Đánh giá chất lượng giáo dục Đại học công lập dưới góc nhìn của sinh viên

Đề tài: Đánh giá chất lượng giáo dục Đại học công lập dưới góc nhìn của sinh viên MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu: 2 3. Đối tượng nghiên cứu: 3 4. Phạm vi nghiên cứu: 3 5. Phương pháp nghiên cứu: 3 6. Kết quả nghiên cứu dự kiến: 4 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5 I. Tổng quan về hệ thống giáo dục bậc đại học tại Việt Nam 5 II. Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam 9 1. Định nghĩa chất lượng giáo dục 9 2. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam 15 III. Định hướng giáo dục đại học Việt Nam từ 2010 đến 2012 16 CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 18 I. Phương pháp quan sát 18 II. Phương pháp trò chuyện – phỏng vấn 19 III. Phương pháp điều tra bằng câu hỏi 20 IV. Phương pháp thu thập thông tin bằng tài liệu, qua Internet 21 V. Phương pháp phân tích dữ liệu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục 22 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỊNH LƯỢNG 23 I. Nội dung phiếu khảo sát và phỏng vấn 23 1. Phiếu khảo sát 23 2. Phiếu câu hỏi phỏng vấn 35 II. Kết quả khảo sát định lượng 38 CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH CỦA KHẢO SÁT – PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 44 I. Chương trình giáo dục 44 1. Nội dung đào tạo 44 a. Tính cập nhật: 44 b. Tính thực tiễn 47 c. Tính phù hợp 49 2. Vấn đề thi cử 51 3. Thời gian đào tạo 52 II. Cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy đại học 53 III. Thái độ và phương pháp giảng dạy của giảng viên 55 IV. Chất lượng học tập của sinh viên Việt Nam 58 1. Việc chọn trường, chọn ngành nghề còn theo cảm tính, chạy theo xu hướng của thị trường 58 2. Thái độ học tập của sinh viên Việt Nam 61 CHƯƠNG V: NHỮNG NHU CẦU THIẾT YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 64 I. Vấn đề phân bổ nguồn lực trong thị trường lao động 64 1. Tình hình thị trường lao động tại Việt Nam hiện nay 64 2. Cơ cấu lao động phân theo ngành tại Việt Nam 68 3. Nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng việc làm trong những năm tới 69 II. Những yêu cầu về kỹ năng và tay nghề đối với sinh viên 72 CHƯƠNG VI: TỔNG KẾT VÀ KIẾN NGHỊ 74 I. Tổng kết 74 II. Kiến nghị 74 1. Đối với Bộ giáo dục và đào tạo 74 2. Đối với các trường đại học 77 KẾT LUẬN 79 1. Tính mới mẻ của đề tài 79 2. Giá trị thực tiễn của đề tài 79 3. Hướng phát triển của đề tài 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

pdf85 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 01/04/2013 | Lượt xem: 2030 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá chất lượng giáo dục Đại học công lập dưới góc nhìn của sinh viên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g – những người hiểu rõ nhất yêu cầu công việc và yêu cầu về nguồn trí thức chất lượng cao với các nhà quản lý và xây dựng chương trình giáo dục đại học có lẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chênh lệch lớn giữa yêu cầu thực tế và nội dung đào tạo. c. Tính phù hợp Đa số các ý kiến tham gia phỏng vấn và khảo sát đều nhận xét các môn chuyên ngành trong chương trình học là hay và hợp lý. Tuy nhiên, nhiều sinh viên khối ngành kinh tế (đặc biệt là khoa Quản trị kinh doanh) phản ánh thời lượng dành 50 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 50 cho các môn này vẫn còn ít, rải rác, tạo nên sự thiếu chuyên sâu. Ngoài ra, một số môn học dành cho sinh viên khối ngành kinh tế và xã hội còn có nội dung lặp lại, gây lãng phí thời gian dạy và học (ý kiến của nhiều sinh viên trường Đại học Ngoại thương và Học viện Báo chí và Tuyên tuyền). Một vấn đề nổi cộm được nhắc đến nhiều nhất trong quá trình điều tra là việc học các môn đại cương. Cụ thể, ở nhiều trường, trong 4 năm học có tới 2 năm dành cho việc dạy và học các môn đại cương. Sinh viên mong muốn thời lượng dành cho các môn đại cương rút ngắn chỉ còn 1 năm để thời gian còn lại dành cho việc học chuyên sâu hơn các môn chuyên ngành và thực hành ngoại khóa. Không thể phủ nhận vai trò thiết yếu của các môn học như Triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị trong việc hình thành nhân cách, hệ tư tưởng nền tảng cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những ý kiến bất đồng xoay quanh hoạt động dạy và học các môn này trong trường đại học. Cụ thể, môn Triết học Mác-Lênin quá nặng về lý thuyết với nhiều khái niệm trừu tượng, khô khan, khó hấp thụ trong khi có rất ít các ví dụ, dẫn chứng cụ thể trong thực tế. Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội khoa học lại thiên về liệt kê các sự kiện, quan điểm trong quá khứ mà thiếu hẳn phần liên hệ với thực tế hiện nay, chưa nêu bật được ý nghĩa và tầm quan trọng của môn học trong việc hình thành nhân cách và lối sống đúng đắn cho sinh viên, chưa khuyến khích sinh viên áp dụng những tư tưởng đó vào cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, đề thi hết môn chỉ đo được trí nhớ của sinh viên qua các câu hỏi về sự kiện cũng như khái niệm (đặt áp lực, gánh nặng phải ghi nhớ, căng thẳng không cần thiết lên sinh viên), chứ hầu 51 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 51 như không đánh giá được mức độ sinh viên hiểu và vận dụng các khái niệm, tư tưởng đó vào thực tế để biến chúng trở thành nền tảng nhân cách của mình. Điều đó dẫn đến tâm lý ngại học, chán học, học đối phó, học vẹt trong sinh viên. Phản ứng chung của sinh viên khi nhắc đến các môn học này là lắc đầu ngán ngẩm, chán nản vì đa số đều đồng tình rằng học các môn này “rất buồn ngủ, chán, và chẳng được gì vào đầu”. Rõ ràng mục tiêu chính của các môn học là giúp xây dựng hệ tư tưởng đúng đắn, biện chứng, lành mạnh cho thế hệ trẻ đã không đạt được, dẫn đến sự lãng phí rất lớn về thời gian, chi phí giảng dạy và tạo nên tâm lý tiêu cực trong sinh viên. 2. Vấn đề thi cử Kết quả học tập đóng vai trò quan trọng trong quyết định tuyển dụng của 62,5 % số nhà tuyển dụng được khảo sát. Tuy nhiên, những bất cập trong thi cử lại ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của sinh viên, để rồi cuối cùng hạn chế phần nào cơ hội sau này được lựa chọn vào làm trong đơn vị, ngành nghề yêu thích của họ. 73% số sinh viên được khảo sát cho rằng đề thi chưa có tính phân loại học lực sinh viên. Sinh viên khối ngành xã hội (đặc biệt là Học viện Báo chí tuyên truyền) phản ánh đề thi “chỉ học thuộc lòng là có thể làm được”. Nhiều sinh viên khối ngành kinh tế cũng cho rằng đề thi chưa khuyến khích tư duy sáng tạo, nhạy bén của sinh viên trong việc giải quyết vấn đề mà có quá nhiều câu lý thuyết. Các câu hỏi yêu cầu tính toán khi thì quá máy móc (chỉ cần áp dụng công thức là làm được), khi thì đòi hỏi sinh viên phải nhớ các công thức quá dài, tính toán các phép tính phức tạp với những con số rất dễ nhầm lẫn trong khi các phần 52 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 52 mềm ứng dụng trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay chỉ cần vài giây để đưa ra cùng một kết quả. Đề trắc nghiệm quá tiểu tiết, khiến sinh viên làm bài dựa nhiều vào may mắn. Một số câu thiếu chặt chẽ nên ko đánh giá đúng khả năng sinh viên. Thi trắc nghiệm chỉ lưu bài vào máy và nhận kết quả điểm mà không có đáp án cho từng câu hỏi. “Nhiều khi chúng em ko vì điểm mà vì muốn biết mình sai ở đâu” là tâm sự của một bạn sinh viên năm thứ 4, khoa kinh tế đối ngoại, trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Do vậy, các trường cần chú trọng hơn đến công tác ra đề thi của giảng viên và đưa ra yêu cầu kiểm tra đề thi một cách chặt chẽ, công bố đáp án rộng rãi đến toàn thể sinh viên trong trường. Dù công tác coi thi tại các trường đã được siết chặt hơn trước, nhưng tình trạng thi cử ở nhiều trường vẫn chưa thật sự nghiêm túc. Sinh viên rất dễ trao đổi bài hoặc nhắn tin hỏi bạn bè bên ngoài, dẫn đến kết quả thi không công bằng. Lãnh đạo các trường nên ban hành các chính sách chặt chẽ về công tác coi thi cũng như chấm thi cho sinh viên, đảm bảo không còn tình trạng tiêu cực trong thi cử diễn ra như hiện nay. 3. Thời gian đào tạo 55,6% số sinh viên tham gia khảo sát nhận định rằng thời gian đào tạo đại học 4 năm là phù hợp. Đây cũng là khoảng thời gian đào tạo thực tế của hầu hết các trường đại học trên cả nước. Đáng chú ý là 36,4% mong muốn thời gian đào tạo rút ngắn xuống còn 2 hoặc 3 năm. Trong điều kiện hoàn cảnh thời nay với nhiều thay đổi nhanh chóng, khó lường, thời gian đào tạo kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng 53 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 53 các kiến thức bị lỗi thời, làm giảm hiệu quả đào tạo. Với việc rút ngắn thời gian đào tạo, các kiến thức trang bị cho sinh viên trong trường đại học vẫn còn giá trị sử dụng “nóng hổi” trong thực tế khi ra trường. Hơn nữa, nếu giảm thời gian đào tạo như vậy, sinh viên có thể tận dụng 1-2 năm còn lại làm việc trong các doanh nghiệp để tích lũy kinh nghiệm thực tế thay vì tham gia các buổi thực tập hiệu quả thấp trong chương trình học ở trường. Như vậy, chi phí đào tạo giảm trong khi chất lượng đào tạo tăng lên. Hiện nay, nhiều trường đại học tại Việt Nam đang áp dụng chế độ học tín chỉ, giúp các trường linh động hơn trong việc xây dựng chương trình học phù hợp với thay đổi trong hoàn cảnh thực tế, và giúp sinh viên chủ động hơn trong việc lựa chọn môn học và thời gian học. Tuy nhiên, dù thời gian học có được rút ngắn nhưng thái độ học tập của sinh viên chưa phù hợp (tính tự giác, chủ động chưa cao) nên chất lượng đào tạo vẫn chưa được cải thiện. Những bất cập trên đòi hỏi sự chung tay của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học và các tổ chức tuyển dụng nhằm cải cách chương trình giáo dục đại học theo hướng cập nhật và phù hợp với thực tiễn phát triển của Việt Nam cũng như thế giới. Qua khảo sát, 93,8% nhà tuyển dụng được hỏi cho rằng việc cải cách chương trình giáo dục đại học hiện nay là cần thiết, trong đó 75% cho rằng rất cấp thiết. II. Cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy đại học Phải thừa nhận thực tế là các trường đại học đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng và số lượng cơ sở vật chất trong trường. Tuy nhiên chừng đó vẫn chưa đủ để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên cũng như giảng viên. Kết quả khảo sát của nhóm tác giả đã cho thấy 61% số sinh viên tham gia 54 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 54 đánh giá cơ sở vật chất trong trường chỉ đáp ứng được nhu cầu học tập của mình ở mức “trung bình”. 18% “đồng ý” rằng cơ sở vật chất đáp ứng được nhu cầu học tập của bản thân, 21% còn lại “phản đối”, trong đó, 3% “cực kì phản đối”. Còn đối với 95,7% giảng viên tham gia khảo sát, mức độ này là “trung bình khá”: cơ sở vật chất chưa đảm bảo hiệu quả giảng dạy và phục vụ việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới trong trường. Nhiều sinh viên khối ngành kỹ thuật và ngoại ngữ (ví dụ Đại học Hà Nội) đã than phiền về việc có quá ít phòng máy chất lượng tốt. Phần lớn các sinh viên khối ngành kinh tế không hài lòng về cơ sở vật chất trường mình (đặc biệt là sinh viên trường Đại học Ngoại thương Hà Nội). Một số phòng học có hệ thống ánh sáng và loa đài kém, các dụng cụ, trang thiết bị học tập cũ kỹ, hay hỏng hóc, làm trì trệ thời gian dạy và học trên lớp. Vài sinh viên phản ánh có khi cả lớp phải ngồi đợi gần nửa tiết học để chờ chữa máy chiếu. Máy chiếu quá lạc hậu, không tương thích với máy tính của giảng viên nên trong nhiều môn học, sinh viên phải chịu thiệt thòi vì không được học slide và xem các tư liệu (phim, hình ảnh) phục vụ cho bài học. Có nhiều phòng học còn quá nóng vào mùa hè cộng thêm sĩ số các lớp quá đông dẫn đến giảm sút hiệu quả học tập của sinh viên và chất lượng giảng dạy của giảng viên. Đặc biệt, hệ thống thư viện ở nhiều trường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu của giảng viên cũng như sinh viên. Tình trạng phổ biến là thư viện quá sơ sài và lạc hậu, không có hệ thống cơ sở dữ liệu, thời gian mở cửa ngắn, tài liệu rất hạn chế, đặc biệt tài liệu bằng Tiếng Anh phục vụ cho các lớp Chất lượng cao hoặc chương trình Tiên tiến. Một sinh viên năm thứ 4 khoa Tiếng Anh Thương Mại, đại học Ngoại thương tâm sự: “Tôi rất cần một thư viện 55 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 55 tương đối đủ sách tham khảo cho chuyên ngành của mình và đặc biệt là mở cửa gần như 24/24 chứ không phải là chỉ hơn 8 tiếng như hiện nay” Nguyên nhân của tình trạng này một phần là ở sự thiếu liên kết giữa các trường đại học với các tổ chức tuyển dụng. Kết quả khảo sát cho thấy 87,5% nhà tuyển dụng không tài trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho trường đại học. Do các trường phải tự chủ về tài chính với mức trần học phí được quy định, nên số lượng sinh viên được tuyển vào trường hàng năm ngày một tăng lên cùng với việc đa dạng hóa các ngành, lĩnh vực đào tạo. Trong khi đó, số lượng giảng viên không tăng lên tương ứng còn cơ sở vật chất ngày càng thiếu thốn dẫn đến tình trạng giảng viên bị quá tải và cơ sở vật chất xuống cấp. Có thể nói đây là một trong những vấn đề bất cập nhất trong hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay. III. Thái độ và phương pháp giảng dạy của giảng viên Trong cuộc khảo sát sinh viên của nhóm tác giả về thái độ giảng dạy của giảng viên, 82% số sinh viên tham gia có nhận xét nhìn chung các thầy cô dạy mình “nhiệt tình”. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp giảng dạy chỉ ở mức “trung bình” đối với 57,9% sinh viên, ở mức “tốt” đối với 33,7%, và chỉ 6,3% có ý kiến ngược lại. Ở hai thái cực “xuất sắc” và “rất tồi”, tỉ lệ đánh giá như nhau, ở mức 1,1%. Giảng viên ngày nay đã có ý thức chủ động áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến trong quá trình giảng dạy: giảng viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giải đáp thắc mắc nhằm khuyến khích óc sáng tạo, tính chủ động, độc lập tìm tòi của sinh viên. Các phương pháp mới được áp dụng khá phổ biến hiện nay như 56 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 56 phương pháp tổ chức thảo luận nhóm, thuyết trình, nghiên cứu tình huống (case study) đã phần nào phát huy tác dụng. Cũng phải kể đến một số giảng viên có phương pháp dạy khá cuốn hút và sáng tạo, đề xuất nhiều nguồn tài liệu tham khảo thú vị cho sinh viên, cách truyền đạt dễ hiểu. Đặc biệt, các thầy cô đã trải qua đào tạo ở nước ngoài đã tiếp thu được những phương pháp dạy học hiệu quả và áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, có lẽ do chưa có sự đầu tư đúng mức nên việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới còn máy móc, chưa khuyến khích được tính chủ động tìm tòi, sáng tạo của sinh viên (theo như nhận xét của nhiều sinh viên khối ngành kinh tế) nên nhìn chung hiệu quả vẫn chưa cao. Trên thực tế, nhiều giảng viên đã “lạm dụng” phương pháp giảng dạy “làm nhóm và thuyết trình”. Một đặc điểm của phương pháp này là giảng viên khá nhàn khi chỉ cần dạy một vài buổi đầu, phần kiến thức còn lại sẽ cho sinh viên chia nhóm tự học rồi thuyết trình trước lớp. Phương pháp này phát huy tác dụng cao đối với các sinh viên nước ngoài có tinh thần mạnh dạn, tự chủ trong học tập. Tuy nhiên, sinh viên Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của cách học thụ động, ỉ lại vào giảng viên nên việc áp dụng phương pháp này nhiều khi trở thành “thảm họa” nếu không chấn chỉnh lại thái độ học tập của sinh viên. Làm việc nhóm 5 hay 10 người, thường cũng chỉ có 1 đến 2 người làm chính, khi thuyết trình sinh viên ở dưới không nghe. Thời gian thuyết trình giới hạn trong 15-20 phút nên sinh viên không thể truyền tải được hết các nội dung quan trọng trong bài học. Khi sinh viên thuyết trình quá thời gian cho phép, giảng viên không thể nhận xét và bổ sung các kiến thức còn thiếu hoặc đi sâu giảng giải các phần khó. Đây là chia sẻ của một bạn sinh viên năm thứ 4, trường Đại học Ngoại thương: “Không phải lúc nào teamwork cũng đem 57 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 57 lại hiệu quả. Tôi đã bị stress vào kì 2 năm thứ 3 khi môn nào cũng đòi hỏi làm teamwork. Môn Kỹ thuật nghiệp vụ Ngoại Thương tôi được dạy quá sơ sài và gần như cả lớp tôi phải tự học cả quyển sách !” Ý kiến của sinh viên nhiều trường còn cho thấy thực trạng thiếu giảng viên chuyên ngành. Ví dụ, một bạn sinh viên năm thứ 3, khoa Xuất bản, trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền phản ánh: “Một giảng viên chuyên ngành sách văn học nhưng lại giảng dạy thêm môn Soạn thảo văn bản hành chính trong khi trình độ chuyên môn chưa sâu. Hoặc một giảng viên trẻ, mới ra trường đã phải đảm trách nhiều môn chuyên ngành quan trọng như Trình bày minh họa sách, Tổ chức bản thảo sách... Cách dạy còn hời hợt, nên hiệu quả chưa cao”. Nhiều giảng viên quá cao tuổi, kiến thức đã không còn phù hợp với sự thay đổi của thời đại, cách tư duy cũng không phù hợp với giới trẻ. Trong khi đó,số giảng viên trẻ lại thiếu kinh nghiệm thực tế nên chưa tạo được sự tin tưởng trong sinh viên. Tình trạng chung khi học các môn học thuần tuý lý thuyết vẫn là “buồn ngủ và chán”. Vì vậy, phương pháp dạy các môn này cần phải sớm được đổi mới để tạo hứng thú trong sinh viên. Tóm lại, theo đánh giá của sinh viên, đa số các thầy cô đều nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên phương pháp dạy học còn tồn tại nhiều bất cập. Nguyên nhân của tình trạng này phần nào do giảng viên “chưa thể” đầu tư đúng mức trong việc tìm tòi, triển khai phương pháp dạy học mới. “Chưa thể” là do thu nhập của giảng viên quá thấp so với công sức bỏ ra và so với thu nhập của 58 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 58 các ngành khác, cơ hội thăng tiến ít ỏi và đa phần không dựa trên năng lực nên khó khuyến khích giảng viên tâm huyết với nghề. Theo khảo sát của chúng tôi, 60,9% giảng viên có mức lương từ 3-5 triệu, 30,4% từ 1-3 triệu, chỉ có 8,6% trên 5 triệu. Một giảng viên trường đại học Ngoại thương nhận xét: “Thu nhập không căn cứ vào chất lượng công việc mà dựa trên những tiêu chuẩn thi đua khá mù mờ”. Các cơ sở đào tạo công lập theo chế độ tự chủ tài chính vẫn bị ràng buộc bởi mức học phí trần do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nên việc tăng lương cho giảng viên rất hạn chế. Kết quả là hầu như 100% giảng viên đi làm thêm ngoài giờ hành chính để nâng cao thu nhập. Cũng qua kháo sát, 50% giảng viên đánh giá cơ hội thăng tiến trong trường ở mức “trung bình”, 30% cho rằng “rất ít”, 15% cho là “nhiều”, và “hầu như không có” đối với 5% còn lại. Do đãi ngộ không tương xứng nên các giảng viên có khả năng dần chuyển sang làm quản lý, ít giảng dạy, nghiên cứu dẫn đến giảm chất lượng giảng dạy. Vì thế, tăng lương cho giảng viên và tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp là những giải pháp hiệu quả nhằm khuyến khích giảng viên nhiệt tình với công tác giảng dạy. IV. Chất lượng học tập của sinh viên Việt Nam 1. Việc chọn trường, chọn ngành nghề còn theo cảm tính, chạy theo xu hướng của thị trường Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên là việc chọn trường đại học. Đa số học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường chưa có một định hình rõ ràng về các trường đại học, nhất là học sinh ở các tỉnh (thành) xa khu vực trung tâm. Hầu hết các trường phổ thông cũng không tổ chức 59 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 59 các buổi hướng nghiệp cho học sinh, do đó các em hầu như chỉ được biết đến tên trường, ngành nghề thông qua cuốn “Hướng dẫn tuyển sinh đại học, cao đẳng” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành trước mỗi kì thi đại học, cao đẳng. Nhiều em tra trong sách thấy tên hay thì chọn mà không biết rõ bản thân có phù hợp với ngành nghề đó hay không. Kết quả cuộc khảo sát 207 sinh viên do nhóm chúng tôi thực hiện tại 28 trường đại học trên địa bàn Hà Nội cho thấy có tới trên 70% sinh viên chọn trường là do sở thích cá nhân hoặc do gia đình, bạn bè, tác động mà chưa thực sự biết ngành nghề đó đào tạo như thế nào và sau khi tốt nghiệp sẽ làm công việc gì. Tình trạng này đã ảnh hưởng không tốt tới chất lượng đào tạo bậc đại học. Nhiều bạn, khi vào trường, học một thời gian mới nhận ra, mình không đủ khả năng để tiếp thu lượng kiến thức ngành nghề yêu cầu. Từ đó, các bạn cảm thấy chán nản, không tập trung học nhưng không thể bỏ vì sợ mất thời gian. Một số khác khi được hỏi cho biết: Tùy theo xu thế thị trường, họ chọn ngành nào đang nổi với nhiều cơ hội việc làm khi ra trường. Ví dụ ngành công nghệ thông tin, trong vài năm gần đây, rất phát triển ở Việt nam. Nhiều bạn sinh viên vì thế đã chọn các trường đại học Bách Khoa, đại học Công nghệ làm mục tiêu phấn đấu, trong khi không biết bản thân liệu có khả năng tiếp thu khối kiến thức yêu cầu trong ngành hay liệu mình có phát huy được sở trường trong công việc sau này. Một số bạn sinh viên khi được phỏng vấn đã thẳng thắn chia sẻ: khi chọn thi vào trường thì đầy hứng thú nhưng vào học rồi mới thấy khối lượng kiến thức quá nặng mà khả năng tiếp thu của họ có hạn, dẫn đến kết quả học tập bị ảnh hưởng. 60 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 60 Đồng thời, họ cũng không được trang bị nhiều kĩ năng cần thiết cho công việc sau này. Một số sinh viên khác chọn trường theo như quyết định của cha mẹ. Các bậc phụ huynh sẽ định hướng cho con mình thi vào ngành có khả năng xin việc lớn nhất. Còn các bạn học sinh vì chưa có tính tự lập cao, hơn nữa chưa có định hướng rõ ràng cho công việc của mình sau này nên việc nghe theo sự sắp xếp của bố mẹ là một hệ quả tất yếu. Kết quả của những cuộc phỏng vấn sinh viên cũng cho thấy một số bạn chọn trường là do sở thích cá nhân. Đây là một tín hiệu tốt vì ít nhất các bạn đã ý thức được những mong muốn của bản thân và cũng tìm hiểu ít nhiều về ngành nghề mình chọn. Tuy nhiên, việc chọn trường theo xu hướng này cũng không mang lại hiệu quả đáng kể. Trên thực tế, những kì vọng, mong muốn về ngành đào tạo của sinh viên thường chưa được các trường đáp ứng dẫn đến cảm giác thất vọng, không muốn học. Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt tới chất lượng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Có hai khả năng xảy ra khi sinh viên thấy chán học. Một là họ sẽ miễn cưỡng tiếp tục theo học. Hai là họ sẽ thi lại vào trường đại học khác mà họ thấy đáp ứng được những nguyện vọng của họ. Tình trạng này khá phổ biến ở Việt nam. Qua phỏng vấn, nhiều bạn sinh viên tâm sự sau 2, 3 năm học khối ngành kĩ thuật ở các trường Đại học Bách khoa, Đại học Xây dựng, Đại học Công nghệ đã chuyển sang thi vào các trường kinh tế. Tình trạng này làm đau đầu các cấp lãnh đạo khi sự luân chuyển sinh viên sẽ gây xáo trộn hệ thống giáo dục của trường. Đồng thời, chính sinh viên cũng rất mất thời gian cho việc học đại học. 61 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 61 Ngoài ra, xu hướng chọn trường theo trào lưu cũng khá phổ biến ở Việt Nam. Nhiều bạn khi được hỏi có chia sẻ rằng họ chọn trường theo bạn bè chứ cũng không định hướng gì và nếu được chọn lại, họ sẽ chọn trường mình thích. Một vấn đề khác cũng nảy sinh khi học sinh không đỗ nguyện vọng 1 phải chuyển sang học nguyện vọng 2. Do tâm lý ngại thi sang các trường khác, sinh viên cố gắng học cho xong để lấy tấm bằng sau này đi xin việc. Nhìn chung, theo như kết quả phỏng vấn và khảo sát của chúng tôi, học sinh THPT hầu như chưa có định hướng rõ ràng trong việc chọn trường đại học phù hợp với khả năng của mình. Việc chọn trường còn theo cảm tính, theo xu thế thị trường hoặc do phụ huynh quyết định. Vấn đề này ảnh hưởng không tốt đến chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam. 2. Thái độ học tập của sinh viên Việt Nam Khi đến thăm khu vực thư viện của các trường đại học, chúng tôi nhận thấy có rất đông sinh viên đang ngồi học trong đó. Có người tự học, có nhóm sinh viên học chung, tất cả đều có ý thức giữ trật tự và nghiêm túc tra cứu thông tin. Lí do các bạn đưa ra khi được hỏi “Tại sao các bạn thích học trên thư viện, thay vì học ở nhà?” là thư viện có sẵn tài liệu, không khí học tập trong đó lại rất sôi nổi . Ngoài ra, họ có thể gặp gỡ bạn bè, cùng nhau trao đổi về một vấn đề nào đó… Một số sinh viên còn tập hợp, ngồi học nhóm trên ghế đá. Các lớp còn tạo địa chỉ thư điện tử riêng, là nơi các thành viên trong lớp trao đổi tài liệu hay thông tin. 62 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 62 Theo kết quả điều tra 207 sinh viên ở 28 trường đại học trên địa bàn Hà Nội, 44,2% số sinh viên đi học đầy đủ, 45,3% thường xuyên đến lớp, 10.5% thỉnh thoảng mới tới lớp. Đa số sinh viên đã có ý thức đi học đầy đủ. Đáng tiếc, đi học thường xuyên không có nghĩa là thái độ học tập tốt. Sinh viên thường đi học muộn. Kết quả quan sát cho thấy nhiều lớp vào giờ học rồi mà chỉ có giảng viên và một vài sinh viên. Sinh viên phía cuối lớp thường ngủ gật trong giờ, hoặc nói chuyện riêng, làm việc riêng. Hiện nay, đa số các trường đại học có kết nối internet phục vụ việc học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên, một số sinh viên đã lạm dụng mạng internet để làm việc riêng trong giờ. Theo chúng tôi quan sát, ở nhiều trường, trong khi thầy cô đang giảng bài trên bục, sinh viên ngồi dưới mở máy tính vào mạng đọc báo, xem phim, nghe nhạc,…Giảng viên có thể biết nhưng họ vẫn cho qua, tiếp tục giảng bài, đến hết giờ thì về, không quan tâm sinh viên có tiếp thu được kiến thức hay không. Điều này không chỉ tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục mà còn tạo nên một văn hóa không đẹp nơi giảng đường. Hầu hết các giảng viên tham gia phỏng vấn đều nhận xét: “sinh viên ngày càng lười học và biếng đọc”. Chỉ một số ít sinh viên đọc giáo trình trước khi đến lớp. Bài tập về nhà thầy cô giao hầu như chỉ được làm khi có sự kiểm tra. Nhiều sinh viên chưa có ý thức sắp xếp, phân bổ thời gian ôn tập và củng cố kiến thức trong quá trình học. Tình trạng phổ biến là khoảng thời gian học chính khóa trên lớp, sinh viên khá nhàn, và chỉ “bận rộn” khoảng vài tuần trước khi thi. Không thể phủ nhận rằng, hiện nay, các trường đại học ra sức khắc phục tình trạng tiêu cực trong thi cử. Việc coi thi, chấm thi diễn ra ngày càng chặt chẽ và 63 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 63 nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, tình trạng trên vẫn thường xuyên diễn ra. Do thái độ thụ động, ỷ lại vào giảng viên trong quá trình học, và tâm lý “nước đến chân mới nhảy”, sinh viên cảm thấy lúng túng khi làm bài thi. Mặc dù, tình trạng mang tài liệu vào phòng thi đã giảm đáng kể, tuy nhiên, sinh viên vẫn có thể hỏi bài và trao đổi trong phòng thi. Qua kết quả phỏng vấn, phần lớn sinh viên đều mong muốn nhà trường tạo cơ hội cho họ được tiếp xúc với thực tế nhiều hơn. Tuy nhiên, trong các buổi thực hành, thí nghiệm hay thảo luận nhóm, đa số sinh viên không có tinh thần xây dựng, đóng góp và chủ động học hỏi. Sinh viên chỉ coi các giờ thực hành như yêu cầu học tập. Vì thế, để nâng cao chất lượng đào tạo, trước hết bản thân sinh viên cần thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của việc học tập trên lớp sao cho việc học trở thành niềm say mê. Từ đó, sinh viên sẽ chủ động học hỏi, sáng tạo hơn trong phương pháp nghiên cứu, tránh tiêu cực trong thi cử và nỗ lực hết sức cho kết quả học tập tối ưu. 64 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 64 CHƯƠNG V: NHỮNG NHU CẦU THIẾT YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG I. Vấn đề phân bổ nguồn lực trong thị trường lao động 1. Tình hình thị trường lao động tại Việt Nam hiện nay a. Việc làm và thất nghiệp: Từ năm 1990 đến 2007, tốc độ tăng việc làm bình quân hằng năm là 2,42%, chỉ cao hơn 0.1% so với tốc độ tăng trưởng lao động trung bình hằng năm (2.3%). Điều nay có thể giải thích tại sao tỷ lệ thất nghiệp chính thức thấp. nhưng sẽ vội vàng nếu kết luận rằng việc làm được tạo ra đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả những lao động mới tham gia vào thị trường. Tỷ lệ thất nghiệp chính thức thấp là đặc trưng điển hình của các nước thu nhập thấp, nơi mà nhiều lao động tự làm chủ hoặc làm việc trong khu vực phi chính thức. Nhưng vấn đề thực sự là lao động khiếm dụng và sự phân bố tình trạng lao động khiếm dụng theo loại hình lao động. Lao động khiếm dụng tập trung vào lực lượng lao động trẻ: trong năm 2008 tỷ lệ lao động khiếm dụng trong lực lượng lao động có độ tuổi dưới 30 là 9,3% trong khi tỷ lệ đó trong số người lao động trong độ tuổi từ 30-39 chỉ là 3,4%, 2,1% đối với những người trong độ tuổi từ 40-49 và 1,8% đối với lao động trong độ tuổi trên 50 (CIEM 2009). Tuy nhiên, dường như tỷ lệ lao động khiếm dụng đã giảm đi trong năm 2006-2007, đó là những năm phát triển mạng mẽ của nền kinh tế Việt Nam. 65 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 65 Bảng 1: Tăng trưởng việc làm ở Việt Nam 66 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 66 b. Mức độ việc làm trong tăng trưởng: Một chỉ số thể hiện mức độ việc làm trong tăng trưởng là hệ số co giãn của việc làm tăng trưởng, đó là tỷ số tốc độ tăng việc làm chia cho tốc độ tăng GDP. Biểu đồ 1 chỉ ra các giá trị của độ co giãn này ở Việt Nam. Độ co giãn trung bình hàng năm của Việt Nam là 0.33% trong thời gian từ 1990-2007, thấp hơn nhiều so với các nước láng giềng. Biểu đồ 2 chỉ ra rằng trong một giai đoạn ngắn từ 1998-2001 độ co giãn của Việt Nam đã tăng mạnh. Do tốc độ tăng việc làm trong giai đoạn này rất ổn định, sự tăng lên đột biến này có thể được giải thích là do GDP tăng chậm lại sau khủng hoảng kinh tế châu Á. Tăng trưởng việc làm trong nông nghiệp thấp: trung bình cứ mỗi 1% tăng trưởng sản lượng chỉ tạo ra 0.17% mức tăng việc làm ( biểu đồ 2). Và ngay từ khi tăng trưởng nông nghiệp bùng nổ trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới vào những năm 90, độ co giãn đã bằng 0 hoặc âm, có nghĩa là nông nghiệp nhanh chóng trở nên ít thâm dụng lao động hơn. Từ năm 2000 đến 2008, trong khi tổng số việc làm được tạo ra là 7.5 triệu thì đóng góp của khu vực nông nghiệp là âm (-0.6 triệu việc làm, -0.8% trong tổng số việc làm được tao ra). Khi lực lượng lao động tiếp tục tăng lên, các khu vực khác đã buộc phải hấp thụ không chỉ những người mới tham gia vào thị trường lao động mà cả những người chuyển ra khỏi khu vực nông nghiệp. 67 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 67 Biểu đồ 1: Độ co giãn của việc làm theo tăng trưởng của Việt Nam Biểu đồ 2: Độ Độ co giãn của việc làm theo lao động ở Việt Nam theo ngành 68 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 68 2. Cơ cấu lao động phân theo ngành tại Việt Nam Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số trong độ tuổi lao động lớn và tăng nhanh (bình quân mỗi năm tăng khoảng 1,16 triệu người), tạo mức cung dồi dào về nguồn lao động. Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, công bố ngày 31/12/2009, Việt Nam đang trong thời kì “cơ cấu dân số vàng”, với khoảng 66% dân số trong độ tuổi lao động, cao gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của nước ta. Cùng với sự đổi mới của đất nước, trong hơn một thập kỷ qua cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có những biến đổi quan trọng. Tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đã tăng lên rõ rệt trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần theo từng năm. Dưới đây là bảng số liệu về cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế trong vài năm gần đây (số liệu của Tổng cục thống kê) 1995 2000 2005 2008 Nông nghiệp 71.2 65.09 57.1 52.62 CN& xây dựng 11.4 13.11 18.2 20.83 Dịch vụ 17.4 21.8 24.7 26.55 Sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành là một xu thế tất yếu của nền kinh tế. Song sự phân bổ nguồn lực lao động trong nội bộ ngành còn chưa đồng đều và bất hợp lý. Tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp có xu hướng giảm, tuy vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong lao động xã hội nhưng đại đa số lao động tập trung chủ yếu vào ngành trồng trọt, đặc biệt là khu vực sản xuất lương thực thực phẩm. 69 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 69 Tương tự, lao động trong ngành công ngiệp lại tập trung chủ yếu trong ngành công nghiệp chế biến. Sự mất cân bằng này ảnh hưởng không lớn đến việc phát triển một nền công nghiệp đa dạng và bền vững. 3. Nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng việc làm trong những năm tới Tuy là một nước có nguồn lao động dồi dào nhưng Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao. Theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực lao động – việc làm, trong các năm tới, Việt Nam vẫn tiếp tục khan hiếm nhân lực cao cấp, đặc biệt là các vị trí như giám đốc tài chính, giám đốc điều hành và giám đốc tài chính do sự thiếu kinh nghiệm cả về độ tuổi lẫn độ cọ xát thực tế. So với nguồn nhân lực cùng cấp độ ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, nhân lực Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm. Cũng theo nhận định của các chuyên gia, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam mới gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), tư vấn luật được đánh giá là nghề có sức hút lớn về nhân lực. Khi mối quan hệ đối tác của các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia, nhu cầu về luật sư ngày càng gia tăng. Ngoài việc thuê tư vấn luật độc lập từ các văn phòng luật sư hay các công ty tư vấn luật, các doanh nghiệp đều có bộ phận hoặc phòng ban pháp chế riêng để phục vụ cho việc kiểm soát, quản lý và giải quyết các rủi ro pháp lý, đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, ngành truyền thông, marketing (tiếp thị) cũng đang trên đà phát triển do trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải 70 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 70 tìm mọi cách để nâng cao thương hiệu và chỗ đứng cho sản phẩm của mình. Theo thống kê trực tuyến trên trang web về việc làm của Vietnamworks, tiếp thị và truyền thông là hai trong những nhóm ngành đang có nhu cầu nhân lực cao nhất hiện nay, và nhu cầu về nhân lực trong hai lĩnh vực này luôn ở mức “cung không đủ cầu”. Các chuyên gia thực sự giỏi và giàu kinh nghiệm trong các ngành này tại Việt Nam vẫn còn thiếu. Một ngành khác cũng đang dần trở thành xu thế trong những năm sắp tới là ngành công nghệ sinh học. Ngày nay, công nghệ sinh học được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, y học, dịch vụ, du lịch... nhằm phục vụ đa dạng các nhu cầu như dinh dưỡng, giải trí, chăm sóc sức khỏe,… ví dụ như tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, những loại thực phẩm, dược phẩm để chữa bệnh cũng như các kĩ thuật xử lý môi trường, chất thải. Do đó, công nghệ sinh học đã và đang chứng tỏ được tầm quan trọng đối với đời sống, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi người dân Việt Nam ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường và sức khỏe. Vì vậy, có rất nhiều cơ hội việc làm dành cho các cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp ngành công nghệ sinh học tại các công ty nước ngoài, các phòng nghiên cứu, các doanh nghiệp nhà nước hoặc các công ty tư nhân. Song một khó khăn gặp phải đối với vấn đề đầu ra của ngành này xuất phát từ đặc thù ngành học. Công nghệ sinh học đòi hỏi làm việc trên các trang thiết bị hiện đại, đắt tiền, chỉ có ở các cơ sở nghiên cứu, các công ty lớn tập trung ở những thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh. Cho nên, phần đông sinh viên tốt nghiệp hiện tại đều tập trung ở các thành phố lớn. Còn ở các tỉnh khác, sinh viên ra trường khó có thể phát huy hết khả năng ngành nghề được đào tạo do thiếu trang thiết bị. 71 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 71 Ngoài ra, ngành Công nghệ thông tin (CNTT) – ngành đang được Chính phủ hỗ trợ để đẩy mạnh phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn cũng đang có nhu cầu về lao động rất lớn. Hiện nay, không chỉ các doanh nghiệp, các tập đoàn CNTT lớn mà cả các doanh nghiệp Nhà nước cũng đang ứng dụng các thành tựu CNTT mạnh mẽ nên rất cần nguồn nhân lực có tay nghề cao trong các chuyên ngành như lập trình viên, phát triển phần mềm, phân tích hệ thống, bảo mật thông tin, quản trị mạng, kỹ thuật phần cứng, điện tử máy tính. Theo báo cáo mới đây của vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hiện số lao động trong ngành CNTT trên cả nước là trên 200 ngàn. Dự báo đến năm 2020, nhu cầu nhân lực của ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam sẽ lên tới hơn 600 ngàn người Tuy nhiên chỉ khoảng 400 ngàn người có khả năng đáp ứng được yêu cầu công việc do chất lượng của sinh viên trong ngành vẫn còn thấp. Theo thống kê của Viện Chiến lược Công nghệ thông tin thì 72% sinh viên ngành CNTT khi tốt nghiệp không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết trong lĩnh vực nào có thể hành nghề tốt nhất và 77.2% doanh nghiệp phải đào tạo lại các nhân viên mới. Điều đáng quan ngại nhất là 70% không thành thạo ngoại ngữ. Điều này một phần do việc đào tạo sinh viên trong ngành CNTT chưa kết nối được với yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, chỉ đào tạo mà không biết doanh nghiệp cần gì, số lượng bao nhiêu. Hơn nữa, trong khi đặc thù ngành CNTT là sự thay đổi liên tục, sự lạc hậu nhanh chóng của công nghệ thì việc đào tạo ở các trường đại học lại ít cập nhật và hầu như ít đổi mới. Một ngành nữa cũng đang thiếu hụt nguồn nhân lực là ngành y dược. Theo báo cáo của bộ Y tế, tính đến cuối năm 2008, cả nước ta có trên 85 triệu dân nhưng chỉ có 55,000 bác sỹ. Như vậy, tính trung bình chỉ có khoảng 6.4 bác sỹ trên 72 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 72 10,000 dân. Ở vùng sâu vùng xa, số lượng bác sỹ chỉ có 2/10,000 người. Đồng thời việc khám chữa bệnh tại các bệnh viện cần thêm khoảng 6,000 bác sỹ, 1,500 dược sỹ, 10,000 điều dưỡng và khoảng 7,000 các cán bộ khác. Như vậy, nhu cầu nhân lực cho các bệnh viện trong các năm sắp tới lên tới trên 74,000 người. Đây chính là “sức hút” nhân lực của khối ngành y, dược. Tuy nhiên, khối ngành kinh tế - tài chính – ngân hàng mới thu hút nhiều sinh viên cũng như có nhu cầu về nhân lực lớn nhất hiện nay. Mỗi năm các trường trên cả nước có hàng chục nghìn cử nhân kinh tế chính quy ra trường, chưa kể đến số lượng lớn không kém thuộc các hệ tại chức, văn bằng hai, đào tạo từ xa, liên thông. Như vậy, số lượng sinh viên mới ra trường dù rất lớn nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu xã hội. Do đó dự báo trong 5 năm tới, khối ngành này có thể sẽ bão hòa, song vẫn thiếu nguồn nhân lực ở tầm chuyên gia. Điều đặc biệt là nhu cầu về lao động phổ thông hiện nay đang tăng rất nhanh, chiếm 50% nhu cầu thị trường lao động. Bên cạnh đó, nhu cầu về lao động chất lượng cao ở các khu công nghiệp, khu chết xuất, các vùng kinh tế trọng điểm cũng rất lớn. Ước tính đến cuối năm 2010, nhu cầu lao động trong vùng này là khoảng 8,284,873 người (tăng xấp xỉ 8% so với năm 2007) II. Những yêu cầu về kỹ năng và tay nghề đối với sinh viên Mỗi ngành nghề có những yêu cầu về kỹ năng và tay nghề khác nhau song nhìn chung, các doanh nghiệp đòi hỏi sinh viên ra trường phải có trình độ ngoại ngữ nhất định (nhiều nhất vẫn là tiếng Anh, tiếp đó là tiếng Pháp, Nhật, Trung, Hàn), khả năng làm việc theo nhóm và làm việc độc lập, đặc biệt là niềm say mê và sự tự tìm tòi, ham học hỏi. 73 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 73 Theo các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kết quả học tập của sinh viên trong trường đại học có vai trò khá quan trọng trong việc đưa ra quyết định tuyển dụng của họ song không phải là yếu tố quan trọng nhất. Đa phần các doanh nghiệp khi tuyển dụng không chỉ đơn thuần đánh giá sinh viên qua bảng điểm và các thành tích học tập mà còn đánh giá sinh viên qua các kỹ năng mềm, khả năng thích nghi nhanh với môi trường làm việc và tư duy phê phán thông qua hàng loạt các bài kiểm tra tư duy, tâm lý, phỏng vấn... Điều này cho thấy, các doanh nghiệp không chú trọng đến việc sinh viên đã học được gì ở trường đại học mà quan tâm hơn đến việc họ ứng dụng những điều đã được học vào thực tế như thế nào. Theo báo Dân trí, chỉ có 15% lao động đáp ứng được yêu cầu việc làm sau khi ra trường và có tới 80% sinh viên ra trường có việc làm nhưng lại làm không đúng với chuyên ngành được đào tạo. Điều này khiến cho các doanh nghiệp phải mất từ 2 đến 6 tháng để đào tạo lại các sinh viên mới ra trường. Hơn nữa, giáo dục đại học Việt Nam còn thiếu sự liên kết giữa nhà trường và các tổ chức tuyển dụng. Theo một khảo sát do nhóm chúng tôi thực hiện với 103 nhà tuyển dụng, chỉ có 25% tham gia liên kết với các trường đại học để xây dựng nội dung chương trình học và chỉ có 12,5% được mời tham gia góp ý cho Bộ Giáo dục và Đào tạo về khung chương trình giáo dục bậc Đại học. Một nhà tuyển dụng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cho biết, họ chỉ sử dụng cán bộ cốt cán của mình cho công tác đào tạo vì họ có kinh nghiệm thực tế nhiều hơn các giảng viên trong trường đại học. 74 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 74 CHƯƠNG VI: TỔNG KẾT VÀ KIẾN NGHỊ I. Tổng kết Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra các kết luận sau: - Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang trên đà phát triển với số lượng các trường đại học, số sinh viên và giảng viên tăng lên theo các năm. Trong nỗ lực khuyến khích giáo dục, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách ưu đãi và cải cách giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo. Phần nào các chính sách này đã và đang mang lại những hiệu quả nhất định. - Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình giảng dạy cần được khắc phục: Chương trình giáo dục kém cập nhật và chưa thực sự phù hợp; cơ sở vật chất phục vụ việc học tập chưa đủ về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng; thiếu những giảng viên có chuyên môn cao, và thực sự nhiệt huyết với nghề; thái độ học tập của sinh viên còn kém. II. Kiến nghị Từ những phân tích về thực trạng giáo dục đại học ở trên, chúng tôi xin đưa ra một vài kiến nghị đối với Bộ giáo dục và đào tạo cũng như các trường đại học trên cả nước: 1. Đối với Bộ giáo dục và đào tạo - Rút ngắn thời gian đào tạo xuống còn 2-3 năm bằng cách giảm tải chương trình học, chỉ tập trung vào các môn chuyên ngành với mục đích trang bị kiến thức nền cho sinh viên Vì hiện nay, hầu hết các trường đại học đều đào tạo 4 năm, kiến thức dàn trải, sinh viên có thái độ “nhàn rỗi”. Việc rút ngắn thời gian đào tạo sẽ khuyến 75 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 75 khích sinh viên tập trung vào nhiệm vụ học tập trong 2-3 năm, 1-2 năm còn lại dành cho sinh viên đi thực tế ở các doanh nghiệp, tổ chức. Hơn nữa, chương trình được giảm tải kéo theo số lượng môn học giảm xuống, tạo điều kiện thuận lợi cho vấn đề cải cách chương trình giáo dục. - Chỉ đạo các trường đại học thiết kế chương trình giảng dạy mang tính thách thức đối với sinh viên: chương trình học cập nhật và có tính thực tiễn cao, số lượng kiến thức sinh viên cần nghiên cứu lớn, đồng thời ban hành các quy định khắt khe dành cho việc học trên lớp, đặc biệt là sự tự nghiên cứu ở nhà của sinh viên. Thực tế cho thấy, học sinh THPT có ý thức tự học cao vì lượng bài tập lớn, có nhiều bài tập khó đòi hỏi tham khảo tài liệu và tự học ở nhà. Hơn nữa, hiện nay, Bộ giáo dục đang yêu cầu các trường công bố chuẩn đầu ra. Chương trình đào tạo càng mang tính thách thức, sinh viên càng phải nỗ lực để đạt được tiêu chuẩn đầu ra. - Ngoài ra, khung chương trình giáo dục cần tăng số giờ thực hành, giảm số giờ lý thuyết. Nhờ vậy, sinh viên khi ra trường cảm thấy bớt bỡ ngỡ với công việc thực tế. - Giám sát chặt chẽ các nguồn quỹ chi cho đầu tư cơ sở vật chất dạy và học, chú trọng đến vấn đề chất lượng hơn số lượng. - Xây dựng khu kí túc xá hợp vệ sinh, đảm bảo an toàn, đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên và có những quy định quản lý sinh viên chặt chẽ. Điều 76 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 76 này tạo điều kiện cho sinh viên giao lưu, học hỏi lẫn nhau, đồng thời nhà trường cũng dễ quản lý sinh viên hơn. - Chỉ thị các trường thành lập Hội đồng sinh viên và thiết lập một hệ thống thông tin thông suốt từ Bộ xuống Hội đồng nhà trường, Hội đồng sinh viên. Sinh viên tự bầu chọn các thành viên trong Hội đồng sinh viên. Hội đồng này có trách nhiệm thu thập ý kiến của sinh viên và trình bày lên Hội đồng nhà trường. Đồng thời, Hội đồng sinh viên cũng tham gia vào các quyết định của nhà trường với vai trò cố vấn. Mọi hoạt động của Hội đồng sinh viên và Hội đồng nhà trường được phổ biến rộng rãi tới toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên trong trường. Hiện nay, mỗi trường đều có Đoàn thanh niên, đóng vai trò như Hội đồng sinh viên. Tuy nhiên, hoạt động của Đoàn còn bị giới hạn trong phạm vi quyền lực nhất định, chưa thể hiện hết tiếng nói của sinh viên, phần nào còn xa rời sinh viên. - Yêu cầu các trường công bố công khai chuẩn đầu ra, theo hướng không chỉ phục vụ cho doanh nghiệp mà còn định hướng cho học sinh cấp III chọn trường đại học. Một cuốn sách bao gồm thông tin về cơ cấu các trường đại học cùng với chuẩn đầu ra sẽ giúp học sinh tiện theo dõi hơn. Đồi với những sinh viên sắp ra trường, Bộ giáo dục chỉ thị các trường tổ chức những buổi hướng nghiệp cho sinh viên. - Khuyến khích giảng viên nâng cao trình độ chuyên môn ngay trong nước. Muốn vậy, Bộ giáo dục cần cải cách chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ,… của Việt Nam. Các chuyên gia nước ngoài am hiểu về nền giáo dục Việt Nam cũng 77 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 77 như nhu cầu lao động của xã hội có thể giúp sức trong việc thiết kế chương trình hay cố vấn cho quá trình cải cách. - Khuyến khích việc áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn bằng cách thương mại hóa các đề tài khoa học. Những doanh nghiệp, tổ chức muốn sử dụng các kết quả nghiên cứu, cần thanh toán phí. Như vậy, Bộ giáo dục có thể tăng thêm nguồn quỹ cho đào tạo. 2. Đối với các trường đại học - Khuyến khích tinh thần học tập của sinh viên bằng các cuộc thi nghiên cứu khoa học, các buổi tranh luận theo chủ đề,… với hình thức thưởng cụ thể. Giảng viên có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm tự nghiên cứu bài học ở nhà và viết báo cáo về những nội dung đã tiếp thu được. Trên lớp, các nhóm trình bày hiểu biết của mình và cùng thảo luận. Giảng viên đóng vai trò hướng dẫn, ban giám khảo, tính điểm cho bài báo cáo và thuyết trình của sinh viên. - Giảng viên tổ chức các buổi thực tế cho sinh viên. Sinh viên có điều kiện tiếp xúc với môi trường làm việc chuyên nghiệp, đồng thời sinh viên cảm thấy yêu thích chuyên ngành học của mình hơn. - Đề thi nên có tính phân loại học lực sinh viên. Sinh viên cần học tập chăm chỉ để hoàn thành bài thi thật tốt. - Khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học bằng các cuộc thi hoặc yêu cầu giảng viên viết sáng kiến kinh nghiệm tổng hợp kinh nghiệm giáo dục và đề xuất hướng giải quyết nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Nhà trường thành 78 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 78 lập Hội đồng khoa học, đánh giá chất lượng nghiên cứu cũng như sáng kiến kinh nghiệm. Kết quả được công bố rộng rãi trong toàn trường. - Mở các khóa học đào tạo kĩ năng mềm cho sinh viên hoặc tư vấn cho sinh viên về các khóa học kĩ năng mềm của trung tâm, tổ chức ngoài đơn vị trường. - Chú tâm xây dựng nét văn hóa riêng của trường. Nét văn hóa ấy phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục, truyền thống học tập của sinh viên, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất trường học,… - Chủ động tìm kiếm nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức; có sự liên kết với các nhà tuyển dụng trong quá trình thiết kế chương trình học, tập huấn các kĩ năng làm việc cho sinh viên, giúp sinh viên tiếp cận gần hơn với công việc thực tiễn. 79 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 79 KẾT LUẬN 1. Tính mới mẻ của đề tài Tính đến thời điểm nghiên cứu, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một đề tài nghiên cứu nào mang nội dung hoặc tương tự đề tài “Đánh giá chất lượng giáo dục Đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên” mà chúng tôi đang nghiên cứu. 2. Giá trị thực tiễn của đề tài Từ những nhận xét, đánh giá của các bạn sinh viên, đối tượng giáo dục trực tiếp tại bậc đại học, chúng ta có thể nắm bắt được những điểm còn tồn tại của hệ thống giáo dục Việt Nam và rút ra kinh nghiệm cũng như giải pháp khắc phục những khuyết điểm trên. 3. Hướng phát triển của đề tài - Xây dựng một hệ thống các biện pháp cải thiện chất lượng giáo dục mang tính khả thi cao, có quy mô và quy củ. - Đề tài nghiên cứu có thể được phát triển sang các bậc giáo dục khác: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. 80 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục/La Hồng Huy/Trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục đại học/Trường đại học Nông nghiệp I/NXBGD-2007 Các khái niệm chất lượng, văn hóa chất lượng, đánh giá, đảm bảo và kiểm định chất lượng trong giáo dục/TS. Nguyễn Kim Dung & ThS. Huỳnh Xuân Nhựt/Viện nghiên cứu giáo dục Một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học/ThS. Nguyễn Kim Dung & TS. Phạm Xuân Thanh/Tạp chí giáo dục số 66/Tháng 9- 2003 Báo cáo tổng kết “Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về định hướng tương lai”/Trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục –Viện nghiên cứu giáo dục-Trường ĐH sư phạm thành phố HCM/Tháng 10-2008 Luật giáo dục 2005+ bản sửa đổi 2009 Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02-11-2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 81 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 81 Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học ban hành ngày 01-11-2007 Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường ban hành ngày 30-05-2008 Chỉ thị 296/CT-TTg năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27-02-2010 Thông báo số 109/TB-BGDĐT về kết luận của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị triển khai Chỉ thị số 296/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 Kế hoạch số 113/KH-BGDĐT-TWĐTN về phối hợp hoạt động giữa Bộ giáo dục và Đào tạo và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh triển khai chỉ thị số 296/CT-TTg của thủ tướng Chính phủ Công văn số 1242/BGDĐT-VP về việc hướng dẫn tổ chức thảo luận, quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và nghị quyết 05 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 Công văn số 1444/BGDĐT-GDĐH về việc sơ kết theo đào tạo xã hội/23-03- 2010 82 Đánh giá chất lượng giáo dục đại học công lập tại Việt Nam qua góc nhìn của sinh viên. 82 Công văn số 2196/BGDĐT-GDĐH về việc hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo/22-04-2010 Công văn số 2754/BGDĐT-NGCBQLGD về việc hướng dẫn lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên/20-05-2010 Các trang web: (Tổng cục thống kê) (Bộ giáo dục và đào tạo) (Vụ giáo dục đại học) (Tổng cục dân số và kế hoạch hóa gia đình) (Bộ công thương)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐánh giá chất lượng giáo dục Đại học công lập dưới góc nhìn của sinh viên.pdf
Luận văn liên quan