Cuộc khủng hoảng kinh tế - Tài chính toàn cầu hiện nay và vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản

MỞ ĐẦU Điểm lại cuộc khủng hoảng kinh tế và đại suy thoái của nền kinh tế Mỹ năm 1929. Ngày 24 tháng 10 năm 1929, Phố Wall rối loạn. Gần 13 triệu cổ phiếu, nhiều gấp ba lần số lượng giao dịch thông thường ‒ bị các nhà đầu tư hoảng loạn bán tháo trên thị trường chứng khoán New York. Ngày này đã đi vào lịch sử như ngày thứ Năm đen tối (Black Thursday) mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng (Great Crash) của thị trường chứng khoán Mỹ, cuộc khủng hoảng trăm năm mới có một lần của chủ nghĩa tư bản và cuộc Đại suy thoái (Great Depression) kéo dài từ năm 1929 tới năm 1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng năm 1929: do sản xuất ồ ạt, chạy theo lợi nhuận , cung vượt quá xa cầu , khủng hoảng kinh tế thừa, bắt đầu từ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Ngày 29/10/1929, giá cổ phiếu sụt xuống 80%. Hàng triệu người đã mất sạch số tiền mà họ tiết kiệm cả đời. Việc đầu cơ bất động sản ở Florida những năm 1920, nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng bong bóng với việc các nhà đầu tư mua bất động sản với giá trời ơi để đầu cơ sinh lời, hy vọng rằng giá cả thị trường tiếp tục tăng. Các ngân hàng hà hơi tiếp sức cho những hành động đầu cơ bằng việc cho vay dễ dàng. Thị trường chứng khoán ngày càng phồng lên, cho tới khi “vỡ tung” vào cuối năm 1929, đưa kinh tế Mỹ vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử. Một số nhà nghiên cứu tài chính cho rằng trong giai đoạn 1929-1933 lẽ ra Mỹ chỉ phải trải qua một cuộc suy thoái nhẹ theo đúng quy trình chu kỳ kinh tế lúc đó nếu FED đã không sai lầm là phản ứng quá chậm trong việc giải cứu các ngân hàng đang gặp khó khăn. Hậu quả: Cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính kéo theo suy thoái kinh tế trầm trọng trên phạm vi toàn cầu. Chỉ trong vòng mấy tuần lễ, các thị trường chứng khoán chính yếu trên thế giới (New York, Tokyo, London, Paris, Frankfurt, Euronext) đã mất 30% giá trị, tức là 8000 tỉ USD, ngang 4 lần GDP của nước Pháp. Riêng tại Mỹ, sản xuất công nghiệp giảm 45%, GDP giảm 30%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 25% và có tới 60% người Mỹ sống dưới ngưỡng nghèo khổ, 11,5 vạn công ty thương nghiệp, 58 công ty đường sắt bị phá sản. 10 vạn ngân hàng đóng cửa, 75% dân trại bị phá sản, hàng chục triệu người thất nghiệp. Gần 80 năm sau cuộc Đại khủng hoảng xảy ra, thế giới lại đang phải chứng kiến sự quay trở lại của tình trạng suy thoái và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Không khó khăn trong việc nhận ra những điểm tương đồng giữa hai cuộc khủng hoảng toàn cầu này: Sự mất giá của cổ phiếu và sản phẩm tài chính đã nhanh chóng lan tràn vào nền kinh tế thực thụ, làm chao đảo đa số các ngân hàng đã cho vay có thế chấp. Để tránh tình trạng vỡ nợ, các ngân hàng thi nhau bán tống bán tháo những tài sản thế chấp. Hành động này gây hoảng hốt và đánh mầt niềm tin của quần chúng vào hệ thống tài chính. Hệ lụy của nó là đẩy đưa nền kinh tế Hoa Kỳ (vào năm 1929 và vào năm 2008) vào vòng xoáy giảm phát, song song đó, sai lầm trong chính sách tiền tệ của Quỹ Dự Trữ Liên Bang đã trầm hoá Đại khủng hoảng cũng như khủng hoảng tín dụng hiện nay. Trong cả hai cuộc khủng hoảng, chính sách này đã khuyến khích giới trung lưu và lao động nghèo tại Mỹ có thể mượn tiền để tiêu thụ ngoài khả năng của mình. Kết quả là khi tài sản mất giá theo vòng xoáy của giảm phát, gây thêm khó khăn cho kinh tế Hoa Kỳ. Trong khi cơn bão khủng hoảng và suy thoái, thất nghiệp và bất ổn đang lan ra khắp thế giới, có lẽ đây chính là lúc thích hợp nhất để đọc lại lịch sử cuộc đại suy thoái toàn cầu đầu tiên trên thế giới, để học được từ những kinh nghiệm, nguyên nhân trong quá khứ, và để thấy rằng con người ở mọi thời đại thật giống nhau, với những sai lầm dại dột không mấy khác biệt.

doc14 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 01/02/2013 | Lượt xem: 3413 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Cuộc khủng hoảng kinh tế - Tài chính toàn cầu hiện nay và vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH TOÀN CẦU HIỆN NAY VÀ VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN. I. MỞ ĐẦU Điểm lại cuộc khủng hoảng kinh tế và đại suy thoái của nền kinh tế Mỹ năm 1929. Ngày 24 tháng 10 năm 1929, Phố Wall rối loạn. Gần 13 triệu cổ phiếu, nhiều gấp ba lần số lượng giao dịch thông thường ‒ bị các nhà đầu tư hoảng loạn bán tháo trên thị trường chứng khoán New York. Ngày này đã đi vào lịch sử như ngày thứ Năm đen tối (Black Thursday) mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng (Great Crash) của thị trường chứng khoán Mỹ, cuộc khủng hoảng trăm năm mới có một lần của chủ nghĩa tư bản và cuộc Đại suy thoái (Great Depression) kéo dài từ năm 1929 tới năm 1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng năm 1929: do sản xuất ồ ạt, chạy theo lợi nhuận , cung vượt quá xa cầu , khủng hoảng kinh tế thừa, bắt đầu từ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Ngày 29/10/1929, giá cổ phiếu sụt xuống 80%. Hàng triệu người đã mất sạch số tiền mà họ tiết kiệm cả đời. Việc đầu cơ bất động sản ở Florida những năm 1920, nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng bong bóng với việc các nhà đầu tư mua bất động sản với giá trời ơi để đầu cơ sinh lời, hy vọng rằng giá cả thị trường tiếp tục tăng. Các ngân hàng hà hơi tiếp sức cho những hành động đầu cơ bằng việc cho vay dễ dàng. Thị trường chứng khoán ngày càng phồng lên, cho tới khi “vỡ tung” vào cuối năm 1929, đưa kinh tế Mỹ vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử. Một số nhà nghiên cứu tài chính cho rằng trong giai đoạn 1929-1933 lẽ ra Mỹ chỉ phải trải qua một cuộc suy thoái nhẹ theo đúng quy trình chu kỳ kinh tế lúc đó nếu FED đã không sai lầm là phản ứng quá chậm trong việc giải cứu các ngân hàng đang gặp khó khăn. Hậu quả: Cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính kéo theo suy thoái kinh tế trầm trọng trên phạm vi toàn cầu. Chỉ trong vòng mấy tuần lễ, các thị trường chứng khoán chính yếu trên thế giới (New York, Tokyo, London, Paris, Frankfurt, Euronext) đã mất 30% giá trị, tức là 8000 tỉ USD, ngang 4 lần GDP của nước Pháp. Riêng tại Mỹ, sản xuất công nghiệp giảm 45%, GDP giảm 30%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 25% và có tới 60% người Mỹ sống dưới ngưỡng nghèo khổ, 11,5 vạn công ty thương nghiệp, 58 công ty đường sắt bị phá sản. 10 vạn ngân hàng đóng cửa, 75% dân trại bị phá sản, hàng chục triệu người thất nghiệp. Gần 80 năm sau cuộc Đại khủng hoảng xảy ra, thế giới lại đang phải chứng kiến sự quay trở lại của tình trạng suy thoái và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Không khó khăn trong việc nhận ra những điểm tương đồng giữa hai cuộc khủng hoảng toàn cầu này: Sự mất giá của cổ phiếu và sản phẩm tài chính đã nhanh chóng lan tràn vào nền kinh tế thực thụ, làm chao đảo đa số các ngân hàng đã cho vay có thế chấp. Để tránh tình trạng vỡ nợ, các ngân hàng thi nhau bán tống bán tháo những tài sản thế chấp. Hành động này gây hoảng hốt và đánh mầt niềm tin của quần chúng vào hệ thống tài chính. Hệ lụy của nó là đẩy đưa nền kinh tế Hoa Kỳ (vào năm 1929 và vào năm 2008) vào vòng xoáy giảm phát, song song đó, sai lầm trong chính sách tiền tệ của Quỹ Dự Trữ Liên Bang đã trầm hoá Đại khủng hoảng cũng như khủng hoảng tín dụng hiện nay. Trong cả hai cuộc khủng hoảng, chính sách này đã khuyến khích giới trung lưu và lao động nghèo tại Mỹ có thể mượn tiền để tiêu thụ ngoài khả năng của mình. Kết quả là khi tài sản mất giá theo vòng xoáy của giảm phát, gây thêm khó khăn cho kinh tế Hoa Kỳ. Trong khi cơn bão khủng hoảng và suy thoái, thất nghiệp và bất ổn đang lan ra khắp thế giới, có lẽ đây chính là lúc thích hợp nhất để đọc lại lịch sử cuộc đại suy thoái toàn cầu đầu tiên trên thế giới, để học được từ những kinh nghiệm, nguyên nhân trong quá khứ, và để thấy rằng con người ở mọi thời đại thật giống nhau, với những sai lầm dại dột không mấy khác biệt. II. CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 2008 VÀ NGUYÊN NHÂN Năm 2008 nước Mỹ đã rung chuyển trong cuộc đại suy thoái kinh tế chưa có hồi kết khiến cho toàn thế giới phải một phen chao đảo. Không ai có thể ngờ một tượng đài, một đầu tầu kinh tế thế giới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy. Tuy nhiên theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và các chuyên gia kinh tế hàng đầu lập lập luận: "thủ phạm" chính và cũng là nguyên nhân sâu xa gây ra khủng hoảng không gì khác chính là sự mất cân đối toàn cầu và tình trạng buông lỏng quản lý hệ thống tài chính, cùng với việc không tuân thủ kỷ luật thị trường, còn nguyên nhân trực tiếp: “Khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi, tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn”, Trong đó người ta nêu lên nguyên nhân chính là do sự thiếu kiểm soát chặt chẽ của nhà nước nên mới có sự nổ tung của thị trường tài chính và thị trường bất động sản. Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho Đô la rẻ so với các đơn vị tiền tệ khác trên thế giới. Kết quả là thị trường tài chính và thị trường bất động sản sôi lên và nổ tung. Theo chuyên gia về tài chính Robert Manning nói: “Đây là một cuộc suy thoái do giới tiêu thụ đưa đến hơn là một cuộc suy thoái theo chu kỳ thương mại”, tình trạng suy thoái có liên hệ đến việc các gia đình vay tiền. Người Mỹ đã đi đến chỗ mà số nợ tiêu thụ lên đến mức lớn mà lịch sử chưa từng có từ trước đến nay”. sự gia tăng trong việc vay tiền có liên hệ chặt chẽ với sụt giảm tiền lương, Kể từ năm 2001, thu nhập thực sự ở Hoa Kỳ đã sụt khoảng từ 2,5 đến 3 phần trăm. Người Mỹ đã bù vào chỗ thiếu hụt dựa vào việc vay tiền một cách dễ dàng với lãi suất tương đối nhẹ, họ có thể vay tiền ngân hàng bởi vì sự lỏng lẻo trong các luật lệ của ngân hàng liên bang khích lệ các cơ sở tài chính tư nhân tập trung nhiều hơn vào lợi nhuận ngắn hạn và sự kiện này tạo áp lực trên nhiều cơ sở tài chính phải chấp nhận nhiều rủi ro hơn. Những năm qua, do tình hình kinh tế “màu hồng”, các công ty tín dụng cho vay những khoản tiền lớn với lãi suất thấp hơn. Và các ngân hàng cho vay tiền mua nhà với các điều kiện rất hấp dẫn.“Mọi người được chấp thuận cho vay các khoản tiền để mua nhà có thể cao từ gấp đôi cho đến gấp ba hay gấp bốn lần khả năng thực sự của họ. Họ có thể vay một số tiền để mua nhà ở lãi suất trôi nổi mà hai năm đầu ở mức chừng 1,9 đến 2,9 phần trăm”. Ngoài ra các tổ chức cho vay còn “sáng chế” ra những hợp đồng bắt đầu với lãi suất rất thấp trong những năm đầu và sau đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ. Nguy hại hơn nữa là các tổ chức tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo đảm, để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế. Các loại trái phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities – MBS”, một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp. Các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm (Credit rating agencies) đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này. Và nó được các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua mà không biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là không đủ tiêu chuẩn. Thị trường nhà đất cũng giúp cho giới tiêu thụ làm lơ trước nợ thẻ tín dụng ngày càng chồng chất. Người tiêu thụ đem nhà ra thế chấp để vay một khoản tiền và dùng số tiền đó để trả nợ thẻ tín dụng. Họ cứ nghĩ là nhà cửa sẽ luôn luôn tăng giá, chung cuộc sẽ có quá nhiều nhà được đưa ra bán trên thị trường. Do đó khi những người vay tiền mua nhà không trả được nợ và tài sản bị tịch thu để trả nợ thì những căn nhà không bán được và giới đầu tư bắt đầu mất đi những khoản tiền lớn vào năm 2007. Và mọi chuyện trở nên càng xấu hơn vào năm sau đó khi những vụ tịch thu nhà bắt đầu gia tăng một cách khủng khiếp… III. DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOÀNG Từ năm 2004-2006: Lãi suất ở Mỹ tăng từ 1% lên 5,35%, thị trường địa ốc Mỹ bắt đầu xuống giá. Các khoản vay địa ốc dưới chuẩn không trả được tăng vọt đến mức báo động. Sang năm 2007: Các ngân hàng lớn lần lượt báo cáo lỗ do dính vào các khoản vay loại này. 17-3-2008: Bear Stearns, ngân hàng lớn thứ năm ở phố Wall, mới năm ngoái có giá khoảng 18 tỉ đô la phải bán cho JP Morgan Chase với giá 2 đô la/cổ phiếu so với giá 172 đô la/cổ phiếu đầu năm 2007. Fed (New York) đứng đằng sau cho vay 29 tỉ đô la đề bảo lãnh các khoản nợ khó đòi. 11-7-2008: Ngân hàng IndyMac bị đặt dưới quyền kiểm soát của Fed và sau đó tuyên bố phá sản. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày. 6-9-2008: Fed nắm quyền kiểm soát Fannie Mae và Freddie Mac, hai tập đoàn bảo lãnh tín dụng địa ốc lớn nhất Mỹ. 15/9: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào tháng 9 năm 2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group (AIG) - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố. 16-9-2008: Fed đồng ý cho AIG vay 85 tỉ đô la đổi lại quyền nắm giữ 80% cổ phiếu của hãng bảo hiểm này. 18-9-2008: Fed và ngân hàng trung ương các nước khác bơm 180 tỉ đô la để tháo băng tín dụng ngân hàng. 20-21/9: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall. Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. 25/9: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ. 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay. 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD… IV. TÁC ĐỘNG VÀ HẬU QUẢ CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG. IV.1 Đối với nước Mỹ Nước Mỹ gặp phải 3 vấn đề lớn về tài chính: - Thứ nhất sự phát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn, có nghĩa là không cần đặt cọc, không cần đủ thu nhập để chi trả mà vẫn được vay. - Thứ hai cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng quá mức mà City Group là nạn nhân đầu tiên, lỗ 18 tỉ USD. - Thứ ba, khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đến cả khu vực đầu tư địa ốc văn phòng, chứ không chỉ tập trung vào khu nhà ở. Gói giải cứu kinh tế của chính phủ Mỹ phải bơm vào thị trường tiêu tốn hơn 700 tỷ USD. Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605.000 việc làm trong 8 tháng đầu năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp từ 6,2% lên 9,7%, cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Thâm hụt ngân sách trong năm 2008 đã ước tính lên tới con số 15.900 tỉ đô la, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính phủ Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô la, tương đương khoảng 60% Tổng thu nhập Quốc dân của Mỹ. Các ngân hàng hàng đầu của Mỹ điêu đứng vì khủng hoảng, hoặc bị sáp nhập, hoặc bị mua lại, tùy thuộc vào Chính Phủ. Đồng USD xuống giá khoảng 20% so với đồng euro cũng trong vòng năm qua. Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục hồi hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo đuổi các chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq. - Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ có thể dẫn đến sự sụp đổ của “đế chế Hoa Kỳ”, làm thay đổi trật tự thế giới đơn cực hiện tại. IV.2 Đối với nước Thế Giới Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, bắt đầu một năm trước đây, đã bước vào một thời kỳ mới, ảm đạm hơn với sự sụp đổ của một loạt tập đoàn tài chính khổng lồ làm rung chuyển nền kinh tế lớn nhất thế giới. Từ Phố Wall đến Tokyo, Thượng Hải các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh. Tại Châu Âu : Paris, Luân Đôn, Franfurt hay Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường Matxcơva cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua. Các nền kinh tế lớn nhất thế giới đã tiêu tốn tổng số 10,8 nghìn tỷ USD cho việc chống khủng hoảng. Lĩnh vực tài chính tư nhân của thế giới đã chịu khoản thâm hụt tài sản lên tới 4 nghìn tỷ USD trong năm 2009. Những số liệu thua lỗ trên là GDP của thế giới sụt giảm 2,3% trong năm 2009, tương đương mức giảm gần 1 nghìn tỷ USD. Ba cột trụ chính của thế giới, Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản trong hai quý cuối năm liên tục đưa ra những chỉ số bi quan : thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu thụ từ Âu sang Á đều bị chựng lại, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đều đi xuống. Ở Nhật, tình hình cũng đang xấu đi với tốc độ đáng báo động. Tốc độ suy thoái tại của Nhật Bản thời gian gần đây đã vượt cả Mỹ, nơi đang phải trải nghiệm cuộc khủng hoảng kinh tế khủng khiếp nhất trong vòng một thế kỷ qua. Nước Anh cũng đang trải qua những ngày u ám khi Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF dự đoán nền kinh tế lớn thứ 2 châu Âu có thể phải chịu đựng mức suy thoái lên tới 2,8% - nặng nề nhất trong các nền kinh tế phương Tây. Theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển, sẽ có thêm từ 20 đến 25 triệu người thất nghiệp trong hai năm sắp tới. Sản xuất dầu hỏa tiêu điều : giá dầu xuống dưới ngưỡng 35 đô la một thùng mà khách hàng thì vẫn dửng dưng. Ngành công nghiệp xe hơi thế giới làm ăn thua lỗ, Big Tree là GM, Ford và Chrysler của Hoa Kỳ đứng bên bờ vực thẳm, phải ngửa tay xin tiền của Quốc hội. Toyota lần đầu tiên từ khi được hình thành bị thua lỗ. IV.3 Đối với nước Việt Nam Nhận định chung. Nguồn cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm sút. Sụt giảm đầu tư. Chỉ số tiêu dùng giảm. GDP giảm, thất nghiệp gia tăng. Số liệu thống kê. Thâm hụt tài chính cả năm 2009 có thể tăng lên 9,4%GDP. 6 tháng đầu năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 27,6 tỷ USD, kém xa so với mục tiêu đề ra (mục tiêu đặt ra cho cả năm là 64,75 tỷ USD) giảm tới 10,15% so với cùng kỳ (mục tiêu là tăng 13%). Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều suy giảm: Nếu so cùng kỳ, 6 tháng đầu năm 2009 hàng dệt nay giảm 1,3%; giày dép giảm 8,7%, thủy hải sản giảm 10,7%. Nếu năm 2008 giá xuất khẩu rất cao thì năm nay giá các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều giảm sút nghiêm trọng: giá dầu thô giảm 53%; giá cà phê giảm 28,3% và còn có xu hướng giảm tiếp, giá cao su giảm 44%, giá gạo giảm hơn 20% v.v. V. GIẢI PHÁP Quay trở lại cuộc Đại khủng hoảng năm 1929, chúng ta hãy xem chính quyền Mỹ năm đó đã làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng và liên hệ với những gì mà Mỹ và thế giới đã làm trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Cuối năm 1932 Chính phủ Mỹ đã thực hiện một hệ thống các chính sách biện pháp của nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - tài chính và chính trị - xã hội được gọi chung là Chính sách mới. Giải quyết nạn thất nghiệp + Thông qua các đạo luật: Ngân hàng, phục hưng công nghiệp, trong các đạo luật đó - đạo luật phục hưng công nghiệp là quan trọng nhất. Đạo luật này quy định việc tổ chức lại sản xuất công nghiệp theo những hợp đồng chặt chẽ về sản phẩm và thị trường tiêu thụ, quy định việc công nhân có quyền thương lượng với chủ đề mức lương và chế độ làm việc. + Điều chỉnh nông nghiệp: nâng cao giá nông sản, giảm bớt nông phẩm thừa, cho vay dài hạn đối với dân trại... V.1 Giải pháp của Mỹ Gói giải cứu kinh tế của chính phủ Mỹ trị giá hơn 700 tỷ USD. Các ngân hàng TW đồng loại hạ lãi suất xuống mức gần bằng không. Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae, Freddie Mac và Ngân hàng IndyMac Bancorp nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ và tránh cho ngân hàng này phá sản. Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman Brothers vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ. V.2 Hành động của thế giới Khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn tiếp tục lan rộng. Danh sách các quốc gia chịu ảnh hưởng ngày một tăng. Hầu hết các thị trường chứng khoán trên thế giới đều tụt dốc. Tuy vậy, tác động của cuộc khủng hoảng đến mỗi quốc gia là không giống nhau và hãy xem chính phủ các nước đang làm gì để giảm nhẹ tác động từ cuộc khủng hoảng này. Tại cuộc họp giữa các lãnh đạo tài chính tiền tệ G-7 (gồm Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản và Canada) tại Washington, G-7 khẳng định "cần tiến hành hành động dứt khoát và sử dụng mọi biện pháp". G-7 cam kết bảo hộ các ngân hàng và tổ chức tài chính, tránh để phá sản, có thể tập trung vốn từ các khu vực công và tư nhân. Điều này sẽ bao gồm việc phá băng trên các thị trường vay tín dụng và tiền tệ. Tuy nhiên, bản tuyên bố không đưa ra một bước đi cụ thể nào. Hành động chung Sáu ngân hàng trung ương lớn nhất thế giới ngày 8/10 đã đồng loạt hạ tỷ lệ lãi suất cơ bản 0,5% trong nỗ lực ổn định nền kinh tế toàn cầu trước cơn sóng gió trên thị trường tài chính. Đây là một việc chưa từng có tiền lệ, khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng trung ương Anh, Ngân hàng trung ương Canada, Thụy Điển và Thụy sỹ đã cùng phối hợp hành động. Với lần cắt giảm này, lãi suất cơ bản đồng USD được đưa về mức 1,5%, lãi suất cơ bản Euro giảm còn 3,75%, lãi suất Đô la Canada còn 2,5%, lãi suất cơ bản đồng Bảng Anh còn 4,5%, lãi suất đồng Krona của Thụy Điển giảm còn 4,25%. STT Các biện pháp ứng phó của Chính phủ các nước 01 Quốc hữu hóa toàn bộ hoặc một phần ngân hàng và quỹ tư nhân 02 Kiểm soát các quỹ đầu tư 03 Mua cổ phần hoặc tài sản từ các tổ chức tài chính 04 Bãi bỏ thuế đối với các khoản đầu tư nước ngoài 05 Hạ lãi suất cơ bản 06 Vay tiền từ tổ chức tài chính quốc tế 07 Bảo lãnh tất cả các khoản tiền gửi, trái phiếu và nợ của một số ngân hàng lớn trong 02 năm. 08 Khuyến khích sáp nhập ngân hàng yếu kém 09 Cho phép một số ngân hàng tuyên bố phá sản 10 Mua lại các khoản nợ của các ngân hàng đang có vấn đề hoặc bị phá sản 11 Cấp tiền cho ngân hàng để trả các khoản nợ nước ngoài 12 Huy động tiền từ các nhà đầu tư toàn cầu để chống đỡ cơn khủng hoảng 13 Nới lỏng quy định cho phép các công ty mua cổ phiếu của chính họ Trung Quốc Dù được đánh giá là chịu tác động không lớn của cuộc khủng hoảng hiện nay, nhưng Trung Quốc cũng đã gia nhập làn sóng cắt giảm lãi suất khi hạ tỷ lệ lãi suất cơ bản thêm 0,27% xuống còn 6,93%. Hồng Kông cũng giảm lãi suất cơ bản xuống 2%. Như vậy, đây là lần thứ hai trong vòng 3 tuần, Trung Quốc tiến hành cắt giảm lãi suất. Anh Chính phủ Anh đã công bố một kế hoạch trị giá 400 tỷ Bảng (660 tỷ USD) để cứu trợ các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn nhất nước này. Đổi lại, chính phủ sẽ nhận được cổ phiếu của các tổ chức này. Một khoản tài chính trị giá 200 tỷ Bảng cũng sẽ được Ngân hàng trung ương Anh sẵn sàng cung cấp cho hệ thống ngân hàng trong trường hợp cần thiết phải tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt. Từ ng ày 7/10, Chính phủ Anh cũng tăng mức đảm bảo cho các tài khoản tiết kiệm từ 35.000 Bảng (62.000 USD) lên 50.000 Bảng. Một trong những ảnh hưởng đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính tại Anh là việc ngân hàng Northern Rock và Ngân hàng cho vay thế chấp Bradford & Bingley đã bị quốc hữu hoá và hai ngân hàng lớn khác là HBOS và Lloyds TSB đã phải sáp nhập. Đức Tại Đức, các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước đã tiếp nhận một “cơn lũ” các khoản tiền gửi mới do những người gửi tiền tìm kiếm nơi gửi an toàn hơn. Tuần trước, Hypo Real Estate, ngân hàng thương mại chuyên cho vay bất động sản lớn thứ hai của Đức, đã đứng trước nguy cơ sụp đổ khi số nợ khó đòi của họ quá lớn. Nếu Hypo Real Estate sụp đổ sẽ gây nên một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng của Đức. Đứng trước tình cảnh này, chính phủ Đức đã phản ứng nhanh chóng bằng kế hoạch cứu trợ cho Hypo Real Estate trị giá 50 tỷ euro. Hi Lạp..hệ lụy đặc biệt của cuộc khủng hoảng. 1.000 tỉ USD giải cứu đồng euro mới chỉ là liệu pháp cấp cứu để “con bệnh” euro qua cơn nguy kịch gần kề. Cũng như gói giải cứu Hi Lạp mới chỉ để nước này khoan sụp đổ trong ba năm tới. Bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu mà Mỹ là ngòi nổ. Hy Lạp không có khả năng thanh toán các khoản nợ, công nợ vừa gồm nợ mà chính phủ vay, vừa gồm nợ mà chính phủ bảo lãnh cho các tổng công ty, tập đoàn trong nước vay. Trong cả hai trường hợp đều mang chủ quyền đất nước mình ra cầm cố. Gọi là đem chủ quyền ra cầm cố do lẽ nếu vỡ nợ, để được nhận gói giải cứu của thiên hạ, sẽ phải chấp hành một gói điều kiện hoàn toàn do thiên hạ đặt ra. Chính phủ nước con nợ vẫn tồn tại, vẫn hoạt động, nhưng nhất cử nhất động về mặt kinh tế - tài chính, thuế khóa, lương bổng, an sinh xã hội sẽ phải tuân theo từng chữ gói điều kiện đã ký kết. Nga Tổng thống Dmitry Medvedev đã thông báo một kế hoạch cứu trợ trị giá 950 tỷ rúp (36,4 tỷ USD) về dài hạn để hỗ trợ các ngân hàng trong cuộc họp khẩn cấp tại điện Kremli hôm 7/10/2008. V.3 Giải pháp của Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã kịp thời thực hiện những biện pháp đồng bộ gồm 8 nhóm giải pháp lớn: 1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ. 2. Chính phủ sẽ điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng kiểm soát chặt chẽ. 3. Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa. 4. Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, giảm nhập siêu. 5. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu và năng lượng. 6. Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá 7. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội 8. Các phương tiện thông tin đại chúng cần đẩy mạnh thông tin và tuyên truyền một cách chính xác, ủng hộ các chủ trương, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực nhạy cảm này, tránh thông tin sai sự thật có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội. Gói kích cầu lần I: là 1 tỷ USD tương đương 170.000 ngàn tỷ đồng. Gói kích cầu lần II: tới gần 8 tỷ USD Ngân hàng TƯ đã cắt giảm một nửa lãi suất với các khoản vay chính sách xuống còn 7% từ giữa năm 2008 đến tháng 2/2009. Kết quả: Dấu hiệu phục hồi vào cuối quí III/2009: GDP đã tăng 4,5% vào quý 2 và 5,8% vào quý 3, làm cho tốc độ tăng GDP thực sự đạt 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái. - Chỉ số giá tiêu dùng (7%), - Bội chi ngân sách bằng (6,9%), - 76.000 doanh nghiệp mới được thành lập, tạo thêm trên 1,5 triệu lao động… VI. VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Năm 1989, bức tường Béc Lin sụp đổ. Năm 1991, Liên Bang Xô Viết và các nước Đông Âu tan rã, “Các nhà chính trị phương tây lúc đó công bố “Văn hóa Tây phương toàn thắng; trật tự thế giới mới sẽ dần dà được định hình theo mô hình Dân Chủ Tự Do. Và Chủ nghĩa Tự do về Chính trị và Kinh tế từ nay sẽ là mô hình duy nhất và tốt nhất cho nhân loại.” Từ thập niên 30 thế kỷ trước đến nay, hệ thống tài chính - ngân hàng của Mỹ luôn là biểu tượng của sức mạnh kinh tế Mỹ và nó cũng khơi dậy và kích thích chủ thuyết kinh tế thị trường tự do được nhiều nước áp dụng. Tuy nhiên, hình ảnh đó đang bị bóp méo, khi hàng loạt ngân hàng khổng lồ bị phá sản hoặc nằm cheo leo trên bờ vực đến mức nhà nước phải “tiếp máu” khẩn cấp để tránh những cái chết lâm sàng. Thực vậy, chính quyền Mỹ hiện nay đang nắm nhiều chứng khoán và cổ phần trong những ngân hàng lớn, kiểm soát một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới - AIG (American International Group), nhận bảo đảm hơn nửa số nợ có bất động sản thế chấp trong cả nước. Nói một cách khác, chính quyền đã nắm giữ và kiểm soát hệ thống tài chính - mạch sống của chủ nghĩa tư bản. "Hãy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều ý kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Các Mác từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ... Nếu toàn cầu hóa kinh tế là trào lưu bất khả kháng, nó cũng che dấu nhiều đợt sóng ngầm dẫn tới các cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng như cuộc Đại khủng hoảng năm 1929 ở Mỹ, khủng hoảng năm 1997 ở Á châu, và cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hiện nay. Trong thực tế, với tình trạng chiến tranh khắp nơi, với hiện tượng hâm nóng toàn cầu, ô nhiễm môi trường, tình trạng nghèo đói dai dẳng trong nhiều vùng trên thế giới, và nhất là với chính sách đối ngoại của chính siêu cường Hoa kỳ, trật tự thế giới mới không còn đứng vững. Tính chất ích kỷ của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi và gây nên những bất ổn trên thế giới. Kể từ thời Karl Marx và khởi nguồn của chủ nghĩa cộng sản, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi: Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, chủ nghĩa tư bản trên thế giới lại gây nên khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các dân tộc, và giữa các giai tầng xã hội bên trong các quốc gia, dân tộc, gây ra một chế độ áp bức kinh tế (chủ nghĩa đế quốc kinh tế) còn nặng nề hơn chế độ thuộc địa thực dân ngày xưa, gây bất ổn trên thế giới. Việc các công ty tư bản bơm vốn sang các nước nghèo để tránh thuế, tránh các chi phí đắt đỏ tại chính quốc, chiếm hữu các nguồn tài nguyên, khai thác các nguồn nhân lực một cách bất công, tối đa hoá lợi nhuận chứng tỏ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản chưa hề thay đổi... Và các thách thức của thế giới như sự nghèo nàn, nạn đói, nạn khủng bố, phong trào chống toàn cầu hoá... là thể hiện của các mâu thuẫn này do chủ nghĩa đế quốc kinh tế gây ra. Đây là tâm lý chung của dư luận các nước chậm phát triển lên án sự bất bình đẳng kinh tế giữa các dân tộc. Xã hội công dân của xã hội tư bản không thể giải quyết các mâu thuẫn đối kháng. Các nhà nước tư bản chủ nghĩa không thể làm tốt công tác điều tiết xã hội mà nó luôn có xu hướng bảo vệ giai cấp tư sản, bóc lột các tầng lớp lao động làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc hơn. Xã hội tư bản là xã hội đặt sự ích kỷ thành triết lý cuộc sống, đặt lợi nhuận lên trên hết, làm xói mòn đạo đức xã hội và cuối cùng sẽ làm băng hoại xã hội. Sự tự do quá trớn của cá nhân trong xã hội tư bản làm nảy sinh các nhu cầu quái dị, các loại tệ nạn xã hội... Cuối cùng sẽ tước đoạt hạnh phúc của con người. Đây là luận điểm của phái lý luận muốn kết hợp kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có điều tiết với định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước xã hội chủ nghĩa để hạn chế các tiêu cực của chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu và hạn chế của CNTB bắt nguồn từ mẫu thuẫn giữa trình độ xã hội cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sở hữu tư nhân chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.Theo sự phân tích của C.Mác và V.I.Lê Nin đến một chừng mực nhất định, quan hệ sở hữu tư nhân TBCN sẽ phá vỡ và thay vào đó là một quan hệ sở hữu mới – sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập để đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó cũng có nghĩa là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ bị thủ tiêu và một phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời và phủ định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do vậy, đồng thời với việc tin tưởng vững vàng rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, cũng cần nhận thức đầy đủ về tính lâu dài của quá trình này./. Tài liệu tham khảo: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Báo The New York Times Tác phẩm The End of History and the Last Man, xuất bản năm 1992, tác giả Francis Fukuyama. Reuters Và các nguồn khác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hiện nay và vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản.doc