sản không phải trong một thời gian ngắn hình thành hoàn chỉnh được mà cần có một quá trình lịch sử lâu dài, khó khăn và phức tạp mới tạo dựng được, Mác gọi đó là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Thực chất thời kỳ quá độ là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: xây dựng nền tảng, cơ sở cho một xã hội mới về kinh tế, văn hoá và xã hội. Và đặc trưng của thời kỳ quá độ là kết cấu kinh tế xã hội cũ chưa bị xoá bỏ ngay, kết cấu kinh tế xã hội mới xuất hiện, lớn lên từng bước và tiến đến giữ vị trí thống trị. Theo Mác, bất cứ một hình thái kinh tế- xã hội nào cũng có phương thức sản xuất thống trị, chi phối và là cơ sở, nền tảng cho hình thái kinh tế- xã hội đó. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất của xã hội trước đó và những nhân tố của phương thức sản xuất của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị. Nhưng trong thời kỳ quá độ, chưa có phương thức sản xuất nào giữ địa vị thống trị tuyệt đối, mỗi phương thức sản xuất chỉ là một “mảnh”, một “bộ phận” của kết cấu kinh tế xã hội vừa độc lập tương đối, vừa tác động lẫn nhau, hợp tác và cùng đấu tranh với nhau. Mỗi “mảnh”, mỗi “bộ phận” ấy là một thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có quan hệ biện chứng với nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất : nền kinh tế nhiều thành phần. Nhận thức được lý luận Mác-Lênin về thời kỳ quá độ, Đảng ta khẳng định: Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đều kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Quan điểm trên của Đảng hoàn toàn đúng dắn, đã được kiểm nghiệm trong những năm qua và dựa trên những cơ sở khoa học sau đây: 1- Cơ sở lý luận Thứ nhất: Do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch sử đặc biệt, còn có sư đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới. Nên trong lĩnh vực kinh tế, tất nhiên cũng sẽ bao gồm những thành phần kinh tế của xã hội cũ cùng với thành phần kinh tế của xã hội mới ra đời. Thành phần kinh tế là một loại hình của quan hệ sản xuất xác định tương ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời nhưng chưa phát triển đạt tới vai trò thống trị trong nền kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần. Như vậy, mỗi thành phần kinh tế được xây dựng trên cơ sở một hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và một lực lượng sản xuất nhất định. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức sở hữu luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, có sự tác động qua lại, đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên sự đa dạng các hình thức kinh tế và sản xuất kinh doanh. Vì vậy trong TKQĐ có nhiều thành phần kinh tế. Thứ hai: Theo yêu cầu của quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nên trong thời kỳ quá độ, qúa trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất. Nước ta do đặc điểm lịch sử là: đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trải qua chiến tranh lâu dài và ác liệt, tàn phá mọi nguồn lực tiềm năng của đất nước, trình độ của lực lượng sản xuất thấp kém, không đồng đều giữa các ngành, các vùng và các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó quyết định quan hệ sản xuất, trước hết về hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu phù hợp với nó, nghĩa là những quan hệ sản xuất khác nhau. Tương ứng với nó sẽ có nhiều thành phần kinh tế. Thứ ba: Do tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của công cuộc cải biến quan hệ sản xuất cũ; xây dựng, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới đòi hỏi.

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 10343 | Lượt tải: 43download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và nhận thức mới về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trường đại học kinh tế quốc dân khoa mác - lênin ****************** tiểu luận chuyên đề 2 môn kinh tế chính trị Đề tài : Cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và nhận thức mới về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước Người thực hiện : Đinh Thị Thuỷ Lớp : CH 12 - chuyên ngành kinh tế chính trị Người hướng dẫn : GS.TS Phạm Quang Phan Hà nội 3/2005 Học thuyết Mác khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, các phương thức sản xuất: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghiã và cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử tự nhiên và loài người nhất định sẽ tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Xã hội cộng sản chủ nghĩa mà loài người hướng tới là xã hội phát triển cao nhất, tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại, cao hơn hẳn chủ nghĩa tư bản về mọi phương diện: kinh tế, văn hoá, xã hội. Quá trình hình thành và phát triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn đâù là chủ nghĩa xã hội, giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh. Vì chủ nghĩa cộng sản không phải trong một thời gian ngắn hình thành hoàn chỉnh được mà cần có một quá trình lịch sử lâu dài, khó khăn và phức tạp mới tạo dựng được, Mác gọi đó là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Thực chất thời kỳ quá độ là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: xây dựng nền tảng, cơ sở cho một xã hội mới về kinh tế, văn hoá và xã hội. Và đặc trưng của thời kỳ quá độ là kết cấu kinh tế xã hội cũ chưa bị xoá bỏ ngay, kết cấu kinh tế xã hội mới xuất hiện, lớn lên từng bước và tiến đến giữ vị trí thống trị. Theo Mác, bất cứ một hình thái kinh tế- xã hội nào cũng có phương thức sản xuất thống trị, chi phối và là cơ sở, nền tảng cho hình thái kinh tế- xã hội đó. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất của xã hội trước đó và những nhân tố của phương thức sản xuất của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị. Nhưng trong thời kỳ quá độ, chưa có phương thức sản xuất nào giữ địa vị thống trị tuyệt đối, mỗi phương thức sản xuất chỉ là một “mảnh”, một “bộ phận” của kết cấu kinh tế xã hội vừa độc lập tương đối, vừa tác động lẫn nhau, hợp tác và cùng đấu tranh với nhau. Mỗi “mảnh”, mỗi “bộ phận” ấy là một thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có quan hệ biện chứng với nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất : nền kinh tế nhiều thành phần. Nhận thức được lý luận Mác-Lênin về thời kỳ quá độ, Đảng ta khẳng định: Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đều kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Quan điểm trên của Đảng hoàn toàn đúng dắn, đã được kiểm nghiệm trong những năm qua và dựa trên những cơ sở khoa học sau đây: 1- Cơ sở lý luận Thứ nhất: Do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch sử đặc biệt, còn có sư đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới. Nên trong lĩnh vực kinh tế, tất nhiên cũng sẽ bao gồm những thành phần kinh tế của xã hội cũ cùng với thành phần kinh tế của xã hội mới ra đời. Thành phần kinh tế là một loại hình của quan hệ sản xuất xác định tương ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời nhưng chưa phát triển đạt tới vai trò thống trị trong nền kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần. Như vậy, mỗi thành phần kinh tế được xây dựng trên cơ sở một hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và một lực lượng sản xuất nhất định. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức sở hữu luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, có sự tác động qua lại, đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên sự đa dạng các hình thức kinh tế và sản xuất kinh doanh. Vì vậy trong TKQĐ có nhiều thành phần kinh tế. Thứ hai: Theo yêu cầu của quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nên trong thời kỳ quá độ, qúa trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất. Nước ta do đặc điểm lịch sử là: đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trải qua chiến tranh lâu dài và ác liệt, tàn phá mọi nguồn lực tiềm năng của đất nước, trình độ của lực lượng sản xuất thấp kém, không đồng đều giữa các ngành, các vùng và các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó quyết định quan hệ sản xuất, trước hết về hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu phù hợp với nó, nghĩa là những quan hệ sản xuất khác nhau. Tương ứng với nó sẽ có nhiều thành phần kinh tế. Thứ ba: Do tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của công cuộc cải biến quan hệ sản xuất cũ; xây dựng, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới đòi hỏi. Thật vậy, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, đã tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Có hai loại tư hữu: Tư hữu lớn các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, doanh nghiệp ... của các chủ tư bản trong và ngoài nước- đó là kinh tế tư bản chủ nghĩa và tư hữu nhỏ của nông dân cá thể, thợ thủ công cá thể, những người buôn bán nhỏ - đó là sản xuất nhỏ cá thể. Quan niệm và thái độ của chính quyền mới đối với hai hình thức sở hữu trên về tư liệu sản xuất là khác nhau: Đối với tư hữu lớn, lý luận về quốc hữu hoá của chủ nghiã Mác-Lênin khẳng định không nên quốc hữu hoá ngay một lúc mà được tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và bằng hình thức và phương pháp nào là tuỳ điều kiện cụ thể, nên việc những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa còn tồn tại là tất yếu kinh tế. Bộ phận tư bản được cải tạo hoà bình, theo con đường tư bản nhà nước sẽ hình thành thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Còn những bộ phận tư bản bị quốc hữu hoá toàn bộ sẽ hình thành các doanh nghiệp nhà nước. Đối với tư hữu nhỏ thì chỉ có thông qua con đường hợp tác hoá, theo các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi, đồng thời tuân theo các quy luật khách quan. Nhà nước đã thuyết phục những người sản xuất nhỏ vào làm ăn tập thể vì vậy hình thành thành phần kinh tế tập thể. Tuy nhiên còn có một số chưa tham gia thì phải kiên trì thuyết phục, chờ đợi họ. Do đó trong thời kỳ quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ. Thứ tư: Trong thời kỳ quá độ, các thành phần kinh tế cũ do lịch sử để lại vẫn còn có vai trò, tác dụng tích cực để phát triển sản xuất như: giải quyết việc làm cho người lao động, duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao đời sống... Do đó phải để cho kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân tồn tại, hơn nữa phải tạo điều kiện, môi trường cho nó tồn tại và phát triển. Nhận thức và hành động như vậy mới phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với lợi ích kinh tế của các giai tầng trong xã hội, góp phần ổn định sản xuất và đời sống. Thứ năm: Do yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi: Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, xã hội, nhà nước phải xây dựng hệ thống cơ sở kinh tế mới, cùng với kết quả của quá trình quốc hữu hoá, hình thành thành phần kinh tế nhà nước, đây là bộ phận giữ vai trò chủ đạo, là nền tảng thực sự của nền kinh tế quốc dân. Thứ sáu: Do đòi hỏi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta phải tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, phải có chính sách mở cửa nền kinh tế, phải thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực nhất là về kinh tế để kết hợp sức mạnh trong nước với ngoài nước, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Với yêu cầu trên, Đảng ta có phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Chúng ta đã thực hiện đa phương hoá quan hệ kinh tế, đa dạng hoá các hình thức quan hệ quốc tế, thông qua hợp tác và đầu tư nước ngoài đã liên doanh, liên kết với kinh tế tư bản ngoài nước nên xuất hiện thành phần kinh tế mới: kinh tế tư bản nhà nước, và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. 2 - Cơ sở thực tiễn Như lý luận đã khẳng định ở trên, sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là tất yếu khách quan. Nhưng trong thực tiễn, do nhận thức sai lầm, ý chí chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn, chúng ta đã chủ trương sớm xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần bằng làn sóng quốc doanh hoá, tập thể hoá. Chúng ta đã vội vàng xoá bỏ một số thành phần kinh tế: kinh tế tư bản tư nhân, cá thể, tiểu chủ dẫn đến hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế: làm mất động lực kinh tế, các tiềm năng của đất nước không được khai thác hiệu quả, lực lượng sản xuất xã hội bị lãng phí một cách nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hoá, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn... Chủ trương trên là trái với quy luật khách quan, trái với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”. Để sửa chữa và khắc phục những sai lầm trong quá khứ, chúng ta phải nhận thức lại và hành động ngay bằng việc đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật và các biện pháp nhằm tạo điều kiện, môi trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển, không phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế. Thực tiễn gần 20 năm đổi mới, chúng ta không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan nhiều thành phần kinh tế mà còn thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần và đã đem lại lợi ích rất lớn cho nền kinh tế: Lực lượng sản xuất đã phát triển nhanh chóng, các tiềm năng, nguồn lực, thế mạnh của các thành phần kinh tế như: vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, điều hành kinh tế, giải quyết thất nghiệp... được khai thức và phát huy mạnh mẽ cho phát triển kinh tế; Khơi dậy động lực kinh tế cho quá trình phát triển: người lao động được tự chủ trong lao động, các doanh nghiệp được tự do tìm kiếm cơ hội đầu tư, môi trường cạnh tranh được thiết lập, khắc phục được tình trạng độc quyền tạo cơ sở để phát triển mạnh kinh tế thị trường; các thành phần kinh tế cũ vừa sử dụng có hiệu quả, vừa cải biến một cách tốt nhất... Tóm lại: Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây cho thấy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế có nhiều thành phần là tất yếu khách quan, việc thừa nhận và tạo điều kiện cho nó phát triển chính là nhằm xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo đúng quy luật kinh tế khách quan. Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Đại hội Đảng IX đã xác định rõ mô hình kinh tế ở nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa- đó là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, các quy luật của thời kỳ quá độ, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong mô hình này có nhiều thành phần kinh tế, chúng không tồn tại biệt lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, có quan hệ vừa hợp tác, liên kết vừa bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và cùng phát triển theo định hướng XHCN. Đảng ta chỉ rõ có 6 thành phần kinh tế: -Thành phần kinh tế nhà nước -Thành phần kinh tế tập thể -Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ -Thành phần kinh tế tư bản tư nhân -Thành phần kinh tế tư bảnt nhà nước -Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Thành phần kinh tế nhà nước là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu Nhà nước, hoặc phần vốn của Nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế. Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm: Các doanh nghiệp nhà nước; Các tài sản thuộc sở hữu nhà nước như: đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, tài nguyên, ngân sách, các quỹ dự trữ, ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tê- xã hội; Phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác ở trong và ngoài nước. Trong các bộ phận hợp thành kinh tế nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò nòng cốt. Như vậy, phạm trù sở hữu nhà nước rộng hơn phạm trù thành phần kinh tế nhà nước. Thành phần kinh tế nhà nước trước hết phải thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng thuộc sở hữu nhà nước có thể do các thành phần khác sử dụng như: đất đai giao các hộ gia đình, các hợp tác xã, các doanh nghiệp ở các thành phần khác sử dụng. Ngược lại thuộc sở hữu nhà nước không phải là thành phần kinh tế nhà nước như: phần vốn của nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác chiếm tỷ lệ thấp, thông qua liên doanh, liên kết. Thành phần kinh tế nhà nước được hình thành trên cơ sở: -Nhà nước đầu tư, xây dựng; -Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư bản; -Góp cổ phần khống chế với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Thành phần kinh tế nhà nước sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quaảsản xuất kinh doanh. Chủ trương của Đảng ta là kinh tế nhà nước cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, những cơ sở kinh tế phục vụ an ninh quốc phòng và vấn đề xã hội, để đảm bảo những cân đối lớn, chủ yếu của nền kinh tế và thực hiện vai trò kinh tế của mình. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều này là phù hợp với mục tiêu xây dựng chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa vì: -Kinh tế nhà nước đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa -Kinh tế nhà nước đảm bảo những cân đối chủ yếu của nền kinh tế -Kinh tế nhà nước được nhà nước trực tiếp quản lý -Kinh tế nhà nước có xu hướng thống trị nền kinh tế Vai trò chủ đạo của KTNN được biểu hiện cụ thể là: -Kinh tế nhà nước phải nắm giữ những ngành, những lĩnh vực trọng điểm, then chốt của nền kinh tế như: Ngân hàng, bảo hiểm, bưu điện, hàng không, đường sắt, sản xuất năng lượng, khai thác mỏ, quốc phòng.....Cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho nền kinh tế như: đường sá, sân bay, bến cảng, điện nước... đây là những nhân tố không thể thiếu của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác ít có khả năng đáp ứng. -Kinh tế nhà nước phải chi phối, quyết định xu thế vận động của nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa -Kinh tế nhà nước phải là sức mạnh cộng hưởng của tất cả các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước; Là nhân tố mở đường, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế -Kinh tế nhà nước phải là lực lượng vật chất quan trọng, là phương tiện, công cụ chủ yếu để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, sự khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không thể dựa vào sự bảo trợ nhà nước, mà phải thông qua cạnh tranh bình đẳng trên thị trường với các thành phần kinh tế khác, cần phải khẳng định vai trò chủ đạo bằng trình độ quản lý, bằng năng suất lao động, bằng chất lượng sản phẩm, thực lực kinh tế và tài chính của mình. Và vai trò chủ đạo ở đây không chỉ thuần tuý thể hiện ở số lượng, tỷ trọng các doanh nghiệp trong nền kinh tế mà là ở khả năng chi phối, định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế của xã hội mới. Vì vậy để làm tốt vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước cần phải thực hiện những nội dung sau: -Đi đầu về năng suất, chất lượng, hiệu quả, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế. -Bằng nhiều hình thức, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN -Tăng cường sức mạnh vật chất làm chỗ dựa để nhà nước thực hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN. -Cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân và chế độ xã hội mới. Song thực trạng của kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay là: - Hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài - Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn - Số lượng doanh nghiệp nhà nước quá nhiều, quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn bất hợp lý, chưa thật tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt - Kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, quản lý yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh Nguyên nhân của sự yếu kém của kinh tế nhà nước: - Chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Nhiều vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận. - Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém, vướng mắc, cải cách hành chính chậm. - Cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, nhiều quan điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh - Một bộ phận cán bộ doanh nghiệp nhà nước chưa đáp ứng về năng lực, phẩm chất. Tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng tại doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới. Từ thực trạng trên, phương hướng phát triển kinh tế nhà nước là: - Xây dựng khu vực kinh tế nhà nước để thực sự giữ được vai trò chủ đạo trong nền, tạo sức mạnh vật chất cần thiết để nhà nước có thực lực hữu hiệu làm chức năng định hướng. - Khu vực kinh tế nhà nước cần tập trung phát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu - Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà nước với quyền quản lý kinh doanh của các chủ thể nhàm bảo toàn và tăng thêm vốn của nhà nước, cạnh tranh bình đẳng - Có chính sách, cơ chế riêng đối với các doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuận - Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của những doanh nghiệp mang tính độc quyền để điều chỉnh thị trường, nhờ đó góp phần thực sự cho định hướng nền kinh tế - Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết trung ương 3 khoá IX - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; chống tham nhũng, hối lộ hoặc những hiện tượng tiêu cực khác làm thất thoát tài sản nhà nước Trong kinh tế nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước là bộ phận nòng cốt, để nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước cần có những giải pháp về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể là: Một là: Định hướng sắp xếp, phát triển doanh nghiệp nàh nước hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích Hai là: Sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách Ba là: Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh Bốn là: Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 64/2002/ NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Năm là: Thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản DNNN. Thành phần kinh tế nhà nước còn có vai trò mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác (trang 269 sách KTCT dành cho cao học) Thành phần kinh tế nhà nước còn có vai trò lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền KT (trang 301) Thành phần kinh tế nhà nước có vai trò là nguồn lực nuôi bộ máy nhà nước (trang 304 ) Kết luận

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và nhận thức mới về vai trò chủ đ.doc
Luận văn liên quan