Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát triển nhận thức về CNXH

Câu hỏi: Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát triển nhận thức về CNXH và phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Nêu rõ ý nghĩa của những vấn đề được bổ sung đó. Phải làm gì để góp phần thực hiện cương lĩnh của Đảng? Năm 1991, trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước và quốc tế đang diễn ra sự biến đổi sâu sắc, phức tạp, Đảng cộng sản mất đi vai trò lãnh đạo ở nhiều nước Châu Âu và đỉnh điểm là sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu, đất nước ta rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng về kinh tế, lạm phát tăng cao, cùng với đó là sự tấn công mạnh mẽ về kinh tế, chính trị và tư tưởng của các thế lực thù địch, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, còn được gọi là Cương lĩnh 1991. Cương lĩnh đã thể hiện quyết tâm của Đảng ta trong việc đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN, có tính chất định hướng cho sự phát triển của nước ta trong thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên CNXH Cương lĩnh 1991 nêu rõ 6 đặc trưng về CNXH mà nhân dân ta xây dựng, thể hiện rõ nhận thức của Đảng ta về CNXH, đó là: - do nhân dân lao động làm chủ. - có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất (LLSX) hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất (TLSX) chủ yếu. - có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. - con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. - các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. - có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 01/02/2013 | Lượt xem: 5372 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát triển nhận thức về CNXH, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẢNG BỘ TP HÀ NỘI ĐẢNG BỘ ĐH KTQD --- Bài thu hoạch LỚP TÌM HIỂU VỀ ĐẢNG CỦA CẢM TÌNH ĐẢNG --*-- Chủ đề: Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát triển nhận thức về CNXH và phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Nêu rõ ý nghĩa của những vấn đề được bổ sung đó. Phải làm gì để góp phần thực hiện cương lĩnh của Đảng? ------- + Họ tên học viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc + Ngày sinh: 22 tháng 7 năm 1988 + Quê quán: Xã Thuận Thiên Huyện Kiến Thụy Thành phố Hải Phòng + Đơn vị công tác: Lớp Quản trị nhân lực 48 Khoa Kinh tế và quản lý Nguồn nhân lực Trường Đại học kinh tế quốc dân HÀ NỘI, 01 -2009 Câu hỏi: Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát triển nhận thức về CNXH và phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Nêu rõ ý nghĩa của những vấn đề được bổ sung đó. Phải làm gì để góp phần thực hiện cương lĩnh của Đảng? Năm 1991, trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước và quốc tế đang diễn ra sự biến đổi sâu sắc, phức tạp, Đảng cộng sản mất đi vai trò lãnh đạo ở nhiều nước Châu Âu và đỉnh điểm là sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu, đất nước ta rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng về kinh tế, lạm phát tăng cao, cùng với đó là sự tấn công mạnh mẽ về kinh tế, chính trị và tư tưởng của các thế lực thù địch, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, còn được gọi là Cương lĩnh 1991. Cương lĩnh đã thể hiện quyết tâm của Đảng ta trong việc đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN, có tính chất định hướng cho sự phát triển của nước ta trong thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên CNXH Cương lĩnh 1991 nêu rõ 6 đặc trưng về CNXH mà nhân dân ta xây dựng, thể hiện rõ nhận thức của Đảng ta về CNXH, đó là: do nhân dân lao động làm chủ. có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất (LLSX) hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất (TLSX) chủ yếu. có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, Cương lĩnh 1991 cũng đề ra 7 phương hướng xây dựng CNXH: xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. phát triển LLSX, công nghiệp hóa (CNH) đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện. phù hợp với sự phát triển của LLSX, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất (QHSX) XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho thế giới quan Mac-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh. xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta. Đại hội Đảng toàn quốc khóa X diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đã trải qua 20 năm Đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986. Trong tình hình mới, Đại hội X đã đánh giá cao vai trò định hướng của Cương lĩnh 1991, đồng thời nêu lên sự cần thiết phải bổ sung, điều chỉnh Cương lĩnh cho phù hợp với thực tế và sự phát triển của toàn thế giới. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và những bài học kinh nghiệm được rút ra, Đại hội X đã bổ sung một số nội dung của Cương lĩnh 1991 như sau: Đối với vấn đề nhận thức về CNXH: Đại hội X đã bổ sung thêm 2 đặc trưng của CNXH mà đất nước ta sẽ xây dựng trong tương lai. Như vậy, Đảng ta nhận định CNXH sẽ có 8 đặc trưng thay vì 6 đặc trưng như trước. Tám đặc trưng này là: Thứ nhất, “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (trích văn kiện Đại hội X). Đây là một đặc trưng mới mà Đại hội X đã bổ sung xuất phát từ mục tiêu xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được nêu trong Cương lĩnh 1991, văn kiện Đại hội VIII và Đại hội IX. Cương lĩnh 1991 viết: “… mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN…”. Văn kiện Đại hội VIII chỉ rõ mục tiêu xây dựng đất nước là: “…dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh…”. Đại hội IX bổ sung mục tiêu này là: “…dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…”. Ta có thể thấy rằng cùng với thời gian, mục tiêu xây dựng CNXH được thay đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới: xã hội XHCN không những chỉ là một xã hội giàu có, phồn vinh, mà còn là một xã hội bình đẳng văn minh, không còn chế độ người bóc lột người, nhân dân được tự do học tập, làm việc và tham gia xây dựng đất nước. Việc Đại hội X quyết định chuyển mục tiêu này thành một đặc trưng của CNXH cho thấy quyết tâm của Đảng ta trong việc thực hiện mục tiêu nói trên, coi đó là một tất yếu trong quá trình xây dựng thành công CNXH. Thứ hai, đó phải là một xã hội “do nhân dân làm chủ”. Cương lĩnh 1991 viết: “xã hội do nhân dân lao động làm chủ”. Đặc trưng này là phù hợp với phương hướng xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đại đa số nhân dân ta là những người lao động, tuy nhiên trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, cần phải phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân tộc bao gồm nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp. Việc bỏ từ “lao động” ra khỏi đặc trưng này sẽ phù hợp hơn với chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước ta, thể hiện rõ tính dân chủ trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta: tất cả mọi công dân Việt Nam đều có quyền chính đáng được tham gia xây dựng, làm chủ đất nước mình. Thứ ba, “ có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX”. Đặc trưng về QHSX trong CNXH mà Đại hội X chỉ ra đã có điểm khác biệt so với Cương lĩnh 1991, nội dung nói về “chế độ công hữu về những TLSX chủ yếu” được thay thế bằng “QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX”. Trong một nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, trong đó tồn tại cả hình thức sở hữu tư nhân, quan hệ sở hữu trong xã hội đan xen vô cùng phức tạp và còn đang phát triển, Đảng ta nhận định “QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX”. Thứ tư, “có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đặc trưng này không khác so với Cương lĩnh 1991. Thứ năm, “con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”. So với Cương lĩnh 1991, Văn kiện Đại hội X bỏ đi từ “bóc lột” khi nói về quyền lợi của con người trong xã hội mới. Xuất phát từ thực tiễn nước ta đang trong quá trình xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, vẫn còn tồn tại nhiều hình thức bóc lột, đặc biệt là ở khu vực kinh tế do tư bản tư nhân quản lý. Xét về lâu về dài, việc xóa bỏ tình trạng người bóc lột người vẫn là một trong những mục tiêu lớn khi xây dựng CNXH, nhưng trong thời kỳ quá độ, việc cho phép tồn tại các thành phần kinh tế có khả năng tạo ra tình trạng bóc lột vẫn có những yếu tố tích cực và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, cụm từ “…có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” được thay thế bằng: “…phát triển toàn diện” khẳng định con người phải được phát triển toàn diện, đó là một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH. Hơn nữa, không những chỉ có cá nhân phát triển mà toàn thể cộng đồng, toàn thể xã hội đều có thể phát huy tối đa năng lực của mình. Thứ sáu, “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”. Về cơ bản, nội dung này cũng giống với đặc trưng của CNXH được nêu ra trong Cương lĩnh 1991, chỉ nhấn mạnh thêm tính cộng đồng và khả năng tương trợ lẫn nhau khi gặp khó khăn của các dân tộc đang sinh sống trên đất nước ta. Từ “cộng đồng” khẳng định các dân tộc trong nước là những bộ phận của một dân tộc, một cộng đồng lớn, có cùng chung một Tổ quốc, một nguồn gốc. Sự “tương trợ” giữa các dân tộc chính là khả năng phát huy những lợi thế riêng của từng vùng, miền, khu vực trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế. Thứ bảy, “có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản”. Đây là đặc trưng mới được bổ sung từ Đại hội X nhưng trên thực tế đã được nhắc đến trong phương hướng xây dựng CNXH và được bổ sung qua các kỳ Đại hội. Trong phương hướng xây dựng CNXH, Cương lĩnh 1991 viết: “xây dựng nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”, chưa đề cập đến tính pháp quyền của nhà nước XHCN. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xây dựng một nhà nước dân chủ mới và quản lý bằng pháp luật. Tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm về “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN”. Các Đại hội VIII, IX, X tiếp tục khẳng định quan điểm này. Thứ tám, “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”. Nội dung này không có gì thay đổi so với Cương lĩnh 1991. Đối với phương hướng xây dựng CNXH Cương lĩnh 1991 đã nêu lên 7 phương hướng xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ, Đại hội X đã sắp xếp lại, điều chỉnh, bổ sung thành 8 quá trình tất yếu phải thực hiện ở nước ta. Thứ nhất, “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Theo cương lĩnh 1991, Nhà nước ta chủ trương xây dựng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế, Đảng ta nhận thức rõ nền kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đó là quy luật phát triển chung của nhân loại. Qua từng kỳ Đại hội, vấn đề xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã được đưa ra thảo luận. Đại hội IX coi nền kinh tế thị trường là mô hình tổng quát trên con đường đi đến CNXH, Đại hội X xác định đây là một quá trình tất yếu trên con đường đi đến CNXH. Thứ hai, “đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa”. Đây cũng là một nội dung đã được bổ sung, phát triển hơn so với nội dung của Cương lĩnh 1991. Nếu như trước đây, Đảng ta nhận định: “công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” thì đến Đại hội VIII, vấn đề công nghiệp hóa được gắn liền với quá trình hiện đại hóa, nghĩa là không những chỉ phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, mà còn phải đưa yếu tố hiện đại vào tất cả các bộ phận khác của nền kinh tế, phát triển LLSX tiên tiến, thực hiện được mục tiêu xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thứ ba, “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội”. Xét về bản chất, quá trình này là sự phát triển về mặt nhận thức của Đảng ta đối với nội dung “tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho thế giới quan Mac-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội” trong phương hướng xây dựng CNXH mà Cương lĩnh 1991 đã chỉ ra. Cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong Cương lĩnh 1991 được cụ thể hóa bằng mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hóa trong xã hội mới vừa mang nét tiến bộ, khoa học của thế giới quan Mac-Lênin, vừa mang nét riêng của dân tộc Việt Nam thông qua việc kế thừa, phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc với tư tưởng, đạo đức của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thứ tư, “xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết dân tộc”. Đại hội X xác định: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tố quốc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để thống nhất các lực lượng người Việt Nam yêu nước ở cả trong và ngoài nước. Thứ năm, “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nội dung này là điểm gặp gỡ giữa nhận thức của Đảng ta về CNXH với phương hướng xây dựng CNXH trong thời đại mới được thể hiện trong các văn kiện của Đại hội X. Đây cũng là nội dung mới được đưa vào sau Cương lĩnh 1991, trong đó nhấn mạnh nhà nước mà ta đang xây dựng là một Nhà nước pháp quyền XHCN. Cơ chế vận hành của nhà nước thể hiện rõ nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng cộng sản Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thứ sáu, “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Nội dung này không có gì khác so với Cương lĩnh 1991, tuy nhiên Đại hội X cũng nhấn mạnh đây là nhiệm vụ hết sức cơ bản và quan trọng, thường xuyên. Trong đó, Đại hội đặc biệt coi trọng nhiệm vụ nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vì chúng đang là nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Thứ bảy, “bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia”. Nội dung này là sự cụ thể hóa phương hướng “xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam” được nêu trong Cương lĩnh 1991. Việc bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia khỏi sự tấn công, xâm nhập của những thế lực thù địch chống phá cách mạng luôn là nhiệm vụ hàng đầu trong mọi thời kỳ. Bên cạnh việc phát triển kinh tế đất nước, cải thiện đời sống xã hội, ta không bao giờ được lơi là, mất cảnh giác để kẻ địch có cơ hội chống phá chế độ của ta. Trong điều kiện mới, tình hình càng trở nên phức tạp đòi hỏi nhân dân ta phải luôn đồng tâm, nhất trí đối phó với các âm mưu của kẻ thù. Thứ tám, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là nội dung mới được đưa vào phương hướng xây dựng CNXH trong văn kiện Đại hội X. Trong bối cảnh tương quan quốc tế có nhiều thay đổi, sự chủ động hòa nhập của ta vào nền kinh tế toàn cầu vừa phù hợp với tinh thần của đặc trưng cuối cùng trong nhận thức về CNXH mà Đại hội X đưa ra “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”, vừa là cách để ta tận dụng được sức mạnh thời đại, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại trong quá trình xây dựng CNXH. Với những bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 cho phù hợp với tình hình mới, Đại hội X khẳng định: “Qua tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần được giải đáp. Sau Đại hội X, Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên CNXH”. Để góp phần thực hiện cương lĩnh của Đảng, theo tôi cần phải thực hiện những việc chính như sau: Phải tích cực nghiên cứu, tìm hiểu kỹ cương lĩnh của Đảng: Những chương trình, nội dung, phương pháp, yêu cầu mới… trong vấn đề xây dựng Đảng. Để phù hợp với những điều kiện của thời kỳ mới, vấn đề nhận thức về CNXH và phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam đã được Đại hội Đảng X bổ sung và phát triển thêm rất nhiều vấn để mới quan trọng, và đầy đủ hơn từ cương lĩnh năm 1991. Do đó, bản thân mỗi người dân Việt Nam nói chung, và đối với mỗi người Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng, cần hiểu và nhận thức ngày một sâu sắc hơn ai hết những vấn để đó. Từ đó, có những hành động thiết thực, rèn luyện tu dưỡng bản thân đối với từng nhiệm vụ cụ thể… Mỗi một cá nhân, một người dân hiểu rõ và làm tốt điều đó, là góp phần đưa Cương lĩnh của Đảng đến gần hơn với cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi cương lĩnh mà Đảng đã vạch ra. Bản thân người Đảng viên Đảng cộng sản phải nắm vững điều lệ Đảng, những nguyên tắc, mục đích của người Đảng viên. Người Đảng viên chính là đi lên từ quần cúng, đại diện cho quần chúng ưu tú… Và do đó, việc nắm vững điều lệ Đảng, mục đích của người Đảng viên cũng chính là việc làm sao rèn luyện, tu dưỡng đạo đức bản thân, trở thành người Đảng viên gương mẫu, hết lòng cống hiến, phục vụ cho nhân dân. Với thực tế hiện nay, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, bên cạnh đó lại xuất hiện một bộ phận Đảng viên cơ hội, lợi dụng chức quyền để trục lợi cá nhân. Ở mức độ phổ biến hơn, tình trạng xa hoa, lãng phí của công , đam mê lối sống hưởng thụ, thiếu lý tưởng… đang là nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa về đạo đức và lối sống. Và do đó, người Đảng viên còn cần phải rèn luyện tu dưỡng bản thân hơn rất nhiều, tỉnh táo và bản lĩnh trước những nguy cơ âm mưu thù địch từ chính bên ngoài và từ chính bản thân mình nữa. Bản thân tôi đang là một sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường, theo tôi để góp phần thực hiện thành công cương lĩnh của Đảng, cần làm tốt những việc như: Trong cuộc sống và lối sống, cần có một lối sống lành mạnh và có ích… Trước hết đó là việc phấn đấu trong học tập, xác định một động cơ học tập đúng, và có những ý thức, kế hoạch, và mục tiêu học tập rõ ràng. Học tập tốt sẽ trang bị cho tôi có một nền tảng kiến thức vững chắc để thành công hơn trong cuộc sống hiện tại và sau này Trong rèn luyện, tu dưỡng bản thân, việc tham gia tích cực vào các hoạt động Đoàn thể, xã hội, các hoạt động Tình nguyện giúp ích cho cộng đồng… đã làm cho tôi hiểu hơn rất nhiều trong cuộc sống còn rất nhiều những người còn kém may mắn hơn mình, và do đó mình phải sống sao cho tốt hơn, và góp một phần nhỏ bé giảm bớt đi, chia sẻ những khó khăn bất hạnh với cộng đồng… Rèn luyện trong môi trường Đại học với những hoạt động thiết thực như thế còn giúp tôi có thêm những vốn sống, bồi đắp lòng nhân ái và bản lĩnh cánh mạng… Sống có hoài bão, có ước mơ, có mục tiêu rõ ràng cho hiện tại và tương lai… Sinh viên là thế hệ trẻ, là người chủ của đấtt nước trong tương lai không xa, và do đó, mỗi một người có một lối sống lành mạnh, có tri thức, có bản lĩnh vững vàng, cò lòng nhân ái chia sẻ cùng cộng đồng, thì cũng chính là tương lai của đất nước với những người chủ nhân tốt… Do đó, cương lĩnh của Đảng cũng sẽ đến gần hơn với mỗi người, thấm nhuần trong cuộc sống, và thắng lợi trong mọi hoạt động của xã hội… Phấn đấu rèn luyện, trở thành một người Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Tích cực tìm hiểu, nghiên cứu Cương lĩnh của Đảng, và vận dụng sáng tạo trong cuộc sống phù hợp với từng vị trí, nhiệm vụ cụ thể. Trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam là một vinh dự to lớn mà không phải ai cũng có được, đó là kết quả của sự nỗ lực, phấn đấu trong nhiều năm. Trong điều kiện hiện nay, khó khăn, gian khổ rèn luyện nên người Đảng viên chân chính tuy không giống như thời kỳ trước, nhưng cũng không kém phần gay go, khốc liệt bởi mỗi người chúng ta phải tự chiến đấu với những cám dỗ, những sự chủ quan nảy sinh từ chính con người mình. Khi đã trở thành Đảng viên vẫn phải không ngừng cố gắng, kiên trì, bền bỉ, năng động, sáng tạo và kiên định lý tưởng Đảng. Đó là những bài học vô cùng sâu sắc đối với việc rèn luyện bản thân để trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam mà tôi đã rút ra được trong khi tìm hiểu thực tế.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 1991 đã được Đại hội Đảng toàn quốc khóa X năm 2006 bổ sung và phát .DOC