Đánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn để phục vụ cho mục đích nuôi tôm trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tại xã Tam Hải - Núi Thành - Quảng Nam

Vì file quá lớn nên phải bỏ bớt hình để upload bạn nào mua có nhu cầu sẽ được gửi bài hoàn chình mọi chi tiết xin liên hẹ nhoxlove08mt2@gmail.com or 01223401271 Phần 1.ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 2.1. VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN 2 2.1.1. Đối với tự nhiên. 2 2.1.2. Đối với con người 3 2.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 5 2.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng RNM trên Thế Giới 5 2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng RNM tại Việt Nam 7 2.3. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP PRA (ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN CÓ SỰ THAM GIA NGƯỜI DÂN). 10 2.4. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NÚI THÀNH - TỈNH QUẢNG NAM . 14 2.4.1. Các nhân tố tự nhiên. 14 2.4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 28 2.5. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM NÚI THÀNH - QUẢNG NAM 33 Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36 3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 36 3.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 36 3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 36 3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 3.4.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa. 37 3.4.2. Phương pháp thống kê. 37 3.4.3. Phương pháp PRA 38 3.4.4. Phương pháp thu thập thông tin. 40 3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu. 40 Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 40 4.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ TAM HẢI – HUYỆN NÚI THÀNH – TỈNH QUẢNG NAM 41 4.1.1. Vị trí địa lý. 41 4.1.2. Địa hình. 43 4.1.3. Khí hậu và thuỷ văn. 46 4.2. HIỆN TRẠNG RỪNG NGẬP MẶN XÃ TAM HẢI – HUYỆN NÚI THÀNH – TỈNH QUẢNG NAM 47 4.2.1. Diện tích rừng ngập mặn tại xã Tam Hải 48 4.2.2. Sự phân bố cây ngập mặn tại xã Tam Hải 51 4.2.3. Thành phần loài cây ngập mặn tại xã Tam Hải 54 4.2.4. Hiện trạng nuôi tôm xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam. 60 4.2.5. Nguyên nhân làm rừng ngập mặn bị suy giảm 63 4.2.6. Đề xuất giải pháp. 73 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 76 KẾT LUẬN 76 KIẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ Hình 2.1 : Bản đồ huyện Núi Thành - Tỉnh Quảng Nam . 14 Hình 2.2: Đặc trưng của chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành . 21 Hình 2.3: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp . 25 Hình 3.1: Rừng ngập mặn tại xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam 36 Hình 4.1: Bản đồ xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam . 42 Hình 4.2 : Sơ đồ lát cắt thôn 4 – xã Tam Hải . 44 Hình 4.3: Sơ đồ lát cắt thôn 5 và 6 tại xã Tam Hải . 46 Hình 4.4 : Biểu đồ về chế độ thuỷ văn của xã Tam Hải . 47 Hình 4.5 : Biểu đồ tỉ lệ diện tích rừng ngập mặn trước năm 1990 . 48 Hình 4.6: Rừng ngập mặn xã Tam Hải năm 1990 . 49 Hình 4.7: Biểu đồ tỉ lệ diện tích rừng ngập mặn hiện nay . 50 Hình 4.8 : Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm tại xã Tam Hải (hình ảnh chụp từ vệ tinh) 51 Hình 4.9: Phá rừng ngập mặn để lấy đất nuôi tôm quảng canh ( hình ảnh chụp từ quá trình thực tế) 51 Hình 4.10: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn tại các thôn trong xã Tam Hải 52 Hình 4.11 : Sơ đồ lát cắt sự phân bố rừng ngập mặn tại Thôn 4 – xã Tam Hải . 53 Hình 4.12: Sơ đồ lát cắt sự phân bố rừng ngập mặn tại thôn 5, 6 – xã Tam Hải 54 Biểu đồ 4.1. Tỷ lệ nhóm thực vật Ngập mặn chính thức và thực vật . 56 Biểu đồ 4.2. Tỷ lệ Thực vật ngập mặn theo dạng sống . 57 Hình 4.13: Cây đước tại thôn 4 . 58 Hình 4.14: Cây mắm biển tại thôn 5 . 58 Hình 4.15 : Cây Sú tại thôn 4 . 59 Hình 4.16: Cây Giá tại thôn 5 59 Hình 4.17 : Cây bần tại thôn 4 . 59 Hình 4.18 : Cây vẹt tại thôn 4 . 60 Hình 4.19: Bản đồ phân bố đầm nuôi tôm tại xã Tam Hải . 61 Hình 4.20: Mô hình nuôi tôm sú ở theo hình thức quảng canh tại thôn 4 63 Hình 4.21: Hệ thống lấy nước cho ao nuôi tôm . 63 Hình 4.22: Tôm thẻ chân trắng 63 Hình 4.23 : Tôm sú . 64 Sơ đồ 4.1: Cây vấn đề về diện tích RNM tại xã Tam Hải 65 Hình 4.24: Các khu rừng ngập mặn bị phá làm hồ nuôi tôm 66 Sơ đồ 4.2 : Lịch thời vụ nuôi tôm xã Tam Hải . 66 Hình 4.25: Tảo lam sống trong môi trường nước đọng ở các hồ tôm tại xã 68 Hình 4.26: Hình ảnh cây đước do bà con của xã trồng dọc bờ đìa tôm thôn 4 74 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Diện tích RNM trên thế giới . 6 Bảng 2.2: Diện tích RNM trên lãnh thổ Việt Nam . 7 Bảng 2.3: Các yếu đặc trưng cho chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành . 20 Bảng 2.4: Diện tích đất sử dụng theo các mục đích khác nhau . 27 Bảng 2.5: Tình hình dân số và lao động của huyện Núi Thành . 29 Bảng 2.6. Diện tích rừng ngập mặn rừng ngập mặn huyện Núi Thành . 35 Bảng 4.1: Chế độ thuỷ văn của xã Tam Hải . 47 Bảng 4.2 : Diện tích rừng ngập mặn tại xã Tam Hải trước năm 1990 . 48 Bảng 4.3: Diện tích rừng ngập mặn tại xã Tam Hải hiện nay . 50 Bảng 4.4. Danh lục các loài thực vật RNM vùng cửa sông Xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam. 55 Bảng 4.5. Tỷ lệ nhóm thực vật Ngập mặn chính thức và thực vật tham gia vào RNM 56 Bảng 4.6. Tỷ lệ Thực vật ngập mặn theo dạng sống 57 Bảng 4.7. Tình hình nuôi tôm tại xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam 62

doc77 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/01/2013 | Lượt xem: 3967 | Lượt tải: 22download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn để phục vụ cho mục đích nuôi tôm trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tại xã Tam Hải - Núi Thành - Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá, thời kỳ đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển nhanh khu vực nông thôn. Để làm được điều này đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, kết hợp với việc khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên có hiệu quả, trong đó bao gồm cả diện tích mặt nước. Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3260 km, 12 đầm phá. Trong hệ đầm phá thì dải rừng ngập mặn ven biển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế và xã hội. Nó được đánh giá như là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt. Do vậy, rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam. Tuy nhiên, dưới sức ép của việc phát triển đô thị và công nghiệp, dân sinh, hơn 50% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam mất đi vì những nguyên nhân do con người gây ra. Rừng ngập mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đất khác trong đó có nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng trên cạn,…Điển hình là phá rừng để nuôi tôm nên rừng ngập mặn của Việt Nam có 400.000 ha, hiện nay còn lại trên 175.000 ha [8]. Tại Trung Bộ có diện tích rừng ngập mặn 3000 ha chiếm 2% diện tích rừng cả nước. Trong đó, rừng ngập mặn xã Tam Hải huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam trước đây có diện tích khá lớn ( 22,7 ha) và rất đa dạng về chủng loại. Nhưng những năm gần đây do nhiều lý do và chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên diện tích rừng ngập mặn suy giảm mạnh gây ra nhiều đột biến bất lợi cho môi trường sinh thái về kinh tế - xã hội của xã Tam Hải nói riêng và huyện Núi Thành nói chung. Để chấm dứt tình trạng phá rừng như hiện nay đồng thời, bảo vệ và khôi phục diện tích RNM là một việc làm khó khăn, tốn kém, mất thời gian. Đòi hỏi phải có nhiều nghành, nhiều cấp nhiều người tham gia theo một chương trình thống nhất mới giải quyết được vấn đề bức xúc này. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên và cùng với lòng mong muốn góp phần trí tuệ nhỏ bé của mình nhằm khôi phục hiện trạng rừng ngập mặn của địa phương nên chúng tôi chọn đề tài: "Đánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn để phục vụ cho mục đích nuôi tôm trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tại xã Tam Hải - Núi Thành - Quảng Nam” nhằm đánh giá hiện trạng khai thác diện tích rừng ngập mặn và đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả rừng ngập mặn trong việc phát triển nghề nuôi tôm. Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN 2.1.1. Đối với tự nhiên Rừng ngập mặn (RNM) là rừng nhiệt đới ven biển, có vai trò bảo vệ bờ biển chống lại xói mòn do gió bão thường xảy ra ở vùng ven biển nhiệt đới. Những nghiên cứu gần đây nhất cho thấy rằng RNM góp phần gia tăng sản lượng của nhiều quần thể thủy sinh vật sống gần dãy san hô ngầm (Mumby et al., 2004). RNM còn cung cấp chất hữu cơ và dinh dưỡng như chất đạm và lân cho vùng ven biển từ sự phân hủy của vật rụng, từ đây hình thành chuỗi thức ăn từ những mảnh vỡ vụn của vật rụng, và chuỗi thức ăn này là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho các loài thủy sản ven biển (Alongi, 1990; Alongi et al.,1989). Do vậy, vai trò của rừng ngập mặn đối với hệ sinh thái ven biển chính là nơi cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản nhất là tôm và cá, và chắc chắn rằng sản lượng khai thác thủy sản tại đây phụ thuộc vào diện tích rừng ngập mặn trong vùng. Ngoài ra RNM còn có những vai trò quan trọng khác như : RNM là “lá phổi xanh” rất quan trọng trong việc làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nó giúp tiêu thụ một lượng đáng kể các khí thải độc hại và làm tăng lượng Oxi cho chúng ta. Nhằm giúp giảm bớt hiện tượng nóng lên của trái đất và ngăn ngừa tình trạng dâng lên của nước biển gây ảnh hưởng đến đời sống của những người dân ven biển. RNM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, cung cấp chất hữu cơ để tăng năng suất nuôi trồng, phát triển kinh tế vùng ven biển. Rừng ngập mặn ổn định bờ biển và thúc đẩy quá trình bồi đắp phù sa, phân tán bớt năng lượng của sóng, gió và thuỷ triều. Giúp bảo vệ động vật khi nước triều lên cao và sóng lớn ví dụ nhiều loài động vật sống trong hang hoặc trên mặt bùn khi điều kiện thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng như cá Lác, các loại Còng, Cáy, Ốc. Giúp cho tính đa dạng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tương đối ổn định. Nhờ bộ rễ nó còn giúp cản các loài trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ giúp tăng chất dinh dưỡng cho đất. Tóm lại, rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn đối với tự nhiên. Vì vậy, bảo vệ rừng ngập mặn là nhiệm vụ quan trọng trong mỗi con người chúng ta. 2.1.2. Đối với con người Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam. Rừng ngập mặn (RNM) cung cấp cho con người rất nhiều hàng hoá và dịch vụ môi trường. RNM được sử dụng làm củi đốt, vật liệu làm nhà ở nông thôn, và quan trọng đây chính là nơi sinh sản, nuôi dưỡng, và nó đem lại lợi nhuận kinh tế rất cao, cung cấp nguồn hải sản phong phú để sử dụng trong nước và xuất khẩu (Lee, 1995; Rasolofo, 1997; Slim et al., 1997; Athithan & Ramadhas, 2000). Ngoài ra, ta có thể thu nhập từ các nguồn khác như : nuôi ong lấy mật, bán cây giống, khai thác măng tre, khai thác gỗ cốp pha từ cây phi lao và số lượng lớn than củi… Trong số 51 loại cây rừng có 30 loài cung cấp gỗ, củi, than, 14 loại cung cấp tannin, 24 loài có thể sử dụng làm phân xanh nông nghiệp, 15 loài có thể lam thuốc nam, 21 loài có thể dùng nuôi ong và 1 loài có thể dùng làm đường, sáp ( Phan Nguyên Hồng, 1999). Mặt khác, RNM là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sức quý giá. Tại Việt Nam, những năm gần đây khách du lịch ngày càng có xu hướng tìm đến tham quan, nghiên cứu các khu RNM, theo đó, nguồn lợi ngành Du lịch thu được từ hệ sinh thái này cũng tăng lên. RNM thực sự trở thành đối tượng tiềm năng đối với hoạt động khai thác phát triển du lịch nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung. Sau đây là một số nguyên cứu nói lên vai trò RNM trên : Theo báo cáo của Ủy ban Liên quốc gia (IPCC) thuộc Liên hợp quốc sự nóng lên toàn cầu cho biết nhờ vai trò quan trọng của RNM như việc lọc sinh học trong việc xử lý chất thải. Ngoài ra nó còn có tác dụng xử lý chất dinh dưỡng từ đất liền và giữ vai trò vùng đệm chống lại các dòng chảy ô nhiễm, vì thế cho đến nay các hiện tuợng biến đổi khí hậu như hiệu ứng nhà kính, băng tan đã giảm đi một phần đáng kể . Theo nhóm khảo sát của GS-TSKH Phan Nguyên Hồng (Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái RNM, ĐH Sư Phạm Hà Nội) cho thấy độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải RNM với mực biến đổi từ 75% đến 85% từ 1,3m xuống 0,2m - 0,3m. Tương tự, đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26-12-2004 hơn 2 triệu người ở 13 quốc gia Châu Á và Châu Phi bị thiệt mạng, môi trường bị tàn phá nặng nề, nhưng kết quả khảo sát của IUCN ( Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới) và UNEP ( Chương trình Môi trường thế giới) cùng các nhà khoa học cho thấy, những làng xóm ở phía sau “bức tường xanh” RNM với băng rừng rộng gần như còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã được giảm từ 50% đến 90%, nên thiệt hại về người rất thấp hoặc không bị tổn thất… Cụ thể như RNM ở Ấn Độ, khoảng từ làng xóm ra bờ biển 1km so với nơi không có rừng ngập mặn thiệt hại giảm 50%-80%. Theo số liệu của Chi cục bảo vệ đê điều và phòng chống lụt bão thành phố Hải Phòng, trước đây chi phí tu bổ đê điều trung bình hằng năm là 5 triệu đồng/ mét dài nhưng kể từ khi có rừng ngập mặn bảo vệ phía ngoài đê chi phí này đã giảm xuống còn 1,2 triệu đồng/mét dài. Tóm lại, qua những nguyên cứu trên ta thấy được vai trò quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Vì vậy bảo vệ được hệ sinh thái này là bảo vệ được độ ổn định, cân bằng của cả hệ thống kinh tế và hệ thống môi trường trong quá trình phát triển khu vực . 2.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng RNM trên Thế Giới Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái rất quan trọng ở vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Thế giới có khoảng 18 triệu ha, các nước Đông Nam Á chiếm 35% diện tích (Spalding, 1997). Trong đó, vùng Ấn Độ Dương có rừng ngập mặn đa dạng nhất với trên 50 loài cây. Rừng ngập mặn đã và đang đối mặt với nhiều thách thức như diện tích rừng ngập mặn trên thế giới liên tục suy giảm. Trong 5 năm 1990 đến 1995, đã có 13,7 triệu ha rừng bị mất đi (FAO (1997). Rừng mất do các yếu tố thiên nhiên, tác động của con người (nuôi thuỷ sản, nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, đô thị hoá…… ,) Trong vài thập kỷ gần đây, rất nhiều khu vực ven biển này đã chịu sức ép ngày càng tăng của việc phát triển đô thị và công nghiệp. Hơn 50% diện tích rừng ngập mặn đã mất đi vì những nguyên nhân do con người gây ra. Rừng ngập mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đất khác trong đó có nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, trồng rừng trên cạn, phát triển đô thị và công nghiệp. Đó là còn chưa kể hết rừng bị phá để làm đường xây dựng đê, mương. Diện tích rừng ngập mặn đã bị giảm từ 20 đến 75% ở nhiều nước châu Á đang phát triển và vùng biển Caribê [10]. Dựa vào việc tính toán trên bản đồ ảnh vệ tinh và các số liệu thu thập được gần đây Spalding và cs (1997) đã lập bảng thóng kê tổng diện tích rừng ngập mặn các vùng trên thế giới là 181.077 km2. Bảng 2.1: Diện tích RNM trên thế giới Vùng  Diện tích rừng ngập mặn(km2)  Tỷ lệ (%)   Nam và Đông Nam Á  75.173  41.5   Austrailia  18.789  10.4   Châu Mỹ  49.096  27.1   Tây Phi  27.999.5  15.5   Đông Phi và Trung Đông  10.024  5.5   Tổng cộng  181.077  100   (Nguồn: Spalding, Blasco, Field, 1997) Qua bảng 2.2 ta thấy diện tích RNM ở mỗi vùng đều khác nhau. Trong đó, diện tích ở vùng Nam và Đông Nam Á chiếm diện tích cao nhất. Sau đó, là Châu Mỹ và Tây Phi. Chỉ riêng khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, cho đến năm 1991 đã có 1,2 triệu ha rừng ngập mặn chuyển thành ao nuôi tôm [21]. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, người ta ước tính tốc độ suy giảm rừng ngập mặn khoảng 1%/năm (Ong, 1995). Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do việc khai thác diện tích RNM để phục vụ cho mục đích nuôi tôm [21]. Ở Philippines, khoảng 50 % trong số 279.000 ha rừng ngập mặn bị mất đi trong giai đoạn từ năm 1951 đến 1988 do phá rừng làm ao nuôi tôm và 95% các ao nuôi tôm ở nước này trước đó là rừng ngập mặn (Primavera (1995)) [21]. Ở Thái Lan, trong giai đoạn 1961 đến 1993, có đến 54,7 % diện tích rừng ngập mặn bị mất đi do nghề nuôi tôm ( Menasveta, 1997) [21]. Tương tự ở Malaysia, 12% diện tích rừng bị mất trong 10 năm (1980-1990) [21]. Ở cấp quốc gia, Madagascar, Indonesia, Mexico, Pakistan, Papua New Guinea và Panama là những nước có diện tích rừng bị mất lớn nhất trong những năm 1980. Tổng diện tích rừng bị mất ở năm nước này là khoảng 1 triệu ha, tương đương với diện tích Jamaica. Nhưng trong những năm 1990, Pakistan và Panama đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mất rừng ngập mặn. Ngược lại, Madagasca, Việt Nam và Malaysia lại trải qua thời kỳ phá rừng tăng lên và nằm trong số năm quốc gia đứng đầu về diện tích rừng bị mất trong thập niên 1990 và giai đoạn 2000-2005. FAO (Tổ chức nông lương thế giới) chỉ ra rằng áp lực dân số cao, sự chuyển đổi quy mô lớn một diện tích rừng ngập mặn sang nuôi trồng tôm cá, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và du lịch, cũng như ô nhiễm và các thảm họa tự nhiên là những nguyên nhân chính dẫn đến tàn phá rừng ngập mặn [20]. Như vậy, do áp lực vấn đề dân số và quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá con người đang ngày càng tác động đến RNM. Vì vậy, diện tích RNM suy giảm đáng kể. 2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng RNM tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài, có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây ngập mặn. Tổng diện tích rừng ngập mặn của nước ta là 400.000 ha. Tuy nhiên, trong những năm qua do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tác động vào hệ sinh thái RNM làm cho diện tích RNM của nước ta bị suy giảm đáng kể. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn (NN - PTNT) cho thấy, năm 1943 diện tích RNM Việt Nam trên 400.000 ha, đến năm 1996 giảm còn 290.000 ha và 279.000 ha vào năm 2006. Như vậy, diện tích RNM nước ta bị suy giảm rất lớn gần 50 %. Bảng 2.2: Diện tích RNM trên lãnh thổ Việt Nam Phân bố các tỉnh,thành phố  Diện tích RNM  Tỷ lệ (%)   Ven biển Bắc Bộ  43.811 ha  28.1%   Ven biển Trung Bộ  3.000 ha  2%   Ven biển Nam Bộ  82.387 ha  53%   (Nguồn: Paul Maurand, 1943; Rollet, 1962; Viện điều tra Quy hoạch rừng, 1982, 1999) Qua bảng 2.2 ta thấy lượng rừng ngập mặn tại ven biển Nam Bộ là rất lớn và lớn hơn rất nhiều so với rừng ngập mặn ven biển Trung Bộ, trong khi đó rừng ngập mặn tại ven biển Bắc Bộ bằng một phần hai diện tích rừng ngập mặn tại ven biển Nam Bộ. Diện tích rừng ngập mặn ở nước ta suy giảm là do sự phát triển ồ ạt của các khu sản xuất nông nghiệp, khu dân cư, khu nuôi tôm ven biển, ven sông. Mặt khác, do sức ép về gia tăng dân số, lạm phát tình trạng khai thác gỗ củi, phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi tôm khiến diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Dưới đây là một số nghiên cứu về diện tích rừng ngập mặn ở các tỉnh thành phố nước ta: Hiện nay, Theo PGS-TS. Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang cho biết, rừng ngập mặn huyện Núi Thành – tỉnh Quảng Nam trước đây rộng khoảng trên 220 ha với các loài thực vật bậc cao như mắm, bần, đước, dừa nước...Do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh, nên rừng ngập mặn đã bị người dân chặt phá làm ao nuôi tôm. Đến năm 1997 chỉ còn lại khoảng 63 ha và hiện nay chỉ còn khoảng 10 ha. Đặc biệt vẫn còn giữ được khoảng gần 5 ha rừng dừa nước ở lưu vực sông Bến Đình, xã Tam Nghĩa. Rừng dừa nước này xã đã giao cho các hộ gia đình quản lý và chỉ được phép khai thác lá dừa và các loài thủy sản ở khu vực liền kề và có trách nhiệm bảo vệ và trồng phục hồi rừng dừa nước [14]. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, tổng diện tích rừng ngập mặn hơn 22.810 ha vào năm 1998 đến năm 2004. Do sự ô nhiễm môi trường nước từ việc thải trực tiếp xuống biển các chất thải rắn, nước thải của các mỏ than đang khai thác chưa qua xử lý và rác thải của nhiều tàu du lịch, lồng bè thuỷ sản, các điểm kinh doanh hải sản, các khu dân cư.. nên diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh suy giảm chỉ còn hơn 19.000 ha..[20]. Trên toàn tỉnh Nghệ An, diện tích rừng ngập mặn hiện có là 819,6 ha do hiện tượng dắp bờ nhằm tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và phong trào nuôi tôm nổi lên rầm rộ khắp mọi nơi, nhiều cánh rừng ngập mặn bị tàn phá nặng nề. Đến năm 1985 hầu như rừng ngập mặn bị phá gần hết và chỉ còn sót lại cảnh rừng bần ở xã Hưng Hòa với diện tích khoảng gần 10 ha [19]. Rừng ngập mặn Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại (Bình Định) trước đây có tổng diện tích trên 480 ha, trước đây là một vùng có hệ sinh thái động, thực vật phong phú và giàu tiềm năng nhưng trong nhiều năm qua, do việc khai thác thiếu kế hoạch và khoa học đã làm cho hệ sinh thái ở đây đã bị phá vỡ và suy giảm nghiêm trọng ... , gần đây đã bị gần 100 gia đình phá rừng để làm đầm tôm nên diện tích rừng ngập mặn hiện nay chỉ còn 5ha [16]. Theo số liệu của ngành Nông nghiệp, đến năm 2000, toàn tỉnh Khánh Hoà chỉ còn 11,5 ha rừng ngập mặn, trong đó huyện Vạn Ninh còn 11 ha, Cam Ranh 0,5 ha. Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn ở Khánh Hoà đã thu hẹp rất nhiều. Chính tình trạng đào đất, thay đổi diện mạo địa hình, ngăn dòng chảy đã triệt hạ hàng loạt khu rừng ngập mặn mà khả năng tái tạo cực kỳ khó. Sự việc càng bi đát hơn khi việc nuôi tôm thất bát, hàng nghìn ha đất đìa bị bỏ hoang khiến cả một vùng ven biển trước đây xanh tươi, trù phú bây giờ tiêu điều [17]. Ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200ha rừng ngập mặn tạo vành đai rộng hàng trăm mét bảo vệ cho đầm không bị xói lở, nay đã thay thế bằng các đầm tôm bán thâm canh, chỉ còn lại vài vệt đước và mắm chưa đầy 2ha [15]. Rừng ngập mặn ở Cần Giờ thuộc huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh. Từ một vùng rừng ngập mặn trù phú với diện tích gần 40.000ha vào những năm 1940, do bị phá huỷ bằng thuốc diệt cỏ và chất làm rụng lá trong chiến tranh đã trở thành một vùng đất hoang có diện tích 35.000ha và 4.500 ha chỉ toàn cây dương xỉ (Acrostichum) sau năm 1970 (Dao. P.T.A. 2000).Bắt đầu từ năm 1978, đã tiến hành trồng lại 20.000 ha rừng ngập mặn ở Cần Giờ và đến năm 1988 rừng ngập mặn ở đây đã phát triển tốt và có thể khai thác được. Tiếp đó, từ năm 1993 đến năm 2000, khoảng 64.000 ha rừng ngập mặn đã được trồng tại châu thổ sông Hồng, chủ yếu là vùng ven biển các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng. Kết quả là đến năm 2000, UNESCO đã công nhận Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển, và đây cũng là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở nước ta [13]. Ở Cà Mau, trong vòng 12 năm (1983-1995), đã có 66.000 ha rừng bị chặt phá để chuyển sang nuôi tôm (Hồng, 1999). Năm 1998, có đến 120.000 ha ao nuôi nằm trong khu vực đất rừng (Bửu, 2000). Năm 1999, Cà Mau có 130.000 ha đất rừng, tuy nhiên chỉ có 58.285 ha đất được phủ rừng (Bình, 1999)[12]. Tóm lại, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam suy giảm rất đáng kể, hiện nay rừng ngập mặn chỉ còn rải rác ở một số nơi như Huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Cà Mau. Do ý thức chủ quan và khách quan của người dân Việt Nam và do lợi ích kinh tế trước mắt mà hàng ngàn diện tích rừng ngập mặn Việt Nam suy giảm trầm trọng. 2.3. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP PRA (ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN CÓ SỰ THAM GIA NGƯỜI DÂN) PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện thực tế của họ để họ lập kế hoạch hành động và thực hiện. PRA là một cách làm việc mới, sẽ khắc phục được cách làm việc cũ đồng thời cách làm này không những được dùng trong quá trình thu thập, xử lý thông tin mà được thực hiện xuyên suốt dự án hay chương trình. PRA bao gồm những đặc điểm như sự bỏ qua tối ưu, mô hình tam giác, nhóm liên nghành, phối hợp các kỹ thuật, tính linh hoạt và không bắt buộc, tham gia của cộng đồng, cân bằng định kiến. Trong đó, 2 đặc điểm trọng tâm của phương pháp PRA đó là sự bỏ qua tối ưu và mô hình tam giác. Sự bỏ qua tối ưu tức là nhóm PRA tránh những chi tiết và độ chính xác không cần thiết, cũng như việc thu thập quá nhiều số liệu không thật sự cần cho mục đích của PRA. Mô hình tam giác là một hình thức kiểm tra chéo. Tính chính xác có được thông qua các thông tin đa dạng và các nguồn thông tin khác nhau, sử dụng thông tin thứ cấp, quan sát trực tiếp, phỏng vấn, v.v…Tam giác được xây dựng trong mối quan hệ với : cơ cấu nhóm công tác; các nguồn thông tin ( con người, đia điểm,…); và phối hợp các kỹ thuật. Mặt khác, vai trò của tác viên cộng đồng khi sử dụng PRA là thực hiện chức năng thúc đẩy và tạo điều kiện nâng cao năng lực cho người dân địa phương trong thu thập thông tin, phân tích vấn đề, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch. Vì vậy tác viên cần hiểu rõ và thấm nhuần các nguyên tắc sau đây khi sử dụng công cụ PRA: Học hỏi trực tiếp từ người dân địa phương về kiến thức, kinh nghiệm, điều kiện sống và lao động của họ. Học hỏi nhanh và tích cực bằng sự khám phá, sử dụng mềm dẻo các kỹ thuật PRA, tạo cơ hội tham gia, tạo mối quan hệ tương tác và kiểm tra chéo. Loại bỏ thành kiến bằng sự lắng nghe chứ không giảng dạy, bằng sự thăm dò thay cho sự bất cần, quan tâm đến người nghèo, người bị thiệt thòi, phụ nữ và học hỏi từ họ về những quan tâm và ưu tiên. Sử dụng tối ưu các kỹ thuật và công cụ tức là phải cân nhắc giữa số lượng, sự hợp lý, sự chính xác và thời gian. Sử dụng phép kiểm tra chéo các thông tin. Luôn tìm kiếm mọi mặt từ người dân, nghĩa là tìm tòi, học hỏi từ những điểm không hợp lý, những người không ủng hộ, những người đứng ngoài cuộc …ở mọi tình huống. Hãy để cho dân tự làm, nghĩa là tạo điều kiện cho người dân tự điều tra, tự đánh giá, tự phân tích, trình bày và học hỏi từ đó họ tự đưa ra kết quả và là chủ sở hữu của các kết quả đó, vai trò của tác viên chỉ là hướng dẫn người dân cách làm, thúc đẩy và tạo điều kiện cho họ tự làm, tự phân tích… Hãy luôn tự vấn mình, nghĩa là tác viên cộng đồng hãy luôn tự kiểm tra mình và tự phê bình về thái độ, phong cách, cách ứng xử khi cùng làm việc với người dân. Hãy chịu trách nhiệm cá nhân, nghĩa là mỗi tác viên cộng đồng phải tự chịu trách nhiệm với chính công việc của mình làm, không đổ lỗi cho người khác. Cùng chia sẻ, nghĩa là tạo cơ hội cùng làm việc, cùng chung sống, chia sẻ suy nghĩ, tình cảm, tâm tư giữa người dân với nhau, giữa người dân với tác viên cộng đồng. Sử dụng các công cụ PRA một cách mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo, nghĩa là không lựa chọn, sử dụng một cách máy móc tùy theo bối cảnh, điều kiện, đặc tính con người của địa phương. Dưới đây là những công cụ được áp dụng điều tra trong phương pháp PRA : Quan sát trực tiếp Quan sát trực tiếp được vận trong kỷ thuật PRA là quan sát một cách có hệ thống các sự vật, sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó và là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người được phỏng vấn, ghi nhận những gì quan sát được ở thời điểm khảo sát, có thể sử dụng những phương tiện để đo đếm trực tiếp, sử dụng vật chỉ thị, ghi chép và lựa chọn những thời điểm, vị trí thích hợp để quan sát. Vẽ bản đồ Vẽ bản đồ là công cụ khởi điểm cho bước thu thập thông tin ở thực địa của PRA, và những thông tin này được dùng để liên hệ trong thu thập và phân tích suốt cuộc PRA. Phương pháp này linh hoạt và năng động, nó tạo cơ hội cho nhóm PRA và các thành viên cộng đồng làm quen với công việc, hiểu rõ đề tài đang cùng nghiên cứu, có cái nhìn chung vẽ bức tranh chung và chuẩn bị cho những công việc tiếp theo. Bản đồ của điểm nguyên cứu thể hiện vị trí, nơi đâu là các nguồn tài nguyên, các hoạt động sản xuất, những khó khăn và cơ hội cũng như giới hạn của chủ đề cần điều tra. Nó giúp nhóm PRA và chính các thành viên cộng đồng để hiểu rõ ranh giới và những đặc tính của cộng đồng được bao gồm của cuộc điều tra. Lát cắt Đây là công cụ được sử dụng để định nghĩa rõ những ranh giới của tiểu vùng sinh thái nông nghiệp ở một vùng cụ thể. Bản đồ mặt cắt là bản vẽ một mặt cắt ngang xuyên qua một vùng hay một khu đất trên đó được thể hiện những đặc điểm quan trọng của địa phương đất đai, như độ dốc, sông rạch và nông dân có thể sử dụng những biểu tượng cho các loại cây trồng vật nuôi, những hoạt động thực hiện trên đó. Bản đồ mặt cắt rất thông dụng trong việc mô tả hệ sinh thái nông nghiệp cũng như giúp hiểu được các hoạt động sản xuất chủ yếu trong vùng hay trong nông trại riêng lẽ. Sơ đồ venn Sơ đồ venn hay phân tích yếu tố tổ chức giúp nhóm PRA nhận biết được các hoạt động của các nhóm người và tổ chức khác nhau trong cộng đồng / địa phương một cách nhanh chóng; đánh giá mối quan hệ giữa những tổ chức này thông qua biểu đồ. Phân tích SWOT SWOT là một công cụ để giúp cộng đồng xác định những thuận lợi và bất lợi bằng cách phân tích những ảnh hưởng “bên trong” ( mặt mạnh, mặt yếu ) và những ảnh hưởng “bên ngoài” (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình phát triển. Cây vấn đề Cây vấn đề có thể được dùng để xác định cảm nhận của người dân về nguyên nhân của các vấn đề / khó khăn mà người dân trong thôn gặp phải, cảm nhận của người dân về tác động của các vấn đề / khó khăn mà người dân gặp phải, mối liên kết giữa những nguyên nhân và tác động khác nhau của vấn đề / khó khăn. Bảng hỏi Bảng hỏi được dùng để lấy thông tin trực tiếp từ một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ, sử dụng những bộ câu hỏi có phạm vi rộng để hướng dẫn các cuộc trao đổi, cho phép đưa ra những câu hỏi mới như là kết quả của cuộc thảo luận. Các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc tăng cường sự hiểu biết sâu về những vấn đề định tính. Vì những cuộc phỏng vấn có tính mở (mặc dù được dẫn hướng thông qua một danh sách những điểm cần kiểm tra), nên các cuộc phỏng vấn này rất hữu ích đối với việc đánh giá. 2.4. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NÚI THÀNH - TỈNH QUẢNG NAM Hình 2.1 : Bản đồ huyện Núi Thành - Tỉnh Quảng Nam 2.4.1. Các nhân tố tự nhiên 2.4.1.1 Vị trí địa lý Núi Thành là huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1984 trên cơ sở tách ra từ huyện Tam Kỳ. Toạ độ địa lý của huyện Núi Thành trải dài từ 15033’ đến 15o36’ vĩ độ Bắc và từ 108034’ đến 108037’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp thành phố Tam Kỳ. Phía Nam giáp huyện Bình Sơn và huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi. Phía Tây giáp huyện Nam Trà My. Phía Đông giáp Biển Đông. Toàn huyện có 17 đơn vị hành chính cấp xã và 01 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên khoảng 53.396,07 ha, chiếm hơn 5,1% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam (1.040.747 ha). Trong đó, thị trấn Núi Thành là trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của Huyện, nằm sát quốc lộ 1A, cách trung tâm tỉnh – thành phố Tam Kỳ khoảng 25 km, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 95 km về hướng Bắc và cách khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) khoảng 4km về hướng Nam. Với vị trí này, Núi thành có cơ hội hòa nhập với khu vực, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, thông tin kinh tế, thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, theo hướng công nghiệp hóa và trao đổi sản phẩm. Là huyện ven biển với chiều dài ờ biển 43 km với hai cửa An Hòa và của Lở, thuộc vùng hạ lưu sông có trên 5.000 ha mặt nước sông hồ và là một trong những đầm phá có quy mô lớn thuộc ven biển miền Trung, thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, cũng là nơi hội tụ tàu thuyền ra vào đánh bắt hải sản, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp chế biến và ngư nghiệp phát triển và giao lưu với các vùng lân cận. Đồng thời huyện Núi Thành có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua và các tỉnh lộ thông suốt khác, giao thông đường biển cũng khá thuận lợi với một cảng tương đối lớn là cảng Kỳ Hà, lại có thêm sân bay Chu Lai và khu kinh tế mở Chu Lai thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ. Do đó, vị trí của huyện đã hội tụ đủ các điều kiện về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội thuận lợi chi việc nuôi trồng nhiều loài thủy sản và dễ dàng giao lưu buôn bán với các khu vực lân cận. Đó là một tiền đề quan trọng để phát triển một Núi Thành trong tương lai. Tuy nhiên vị trí của huyện Núi Thành lại nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều và mưa theo mùa. Lưu vực các sông thường nhỏ (50 – 100 km2) và độ dốc lớn, hằng năm thường bị ảnh hưởng bởi những trận bão lớn kết hợp với lũ lụt gây xói lở, đất đai bị bào mòn, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và dân cư sinh sống trên địa bàn [1; 2; 4]. 2.4.1.2. Địa chất Khu vực nghiên cứu có hai hệ địa tầng: Hệ tầng đá biến chất Cambri sớm: Đây là loại đá phiến kết tinh màu xám sẫm phớt xanh. Loại đá này phân bố ở rìa Đông Bắc mũi An Hòa, rìa đảo Hòn Dứa. Mặc dù hiện nay chưa tìm được hóa thạch và không có tài liệu định tuổi nhưng các đặc điểm của loại đá này tương tự như đá của hệ tầng A Vương có tuổi Cambri cho nên tuổi của đá này được giả định là tương đương với tuổi của hệ tầng A Vương. Hệ tầng đá phun trào bazan và đá trầm tích núi lửa Pliocen – Pleixtocen hạ: Đây là đá bazan đã bị phong hóa. Phần trên đã bị biến thành đất sét alit – feralit màu vàng loang lỗ. Bề dày của lớp đất phong hóa này có nơi tới gần 40 m. Dưới lớp đá phong hóa này là đá laterit với sỏi sạn màu nâu sẫm gắn kết chắc. Lớp laterit này tại nhiều nơi lộ ra trên bề mặt do hoạt động của nước biển mài mòn lớp đất phong hóa ở trên. Bề dày của lớp đá laterit này cho đến nay vẫn chưa được xác định. Loại đá này phân bố ở mũi An Hòa, đảo Hòn Dứa và mũi phía Nam vụng An Hòa. Với mức độ phong hóa cao, đá bazan này đã được các nhà địa chất xếp vào tuổi Pliocen – Pleixtocen hạ (Theo bản đồ Địa chất Việt Nam, Phần lục địa, tỉ lệ 1:500.000 do Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao, chủ biên, 1986). Hệ tầng trầm tích Đệ Tứ: Trầm tích Pleixtocen (Q12-3). Trầm tích này phân bổ những dãi hẹp, kéo dài dọc theo sông, suối nhỏ, thành tạo này chủ yếu là cát pha màu trắng xám, xám đen do có lẫn nhiều tạp chất hữu cơ có lẫn bột sét. Đây là loại cát màu vàng nghệ, nguyên là đồi cát, đê cát cổ hiện nay do tác động của gió, sóng biển gia công và được tích tụ lại và phân bố nhiều nhất ở khu vực xã Tam Hải. Theo Trần Nghi (1997) thì cát này có nguồn gốc tại chỗ và do hệ thống sông Tam Kỳ - sông Trầu tải ra vào thời gian khoảng Pleixtocen (Q12-3). Thành phần khoáng vật chủ yếu là cát thạch anh, felspat, mica, urmalin, bùn, sét, tính phân lớp không rõ ràng bề dày từ 3 - 4m. Những khu vực này rất thích hợp cho các mô hình nuôi trồng thủy sản dọc theo các sông [2] . 2.4.1.3. Địa hình Địa hình huyện Núi Thành có độ nghiêng lớn từ tây nam sang đông bắc, có đầy đủ các dạng địa hình như:            Dạng địa hình trung du và miền núi : Gồm các xã Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ Tây, một phần xã Tam Nghĩa và Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc. Phía cực tây có nhiều núi cao, nơi cao nhất là núi Hú, Tam Trà có độ cao 1.132 m. Dạng địa hình đồng bằng : Gồm các xã Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hiệp, thị trấn Núi Thành, Tam Nghĩa. Vùng này địa hình tương đối bằng phẳng, có một số đồi gò có độ dốc nhỏ. Nơi cao nhất chỉ cao 69 m so với mặt biển.   Dạng địa hình ven biển : Gồm các xã Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang và một phần Tam Nghĩa. Vùng này địa hình bằng và thấp, có nhiều cồn cát ổn định; một phần đồng bằng do các sông ngòi bồi đắp trên nền cát biển. Đây là vùng hạ lưu có nhiều đầm phá. Ngoài ra, vùng này còn có nhiều bãi đá trầm tích nhô lên khỏi mặt biển từ 10 đến 12 m thuộc xã Tam Tiến, Tam Hải, Tam Quang như đảo hòn Ngang, Hòn Dứa, Bàn Than... Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang, sông Ba Túc, sông An Tân, sông Trâu. Các con sông này đều bắt nguồn từ phía tây, tây bắc chảy về phía đông đỏ ra biển qua cửa An Hòa và cửa Lỡ. Các sông đều có lưu vực nhỏ từ 50 đến 100km2, độ dốc lớn, chiều dài từ 20 đến 40 km, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Một số con sông được ngăn lại ở thượng nguồn làm hồ chứa nước như : hồ Phú Ninh trên sông Tam Kỳ, hố Thái Xuân trên sông Trầu. Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía đông tạo nên những vùng xoáy bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm phá ở các xã Tam Quang, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến. Địa hình ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các loại đất, các thảm thực vật, các tiểu vùng khí hậu, chế độ nước, độ ẩm, thành phần cơ giới đất. Ngoài ra yếu tố địa hình còn ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy bề mặt gây nên bồi lắng hay xói mòn rửa trôi. Vì vậy, địa hình có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành các vùng kinh tế. Do đặc điểm địa hình của Huyện cao theo hướng Tây Nam, thấp dần về hướng Đông Bắc nên hầu hết sông ngòi đều bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc. Địa hình chia cắt mạnh từ đó hình thành nên các vùng sản xuất theo những cơ cấu nhất định. Vùng sản xuất nông – lâm ở phá Tây gồm các xã Tâm Thạnh, Tam trà, Tam Sơn, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ tây, Tam Thạnh. Vùng sản xuất nông nghiệp và kết hợp nuôi thủy sản ở khu vực đồng bằng gồm các xã Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Hiệp, Tam Nghĩa. Khu vực này tương đối bằng, chủ yếu là các cánh đồng phù sa. Vùng sản xuất nông, nuôi trồng thủy sản và ngư nghiệp thuộc khu vực đầm phá và vùng ven biển gồm các xã Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Hải, Tam Quang, Tam Giang. Khu vực này nằm trong vùng đầm phá và của sông ven biển nên có địa hình thấp hơn. Vùng sản công- nông- thương mại-dịch vụ ở khu vực trung tâm huyện là cảng Kỳ Hà gồm các xã Tam Quang thị trấn Núi Thành và Tam Nghĩa. Đây là khu vực giao lưu văn hóa, nơi hôi tụ các đầu mối giao thông, địa hình bằng phẳng, phần lớn là các bãi cát rộng. Vì vậy việc hình thành các vùng sản xuất luôn gắn liền với sự phân bố địa hình tạo nên một tổng thể cơ bản trong quá trình quy hoạch bố trí các vùng sản xuất Do đặc điểm địa hình huyện Núi Thành nên vùng hạ lưu các sông tồn tại nhiều ô trũng, đầm phá. Đây là ưu thế của Huyện trong việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản [2; 4]. 2.4.1.4. Khí hậu Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Quảng Nam nói chung và huyện Núi Thành nói riêng nằm phía Đông dãy Trường Sơn và phía Nam đèo Hải Vân nên thuộc vùng khí hậu chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, nhưng lại mang tính chất á xích đạo nhiều hơn. Đồng thời khí hậu huyện Núi Thành còn có những đặc thù riêng do sự chi phối của yếu tố địa hình. Huyện Núi Thành có 17 xã, thị trấn thì có đến 8 xã giáp biển nên chịu ảnh hưởng của khí hậu biển và lục địa. Theo tài liệu trạm Khí tượng - Thủy văn tỉnh Quảng Nam, khí hậu huyện Núi Thành có những đặc điểm sau: a. Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm tại khu vực khoảng 27,60C, cao nhất là tháng VII với nhiệt độ trung bình tháng lên đến 31,60C và thấp nhất là tháng XII, nhiệt độ trung bình tháng chỉ 22,80C. Mùa nóng bắt đầu từ tháng IV và kết thúc vào tháng VIII. Vào những ngày có gió Tây Nam khô nóng (VI đến tháng VIII), nhiệt độ không khí tăng cao. Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng XII năm trước đến tháng III năm sau. Biên độ nhiệt ngày lớn nhất vào mùa nóng và nhỏ nhất vào mùa lạnh. Trị số biên độ nhiệt ngày lớn nhất vào tháng IV, có khi tới 100C. Nhiệt độ không khí tương đối cao nhưng khá ổn định là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc nuôi tôm nước lợ, tránh được các bệnh phát sinh do thời tiết thay đổi. Tuy nhiên, những ngày có gió Tây Nam khô nóng cần phải chú ý gây màu nước để làm giảm nhiệt độ trong hồ do lúc này nhiệt độ không khí thường tăng cao. b. Số giờ nắng Tổng số giờ nắng trong năm là 2203 giờ, tập trung từ tháng II đến tháng VIII hằng năm Tháng có nắng ít nhất là tháng X, XI, XII và tháng có nhiều nắng nhất là tháng V, VI, VII, XIII. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng XII (độ ẩm tương đối 90%). Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VII (độ ẩm tương đối 76%). Tổng lượt bốc hơi trung bình năm là 1.361 mm. Những tháng có lượng bốc hơi cao nhất là tháng V, VI, VII, VIII, tháng có lượng bốc hơi thấp nhất là tháng XI, XII, I. c. Chế độ mưa Mùa mưa kéo dài từ tháng IX đến tháng XII, tháng X có lượng mưa cao nhất (720 mm). Tổng lượng mưa trung bình năm 2531,5 mm. Số ngày mưa trung bình trong năm là 140 ngày, lượng mưa tháng X và tháng XI chiếm đếm 50,4% lượng mưa cả năm. Trong một năm trung bình có 140 - 145 ngày mưa, tháng có số ngày mưa nhiều nhất là tháng X, XI và XII, mỗi tháng có từ 20 - 21 ngày mưa. Tháng có số ngày mưa ít nhất là các tháng III, IV, mỗi tháng có 5 - 6 ngày mưa. Mùa khô kéo dài từ tháng I đến tháng VIII, lượng mưa thấp nhất là vào tháng III (trung bình 38 mm). Tổng lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm 30 đến 35% lượng mưa năm. Trong mùa khô vào các tháng V, tháng VI thường có những đợt mưa tiểu mãn, bổ sung lượng nước đáng kể cho mùa khô. Lượng mưa năm lớn lại tập trung dẫn đến hiện tượng lũ, lụt vào mùa mưa nên vào thời điểm này cần đặc biệt chú ý đến mùa vụ nuôi tôm đặc biệt là ở các xã nằm ở hạ lưu các con sông. Bảng 2.3: Các yếu đặc trưng cho chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành Tháng  Số giờ nắng (giờ)  Nhiệt độ TB (0C)  Nhiệt độ tối cao TB(0C)  Nhiệt độ tối thấp TB(0C)  Lượng mưa TB (mm)  Độ ẩm TB (%)   I  135  23,15  24.8  19.3  105  89   II  150  24,4  26.3  20.2  40  88   III  210  26,75  28.8  21.6  38  86   IV  225  29,15  31.6  23.7  55  84   V  225  28,2  33.2  24.9  100  80   VI  237  31,45  34.0  25.4  106  77   VII  251  31,65  34.2  25.3  50  66   VIII  233  31,55  33.8  25.2  95  77   IX  191  29,35  31.4  24.4  290  85   X  154  27,25  28.8  23.2  720  88   XI  109  25,3  26.7  21.9  600  88   XII  83  22,8  24.4  19.8  360  90   TB Năm  183,6  27,6  29.8  22.9  213,3  83,2   (Nguồn: báo cáo quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành- tỉnh Quảng Nam) Hình 2.2: Đặc trưng của chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành d. Chế độ gió Chế độ gió ở huyện Núi Thành phân thành 2 mùa rõ rệt: - Mùa gió Tây Nam: Hoạt động từ tháng III đến tháng VII, có năm mùa gió Tây Nam bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn bình thường. Hướng gió thịnh hành là Tây, Tây Nam. - Mùa gió Đông Bắc: Hoạt động từ tháng X đến tháng II năm sau, có khi kéo dài đến tháng III nhưng ổn định nhất là từ tháng XII đến tháng II năm sau. Hướng gió thịnh hành là Bắc và Tây Bắc. Ngoài ra, xen giữa hai hướng gió thịnh hành trên là gió Đông, Đông Nam. Còn tùy theo địa hình mà gió phân bố thêm một số hướng khác nhưng tần suất không lớn. Tốc độ gió trung bình năm ở khu vực dự án trung bình từ 1,6 – 2,0 m/s, gió lớn thường xuất hiện trong bão, áp thấp nhiệt đới hoặc khi có gió lốc. Ngoài ra trong năm còn có gió Tây Nam hoạt động gây khô nóng trong khu vực. Trong ngày đêm cũng có sự thay đổi hướng gió do quá trình hấp thụ và bức xạ tạo nên chênh lệch áp suất ở khu vực đồng bằng và ven biển. Song yếu tố này không ảnh hưởng lớn đến việc bố trí sản xuất. e. Thời tiết đặc biệt Dông: Dông xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng III, muộn nhất vào cuối tháng XI. Dông thường xảy ra nhiều nhất từ tháng V đến tháng IX. Đáng chú ý là các cơn dông trong những tháng này thường gây nên gió giật mạnh (có khi lên đến cấp 10 cấp 11) và mưa dữ dội. Hàng năm có khoảng 75 - 80 ngày có dông. Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng IX đến tháng XII, xuất hiện nhiều nhất vào tháng X và tháng XI thường kèm theo mưa lớn gây ra hiện tượng lũ lụt. Trung bình hằng năm thường xuất hiện 1 - 2 cơn bão đổ bộ trực tiếp và 2 - 3 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực. Loại thời tiết này đặc biệt ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất của huyện đặc biệt là hoạt động nuôi thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng. Do diễn biến bất thường của thời tiết, có những năm xuất hiện bão và và áp thấp nhiệt đới trái mùa ảnh hưởng đến khu vực từ rất sớm vào các tháng V, tháng VI. Những cơn bão hay những trận lụt lớn đến sớm sẽ gây ra thiệt hại rất lớn về tài sản cho người dân, đặc biệt nghiêm trọng hơn nữa là lũ lụt sẽ gây ra ngập lụt hầu hết các diện tích nuôi tôm chưa kịp thu hoạch, làm cho người dân bị thất thu, đồng thời dòng chảy cuộn gây xói lở hư hại hệ thống bờ ao. Vì vậy hằng năm người nuôi tôm phải bỏ ra lượng chi phí lớn để tu bổ, sửa chữa. Sương mù: Sương mù thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng XII đến tháng II năm sau, không có chu kỳ nhất định. Nhìn chung, chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành tương đối thuận lợi cho việc sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, thuận lợi cho nhiều loài sinh vật biển phát triển. Tuy nhiên, đối với nuôi trồng thủy sản nước lợ, điều kiện khí hậu chỉ thích hợp trong khoảng thời gian từ tháng III đến tháng IX, các tháng còn lại thường xảy ra thiên tai như, bão, lụt nên khó có thể nuôi được hoặc là tạo điều kiện thích hợp cho các loại vi rút phát triển dễ gây ra tình trạng dịch bệnh xảy ra hàng loạt. Vì thế, đặc điểm khí hậu đóng vai trò quyết định đến mùa vụ nuôi thủy sản ở huyện Núi Thành [2; 4; 18]. 2.4.1.5. Thủy văn Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang, sông Ba Túc, sông Trầu, sông Quán, sông Mùi, sông Bến Đình, Sông Chợ. Các con sông này đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc chảy về phía Đông đổ ra biển qua cửa An Hòa và cửa Lỡ. Các sông đều có lưu vực nhỏ từ 50 đến 100 km2, độ dốc lớn, chiều dài từ 20 đến 40 km, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Hiện nay, các sông này được ngăn lại ở khu vực thượng nguồn để xây dựng các hồ chứa nước như: hồ Phú Ninh trên sông Tam Kỳ, hồ Thái Xuân trên sông Trầu. Trong đó hai sông lớn nhất chảy qua huyện Núi Thành là: Sông Trường Giang: Là con sông chạy dọc theo bờ biển thuộc tỉnh Quảng Nam chảy sát biển qua các xã Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh, Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Hiệp, Tam Giang, thị trấn Núi Thành nối cửa An Hòa với cửa Đại, Hội An. Vùng hạ lưu của những con sông này tương đối rộng. Đây cũng là khu vực diễn ra nuôi trồng thủy sản nước lợ trọng điểm của huyện Núi Thành. Sông Tam Kỳ: Là hợp lưu của 10 con suối nhỏ, bắt nguồn từ phía Tây, chảy theo hướng Tây sang Đông xuống dòng chính tại Xuân Bình – Phú Thọ, xã Tam Trà huyện Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy ra cửa An Hòa. Diện tích lưu vực khoảng 800 km 2. Do trong năm, vùng này có nhiều mưa nhưng rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối điều hòa theo mùa. Lưu lượng lớn nhất của sông Tam Kỳ là 20,7 m3/s. Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía Đông tạo nên những vùng xoáy bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm ở các xã Tam Quang, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến. Nhật triều xảy ra trong tháng X khoảng 15 ngày, còn lại đều là bán nhật triều không đều. Mức nước trung bình 1,2 m, cường độ triều lớn là 1,2 – 2 m, triều kém là 0,5 m. Tốc độ dòng chảy trung bình 0,2 - 0,3 m/s, tốc độ cực đại 2,5 m/s. Nước dâng khi có gió bão lên tới 1,5 - 3m. Do đặc điểm của khí hậu khu vực nên lượng nước của các sông thay đổi theo mùa và được ngăn lại ở thượng nguồn làm cho lượng nước ở hạ lưu bị hạ thấp, đồng thời chịu tác động của thủy triều gây nhiễm mặn ở vùng cửa sông và đầm phá. Các sông trong huyện nối với nhau và đổ ra biển. Chính vì vậy mà các sông này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thủy triều, hàng năm triều ảnh hưởng rất sâu vào các sông mang theo một lượng muối rất lớn đã tạo cho các sông đi qua huyện có độ mặn tương đối thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ. Chế độ thủy triều ở huyện Núi Thành là bán nhật triều không đều. Mỗi ngày có hai lần nước lên xuống với hai đỉnh triều: một đỉnh cao và một đỉnh thấp. Mỗi tháng có hai lượt triều cường và thời điểm đầu và giữa tháng âm lịch. Đỉnh triều cao nhất khoảng 1,5 m, biên độ triều cao nhất là 0,8 m, số ngày có con nước cường trong tháng trung bình khoảng 7 – 10 ngày. Tuy nhiên chế độ bán nhật triều không đều gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình cấp thoát nước trong ao nuôi, làm cho người nuôi khó dự đoán được chế độ nước để có thể quyết định xả nước trong ao ra hay lấy thêm nước vào sao cho vừa có đủ lượng nước cần thiết lại vừa không gây ô nhiễm môi trường. Bởi vì nếu lúc xả nước mà triều lên thì các chất bẩn từ trong ao sẽ không được chuyển đi xa vậy thì hiệu quả xả nước sẽ không đạt. Vì vậy, người nuôi tôm cần chú ý đến sự thất thường của thủy triều. Toàn huyện có 1.290 ha mặt nước ao hồ, đầm (không kể mặt nước sông suối và hồ chứa nước). Trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản là 1500 ha và chưa sử dụng là 406 ha, có cả nước ngọt và lợ. Riêng đối với khu vực cửa sông có rừng sú, vẹt, đước xanh tốt, khu vực này có môi trường sinh thái mặn lợ rất thích hợp cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Nhưng đến nay diện tích rừng này gần như đã bị biến mất do quá trình nuôi trồng thuỷ sản tự phát không quy qua hoạch [4; 5]. 2.4.1.6. Tài nguyên đất Theo kết quả điều tra của viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp năm 1984 và đã chỉnh lý bổ sung năm 1990, toàn huyện có 53.396,07 ha đất gồm các nhóm đất sau: Nhóm đất đỏ vàng: Phần lớn diện tích đất của huyện thuộc loại nhóm đất này (72,08%) Đây là loại đất được hình thành từ sản phẩm phong hóa của đá granit và phiến sét, tập trung ở vùng đồi núi, độ dốc lớn tỷ lệ thạch anh cao. Tầng mặt mỏng, ít chất hữu cơ, nghèo dinh dưỡng, bị rủa trôi xói mòn mạnh. Loại đất này chỉ thích hợp cho các loại cây trồng có rễ mọc sâu, chịu được khí hậu khắc nghiệt dùng cho ngành lâm nghiệp là chủ yếu. Thuộc nhóm này gồm có hai loại chính là: đất đỏ vàng trên đá mamaz acid (Fa) và đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fs). Nhóm đất dốc tụ (D): Đất dốc tụ là sản phẩm tích tụ của quá trình bào mòn được di chuyển không xa, phẩm chất và màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ của vùng lân cận. Nhóm đất này có tầng dày từ 50 – 100 cm, hàm lượng dinh dưỡng lớn và thường tạo thành tầng lắng đọng mùn hữu cơ trên bề mặt sau mỗi mùa mưa, cho năng suất cây trồng cao. Phân bố ở thung lũng đồi núi nhiều khi là bãi thoải lớn ở chân đồi hoặc địa hình trũng vùng đồi. Nhóm đất này đã được khai thác triệt để chỉ còn khoảng 0,2% phân bố rải rác ở các địa hình phức tạp, đi lại khó khăn và chưa có thủy lợi. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện qua biểu đồ sau: Hình 2.3: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp Tính trên tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 53.396,07 ha, đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn (65,4 %). Tuy nhiên, nếu tính diện tích đất nông nghiệp bình quân cho một hộ thì lại quá thấp chỉ khoảng 1,04 ha/hộ. Mặt khác, đất ở đây chủ yếu là đất cát pha, đất bạc màu nghèo dinh dưỡng, tỉ lệ mùn trong đất thấp nên rất không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lúa nước. Phần lớn các nhóm đất được hình thành ven sông, biển điều thích hợp cho nuôi tôm nước lợ. Diện tích đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 1.885,41 ha chiếm gần 5,4% đất nông nghiệp. Trong đó, hơn 92,6% được dùng cho nuôi thủy sản nước lợ. Diện tích đất chưa sử dụng toàn huyện là 7.313,06 ha chiếm 13,7% diện tích đất tự nhiên. Diện tích này chủ yếu là đất hoang hóa, đất ngập mặn, đất kém dinh dưỡng. Ngoài ra đất trong khu vực này là đất chua mặn có thành phần sét vật lý thấp nên độ thấm nước cao, kết cấu rời rạc do đó khi cải tạo thành hồ nuôi tôm cần gia cố xử lý chống thấm nước lỡ bờ cũng như bón vôi, cải tạo pH đất trước khi đưa vào sử dụng. Với cơ cấu và đặc điểm đất đai Huyện như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì chính quyền địa phương cần phải có những phương án cụ thể như: phối hợp với nhân dân nghiên cứu chuyển đổi một số diện tích đất trồng trọt kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản hoặc các mục đích khác có hiệu quả hơn. Cần nghiên cứu sử dụng triệt để diện tích đất chưa sử dụng, đầu tư đất đai theo chiều sâu. Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này chiếm 3,59% diện tích các loại đất. Đất phù sa được hình thành ven sông suối do quá trình bồi đắp sản phẩm từ đồi núi cao đưa xuống phủ lên nền mà trước đây là cát biển có dạng hình lượn sóng do đó độ dày mỏng phụ thuộc vào lượn sóng ấy. Thuộc nhóm này gồm có: Đất phù sa loang lỗ đỏ vàng có glây (Pg), đất phù sa sông suối (Py), đất phù sa cổ (Pc). Nhóm đất này được khai thác chủ yếu cho mục đích lâm nghiệp và lâm nghiệp. Nhóm đất cát biển (Cc): Nhóm đất này chiếm diện tích khá lớn (22,23%) diện tích các loại đất được hình thành ở ven biển và cửa sông, do hoạt động cửa biển tạo thành các dải cát chạy dọc bờ biển. Có nơi được gió vun lên thành cồn cát nổi ổn định. Đất này thường nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, khó sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Nhóm đất này phân bố chủ yếu dọc theo quốc lộ 1A về phía đông nên thuận lợi cho việc xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng và văn hóa phúc lợi. Nhóm đất phèn mặn: Nhóm đất này được hình thành ở ven sông và vùng hạ lưu sông có quan hệ với sự xâm nhập của thủy triều gây mặn bề mặt hay mạch ngầm. Đặc điểm nhóm này có độ phì cao, các phản ứng trao đổi trong đất xảy ra mạnh, nhưng yếu tố hạn chế là phèn và mặn.Thuộc nhóm đất này gồm có: đất mặn và cát mặn (M, Mc), đất phèn mặn và cát phèn mặn (SM, SMc). Đất đai ở huyện Núi Thành được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau được thể hiện ở bảng 4.2: Bảng 2.4: Diện tích đất sử dụng theo các mục đích khác nhau Loại hình sử dụng đất  Diện tích (ha)  %   1. Đất nông nghiệp  34.917,29  65,4   1.1. Đất trồng cây hàng năm  6.485,20  18,6 %    1.2. Đất trồng cây lâu năm  2.099,75  6,0 %    1.3. Đất lâm nghiệp  24.413,28  69,9 %    1.4. Đất nuôi trồng thủy sản  1.885,41  5,4 %    1.5. Đất nông nghiệp khác  32,84  1 %    2. Đất phi nông nghiệp  11.165,71  20,9   3. Đất chưa sử dụng  7.313,06  13,7   Tổng  53.396,07  100   Nguồn : Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2008 của huyện Núi Thành Huyện Núi Thành là huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất so với các huyện khác trong tỉnh trong đó chủ yếu là diện tích cho nuôi tôm sú và hiện nay thêm đối tượng nuôi mới là tôm thẻ chân trắng. Diện tích rộng lớn này là do Huyện có bờ biển dài 37 km, với 2 cửa biển là cửa Lỡ, cửa An Hòa và lưu vực sông Trường Giang chạy dọc theo bờ biển cùng với vùng hạ lưu của hệ thống các con sông lớn Tam Kỳ, Vĩnh An, sông Trầu thành một vùng đầm nước lợ rộng khoảng trên 3.000 ha. Chính điều kiện tự nhiên trên đã tạo cho Núi Thành có vùng đất ngập nước ven biển khá rộng lớn. Toàn huyện có 13/17 xã, thị trấn 75/136 thôn có vùng đất ngập nước ven biển. Đặc biệt, tất cả các thôn của 5 xã vùng biển đều có vùng đất ngập nước ven biển là Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Quang, Tam Hải.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn để phục vụ cho mục đích nuôi tôm trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tại xã Tam Hải - Núi Th.doc
Luận văn liên quan