Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong chương trình thời sự truyền hình (qua tư liệu của đài phát thanh-truyền hình Thái Nguyên)

Ngôn ngữ của dân tộc ta là ngôn ngữ đa bản sắc, là sản phẩm đặc trƣng cho văn hóa đất nƣớc, trong đó có sự kết tinh của ngôn ngữ hiện đại Thực thế 85 năm lịch sử của nền Báo chí Cách mạng Việt nam cho thấy, nhà báo là những ngƣời có khả năng khởi tạo dƣ luận, cách sử dụng ngôn ngữ của nhà báo đƣợc coi là những chuẩn mực nhất định để ngƣời ta nghe theo, học theo và làm theo. Chủ trƣơng của Đảng và nhà nƣớc, cũng nhƣ các tổ chức, cơ quan báo chí hiện nay là xây dựng, đào tạo ra một đội ngũ nhà báo vừa vững về chuyên môn nghiệp vụ vừa có ý thức bảo vệ, gìn giữ và phát huy ngôn ngữ dân tộc trên các loại hình báo chí làm cho nó ngày càng phong phú hơn, giàu đẹp hơn. Cho nên việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của chƣơng trình thời sự của luận văn mang giá trị thiết thực, hữu ích.

pdf103 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/01/2014 | Lượt xem: 2975 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong chương trình thời sự truyền hình (qua tư liệu của đài phát thanh-truyền hình Thái Nguyên), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TN đã tiến hành xét xử sở thẩm vụ án này đối Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên với 13 bị cáo. Theo trình tự thủ tục cĩ đơn kháng án của các bị cáo nên ngày 1/7/2010, Tịa án nhân dân tỉnh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án trên” (TAND TỈNH TN XÉT XỬ PHƯC THẨM VỤ ÁN “GIẾT NGƢỜI” VÀ“GÂY RỐI TRẬT TỰ CƠNG CỘNG” ĐỐI VỚI 13 BỊ CÁO -1/7/2010). Cũng nhƣ các văn bản khác, mục đích là các SP đƣa đƣợc thơng tin đến trọn vẹn với khán giả, song họ khơng thể khẳng định chất lƣợng âm thanh và hình ảnh khi các lỗi lỹ thuật cĩ thể xảy ra khi phát sĩng. Trên thực tế thì với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các máy mĩc, thiết bị hiện đại ngày nay đã khắc phục cơ bản tình trạng này. Nhƣng cĩ một điều chắc chắn là khi đƣa những thơng tin của ví dụ trên đến với khán giả, SP khơng thể thể hiện bằng cử chỉ nhẹ nhàng, hay vui tƣơi. Thơng tin trên địi hỏi đi cùng với nĩ là sự nghiên túc và cĩ hàm chứa thái độ lên án khơng khoan nhƣợng với cái ác. (2) “Thƣa…Những ngày tháng 7 này, ký ức Trƣờng Sơn lại trở về trong lịng mỗi ngƣời đã từng sống, chiến đấu và gắn bĩ với cung đƣờng huyền thoại. Ký ức Trƣờng Sơn khơng chỉ là Đơng nắng, Tây mƣa, là những nụ cƣời xẻ dọc Trƣờng Sơn đi cứu nƣớc, mà cịn là những giọt nƣớc mắt tiễn biệt những đồng đội thân yêu. 60 năm sau ngày Trƣờng Sơn trở thành cái tên huyền thoại, vẫn cịn đĩ, những giọt nƣớc mắt của những ngƣời vì đất nƣớc mà quên đi chính bản thân mình” (CHUYỆN VỀ MỘT CỰU THANH NIÊN XUNG PHONG TRƢỜNG SƠN 12/7/2010). Cũng nhƣ ví dụ nêu trên, trong nhiều chƣơng trình cĩ những thơng tin gây xúc động cho hàng triệu ngƣời, ngồi trƣớc màn hình nhiều khán giả rơi nƣớc mắt hoặc khĩc ịa nhƣng SP phải là ngƣời kiểm sốt đƣợc cảm xúc của mình, khơng gây bi lụy cho khán giả. Gây xúc động song các SP vẫn phải hƣớng khán giả đến những điều tốt đẹp cần đƣợc làm và cần phải làm cho thơng tin ấy, ít nhất là sự đồng cảm và sẻ chia hơn nữa là sự chung tay vì cộng đồng. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3.2. Về đặc điểm phát âm 3.2.1. Các văn bản đƣợc phát âm chuẩn so với giọng Hà nội Tiếng Việt cĩ 6 thanh điệu gồm các thanh khơng; huyền; sắc; nặng; hỏi; ngã. Các thanh điệu cĩ chức năng khu biệt nghĩa, giống nhƣ âm đầu và vần của âm tiết. Phát âm đúng, rõ các thanh điệu để truyền tải đúng thơng tin ngữ nghĩa là yêu cầu quan trọng, đặc biệt là đối với phát thanh truyền hình. Ƣu thế của giọng phát thanh khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ là tƣơng tự và gần giống khu vực Thủ đơ, nhất là Thái Nguyên thủ đơ kháng chiến. Đây chính là thuận lợi về giọng chuẩn tạm thời hiện nay mà các đài PT TH khu vực trong đĩ cĩ đài Thái Nguyên đang sử dụng. Vào những năm 60, các nhà trí thức, các nhà nghiên cứu ngơn ngữ đã tham gia hội nghị về chuẩn hĩa phát âm tiếng việt trong đĩ cĩ đề cập đến vấn đề là giọng chuẩn của nguời Việt dựa trên giọng Hà Nội (giọng Thủ đơ), cĩ bổ sung thêm các yếu tố tích cực của các phƣơng ngữ khác dựa trên các cơ sở sau: + Về thanh điệu: Giọng Thủ đơ phát âm đầy đủ 6 thanh điệu + Ngồi các phụ âm đầu, tiếng Hà Nội cịn bổ sung thêm 3 âm quặt lƣỡi là [TR]; [ S]; và [R]. + Về vần : Giữ nguyên các âm tiết cĩ âm đệm; bổ sung thêm 2 vần là /ƢU/ và /ƢƠU/ nâng tổng số vần từ 149 lên 151 vần; Âm cuối giữ nguyên hệ thống âm cuối của tiếng Bắc.Trong suốt thời gian chống Mỹ, đài Tiếng nĩi Việt Nam sử dụng chuẩn này. Sau khi đất nƣớc thống nhất, vào những năm cuối 70 đầu 80 của thế kỷ trƣớc, Viện Ngơn ngữ học đã tổ chức những hội nghị về chuẩn hĩa tiếng Việt. Nhƣng phần lớn các hội nghị bàn nhiều về chuẩn chính tả, thuật ngữ khoa học. Cịn chuẩn phát âm do tính chất phúc tạp của phát âm 3 miền, nhiều tiếng địa phƣơng nên vấn đề chuẩn hĩa cho đến nay chƣa cĩ sự thống nhất. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trong trƣờng tiểu học và trên hệ thống phƣơng tiện thơng tin đại chúng hiện nay, chuẩn phát âm thƣờng căn cứ trên chuẩn liên phƣơng ngữ. Ở khu vực phía Nam đĩ là giọng Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực phía Bắc là giọng Hà Nội (cĩ văn hĩa). Giọng phát thanh của đài truyền hình Thái Nguyên cũng đi theo xu hƣớng này. Dùng “chuẩn mềm” liên phƣơng ngữ giọng Hà Nội. Khơng chú trọng âm quặt lƣỡi và khơng quặt lƣỡi. Đây cũng là giải pháp để cho lời nĩi tự nhiên, gĩp phần nhanh chĩng đƣa chủ trƣơng đƣờng lối chính sách của Đảng về với nhân dân. Các chƣơng trình thời sự cho thấy, các SP của đài PTTTH Thái Nguyên đều phát âm khá chuẩn so với cách phát âm chuẩn Hà Nội. Các văn bản phát thanh của chƣơng trình thời sự truyền hình đƣợc thể hiện trên sĩng khơng phân biệt [CH] và [TR], [S]và [X]phân biệt rõ ràng các phụ âm cuối [C[; [T] và [NG] , các âm đầu [D] và [G]. Về vị trí địa lý, Thái Nguyên và Hà nội là hai địa phƣơng tiếp giáp nên sự khác biệt về cách phát âm ở những vùng liền nhau một cách tiệm tiến khĩ cĩ thể nhận ra. 3.2.2. Cĩ đặc điểm phát âm riêng so với giọng Hà Nội Tuy nhiên chúng tơi cũng đã nghiên cứu đặc điểm phát âm của Đài PTTH Thái Nguyên, cơ quan ngơn luận, đồng thời là đại diện cho đặc điểm phát âm của Thái Nguyên và nhận thấy cĩ đặc điểm riêng nổi bật đĩ là cách phát âm âm [e] bẹt và dài hơn, ngƣời nghe nhƣ thấy cĩ âm [ie]. Ví dụ “Kiểm tra các đê, k(i)è, cống tại…” Âm [u] cũng đƣợc phát âm dài hơn so với giọng chuẩn Hà nội, ngƣời nghe cảm thấy cĩ âm [a] rất nhẹ đứng đằng sau ví dụ “Xuân chiến khu (a)”. “mĩn ăn chu (a)a quá !”. Chính vì nguyên âm [u] đƣợc phát âm nặng nên Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhiều ngƣời Thái Nguyên khơng phát âm nguyên âm [y] trong những nhƣ từ nhƣ “nguyên” , “chuyện” , “khuyển”. 3. 3 . Đặc điểm về ngữ điệu Ngữ điệu là một hiện tƣợng ngơn ngữ xảy ra ở bậc câu của ngơn ngữ, đƣợc tạo thành từ hoạt động của các đặc trƣng vật lý cơ bản và sự thống nhất các yếu tố đặc trƣng đĩ nhƣ âm điệu, cƣờng độ, trƣờng độ, tốc độ của lời nĩi, nĩ là phƣơng thức quan trọng để tạo lập phát ngơn và chỉ ra nghĩa của phát ngơn. Trong phát ngơn, ngữ điệu cĩ vai trị hết sức quan trọng để thực hiện các chức năng sau: 1. Phân biệt các kiểu thơng báo: tƣờng thuật, nghi vấn, mệnh lệnh. 2. Phân biệt các bộ phận của phát ngơn: bộ phận đƣợc nhấn mạnh; bộ phận mang nội dung thơng báo quan trọng. 3. Tạo tính thống nhất, hồn chỉnh của phát ngơn,đồng thời lại phân chia phát ngơn thành các nhịp và cú đoạn. 4. Biểu hiện tình cảm và thái độ của ngƣời nĩi. Trong các chức năng trên chức năng 1,2 thuộc về ngơn ngữ nĩi chung, chức năng 3,4 chỉ thuộc về lời nĩi. Trong tồn bộ ngơn bản (văn bản bằng lời) của chƣơng trình thời sự truyền hình, ngữ điệu chỉ ra phong cách chức năng của ngơn bản và chỉ ra các tầng khác nhau của cấu trúc ngơn bản. Ngữ điệu cũng là phƣơng tiện biểu hiện thái độ, tình cảm, thẩm mỹ của ngƣời nĩi tác động đến ngƣời nghe. Ngữ điệu của SP chƣơng trình thời sự khác với ngữ điệu của các chƣơng trình văn hĩa nghệ thuật hay các chƣơng trình khác. Ngữ điệu khơng chỉ làm nên “chất Việt ngữ”, đặc thù của một ngơn ngữ mà cịn tạo nên phong cách của một chƣơng trình, phong cách, dấu ấn của cá nhân thể hiện. Cái quan trọng nhất đối với đài Phát thanh truyền hình khi SP trình bày cả một văn bản cần thể hiện các loại ngữ điệu thế nào, các sắc thái biểu cảm cĩ Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chừng mực thế nào. Trong một chƣơng trình thời sự thƣờng cĩ nhiều giọng đọc thể hiện. Qua khảo sát các văn bản phát thanh của chƣơng trình thời sự truyền hình Thái Nguyên, luận văn rút ra các đặc điểm ngữ điệu sau. 3.3.1. Thể hiện chủ yếu ngữ điệu kết thúc và ngữ điệu chƣa kết thúc Các văn bản phát thanh cho thấy, cĩ hai đƣờng nét ngữ điệu quan trọng nhất của câu tiếng Việt xét về mặt cấu trúc, là ngữ điệu kết thúc và ngữ điệu chƣa kết thức. Ngữ điệu kết thúc là ngữ điệu báo hiệu một câu đã thực hiện xong. Trên văn bản đĩ chính là câu trƣớc dấu chấm. Ngữ điệu chƣa kết thúc là ngữ điệu dùng để báo hiệu vừa kết thúc một vế hoặc thành phần câu và ngƣời nghe chờ tiếp các đoạn sau của câu. Xét trên ví dụ đã đƣợc phát trong chƣơng trình thời sự truyền hình ngày 6/4/2010: (3)“Theo cơng bố quy hoạch của UBND tỉnh, Dự án Tổ hợp khu cơng nghiệp, chế xuất, đơ thị và dịch vụ Yên Bình cĩ quy mơ rộng khoảng 2.000 ha, đi qua các xã: Đồng Tiến, Hồng Tiến, Tiên Phong (thuộc huyện Phổ Yên); Nga My, Nhã Lộng, Điềm Thuỵ, thị trấn Hƣơng Sơn (thuộc huyện Phú Bình). Dự án đƣợc triển khai đầu tƣ các hạng mục nhƣ: Khu cơng nghiệp, chế xuất bằng cơng nghệ cao, khu đơ thị mới, các dịch vụ giải trí tổng hợp… Sự ra đời của KCN Yên Bình sẽ tạo ra “ chuỗi” liên hợp cơng nghiệp bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tại buổi làm việc Đ/c Phạm Xuân Đƣơng-Chủ tịch UBND tỉnh đã chia sẻ với lãnh đạo Viện chính sách và chiến lƣợc phát triển nơng nghiệp nơng thơn những thuận lợi, khĩ khăn và một số cơ chế chính sách của tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Theo đĩ hai bên đã thống nhất nội dung Viện Chính sách và chiến lƣợc phát triển nơng nghiệp nơng thơn sẽ tƣ vấn cho UBND tỉnh Thái Nguyên thiết kế, lập quy hoạch, xây dựng khu cơng nghệ cao Yên Bình, trong thời gian tới Viện sẽ đƣa chuyên gia nƣớc ngồi sang làm việc với UBND tỉnh để Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cụ thể hố nội dung này” (Chủ tịch UBND tỉnh TN tiếp và làm việc với Viện Chính sách và Chiến lƣợc Phát triển Nơng nghiệp - Nơng thơn). Ngữ điệu kết thúc phải xuống giọng hoặc kéo dài, vì kéo dài cũng là cách để hạ độ cao, điều này tùy thuộc kỹ thuật của từng SP. “Dự án đƣợc triển khai đầu tƣ các hạng mục nhƣ: Khu cơng nghiệp, chế xuất bằng cơng nghệ cao, khu đơ thị mới, các dịch vụ giải trí tổng hợp. - VD đã dẫn. Ngữ điệu kết thúc tập trung ở “các dịch vụ giải trí tổng hợp” bằng hai cách nêu trên – kéo dài giọng hoặc hạ độ cao ở các từ này. Ngữ điệu chƣa kết thúc (thể hiện ở “Dự án đƣợc triển khai đầu tƣ các hạng mục nhƣ,…”) cĩ những cách thể hiện sau: Giữ nguyên giọng (độ cao) từ trƣớc dấu phẩy, các vế tiếp theo vân giữ nguyên độ cao đĩ. Tùy theo độ dài của câu kết thúc hay chƣa SP tiếp tục xử lý (bằng các chỗ ngừng) tùy thuộc vào cấu trúc của câu. Cũng cĩ thể phần cuối của đoạn đầu nâng lên khơng đáng kể, đến đoạn sau hạ xuống để tạo thành các lớp, (độ cao lên dần) dùng để đọc các câu cĩ nhiều thành phần tạo ra ngữ điệu hùng biện. Sự kết hơp giữa việc nâng cao ngữ điệu hay xuống là kinh nghiệm của mỗi ngƣời, để tạo ra sự trọn vẹn, hịa quyện của câu, của văn bản. Các SP trong chƣơng trình nâng ngữ điệu lên, hay hạ ngữ điệu xuống bằng cách kéo dài hay làm ngắn âm tiết cuối. Thơng thƣờng cách thể hiên ngữ điệu bằng cách lên cao giọng hoặc xuống hoặc giữ nguyên (cao độ) trong nhiều trƣờng hợp cĩ thể sử dụng biện pháp sau: Sử dụng nhiều chỗ ngừng cĩ ở trƣờng đoạn cuối để làm cho đoạn ấy dài ra. Bằng cách đĩ sẽ xuống giọng dần, làm cho nhịp của đoạn bất thƣờng hơn, tạo ra sự kết thúc từ từ; Nhƣng cũng cĩ những trƣờng hợp dồn làm cho các tiếng ngắn lại kết thúc đột ngột thảng thốt. Về nguyên tắc SP khơng đƣợc phép thêm bớt vào văn bản, vì tính chính trị, văn hĩa, chuẩn mực …, cũng khơng đƣợc phép tự ý thêm âm đệm Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên làm mất thẩm mỹ của phát ngơn, nên mọi cách xử lý phụ thuộc vào khả năng điều chỉnh của SP. Biện pháp đĩ cịn đƣợc gọi là xử lý nhịp và trƣờng độ của phát ngơn – biến đổi nhịp và trƣờng độ làm cho phát ngơn đa dạng, khơng đơn điệu. Các SP khi thể hiện cũng cĩ thể bằng cách nhấn mạnh hay khơng nhấn mạnh. Nếu nhấn mạnh vào yếu tố cuối cùng, thì trọng tâm nghĩa dồn vào đĩ. (VD đã dẫn: “trong thời gian tới viện sẽ đƣa chuyên gia nƣớc ngồi sang làm việc với UBND tỉnh để cụ thể hố nội dung này…”. Cĩ nhiều trƣờng hợp các câu đƣợc tác giả viết đặt trọng tâm vào từ cuối, cĩ câu tác giả khơng đặt trọng tâm ở đĩ. Song với sự mẫn cảm về thơng tin, về tính thời sự, các SP sẽ cĩ những cách thể hiện trọng âm, cĩ thể trùng với ý đồ của tác giả, hoặc cĩ sự sáng tạo mang lại ngữ nghĩa hiệu quả hơn. Tạo ra đồng chức năng, kết thúc câu và nhấn mạnh trọng tâm ngữ nghĩa thể hiện và phát huy sự sáng tạo tạo của các SP chƣơng trình thời sự truyền hình. Trong câu sau – VD đã dẫn: “… Sự ra đời của KCN Yên Bình sẽ tạo ra “chuỗi” liên hợp cơng nghiệp bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm”. Cĩ thể tác giả đặt trọng tâm vào “chuỗi” liên hợp cơng nghiệp” song với cách thể hiện ngữ điệu kết thúc SP cĩ thể nhấn mạnh vào “hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm”. Ngữ điệu kết thúc hay chƣa kết thúc để thể hiện sự trọn vẹn hay chƣa trọn vẹn của một phát ngơn. Thứ hai là để thể hiện các loại câu khác nhau và các sắc thái tình cảm khác nhau mà ngƣời viết muốn nhắn gửi. Sự thể hiện ngữ điệu đối với các SP thời sự, do yêu cầu đƣa tin chính xác, khơng khí nghiêm trang, nên việc kéo dài hoặc thu gọn đều cĩ chừng mực nhất định. Ngắn quá ngƣời nghe khơng nghe đƣơc, khơng hiểu đƣợc, chỉ Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhận thấy màu sắc tình cảm. Cũng khơng thể kéo dài quá thể hiện hết cung bậc tình cảm vì giới hạn thời gian và giới hạn của thể loại báo chí chính luận. Nét đẹp của ngữ điệu chƣơng trình thời sự là sự khỏe khoắn và cĩ mức độ. Tiếng Việt là ngơn ngữ đa thanh điệu, mỗi một thanh cĩ ở trong một âm tiết cũng thể hiện bằng cao độ. Vì vậy sử lý trƣớc phát thanh SP chọn một ngữ điệu phù hợp chú ý âm tiết cuối cùng là thanh điệu gì để điều chính ngữ điệu cho phù hợp. Chẳng hạn âm tiết đĩ thuộc về thanh cao, ngữ điệu cần phải là ngữ điệu kết thúc thì buộc phải sử dụng cách kéo dài cụm từ hoặc nâng âm vực từ giữa câu lên trƣớc. Ngƣợc lại trong trƣờng hợp những câu hỏi kết thúc bằng thanh huyền hoặc nặng thì ngƣợc lại. (4) “Năm học 2009 -2010 cĩ trên 34 % số - trẻ đƣợc sử dụng phần mềm Kidsmart”. (Ngành học mầm non tổng kết 5 năm triển khai ứng dụng CNTT -18/8). SP cần thể hiện ngữ điệu kết thúc câu bằng cách nâng giọng từ giữa câu hoặc kéo dài cụm từ “đƣợc sử dụng phân mềm kidsmart”. 3.3.2. Ngữ điệu thể hiện các chức năng ngữ pháp Khảo sát các văn bản phát thanh chƣơng trình thời sự truyền hình cho thấy ngữ tiếng Việt đƣợc chia làm hai loại khác nhau tùy vào chức năng của nĩ đối với một câu - phát ngơn cụ thể. Theo tác giả Đỗ Tiến Thắng, “ngữ điệu câu đơn trong tiếng Việt là một loại ngữ điệu đặc biệt”, “ngữ điệu câu đơn là ngữ điệu một tiêu điểm hay ngữ điệu “Trọn vẹn”. Các kiểu ngữ điệu: thấp, ngắt, cao phù hợp với từng loại câu đơn và phụ thuộc vào trọng âm. (5) “ Hồ Núi Cốc giờ nhƣ một cơng trƣờng”. Trong chƣơng trình thời sự truyền hình câu đơn đƣợc sử dụng rất phổ biến, đặc biệt là câu đơn mở rộng các thành phần. Chính vì thế khi thể hiện đúng tạo ra ngữ điệu rất phong phú. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Tất cả các kiểu loại câu ghép đều cĩ chung một cấu tạo ngữ điệu đĩ là ngữ điệu: Cao – thấp – cao. So với câu đơn, một tiêu điểm thì câu ghép cĩ tới 3 tiêu điểm. (6) “Vào chiều tối, các bao quặng đƣợc tập kết nhƣ thế này và nĩ sẽ đƣợc vận chuyển ngay trong đêm”. (Vận chuyển quặng trái phép ở Đồng hỷ - 30/6/2010). Chính kiểu ngữ điệu này khiến nhiều ngƣời nghĩ đến, hoặc lầm nĩ với âm điệu tiếng Việt. Khi phân loại câu theo mục đích phát ngơn, chúng ta thấy ngữ điệu thực hiện chức năng là chất keo làm cho từ ngữ trở thành câu, đồng thời nĩ cũng là dấu hiệu khu biệt loại hình câu. Các câu cĩ thể là trần thuật, nghi vấn hay cầu khiến thùy thuộc chỗ nĩ mang ngữ điệu gì. Câu kể hay cịn gọi là câu trần thuật, câu tƣờng thuật, câu miêu tả là “loại câu cĩ nội dung cơ bản là nêu lên, nĩi về các sự kiện, các hiện tƣợng, các tình trạng hoặc hành động. (7) “Ngày 6/4, tại bảo tàng văn hố các dân tộc VN đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm ảnh nghệ thuật “Cịn mãi với thời gian” của nghệ sỹ nhiếp ảnh Chu Thi.”; “Triển lãm là một minh chứng cho sự khao khát kiếm tìm những khoảnh khắc đẹp để dâng hiến cho cuộc sống hơm nay và mai sau”. Các ý kiến nêu lên khơng địi hỏi ngƣời nghe đáp lại mà để ngƣời nghe biết và đồng tình hoặc tƣ duy cùng với mình. Ngữ điệu của câu kể tạo ấn tƣợng chung là cĩ sự lên giọng ở cuối câu. Nếu nhƣ hoạt động ngữ điệu ở câu kể, câu trần thuật cịn mờ nhạt thì ở câu hỏi hoạt động này đƣợc biểu hiện rất mạnh. Trong câu hỏi, ấn tƣợng thính giác thấp ở đầu và rất cao ở phần kết thúc. (8) “Liệu đây cĩ phải là hiện tƣợng “Đầu cơ tích trữ” nhằm kiếm lợi trên đất cơng?” Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên (9)” Vấn đề đặt ra là tại sao vẫn cĩ lỗ hổng lớn từ cấp nào mà ngƣời moi quặng, kẻ đào vàng vẫn cĩ cơ hội hoạt động cơng khai?” ( Khai thác vàng trái phép tại huyện Đồng Hỷ - Trách nhiệm thuộc về ai? 4/8/2010). Câu cầu khiến của tiếng Việt dùng những trợ từ, hơ ngữ và động từ, tính từ cĩ sự giúp đỡ của âm điệu. Câu cầu khiến đƣợc thể hiện với ngữ điệu cực mạnh ở động từ vị ngữ của câu. Đây là sự khác biệt của câu cầu khiến với câu nghi vấn, nét cực cao của câu nghi vấn cĩ thể di động từ vị từ đến hƣ từ hỏi. Ví dụ: (10) “Đề nghị các cơ quan cĩ chức năng của tỉnh TN cần khẩn trƣơng vào cuộc xử lí kịp thời tình trạng nêu trên”(Ơ nhiễm mơi trƣờng ở Cơng ty cổ phần Hợp kim sắt 5/8/2010). 3.3.3. Thể hiện chức năng biểu cảm Câu tiếng Việt cĩ câu kể, câu mệnh lệnh. Ngồi ra cịn cĩ câu cảm thán, tùy mức độ văn bản các SP cĩ thể cĩ cách biểu hiện khác nhau (thất vọng, hay lạc quan…). Sự phân biệt câu kể và hỏi khác nhau (nhƣ trên đã phân tích), câu kể đi xuống, câu hỏi đi lên. Sở dĩ câu hỏi cĩ kết thúc đi lên vì về mặt ý nghĩa và tính trọn vẹn, câu hỏi mới thực hiện một nửa hành vi ngơn từ, đến khi trả lời mới hồn thành nốt nửa thứ hai là câu kể kết thúc. SP tùy theo ý đồ phát ngơn để thể hiện chức năng biểu cảm của các loại câu. Câu mệnh lệnh, kêu gọi kết thúc bằng giọng căng. Ngữ điệu ngang – bằng, đanh gọn. Âm tiết cuối thƣờng ngắn khơng đi xuống khơng đi lên, câu bị mất màu sắc và thƣờng ngắn. Các câu cầu khiến để hơ hào để hùng biện lơi cuốn, cĩ nhịp nhanh. Ví dụ: “Hãy nuơi con bằng sữa mẹ hồn tồn trong 6 tháng đầu.” Câu cảm thán cĩ hai khu vực để căn cứ. Khi thể hiện giọng điệu, màu sắc bi kịch và u buồn, hay chia sẻ, thƣơng tiếc thì nhịp của câu phải dài dƣờng nét dần đi xuống, ngắt giọng giữa các tiếng dài. Tuy nhiên, nếu kéo dài qua Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thành mỉa mai. Cịn cách thể hiện câu trong sáng hồn nhiên tƣơi vui, hứa hẹn lạc quan thì nhịp tƣơi vui và nhanh hơn, chỗ ngừng giữa các tiếng gắn hơn câu nằm ở âm vực cao và theo hƣớng đi lên. (11) “Phần lớn du khách tới thăm hồ vì biết tới vẻ đẹp tự nhiên của nĩ, chứ khơng phải khách đến thăm hồ bởi dịch vụ du lịch ở đây hồn hảo” (Hồ Núi Cốc chƣa phát huy hết tiềm năng du lịch 6/2010). (12) “Bày tỏ sự vui mừng cĩ mặt trong lễ khởi cơng và khánh thành nhà máy,phĩ thủ tƣớng chính phủ Hồng Trung Hải đã biểu dƣơng VINAINCON và các đơn vị thành viên đã nỗ lực, sáng tạo, đầu tƣ xây dựng cơng trình mang tầm cỡ quốc gia” (LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ MÁY XI MĂNG QUANG SƠN). Các ngữ điệu tình thái đƣợc các SP của chƣơng trình nắm rõ để truyền tải văn bản đạt hiệu quả cao nhất. Nắm đƣợc điều này các SP sẽ tạo đƣợc “uy quyền” của ngơn bản, dù trong vai đại diện cho một phƣơng tiện truyền thơng đại chúng hay cho ngƣời dân hay là chính quyền. Nét cực cao đối lập với cao làm nên sự khu biệt giữa câu tƣờng thuật với câu nghi vấn, nét cực mạnh đối lập với mạnh tạo nên sự khác biệt giữa câu mệnh lệnh và câu nghi vấn. (13) “Mấy hơm nay đang trong dịp thi tuyển sinh đại học nên các xe thƣờng chở hành khách nhiều hơn quy định, rất nhiều hành khách phải đứng suốt dọc hành trình. Các xe nhồi nhét khách nhƣ vậy sẽ bị xử phạt tƣơng đối nặng nên các lái xe đã tìm cách đối phĩ. Dƣờng nhƣ sự hoạt động của cảnh sát giao thơng trên các trục đƣờng nhƣ thế nào và ở đâu đã đƣợc các lái xe thơng báo cho nhau nên các xe đã biết để đi tắt tránh đƣờng. Đây là những hành vi cố tình vi phạm cần cĩ biện pháp xử lý nghiêm khắc để các lái xe cĩ ý thức hơn trong việc chấp hành luật giao thơng đƣờng bộ hiện nay..”( Nhiều xe khách vi phạm luật giao thơng). Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên (14) “Bài học đắt giá từ dự án Núi Pháo đã đƣợc xác nhận, đĩ là việc đánh giá năng lực nhà đầu tƣ, kiểm sốt đƣợc tình hình hoạt động của nhà đầu tƣ để tránh việc dự án bị biến thành một hoạt động đầu tƣ tài chính, mua đi bán lại. Điều đĩ cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện cho các bên Việt Nam khi tham gia liên doanh. Trong lúc chờ đợi tái khởi động dự án, vấn đề an sinh xã hội cần đƣợc các cấp chính quyền Thái Nguyên khẩn trƣơng thực hiện. Và ngƣời dân thì quan tâm thời gian thực hiện sẽ là bao giờ?”(NUIPHAOVICA SAU GẦN 6 NĂM SANG TÊN - ĐỔI CHỦ). Trong các phĩng sự ngắn thƣờng xuyên xuất hiện các câu nghi vấn, cầu khiến đƣợc đọc với ngữ điệu nhƣ phân tích ở trên, các SP với cách thể hiện của mình đã thổi thêm sức mạnh cho những tác phẩm báo chí này đối với cơng luận. Luận văn thống kê trong các văn bản thời sự câu nghi vấn và cầu khiến xuất hiện với mật độ thấp, chủ yếu ở các phĩng sự ngắn, xuất hiện nhiều trong các phĩng sự ngắn nĩi về mặt trái, về vấn đề địi hỏi sự quan tâm của ngƣời dân hoặc cơ quan chức năng. Sử dụng các kiểu câu này, chính là cách để ngƣời viết thực hiện chiến lƣợc biểu cảm của mình, khơng ai khác ngồi ngƣời thể hiện nĩ trên sĩng (truyền hình) thực hiện đúng, trúng ý đồ của tác giả. Đối với những câu dài trong văn bản, ngữ điệu sẽ đảm nhận chức năng biến những khúc đoạn ngơn từ phi câu trở thành câu. Ví dụ: (15) “Báo cáo chính trị trình tại đại hội đã nêu rõ; Sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 21, với tinh thần đồn kết, đổi mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nỗ lực phấn đấu đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng và tồn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội; làm thay đổi cơ bản bộ mặt chung của huyện, tạo tiền đề vững chắc để Đại Từ vƣơn lên phát triển nhanh và bền vững trong sự nghiệp cơng nghiệp hĩa - hiện đại hĩa. (đại hội đảng bộ huyện Đại Từ lần thứ XXII 1/7/2010). Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Ngồi nghĩa mệnh đề, câu cịn cĩ nghĩa tình thái. Với vai trị của ngƣời nĩi, khi thể hiện ngơn ngữ trong các chƣơng trình thời sự cần đặc biệt chú trọng khi miêu tả tình thái ngơn ngữ. Nhƣ chƣơng trƣớc luận văn đã trình bày, các văn bản thời sự sử dụng nhiều câu đặc biệt, câu khuyết chủ, khuyết vị ngữ… thậm chí sử dụng những câu tối giản chỉ một từ, cũng cĩ thể xem là loại câu bất thƣờng. (16) “Tai nạn giao thơng. Vấn đề nhức nhơi…” (Đội mũ bảo hiểm vì hạnh phúc của mỗi ngƣời và tồn xã hội 3/5/2010) (17 ) “Quặng sắt đƣợc lấy ngay từ mỏ sắt Trại Cau. Bởi một số ít ngƣời dân.” (Vân chuyển quặng trái phép ở Đồng Hỷ 30/6/2010) Trong các trƣờng hợp này, ngữ điệu đĩng vai trị quan trọng. Tác giả Hồng Trọng Phiến cho rằng điều kiện số một để cĩ một câu là nĩ phải cĩ tính vị ngữ, nhƣng “muốn trở thành câu phải cĩ điều kiện về ngữ điệu một cách nghiêm ngặt…” và “câu động từ cung cấp cho chủ ngữ một vị ngữ ngữ pháp cịn câu một từ khơng cung cấp cái đĩ mà cung cấp tính tình thái cho tồn câu” (Hồng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt (Câu), NXB ĐH &THCN, H. 1978). “Vâng. (thƣa QVCB)” đây là một câu tối giản, chỉ một từ độc lập nhƣng các SP cĩ thể biểu thi đƣợc các nội dung tình thái khác nhau thơng qua ngữ điệu: ngắn, dài, cao, cực cao, thấp và đay nội dung tƣơng ứng với nội dung tình thái : dứt khốt; trì hỗn, miễn cƣỡng; xác nhận hiện thực; nghi vấn, ngạc nhiên, muốn biết tiếp, thách thức…; tạm thời chấp nhận, chờ nghe tiếp; mỉa mai, phủ định…phù hợp nội dung của chƣơng trình. Ngữ điệu là một phƣơng tiện quan trọng để biểu thị tình thái. Nĩ cĩ thể tự mình hay kết hợp với các phƣơng tiện khác để biểu thị tình thái. Qua tƣ liệu văn bản phát thanh của đài PTTH Thái nguyên, luận văn dựa trên quan điểm của tác giả Đỗ Tiến Thắng, để chỉ ra một số nội dung tình thái nhƣ sau: Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Thứ nhất: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là ngắn so với nét thanh điệu cố hữu. Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khốt sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu. VD “. Sang đến Bắc Giang, giá của quặng sắt đã tăng lên trên dƣới 2 lần” (Vân chuyển quặng trái phép ở Đồng Hỷ 30/6/2010). Thứ hai: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là dài so với nét thanh điệu cố hữu. Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là sự khẳng định khơng mạnh mẽ hay miễn cƣỡng, trù trừ về sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu. Ví dụ: (18)(“Hồ Núi Cốc gần vùng chè Tân Cƣơng nổi tiếng, nhƣng từ trƣớc tới nay, rất ít du khách tới thăm hồ đƣợc biết tới điều này” ( Hồ Núi Cốc chƣa phát huy hết tiềm năng du lịch 6/2010). Thứ ba: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là một cao độ cao bậc một. Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là sự xác nhận sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu ( mức trung hịa về sự tình hay tình thái). (19) “Hồ Núi Cốc đang chịu sự quản lý của nhiều ngành, nhiều địa phƣơng…” (Hồ Núi Cốc chƣa phát huy hết tiềm năng du lịch - 6/2010). Thứ tƣ: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là một cao điệu cao tối đa (cực cao). Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là sự nghi vấn (ngạc nhiên) hoặc điều tất nhiên về sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu. Đơi khi nét này cịn biểu thị sự thách thức hay ý định muốn kéo dài cuộc đối thoại. (20)“Đây là hiện tƣợng cĩ tính chất đánh bạc và lừa đảo…” (Xuất hiện hiện tƣợng lừa đảo trong những ngày thi 2/7/2010). Thứ năm: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là một cao độ thấp, dƣới ngƣỡng phân biệt. Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là tính lâm thời của sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu. Đơi khi nét này biểu thị một thái độ chờ đợi ngƣời đối thoại nĩi tiếp. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên (21) “Thực tế, trên một số cánh đồng đã xuất hiện nhiều thửa ruộng cĩ lúa non lùn cây, lá xoắn vàng”(Cĩ dấu hiệu bệnh vàng lùn hại lúa non ở Định Hố 4/2010). Thứ sáu: Áp lực của Ngữ điệu lên thanh điệu là một cao độ cao tuyệt đối kèm nét trắc. Ý nghĩa tình thái mà nĩ biểu thị là sự mỉa mai, phủ định về sự tình hay tình thái đƣợc nĩi đến trong câu. Đơi khi nét này cịn biểu thị nội dung mệnh lệnh. Cĩ thể thấy các ngữ điệu khác nhau của câu “Dự án đã đƣợc khởi cơng” (Miêu tả) # “Dự án đã đƣợc khởi cơng” (khẳng định, vì lý do nào đĩ cần khẳng định) # “Dự án đã đƣợc khởi cơng” ( tiếc nuối, phủ định, mỉa mai) … Nhƣ vậy trong phát thanh ngữ điệu giữ vai trị quan trọng, khơng chỉ là để thể hiện sự trọn vẹn hay chƣa trọn vẹn của một phát ngơn mà nĩ cịn thể hiện các loại câu khác nhau và các sắc thái tình cảm khác nhau mà ngƣời viết muơn nhắn gửi. 3.3.4. Thể hiện chức năng Lơ gic Cịn đƣợc gọi là ngữ điệu hàm ý. Các câu kể, trần thuật sẽ mang hàm ý nghi vấn nếu chúng đƣợc phát âm với ngữ điệu cực cao, tập trung ở điểm phân bổ của ngữ điệu cấu tạo; (22) “Khu tái định cƣ nam Sơng Cơng là 1 trong 2 khu tái định cƣ mà dự án đã lên kế hoạch để “ lo” cho dân” (DÂN KHỔ VÌ ĐẠI DỰ ÁN 7/6/2010). Mang hàm ý phủ định nếu chúng đƣợc phát âm với ngữ điệu Đay, tập trung ở điểm phân bố của ngữ điệu cấu tạo. (23) “ Sau 6 năm, vùng dự án trọng điển của tỉnh Thái Nguyên và lớn nhất Việt Nam vẫn chỉ tồn tại 1 vài tấm biển quảng cáo đã bị phai mờ vì thời gian và những hàng rào quây kín bãi đất trống.” (NUIPHAOVICA SAU GẦN 6 NĂM SANG TÊN - ĐỔI CHỦ 10/6/2010). Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Mang hàm ý thỉnh cầu nếu chúng đƣợc phát âm với ngữ điệu cực mạnh, tập trung ở điểm phân bố của ngữ điệu cấu tạo. (24) “Đa số những ngƣời dân ở đây thấy quá vất vả vì họ phải sống chung với 3 khơng: khơng cĩ nƣớc sạnh sinh hoạt, khơng cĩ bìa đỏ để thế chấp vay vốn làm ăn và khơng biết mình thuộc địa phƣơng nào quản lý” (DÂN KHỔ VÌ ĐẠI DỰ ÁN 7/6/2010). Hàm ý khẳng định của câu phủ định vẫn cĩ thể cĩ nếu câu đĩ đƣợc phát âm với ngữ điệu rất cao, dài, và đay tập trung ở từ phủ định: (25) “Hồ núi cốc chƣa phát huy đƣợc tiềm năng du lịch” (6/2010) 3.3.5. Thể hiện chức năng dụng học Theo Austin : Câu khơng chỉ dùng để đánh gía tính đúng sai hay theo giá trị chân hay ngụy của Logic mà cịn đƣợc dùng để biểu thị những cái khác, tình cảm chẳng hạn, và cịn tác động đến ngƣời khác theo cấu trúc, mà cịn đƣợc phân tích theo hành vi, vì chúng thể hiện những mục đích sử dụng khác nhau. Các câu khơng chỉ do các thực từ đƣa lại mà nhiều khi hƣ từ đĩng lại đĩng vai trị quan trọng; Theo đĩ cĩ 3 hành vi xảy ra cùng trong một phát ngơn đĩ là: hành vi tạo lời; hành vi tại lời và hành vi mƣợn lời. Ngƣời ta dùng ngữ điệu này hay ngữ điệu khác khơng phải chỉ là thể hiện ý nghĩa mệnh đề của câu, thể hiện tình thái câu, hàm ý câu, mà cịn để thể hiện những hành vi ngơn ngữ khác. Và các SP của chƣơng trình thời sự cũng khơng ngoại lệ. Nếu nhƣ ngữ điệu của câu trân thuật tạo nên nét đẹp của của ngữ điệu tiếng Việt bởi sự cân đối của nĩ, thì câu ngữ vi cĩ đƣờng nét ngữ điệu thiếu cân đối (cịn đƣợc ví với hình chĩp nĩn) bởi tiêu chí cực cao, ngắn, nhanh của nĩ nhƣ: “Đồng chí bí thƣ tình ủy tuyên bố bế mạc hội nghị” hay “Phĩng viên tìm đến cơng ty này thì thấy ngƣời ta đã đĩng cửa từ bao giờ” . Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Hành vi tại lời cĩ số lƣợng rất lớn với hệ thống dấu hiệu ngữ vi vơ cùng phong phú trong đĩ ngữ điệu vừa cĩ vai trị hỗ trợ cho các tác tử ngơn từ, vừa hoạt động nhƣ một phƣơng thức độc lập. Luận văn thống kê đƣợc 5 giọng điệu hoạt động trong các hành vi tại lời Thứ nhất: Ngữ điệu Cực cao. Sử dụng trong hành vi tại lời nghi vấn. (26) “Với những con số ấn tƣợng nhƣ vậy khơng ai là khơng kỳ vọng dự án sẽ sớm trở thành hiện thực” (VÌ SAO 1 ĐẠI DỰ ÁN CHƢA ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG 10/6/2010). Thứ hai: Ngữ điệu Cao (trung bình). Sử dụng trong hành vi tại lời khẳng định, bổ sung luận cứ. (27) “Các đại biểu đều cho rằng: Ban chỉ đạo cấp tỉnh nên tiến hành tập huấn về nghiệp vụ cho các cán bộ làm cơng tác thu thập dữ liệu, điều tra thơng tin. Quy hoạch các ngành cần phải hồn thành trƣớc quy hoạch các địa phƣơng để địa phƣơng cĩ cơ sở lập quy hoạch của mình tránh sự chồng chéo” (HỌP BCĐ LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH TN - 16/6/2010). Thứ ba: Ngữ điệu Thấp: Sử dụng trong hành vi tại lời phỏng đốn, ngờ vực. (28) “Các bác sĩ nĩi nếu khơng mổ thì bé Hƣơng sẽ khĩ qua khỏi”(Hãy cho bé một trái tim khỏe mạnh 13/10/2009). Thứ tƣ: Ngữ điệu Cực mạnh: Sử dụng trong hành vi tại lời đề nghị. (29“ Đồng chí Phĩ Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo các cấp cần phải nghiên cứu và rà sốt lại các nhiệm vụ đã đƣợc phân cơng để thực hiện nhanh chĩng cơng việc, đảm bảo tiến độ” (HỌP BCĐ LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH TN -16/6/2010) Thứ năm: ngữ điệu Đay: Sử dụng trong nhiều hành vi tại lời nhất: Bác bỏ, giải thích, chấp nhận. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên (30“Bà (Tiến sĩ Margaret Chan ) nhấn mạnh: VSATTP là vấn đề chung của cả nhân loại chứ khơng riêng một nƣớc nào” (An tồn thực phẩm 13/5/2010). 3. 4 . Ngữ điệu xử lý cho các khúc đoạn đặc biệt của văn bản Nhƣ đã trình bày, trong các chƣơng trình thời sự truyền hình, ngay từ đầu chƣơng trình bao giờ ngƣời dẫn cũng giới thiệu Hedlind…cĩ thể là những câu, cụm từ mang tính khái quát, hoặc trong nhiều chƣơng trình các SP phải thể hiện tít tin bài thơng thƣờng. Sau đây là một số tít đã đƣợc sử dụng ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ LẦN THỨ XXII CĨ DẤU HIỆU BẸNH VÀNG LÙN HẠI LƯA NON Ở ĐỊNH HĨA ĐỒN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN THỰC HIỆN GIÁM SÁT VẬN CHUYỂN QUẶNG TRÁI PHÉP TẠI ĐỒNG HỶ KHĨ NGĂN CHẶN” Tên (tít) của bài khơng phải là một câu. Khi thể hiện, ngữ điệu thể hiện của các SP thƣờng rõ ràng, tách bạch từng từ, nhịp chậm hơn so với đoạn văn thơng tin. Cũng cĩ thê đọc to hơn một chút. Trong khi đĩ lời dẫn của mỗi tin bài (Sapo) SP sử dụng ngữ điệu nhanh, giọng nhẹ hơn. So với lời dẫn, nội dung thể hiện quan trọng nhất là thân tin bài (trong nhiều trƣờng hợp ngƣời ta cĩ thể bỏ sapo). Nhƣng trong nhiều trƣờng hợp khác, lời dẫn giữ vai trị quan trọng, tạo ra ngữ cảnh tốt, cung cấp thêm tin để khán giả hiểu sâu hơn ở phần tin. Là thơng tin phụ nhƣng khơng phải khơng quan trọng, song nếu sapo đƣợc thể hiện giống tin thì sẽ khơng tạo ra sự phân biệt. Ví dụ: (31) Nhƣ thơng tin chúng tơi đã đƣa, vào ngày 31/8/2008 tại khu vực tổ 25 phƣờng Quang Trung, TPTN đã xảy ra vụ việc mâu thuẫn, gậy sự, đánh chém, gây rối trật tự cơng cộng của nhiều đối tƣợng dẫn đến hậu quả 2 đối tƣợng bị tử vong và nhiều đối tƣợng khác bị thƣơng đã gây xơn xao dƣ luận Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên trên địa bàn tỉnh TN trong suốt thời gian qua và trong các ngày từ 5 – 8/4/2010, Tịa án nhân dân tỉnh TN đã tiến hành xét xử sở thẩm vụ án này đối với 13 bị cáo. Theo trình tự thủ tục cĩ đơn kháng án của các bị cáo nên ngày 1/7/2010, Tịa án nhân dân tỉnh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án trên” ”( TAND TỈNH TN XÉT XỬ PHƯC THẨM VỤ ÁN “GIẾT NGƢỜI” VÀ“GÂY RỐI TRẬT TỰ CƠNG CỘNG” ĐỐI VỚI 13 BỊ CÁO -1/7/2010). Sau lời dẫn, phần thân tin sẽ đi vào phản ánh, đƣa tin các hoạt động chủ yếu diễn ra trong phiên tịa phúc thẩm…Thiếu lời dẫn ngƣời xem khĩ hình dung tồn bộ vụ án xảy ra, trong trƣờng hợp này lời dẫn (sapo) là cần thiết. Trong nhiều tin bài cĩ phần chú ngữ - để phân biệt chú ngữ với bản tin chú ngữ đƣợc đọc nhẹ hơn, nhịp nhanh hơn. (32) “Qua chƣơng trình hợp tác này, Hội Saemaul của tỉnh Gyeongsangbuk đã hỗ trợ địa phƣơng xây dựng thí điểm mơ hình làng mới (Saemaul Undong) theo kiểu Hàn Quốc tại huyện Đại Từ“... (Thành lập sở ngoại vụ - 4/4/2010). Đối với các địa danh, hoặc tên nƣớc ngồi, do đặc điểm của ngơn ngữ tiếng Việt, các địa danh (tên ngƣời tên đất) tiếng Việt rất dễ bị nhầm với các từ.Ví dụ ở xã Phấn Mễ huyện Phú Lƣơng của tỉnh Thái Nguyên cĩ những xĩm cĩ tên nhƣ: Hái Hoa, Hịa Bình, Dân Chủ... Trƣớc hiện tƣợng này các SP sẽ đọc ngắt ra từng tiếng, trịn vành rõ chữ, ngữ điệu của câu khơng đƣợc can thiệp vào. Cịn đối với các con số và tên năm, tháng, thƣờng đƣợc đọc chậm lại, rõ ràng. Nhiều khi trên văn bản chỉ thể hiện “Ngày 24//11/2009“ (Thành lập sở ngoại vụ -4/4/2010) SP phải lại đọc là: ngày hai tƣ tháng mƣời một năm hai nghìn khơng trăm linh chín“, tức là phải Việt Nam hĩa con số hay chuyển hĩa ngơn ngữ viết thành ngơn ngữ nĩi. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trong nhiều chƣơng trình thời sự cĩ một loại văn bản khác biệt, nếu đặt trong tổng thể một chƣơng trình thời sự nĩ sẽ là một khúc đoạn đặc biệt nên ngƣời thực hiện luận văn tạm xếp vào tiểu mục này đĩ là các văn bản chỉ thị, nghị quyết, thơng báo.... Ví dụ nhƣ chỉ thị cơng bố dịch cúm AH1N1 trên gia cầm trên địa bàn hay chỉ thị phịng chống lụt bão...vv.. Các văn bản này thƣờng đƣợc ngƣời dẫn chƣơng trình thể hiện, và thể hiện đơn thuần là đọc chứ khơng phải là dạng thức nĩi nhƣ khi các SP thể hiện các văn bản khác. Chính vì thế ngữ điệu của thể hiện của các văn bản dạng này cũng đơn giản hơn với tiết tấu chậm rãi, rõ ràng. Khơng cĩ ngữ điệu thể hiện chức biểu cảm hay chức năng dụng học... 3. 5. Chiến lƣợc sử dụng các phƣơng tiện hỗ trợ Phát thanh viên, Biên tập viên trình bày trong các chƣơng trình thời sự thƣờng xuất hiện trong tƣ thế ngồi. Sự xuất hiện của họ trên màn hình trong khuơn hinh cận cảnh từ ngực trở lên. Với vị trí hình ảnh nhƣ vậy các SP đƣa thơng tin đến khán giả bằng ngơn ngữ, những yếu tố phi lời, bổ trợ cho lời nĩi của họ chủ yếu bằng ánh mắt, cơ mặt, các động tác gật đầu, nhún vai, động các của hai bàn tay một cách qui phạm, phong cách của các PTV, BTV thời sự cĩ sự khác biệt so đáng kể với PTV, BTV các chƣơng trình truyền hình khác. Lời nĩi nhanh chậm phù hợp với nội dung từng tin bài cụ thể. Tạo cho chƣơng trình thời sự sự phong phú đa dạng, sinh động và hấp dẫn. Giống nhƣ điện ảnh, truyền hình tái hiện lên màn ảnh những âm thanh, hình ảnh liên tục với kích cơ khác nhau. Kết hợp với hình ảnh, lời nĩi, âm thanh để diễn giải thực tại, suy ngẫm, tƣ duy về thực tại Các SP cần nắm đƣợc kỹ thuật biểu cảm trên khuơn mặt. Con ngƣời cĩ thể thể hiện chính mính hoặc biểu lộ cảm xúc, biểu lộ cái tơi thơng qua sự biểu cảm trên khuơn mặt. Những trạng thái khác nhau biểu cảm trên khuơn Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên mặt sẽ giúp chúng ta tự tin hơn và dễ thành cơng trong giao tiếp, Nắm đƣợc điều này là vơ cùng quan trọng đối với ngƣời dẫn chƣơng trình thời sự. Ánh mắt cĩ vai trị to lớn trong việc hỗ trợ lời nĩi, nĩ giúp chuyển tải những thơng tin phi lời. Ngƣời dẫn chƣơng trình cĩ thể giao tiếp với khán giả bắng mắt (cho dù chỉ khơng thấy khán giả), giao tiếp bằng mắt cịn biểu hiện sự trung thực và tạo sự tin cậy. Những động tác nghiêng đầu (một chút), và phong thái tự tin tạo sự thân thiện, một nụ cƣời đúng lúc, hợp lý, tế nhị cĩ giá trị biểu cảm cao, tạo cho khán giả thấy sự gần gũi và tinh tế của ngƣời thể hiện. Theo I. An đ rốp nhi cốp “Tất cả cử chỉ của ngƣời nĩi – sự ngừng lại trong khi nĩi, những câu nĩi buơng thõng, nụ cƣời, tiếng cƣời… tất cả những cái đĩ đều cĩ tác dụng mở rộng dung tích của lời thoại, phát huy đƣợc những cấu tạo mới của nội dung, khiến cho lời thoại rõ ràng, cĩ sức truyền cảm và đầy cảm xúc”.Ở chƣơng trình thời sự truyền hình, tất cả đều cĩ thể và trong sự chừng mực. 3.6. Tiểu kết Qua các phân tích trên đây cĩ thể thấy, về mặt biểu hiện âm thanh của các văn bản thời sự, các SP phát âm trịn vành rõ chữ, và tuân thủ những điều sau: Thể hiện đúng thể loại. Thể hiện đƣợc một số cung bâc tình cảm quan trọng nhất của giao tiếp, qua các kiểu câu và sắc thái tình cảm. Bộc lộ đƣợc tính trọn vẹn hay khơng trọn vẹn của một câu, khơng gây mơ hồ cho ngƣời nghe. Cĩ cách xử lý cho một sơ trƣờng hợp đặc biệt trong các văn bản, để ngƣời nghe cĩ thể hình dung đƣợc các lớp lang của ngơn từ văn bản. Bám sát vào chữ nghĩa tồn tại trong văn bản đã đƣợc chuẩn bị là yêu cầu bắt buộc đối với thể hiện văn bản truyền hình. Một văn bản truyền hình cĩ thể đƣợc chuẩn bị tốt nhƣng khi đƣợc nĩi chƣa chắc đã đạt hiệu quả bởi ngƣời nĩi, đĩ là các Biên tập viên và phát thanh viên. Ngơn ngữ nĩi trong chƣơng Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên trình thời sự chủ yếu do các SP thực hiện. Những SP cĩ trách nhiệm biến văn bản đã chuẩn bị trƣớc thành ngơn bản, thành lối nĩi tự nhiên hấp dẫn lơi cuốn ngƣời nghe. Việc thể hiện ngữ điệu, “một trong những phƣơng tiện ngữ pháp đặc biệt quan trọng ở bất kỳ một ngơn ngữ nào” trong các chƣơng tình thời sự vẫn đƣợc cho là cĩ sự “hạn chế và sự nhỏ nhoi của văn tự trƣớc thực tế đa dạng của lời nĩi tự nhiên” (TS Hồng Cao Cƣơng – “Nhập mơn vào ngữ điệu Tiếng Việt” – Ngữ pháp tiếng Việt những vấn đề lí luận – NXB KHXH 2008), bởi “giọng phát thanh của chƣơng trình thời sự đƣợc xem là giọng vơ cảm với ngữ điệu phi khung cảnh, thuần lý. Giọng đọc trong các chƣơng trình thời sự cũng nhƣ những bài tập đọc hay bài đọc trên các phƣơng tiện thơng tin đại chúng khác thuộc dạng phi tự nhiên của lời nĩi” (TS Hồng Cao Cƣơng - “Nhập mơn vào ngữ điệu Tiếng Việt” – Ngữ pháp tiếng Việt những vấn đề lí luận – NXB KHXH 2008). Nhƣng chắc chắn những sắc thái diễn cảm của ngữ điệu của các SP thể hiện trong chƣơng trình thời sự gĩp phần xây dựng hình ảnh của ngƣơi nĩi, thể hiện tố chất của ngƣời nĩi thơng qua hệ ngữ điệu đƣợc sử dụng. Ở phƣơng diện khác, ngữ điệu của các SP ở đây đã “đƣợc gọt giũa do mục đích giao tiếp”, mục đích giao tiếp của chƣơng trình thời sự truyền hình chính là đƣa thơng tin đến khán giả, và muc đích đĩ khơng phải của cá nhân mà là của một cơ quan báo chí, của hệ thống chính trị và của ngƣời dân. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên KẾT LUẬN Trên cơ sở vận dụng lý thuyết đặc điểm, chức năng của ngơn ngữ báo chí, lý thuyết về văn bản và diễn ngơn, luận văn đã tìm hiểu phân tích và chỉ ra một số đặc điểm của ngơn ngữ trong chƣơng trình thời sự truyền hình của Đài PTTH tỉnh Thái Nguyên trên hai phƣơng diện các văn bản viết (đƣợc lƣu giữ) và các văn bản phát thanh (các chƣơng trình đƣợc phát sĩng). 1. Để đáp ứng đúng yêu cầu sử dụng ngơn ngữ của một cơ quan ngơn luận, thực hiện đúng các chức năng của báo chí trong xã hội các văn bản thời sự truyền hình sử dụng lớp từ văn hĩa gọt giũa, cịn đƣợc coi là lớp từ vựng chuẩn. Tuy nhiên do đặc điểm của chƣơng trình, để thiết lập và duy trì đƣợc hoạt động giao tiếp với ngƣời xem trong các chƣơng trình thời sự sử dụng nhiều từ ngữ thƣa gửi, đƣa đẩy. Bản thân các con số đã chứa đựng những ý nghĩa của nĩ nên trong các văn bản thời sự, số từ đƣợc sử dụng với mật độ khá dày và nĩ đã chứng minh đƣợc vai trị khơng thể thay thế. Với đích cung cấp thơng tin là tiêu chí hàng đầu và yêu cầu của thơng tin là phải đầy đủ và chính xác, do vậy mà từ ngữ đƣợc sử dụng trong các chƣơng trình thời sự thƣờng chỉ hiểu một nghĩa và là nghĩa đen, và đảm bảo tiêu chí gần gũi, dễ hiểu. Tuy nhiên ngơn ngữ đƣợc sử dụng trong các tin bài thời sự cũng là thứ ngơn ngữ giầu hình ảnh và giàu sắc thái biểu cảm. Là một loại hình báo chí hiện đại, phạm vi tuyên truyền, phản ánh của chƣơng trình rất phong phú và đa dạng, để phản ánh chân thực, chính xác các lĩnh vực cuộc sống cũng nhƣ sự phát triển, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chƣơng trình sử dụng nhiều thuật ngữ, từ ngữ chuyên ngành. Tuy nhiên việc sử dụng từ ngữ, thuật ngữ chuyên ngành đảm bảo mọi ngƣời đều cĩ thể hiểu đƣợc. Để đảm bảo tính ngắn gọn, xúc tích, các văn bản thời sự thƣờng sử dụng câu ngắn. Tuy nhiên, trong các văn bản ngƣời ta vẫn thấy đầy đủ các kiểu câu xét về mặt cấu tạo ngữ pháp nhƣ câu đơn, câu phức. câu ghép. Trong Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên văn bản, việc sử dụng các câu vơ nhân xƣng, câu dƣới bậc thƣờng xuyên cĩ tác dụng nhấn mạnh, làm nổi rõ thơng tin tạo ấn tƣợng cho ngƣời xem.Cĩ thể nĩi ngơn ngữ trong chƣơng trình thời sự truyền hình mang những đặc điểm đặc thù, phân biệt khơng chỉ với các ngơn ngữ, phong cách chức năng khác xét từ phía ngơn nghĩa mà cịn với ngơn ngữ của các thể loại báo chí khác 2. Về đặc điểm phát âm: Các văn bản thời sự cơ bản đƣợc phát âm chuẩn so với giọng Hà nội hay liên phƣơng ngữ Hà Nội) bên cạnh đĩ cũng cịn cĩ cách phát âm mang tính chất địa phƣơng cần đƣợc khắc phục. Về đặc điểm ngữ điệu, nhìn chung trong các chƣơng trình các SP đã thể hiện đúng ngữ điệu chức năng ngữ pháp, chức năng biểu cảm, chức năng Lơ gic, chức năng dụng học đồng thời cĩ ngữ điệu xử lý riêng cho các khúc đoạn đặc biệt của văn bản. Bên cạnh đĩ các SP đã tận dụng tối đa chiến lƣợc sử dụng các phƣơng tiện hỗ trợ nhƣ là một thế mạnh riêng cĩ của chƣơng trình thời sự truyền hình so với các phƣơng tiện thơng tin đại chúng khác. Lời thoại trên màn ảnh truyền hình, đƣợc PTV, BTV đọc trực tiếp trên màn ảnh hay sau màn hình cần mang tính chất tâm tình, thân thiết, đồng thời phải mang tính chính luận, tính cơng dân. Việc tuân thủ là khơng đơn giản, và khơng tuân thủ truyền hình sẽ mất đi nhiều hiệu lực cũng nhƣ tính thuyết phục. một trong những ƣu thế của loại hình báo chí này. Trên thực tế hoạt động của Đài PTTH Thái Nguyên việc thể hiện các văn bản phát thanh khơng phải đã hết những hạn chế nhƣng về cơ bản các SP của chƣơng trình đã tuân thủ đƣợc các điều nêu trên. Cĩ thể khẳng định, ở thể loại báo chí truyền hình những chức năng quen thuộc của lời nĩi, sứ mạng của lời nĩi dù đƣợc thể hiện trƣớc ống kính hay sau ống kính camera đều cĩ tác dụng làm sống lại hiện thực và làm phong phú thêm những sắc thái của lời nĩi của con ngƣời. Trong nhiều trƣờng hợp, hình ảnh các sự kiện khơng cần đến những lời bình luận bởi tự bản thân hình Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ảnh đã nĩi lên những điều cần nĩi và thậm chí chiếm ƣu thế hơn so với lời thoại (nếu cĩ) trên màn hình. Song trên thực tế khán giả truyền hình ƣa cảm thụ lời nĩi. Nĩi cách khác vai trị của ngơn ngữ đĩng vai trị hết sức quan trọng và mang tính chất giao tiếp đặc biệt trong thể loại báo chí truyền hình nĩi chung và chƣơng trình thời sự truyền hình nĩi riêng. Trong chƣơng trình thời sự truyền hình các “linh kiện “đúc sẵn” để hiện thực hĩa các ngữ điệu” (TS Hồng Cao Cƣơng - “ Nhập mơn vào ngữ điệu Tiếng Việt” – Ngữ pháp tiếng Việt những vấn đề lí luận – NXB KHXH 2008) của tiếng Việt nhƣ tiểu từ khơng đƣợc phép xuất hiện, mà chỉ cĩ các chất liệu sẵn cĩ của tiếng Việt đĩ là thanh điệu, vì vậy khi viết, các phĩng viên, biên tập viên cần chú ý tới các thanh điệu tạo cho câu văn cĩ tính nhạc, cũng là để cho các SP thể hiện ngữ điệu đƣợc dễ dàng hơn. Ngơn ngữ của dân tộc ta là ngơn ngữ đa bản sắc, là sản phẩm đặc trƣng cho văn hĩa đất nƣớc, trong đĩ cĩ sự kết tinh của ngơn ngữ hiện đại… Thực thế 85 năm lịch sử của nền Báo chí Cách mạng Việt nam cho thấy, nhà báo là những ngƣời cĩ khả năng khởi tạo dƣ luận, cách sử dụng ngơn ngữ của nhà báo đƣợc coi là những chuẩn mực nhất định để ngƣời ta nghe theo, học theo và làm theo. Chủ trƣơng của Đảng và nhà nƣớc, cũng nhƣ các tổ chức, cơ quan báo chí hiện nay là xây dựng, đào tạo ra một đội ngũ nhà báo vừa vững về chuyên mơn nghiệp vụ vừa cĩ ý thức bảo vệ, gìn giữ và phát huy ngơn ngữ dân tộc trên các loại hình báo chí làm cho nĩ ngày càng phong phú hơn, giàu đẹp hơn. Cho nên việc tìm hiểu đặc điểm ngơn ngữ của chƣơng trình thời sự của luận văn mang giá trị thiết thực, hữu ích. Việc tìm hiểu ngơn ngữ của chƣơng trình thời sự của luận văn mới dừng lại ở sự sơ lƣợc. Chƣa đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm sử dụng ngơn ngữ riêng của từng thể loại tin, bài. Chúng tơi thiết nghĩ, nghiên cứu sâu hơn về đề tại này là việc làm cần đƣợc tiếp tục thực hiện trong thời gian tới khơng chỉ Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên của riêng tác giả luận văn. Cĩ một thực tế là trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của truyền hình hiện nay, để phù hợp với yêu cầu phát triển của thể loại báo chí, của thực tế xã hội, nguồn tƣ liệu mà luận văn dùng làm cơ sở nghiên cứu cĩ sự biến đổi liên tục, những nỗ lực nghiên cứu của tác giả cịn hạn chế khiếm khuyết là khơng thể tránh khỏi, rất mong nhận đƣợc sự chỉ giáo của các nhà ngơn ngữ học để luận văn tiếp tục đƣợc hồn thiện với kết quả tốt hơn./. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp- Văn bản – Mạch lạc – Liên kết – Đoạn văn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 2. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 3. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngơn và cấu tạo của văn bản, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 4. Diệp Quang Ban “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” – NXBGD H.1999 5. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. ĐHQG Hà Nội. 6. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ học, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 7. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 8. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) (1996), Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 9. Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hĩa qua ngơn ngữ”, Ngơn ngữ (10), tr 1- 18. 10. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cƣơng ngơn ngữ học, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 11. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội. 12. Đỗ Hữu Châu (2003), Giáo trình ngữ dụng học, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội. 13. Hồng Cao Cƣơng (2007), “Cơ sở kết nối lời tiếng Việt”, Ngơn ngữ 14. Nguyễn Đức Dân “Ngơn ngữ báo chí - Những vẫn đề cơ bản”. 15. Nguyễn Đức Dân (1998), Lơ gíc – ngữ nghĩa – cú pháp, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 16. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 17. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Thiện Giáp – “Giáo trình ngơn ngữ học” – 2008. 18. Nguyễn Thiện Giáp. Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 2002. Số hĩa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19. Hữu Quỳnh (1980), Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 20. Bùi Minh Tốn (1999), Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 21. Bùi Minh Tốn (2002), “Nhận diện cụm chủ vị trong câu tiếng Việt”, Ngơn ngữ (6), tr 73 – 80. 22. Bùi Minh Tốn – Nguyễn Quang Ninh (2004), Tiếng Việt thực hành, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội. 23. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trƣng văn hĩa - dân tộc của ngơn ngữ và tƣ duy ở ngƣời Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác), Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 24. Nguyễn Đức Tồn (2003), “Cần phân biệt hai bình diện nhận thức và bản thể trong nghiên cứu ngơn ngữ học”, Ngơn ngữ . 25. Nguyễn Đức Tồn (1999) “ Hoạt động ngơn ngữ phát thanh và truyền hinh từ cách nhìn của tam lý ngơn ngữ học. 26. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Ngơn ngữ học (2008), Ngữ pháp tiếng Việt – Những vấn đề lý luận, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 27. Vũ Quang Hào “ Ngơn ngữ báo chí” NXB ĐHQG HN, 2001. 28. Đỗ Tiến Thắng – Ngữ điệu Tiếng Việt Sơ khảo – NXB ĐH QG – 2009. 29. Hồng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt (Câu), NXB ĐH &THCN, H. 1978). 30. Nguyễn Thế Kỷ - “ Dạng thức nĩi trên truyền hình” Luận án TS 31. “ Bài giảng ngơn ngữ báo chí” Khoa báo chí trƣờng Cao đẳng PT- TH 32. E.P Prơkhơrốp “ Cơ sở lý luận của Báo chí” NXB Thơng tấn 2004. 33. G. V. Cudơnhetxốp – X.L Xvich – A. Ia. Iurốpxki “Báo chí truyền hình” – NXB Thơng tấn 2004. 34. Brigite Bese – Dider Desormmeaux “ Phĩng sự truyền hình” NXB TT 2004. 35. Hữu Đạt “ Phong cách học và các phong cách chức năng Tiếng Việt” NXB VHTT 2000. Và một số tài liệu khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdoc_330_4561.pdf
Luận văn liên quan