Đánh giá tác động của thực tiễn sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà phê tỉnh Đắk Lắk

- Tăng số lần cung cấp dịch vụ: kỹ thuật cho các vấn đề tưới, bón phân và thuốc trừ sâu cần được hỗ trợ thường xuyên hơn và đúng thời điểm. Hiện nay, hệ thống khuyến nông chỉ mới cung cấp dịch vụ cho một nhóm nông dân khoảng 1 lần một năm, không đủ để nông dân tiếp nhận, thực hành kỹ thuật. Vì vậy, dịch vụ này cần được cung cấp thường xuyên hơn, đặc biệt là vào những thời điểm quan trọng như trước vụ sản xuất, trong trường hợp thiên tai hoặc sâu bệnh. - Tăng cường thông tin hai chiều: Cần khuyến khích và có hình thức khuyến khích nông dân phản hồi về những thông tin nhận được. Trên thực tế, hệ thống khuyến nông không phải lúc nào cũng đáp ứng đúng yêu cầu thực tế của dân. Nếu nông dân không được trao đổi thống tin thông qua phản hồi, họ sẽ không thể nêu ra những vấn đề vướng mắc trên đồng ruộng. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có nông dân nào phản hồi lại về tác dụng của thông tin và những khó khăn của họ. Điều này cũng khiến cho việc đánh giá hiệu quả của khuyến nông rất khó và nhiều khi chỉ là một chiều. - Mở rộng đối tượng cung cấp dịch vụ: nghiên cứu cho thấy hệ thống khuyến nông hiện nay đã chú ý đến đối tượng dân nghèo, thu nhập thấp. Tuy nhiên trên thực tế, nhóm dân thu nhập cao lại sử dụng đầu vào quá mức khuyến cáo rất nhiều. Vì vậy, hệ thống khuyến nông nên trú trọng cả nhóm dân này. Ngoài ra cũng cần cung cấp thông tin cho các cửa hàng, người buôn bán phân bón và thuốc trừ sâu vì chính họ đưa ra rất nhiều khuyến cáo cho nông dân khi bán sản phẩm. - Mở rộng kênh cung cấp thông tin: Hỗ trợ kỹ thuật không chỉ được cung cấp bằng các hình thức truyền thống như tổ chức lớp hộ, mô hình đầu bờ mà nên được mở rộng bằng các hình thức khác như vừa học vừa làm, tổ chức phổ biến tại mô hình trình diễn giỏi, in tờ roi bằng nhiều thứ tiến khác nhau (Kinh và dân tộc), thông qua TV, báo đài.

doc47 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 31/12/2013 | Lượt xem: 1613 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tác động của thực tiễn sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà phê tỉnh Đắk Lắk, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gar cao hơn Krong Ana rất nhiều đối với cả những hộ áp dụng phương pháp tưới gốc và tưới phun. Lượng nước tưới cho một cây của các họ sử dụng phương pháp tưới gốc ở hai huyên CuMgar and Krong Ana là 959 và 654 lít. Đối với các hộ sử dụng phương pháp tưới phun, số liệu này là 654 và 610 lít. Biểu đồ 21: Tỷ lệ % các hộ nhận được dịch vụ khuyến nông Phân bổ theo nhóm thu nhập cho thấy, nhóm thu nhập thấp và trung bình nhận được hỗ trợ về nước tưới như nhau (chiếm 81.5% tổng số hộ mỗi nhóm), trong khi chỉ có 46% số hộ giàu nhận được dịch vụ này. Điều này có thể giải thích tại sao nhóm hộ thu nhập cao sử dụng lượng nước nhiều nhất (976 lít/cây đối với biện pháp tưới gốc) so với mức 735 and 722 L cây-1 của nhóm hộ thu nhập thấp và trung bình. Các hộ gia đình nhận hỗ trợ dịch vụ khuyến nông từ 4 đối tượng: hệ thống khuyến nông nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cửa hàng tư nhân và viện nghiên cứu. Khoảng 68% số hộ nhận hỗ trợ từ trung tâm khuyến nông, 20% từ doanh nghiệp nhà nước, 10% từ viện nghiên cứu và 1,5% từ cửa hàng tư nhân. Biểu đồ 22: Tỷ lệ % các hộ nhận được hỗ trợ kỹ thuật tưới nước Các hộ điều tra cũng được yêu cầu xếp thứ tự chất lượng cho các dịch vụ mà hộ nhận được từ các đối tượng khác nhau. Kết quả cho thấy trong số 45 hộ nhận được dịch vụ từ hệ thống khuyến nông nhà nước, 58% cho rằng dịch vụ này là tốt nhất và 40% cho rằng chất lượng dịch vụ trung bình. Trong số 39 hộ xếp thứ tự dịch vụ tốt nhất cho các đối tượng cung cấp, có tới 67% cho rằng đó là dịch vụ của hệ thống khuyến nông. Trong số 7 hộ nhận được thông tin của các viện nghiên cứu, 86% cho rằng dịch vụ này có chất lượng khá cao. Sở dĩ số lượng hộ nhận thông tin của Viện nghiên cứu ít là bởi vì các viện nghiên cứu không thường xuyên cung cấp dịch vụ trực tiếp cho nông dân, mà chỉ cung cấp qua các dự án. Các viện này chủ yếu là nhiệm vụ nghiên cứu chứ không ứng dụng nhiều (theo WASI). Điều này cho thấy các trung tâm khuyến nông vấn là đơn vị cung cấp dịch vụ chính cho người dân với chất lượng tốt nhất. Bảng 28: Số hộ nhận được dịch vụ hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn cung cấp Tần số % Lũy kế Trung tâm khuyến nông 45 68.18 68.18 Doanh nghiệp nhà nước 13 19.7 87.88 Viện nghiên cứu 7 10.61 98.48 Cửa hàng tư nhân 1 1.52 100 Tổng cộng 66 100 Bảng 29: Số hộ xếp hạng chất lượng dịch vụ của các cơ quan hỗ trợ khác nhau Nguồn cung cấp Tốt Trung bình Kém Tổng cộng Trung tâm khuyến nông 26 18 1 45 Doanh nghiệp nhà nước 7 6 0 13 Viện nghiên cứu 6 1 0 7 Cửa hàng tư nhân 0 1 0 1 Tổng cộng 39 26 1 66 Theo các hộ nông dân, dịch vụ khuyến nông chỉ được cung cấp nhiều nhất là 2 lần/năm. Trong số 66 hộ nhận được hỗ trợ kỹ thuật về nước tưới, chỉ có 14% nhận được 2 lần/năm. Số còn lại chỉ nhận được 1 lần/năm. Và cũng chỉ có hệ thống khuyến nông và doanh nghiệp nhà nước mới cung cấp dịch vụ tới 2 lần/năm. Viện nghiên cứu và cửa hàng tư nhân chỉ cung cấp 1 lần/năm và cho ít hộ nông dân hơn. Chỉ có 5% số hộ ở huyện Krong Ana nhận được dịch vụ 2 lần/năm, trogn khi số liệu này ở CuMgar là 30%. Nhưng trên thực tế, số hộ nhận được dịch vụ ở CuMgar thấp hơn so với Krong Ana (28 và 45). Mặc dù % số hộ nhận dịch vụ 2 lần/năm thấp hơn, nhưng số lượng tuyệt đối ở Krong Ana cao hơn. Bảng 30: Số hộ nhận hỗ trợ nhiều lần khác nhau năm 2004 Nguồn cung cấp Lần hỗ trợ Tổng cộng 1 2 Trung tâm khuyến nông 38 7 45 Doanh nghiệp nhà nước 11 2 13 Viện nghiên cứu 7 0 7 Cửa hàng tư nhân 1 0 1 Tổng cộng 57 9 66 Tất cả các dịch vụ khuyến nông về nước tưới đều được cung cấp miễn phí do người nông dân không có thói quen tìm đến cơ quan khuyến nông để xin cung cấp dịch vụ. Nếu không cung cấp miễn phí hoặc thậm chí không trợ cấp thêm, nông dân thà ở nhà làm vườn chứ không muốn mất thời gian đến tham dự lớp tập huấn bởi lẽ họ cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ này đối với hoạt động sản xuất (theo Trung tâm khuyến nông tỉnh). Chỉ có mót số ít nông dân đến các Viện nghiên cứu và trả tiền tư vấn khi cà phê gặp dịch bệnh nguy hiểm hoặc để phân tích mẫu đất. Chi phí cho một lần phân tích mẫu đất là khoảng 100-120 nghìn đồng. Trong số các đối tượng cung cấp hỗ trợ khuyến nông, chỉ có trung tâm khuyến nông tỉnh tiến hành đánh giá nhu cầu hàng năm của một số nhóm nông dân đại diện, trên cơ sở đó lập kế hoạch hàng năm và xin kinh phí của Trung tâm khuyến nông quốc gia. Trung tâm khuyến nông huyện đã giới thiệu sơ lược phương pháp tưới nước hợp lý thông qua các khoá đào tạo nhưng không hướng dẫn cụ thể việc áp dụng vào những điều kiện khác nhau do họ không đủ cán bộ để đi đến các vùng trồng cà phê. Vì vậy, việc áp dụng các phương pháp này chỉ phụ thuộc vào khả năng tài chính, nguồn nước sẵn có và một số đặc tính của đất theo đánh giá của bản thân người dân. Tuy nhiên, bản thân Trung tâm khuyến nông tỉnh cũng không có tài liệu hướng dẫn về phương pháp tưới nước, lượng tưới và số lần tưới. Có thể các Trung tâm khuyến nông huyện thu thập thông tin từ nguồn khác, không phải Trung tâm khuyến nông tỉnh. Tổng số hộ nhận được dịch vụ khuyến nông về nước tưới không khác nhau nhiều giữa các nhóm thu nhập với số hộ thu nhập cao, trung bình và thấp lần lượt là 18, 23 và 25. Số hộ được nhận dịch vụ 2 lần/năm cao nhất ở nhóm hộ thu nhập thấp. Điều này cho thấy các cơ quan cung cấp dịch vụ khuyến nông ở tỉnh đã trú trọng nhiều đến nhóm thu nhập thấp. Bảng 31: Số hộ nhận hỗ trợ nhiều lần khác nhau phân theo nhóm thu nhập Nhóm thu nhập Lần hỗ trợ Tổng cộng 1 2 Nghèo 19 4 23 Trung bình 23 2 25 Giàu 15 3 18 1.7.2. Dịch vụ hỗ trợ sử dụng phân bón Trong số 80 hộ điều tra, có tới 77,5% số hộ nhận được dịch vụ khuyến nông về phân bón. Ở cấp huyện, việc cung cấp dịch vụ có sự khác biệt lớn. Ở Krong Ana, 90% số hộ điều tra nhận được hỗ trợ kỹ thuật phân bón trong khi đó con số này ở CuMgar chỉ là 66%. Điều này giải thích tại sao ở CuMgar, dư lượng phân hoá học và tổng chi phí/tấn cà phê lại cao hơn so với ở Krong Ana.Biểu đồ 24: Tỷ lệ % số hộ nhận được dịch vụ phân bón Source: Survey by IAE (2005) Biểu đồ 23: Tỷ lệ % số hộ nhận được dịch vụ phân bón Source: Survey by IAE (2005) Biểu đồ 25: Số hộ nhận dịch vụ phân bón phân theo nhóm thu nhập. Phần mô tả theo nhóm thu nhập cho thấy số hộ nghèo nhận được dịch vụ khuyến nông về phân bón bằng với số hộ trung bình và cao hơn rất nhiều so với số hộ giàu. Điều này lần nữa cho thấy hệ thống khuyên snông chú trọng đặc biệt tới đối tượng nghèo. Tuy nhiên năng suất cà phê của các hộ nghèo (2.6 tấn/ha) vẫn thấp hơn so với hộ trung bình và hộ giàu (tương ứng là 3 và 2,7 tấn/ha). Điều này cũng được chứng minh thông qua phân tích tương quan giữa 2 biến là tổng thu nhập của hộ và năng suất cà phê năm 2004 (p<0.05). Tất nhiên, năng suất cà phê thấp của hộ nghèo còn do nhiều yếu tố khác, không chỉ do hệ thống khuyến nông phân bón, nhưng qua đây có thể rút ra khuyến nghị đối với dịch vụ khuyến nông. Các hộ điều tra nhận được dịch vụ khuyến nông phân bón từ 5 nguồn khác nhau như trình bày ở Bảng 31. Trong số 5 nguồn dịch vụ, trung tâm khuyến nông nhà nước hỗ trợ tới 60% số hộ. Các doanh nghiệp nhà nước và cửa hàng tư nhân chỉ cung cấp dịch vụ tới 17 và 11% số hộ. Chỉ có 4% số hộ nông dân được hàng xóm tư vấn. Trong số các hộ này, có 10 hộ nhận được hỗ trợ từ 2-3 nguồn thông tin khác nhau. Bảng 32: Số hộ nhận được dịch vụ từ các cơ quan khác nhau Nguồn dịch vụ Số hộ % Cộng dồn Trung tâm khuyến nông 45 60.0 60.0 Doanh nghiệp nhà nước 13 17.3 77.3 Viện nghiên cứu 6 8.0 85.3 Cửa hàng tư nhân 8 10.7 96.0 Hàng xóm 3 4.0 100.0 Tổng cộng 75 100 Số hộ nhận được dịch vụ từ các nguồn cũng khác nhau giữa Krong Ana và CuMgar. Cả hai huyện đều nhận được nhiều dịch vụ của trung tâm khuyến nông. Chỉ các hộ ở Krong Ana nhận được hỗ trợ từ các doanh nghiệp nhà nước và viện nghiên cứu (chiếm 29% và 17% tổng số trong huyện). Các hộ ở CuMgar nhận được hỗ trợ từ các cửa hàng tư nhân và hàng xóm láng giềng (lần lượt là 27% và 10%). Điều này cho thấy huyện Krong Ana được nhận nhiều dịch vụ của nhà nước hơn huyện CuMgar, nơi không có nhiều dịch vụ khuyến nông nhà nước. Điều này phần nào lý giải tại sao năng suất cà phế của CuMgar thấp hơn so với Krong Ana (tương ứng là 2,6 tấn/ha và 2,93 tấn/ha). Ở hai huyện này, không có nhiều dịch vụ khuyến nông trên các phương tiện thông tin hoặc trên internet, do vậy không có hộ nào nhận được sự hỗ trợ qua các phương tiện này. Bảng 33: Số hộ nhận được dịch vụ từ các cơ quan khác nhau ở 2 huyện Nguồn dịch vụ Krong Ana CuMgar Trung tâm khuyến nông 26 19 Doanh nghiệp nhà nước 13 Viện nghiên cứu 6 Cửa hàng tư nhân 8 Hàng xóm láng giềng 3 Nhiều hộ điều tra đã xếp hạng chất lượng tốt nhất cho các dịch vụ khuyến nông phân bón mà họ nhận được (chiếm 52%). Có 43% số hộ xếp hạng chất lượng tốt thứ hai cho các dịch vụ và chỉ có 5% số còn lại là chưa thỏa mãn với sự hỗ trợ khuyến nông khi họ xếp hạng thứ ba cho các dịch vụ này. Các trung tâm khuyến nông của nhà nước vẫn được các hộ đánh giá cao khi có tới 34% số hộ xếp hạng chất lượng tốt nhất cho trung tâm khuyến nông, trong khi đó chỉ có 9% xếp hạng chất lượng tốt nhất cho các doanh nghiệp nhà nước và các viện nghiên cứu. Các dịch vụ của cửa hàng tư nhân và hàng xóm láng giềng chỉ được xếp hạng thứ hai và thứ ba. Điều này cho thấy hỗ trợ của khuyến nông nhà nước vẫn được người nông dân đánh giá cao nhất. Bảng 34: Số hộ xếp hạng dịch vụ phân theo nguồn dịch vụ Nguồn cung cấp Xếp hạng 1 2 3 Trung tâm khuyến nông 26 17 2 Doanh nghiệp nhà nước 7 6 Viện nghiên cứu 6 Cửa hàng tư nhân 7 1 Hàng xóm láng giềng 2 1 Tổng cộng 39 32 4 Có tới 91% số hộ chỉ nhận được hỗ trợ khuyến nông một lần duy nhất trong một năm. Chỉ có 8% số hộ được nhận hai lần trong một năm. Số hộ nhận được dịch vụ khuyến nông hai lần một năm từ các trung tâm khuyến nông của nhà nước và từ các cửa hàng tư nhân là bằng nhau (6 hộ). Chỉ có duy nhất 1 hộ nông dân trong một năm hai lần nhận được sự hỗ trợ của các doanh nghiệp nhà nước và của hàng xóm. Bảng 35: Số hộ nhận được những lần hỗ trợ khác nhau Nguồn cung cấp Số lần 1 2 Trung tâm khuyến nông 39 6 Doanh nghiệp nhà nước 12 1 Viện nghiên cứu 6 Cửa hàng tư nhân 2 6 Hàng xóm láng giềng 2 1 Tổng cộng 61 14 Số hộ được hỗ trợ khuyến nông về phân bón không khác nhau nhiều giữa 3 nhóm thu nhập. Trong số 14 hộ điều tra, có tới 6 hộ trung bình và 7 hộ giàu nhận được hai lần hỗ trợ trong một năm. Chỉ có duy nhất 1 hộ nghèo nhận được hai lần hỗ trợ trong một năm. Số hỗ được hỗ trợ hai lần trong một năm ở CuMgar cũng cao hơn ở Krong Ana (13 so với 1), song số hộ được hỗ trợ một lần trong một năm ở Krong Ana lại cao hơn rất nhiều so với ở CuMgar (44 so với 17). Các dịch vụ khuyến nông về phân bón cung được cung ứng miễn phí ở cả hai huyện này. 1.7.3. Các dịch vụ khuyến nông về thuốc trừ sâu. Trong tổng số các hộ điều tra ở hai huyện, có 90% số hộ nhận được trợ giúp sử dụng thuốc trừ sâu. Trong số này, tất cả các hộ ở Krong Ana đều được hỗ trợ trong khi có tới 20% số hộ ở CuMgar không được hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu. Điều này là do ở CuMgar cây cà phê không bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh hại nhiều như ở Krong Ana, do đó lượng thuốc trừ sâu mà Krong Ana sử dụng cao hơn so với CuMgar (tương ứng là 2,63 so với 2,58 lít) và sự hỗ trợ kỹ thuật cho CuMgar là cũng cần thiết hơn và thu hút được nhiều sự quan tâm của các tổ chức khuyến nông hơn. Cũng giống như trong hai trường hợp nêu trên, người nghèo cũng được hỗ trợ phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu. Có tới 98% số hộ nghèo được trợ giúp về thuốc trừ sâu, trong khi con số này đối với hộ trung bình và hộ giàu chỉ là 92% và 80%. Các hộ nhận được hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu từ 4 nguồn khác nhau, đó là trung tâm khuyến nông nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, các viện nghiên cứu và các cửa hàng tư nhân. Giống như các loại hình dịch vụ khuyến nông khác, những hướng dẫn về quản lý thuốc trừ sâu chủ yếu đều do các trung tâm khuyến nông cung cấp (chiếm 54% trong tổng số hộ). Bảng 36: Số hộ nhận được dịch vụ từ các cơ quan khác nhau Nguồn dịch vụ Tần số % Lũy kế Trung tâm khuyến nông 44 53.66 53.66 Doanh nghiệp nhà nước 13 15.85 69.51 Viện nghiên cứu 7 8.54 78.05 Cửa hàng tư nhân 18 21.95 100 Tổng cộng 82 100 Huyện Krong Ana nhận được trợ giúp về khuyến nông nhiều hơn CuMgar, tương ứng là 49 hộ so với 33 hộ. Khác với Krong Ana, các hộ ở CuMgar không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào của các doanh nghiệp nhà nước và các viện nghiên cứu. Họ chỉ được tiếp cận với các dịch vụ của trung tâm khuyến nông và các cửa hàng tư nhân. Bảng 37: Số hộ nhận được dịch vụ phân theo huyện Nguồn cung cấp Krong Ana CuMgar Trung tâm khuyến nông 25 19 Doanh nghiệp nhà nước 13 Viện nghiên cứu 7 Cửa hàng tư nhân 4 14 Tổng cộng 49 33 Hộ thu nhập thấp nhận được nhiều hỗ trợ nhất của trung tâm khuyến nông, cho thấy định hướng phục vụ người nghèo của trung tâm. Hộ giàu nhận được hỗ trợ ít hơn từ trung tâm khuyến nông và nhiều hơn từ các cửa hàng tư nhân. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những thông tin hướng dẫn của các cửa hàng luôn đáng tin cậy như trung tâm khuyến nông hoạt động độc lập không vì mục địch lợi nhuận. Điều này phần nào lý giải một thực tế là mặc dù các hộ giàu sử dụng nhiều đầu vào hơn, nhưng hiệu quả chưa hẳn đã cao hơn các hộ khác. Bảng 38: Số hộ nhận được dịch vụ phân theo nhóm thu nhập Nguồn cung cấp Nghèo Trung bình Giàu Trung tâm khuyến nông 18 16 10 Doanh nghiệp nhà nước 3 7 3 Viện nghiên cứu 2 2 3 Cửa hàng tư nhân 4 3 11 Tổng cộng 27 28 27 Chất lượng dịch vụ của trung tâm khuyến nông được hầu hết các hộ (gần 32%) xếp hạng tốt nhất. Có tới 22% số hộ xếp hạng các cửa hàng tư nhận ở vị trí thứ hai. Tất cả các hộ từng nhận được sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu đều đánh giá chất lượng dịch vụ của các viện là cao. Đây là một tín hiệu tốt cho thấy chất lượng dịch vụ của các viện nghiên cứu là đáng tin cậy và được người dân đánh giá cao. Bảng 39: Số hộ xếp hạng dịch vụ phân theo nguồn cung cấp khác nhau Nguồn cung cấp Xếp hạng 1 2 3 Trung tâm khuyến nông 26 17 1 Doanh nghiệp nhà nước 7 6 Viện nghiên cứu 7 Cửa hàng tư nhân 18 Tổng cộng 40 41 1 Có tới 85% số hộ nhận được hỗ trợ kỹ thuật một lần trong một năm. Chỉ có trung tâm khuyến nông cung cấp hỗ trợ kỹ thuật hai lần trong một năm, chiếm 12% tổng số hộ. Duy nhất có 1 hộ cho biết nhận được hỗ trợ của trung tâm khuyến nông 3 lần trong năm 2004. Bảng 40: Số hộ nhận được các lần hỗ trợ khác nhau Nguồn cung cấp Số lần 1 2 3 Trung tâm khuyến nông 33 10 1 Doanh nghiệp nhà nước 12 1 Các viện nghiên cứu 7 Cửa hàng tư nhân 18 Tổng cộng 70 11 1 Tóm lại, trong những năm gần đây, hệ thống cung cấp dịch vụ khuyến nông tỉnh Đắc Lắc đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt chú trọng đến người nghèo. Tuy nhiên, hệ thống vẫn gặp một số khó khăn trở ngại như sau. Một là, hình thức cung cấp dịch vụ khuyến nông vẫn chỉ là những hình thức truyền thống (thông qua các khoá đào tạo), người nông dân vẫn không được tiếp cận các dịch vụ thông qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyền hình, đài phát thanh và mạng internet. Hai là, các viện nghiên cứu chưa tham gia chủ động và đầy đủ vào các hoạt động khuyến nông. Phó viện trưởng WASI cho biết hiện nay, viện có một trung tâm khuyến nông nhưng không cung cấp dịch vụ miễn phí, khiến cho người nghèo khó tiếp cận với dịch vụ của viện. Mặt khác, viện không có nhiều mối quan hệ với các trung tâm khuyến nông của tỉnh hay trạm khuyến nông của huyện để chuyển giao công nghệ ứng dụng. Ba là, thông tin khuyến nông chủ yếu do các cơ sở khuyến nông chủ động cung cấp. Người nông dân không chủ động tìm tòi thông tin hoặc sự trợ giúp của các cơ quan khuyến nông này. Bốn là, dịch vụ khuyến nông được cung cấp chủ yếu dưới hình thức các lớp tập huấn. Các loại hình dịch vụ khác như cử cán bộ kỹ thuật xuống tận vườn cà phê của nông dân vẫn chưa đuợc phổ biến nhiều do hạn chế về nhân lực. Các dịch vụ khuyến nông chỉ được cung cấp duy nhất một lần trong một năm. Trước những khó khăn này, vấn đề đặt ra là liệu người dân có sẵn lòng chịu chi phí khuyến nông hay không? Và họ mong đợi điều gì từ các dịch vụ khuyến nông trong tương lai? Với vấn đề thứ nhất, câu trả lời là có tới 65% số hộ đồng ý trả chi phí khuyến nông trong tương lai, nếu như các dịch vụ đó đạt yêu cầu. Trong đó, hộ nghèo và hộ trung bình rất sẵn sàng trả phí khuyến nông, trong khi có tới 61,5% số hộ giàu không đồng ý trả. Bảng 41: Sẵn sàng trả chi phí khuyến nông Tần số % Lũy kế Sẵn sàng 52 65 65 Không sẵn sàng 28 35 100 Tổng cộng 80 100 Với câu hỏi thứ hai về kỳ vọng của người nông dân đối với các dịch vụ khuyến nông, câu trả lời là có 36% số hộ không hề quan tâm tới dịch vụ khuyến nông. Điều này cho thấy các dịch vụ khuyến nông không hề tạo ra được bất cứ giá trị tăng thêm nào cho người nông dân. Có 50% số hộ cho biết họ muốn có thêm các công nghệ mới, trong đó có kỹ thuật quản lý sâu bệnh hại tổng hợp, hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê. Chỉ có một hộ nghèo bày tỏ mong muốn hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng sâu vùng xa. Việc phân tích theo nhóm thu nhập cũng rất đáng lưu tâm. Nhóm hộ giàu quan tâm nhiều hơn tới sự hỗ trợ về công nghệ mới (các hộ muốn có thêm công nghệ mới chiếm 73% tổng số hộ giàu), trong khi nhóm hộ nghèo lại không hề mong đợi gì từ các dịch vụ khuyến nông, cho dù chính họ là những người nằm trong chương trình hỗ trợ đó (số hộ này chiếm hơn 50% tổng số hộ nghèo). Bảng 42: Những mong đợi về các dịch vụ khuyến nông Hạng mục Tần số % Cộng gộp Không mong đợi gì 29 36.25 36.25 Cung cấp thường xuyên hơn 10 12.5 48.75 Giới thiệu công nghệ mới 40 50 98.75 Hỗ trợ cho vùng sâu vùng xa 1 1.25 100 Tổng cộng 80 100 Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà phê Tưới nước Như đã trình bày ở phần thực tiễn sử dụng nước tưới, tất cả các hộ gia đình trong khu vực điều tra đều có xu hướng sử dụng quá lượng nước được khuyến cáo đối với cả biện pháp tưới gốc và tưới phun. Để chứng minh thống kê, nhóm nghiên cứu đã sử dụng biện pháp kiểm định 1 đuôi t-test để so sánh lượng nước sử dụng/cây với lượng khuyến cáo (390 liters/tree/round) (Dave, 2003). Kết quả tính toán cho thấy đối với cả hai biện pháp tưới, lượng nước sử dụng đều vượt mức, đối với biện pháp tưới gốc, mức vượt trung bình là 315 lít/cây và biện pháp tưới phun là 153 lít/cây. Như vậy, có thể thấy người nông dân sử dụng biện pháp tưới phun vận hành có hiệu quả hơn, trong khi biện pháp tưới phun mưa cho năng suất cao hơn biện pháp tưới gốc (2,9 tấn/ha so với 2,8 tấn/ha). . Bảng 43: Kiểm định t-test để so sánh lượng nước thực và lượng khuyến cáo Biến Số hộ TB Sai số Độ lệch Độ tin cậy 95% m3/cây-tưới gốc 68 0.815 0.038 0.315 0.739 0.892 m3/cây-tưới phun 12 0.628 0.044 0.153 0.531 0.725 Trên thực tế, rất nhiều nông dân được phỏng vấn cho rằng càng dùng nhiều nước thì năng suất cà phê càng cao. Tuy nhiên, chuyên gia đã khuyến nghị rằng cần tránh tưới quá nhiều nước. Hệ rễ cây cà phê ăn sâu lòng đất khoảng 0-30 cm và độ trùm của rễ biến động trong khoảng 0-50 cm. Nếu tưới quá nhiều nước, tầng đất chứa rễ cà phê sẽ bị bão hoà, thừa nước, sau đó sẽ cắm sâu hơn nữa theo chiều của trọng lực, kéo theo vi chất dinh dưỡng của tầng đất phía trên (Dave, 2003). Ngoài ra, các hộ gia đình Đắk Lăk tưới nước và bón phân cùng một lúc trong những tháng khô hạn. Điều này khiến cho rất nhiều loại phân như Urea, sulfat đạm và KCl dễ dàng bị hoà tan, làm giảm khả năng thẩm thấu của đất, khiến cho hệ rễ khó hấp thu nước, đặc biệt là trong những mùa hạn hán kéo dài (Tiem, 2002). Để đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng nước tưới trong khu vực điều tra, nhóm nghiên cứu đã sử dụng kết quả nghiên cứu của Dave et al (2004) tính cân bằng mực nước ngầm trong vùng Eatul - Dak Lak để xác định lượng nước lãng phí trong quá trình trồng cà phê. Để sử dụng phương pháp của nghiên cứu này, cần giả thiết rằng điều kiện khí hậu và ứng xử của nông dân với sản xuất cà phê ở 2 huyện điều tra giống như vùng Eatul. Kết quả tính toán cho thấy cân bằng nước ngầm ở vùng điều tra trong điều kiện khí hậu khô đều đạt giá trị âm cho cả hai phương pháp tưới phun và tưới gốc. Trong đó, mực cân bằng ở những nơi áp dụng biện pháp tưới phun thấp hơn nơi áp dụng biện pháp tưới gốc khoảng 6000 lít. Bảng 44: Mực nước ngầm còn lại trong điều kiện khô hạn Các yếu tố Đơn vị Tưới gốc Tưới phun Mực nước ngầm từ mưa Tr lít 27624 27624 Mực nước ngầm từ hệ thống tưới Tr lít 7170 7170 Tổng lượng nước ngầm được giữ lại Tr lít 34794 34794 Các yếu tố tiêu thụ nước số lần tưới 3.71 4 số cây/ha 1117 1128 Lượng tưới/cây Lít 815 628 Lượng tưới/vụ Tr lít 34554 28990 Diện tích khu vực ha 10231 10231 Số lượng dân cư 5555 5555 Lượng nước dùng/người Lít 65 65 Tổng lượng nước mất đi Tr lít 34619 29055 Dòng chảy Tr lít 15326 15326 Mực nước cho phép (nước ngầm giữ lại-dòng chảy) Tr lít 19468 19468 Mực nước ngầm còn lại Tr lít -15,151 -9,587 Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng tính toán mực nước ngầm theo biện pháp tưới ở hai huyện khác nhau. Đối với những người sử dụng biện pháp tưới gốc, Krong Ana lãng phí ít nước hơn CuMgar (11 nghìn so với 18 nghìn lít). Đối với những hộ dùng biện pháp tưới phun thì Krong Ana lãng phí hơn CuMgar 1334 lít. Bảng 45: Mực nước ngầm còn lại trong điều kiện khô hạn theo huyện Các yếu tố Đơn vị Tưới gốc Tưới phun Krong Ana CuMgar Krong Ana CuMgar Mực nước ngầm từ mưa Tr lít 27624 27624 27624 27624 Mực nước ngầm từ hệ thống tưới Tr lít 7170 7170 7170 7170 Tổng lượng nước ngầm được giữ lại Tr lít 34794 34794 34794 34794 Các yếu tố tiêu thụ nước số lần tưới 4.03 3.46 4.14 3.8 số cây/ha 1133 1105 1142 1108 Lượng tưới/cây Lít 654 959 610 654 Lượng tưới/vụ Tr lít 30551 37512 29506 28172 Diện tích khu vực ha 10231 10231 10231 10231 Số lượng dân cư 5555 5555 5555 5555 Lượng nước dùng/người Lít 65 65 65 65 Tổng lượng nước mất đi Tr lít 30616 37577 29571 28237 Dòng chảy Tr lít 15326 15326 15326 15326 Mực nước cho phép (nước ngầm giữ lại-dòng chảy) Tr lít 19468 19468 19468 19468 Mực nước ngầm còn lại Tr lít -11,148 -18,109 -10,103 -8,769 Nhóm hộ có thu nhập cao lãng phí mực nước ngầm nhiều hơn nhóm có thu nhập thấp và trung bình đối với cả hai biện pháp tưới gốc và tưới phun. Nhóm thu nhập trung bình sử dụng biện pháp tưới phun có xu hướng tưới nước hiệu quả nhất với mực nước lãng phí thấp nhất 7269 lít. Điều này cho thấy các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cần giúp nhiều hơn nữa cho nhóm có thu nhập cao, chứ không chỉ nhóm thu nhập thấp và người dân tộc. Bảng 46: Mực nước ngầm còn lại trong điều kiện khô hạn theo nhóm thu nhập Các yếu tố Đơn vị Tưới gốc Tưới phun Nghèo TB Giàu Nghèo TB Giàu Mực nước ngầm từ mưa Tr lít 27624 27624 27624 27624 27624 27624 Mực nước ngầm từ hệ thống tưới Tr lít 7170 7170 7170 7170 7170 7170 Tổng lượng nước ngầm được giữ lại Tr lít 34794 34794 34794 34794 34794 34794 Các yếu tố tiêu thụ nước số lần tưới 3.87 3.86 3.42 4.25 4 3.5 số cây/ha 1124 1110 1116 1110 1147 1105 Lượng tưới/cây Lít 721 735 976 634 568 795 Lượng tưới/vụ Tr lít 32087 32219 38112 30600 26662 31457 Diện tích khu vực ha 10231 10231 10231 10231 10231 10231 Số lượng dân cư 5555 5555 5555 5555 5555 5555 Lượng nước dùng/người Lít 65 65 65 65 65 65 Tổng lượng nước mất đi Tr lít 32152 32284 38177 30665 26727 31522 Dòng chảy Tr lít 15326 15326 15326 15326 15326 15326 Mực nước cho phép (nước ngầm giữ lại-dòng chảy) Tr lít 19468 19468 19468 19468 19468 19468 Mực nước ngầm còn lại Tr lít -12684 -12816 -18709 -11197 -7259 -12054 Phân bón Lượng phân bón Dư lượng phân hoá học được tính bằng cách lấy tổng lượng phân đơn (đạm, lân và kali) trừ đi lượng hấp thụ thực tế của cây. Lượng hấp thụ thực tế được tính bằng cách tham khảo tỉ lệ mỗi yếu tố do cây cà phê hấp thụ (tham khảo tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu đất và WASI), sau đó nhân tỉ lệ đó với lượng phân thực tế. Tính toán mức dư thuốc trừ sâu tại vùng điều tra cho thấy dư chất của phân bón khá lớn với mức dư của lân lớn nhất (49 kg/ton quả khô) nhưng với độ lệch thấp nhất (từ -9.1 đến 287 kg). Mức dư của đạm cũng khá cao, 39 kg/tấn quả khô với độ lệch cũng rất cao. Mức dư của kali là thấp nhất, chỉ khoảng 0.5 kg/tấn quả khô nhưng với độ lệch lớn nhất. Điều này cho thấy hộ gia đình trong khu vực điều tra sử dụng lượng phân bón rất khác nhau. Dư lượng các loại phân hoá học ở huyện CuMgar đều có xu hướng cao hơn so với Krong Ana. Trong đó, dư lượng kali lớn nhất, khoảng 46 kg/tấn qủa khô. Có nhiều hộ bón phân khá hiệu quả với 6 bón chỉ còn dư từ -10 đến 10 kg lân /tấn cà phê và 9 hộ dư từ -10 đến 10 kg đạm/tấn quả khô. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều hộ bón phân quá thấp (23 hộ bón thiếu trên 10 kg N/tấn quả khô với lượng thiếu trung bình là 93 kg và 37 hộ bón thiếu trên 10 kg K/tấn quả khô với lượng thiếu là 113 kg). Tuy nhiên, đối với những hộ bón thiếu phân hoá học, họ có thể bù đắp bằng phân xanh hoặc các loại chất hữu cơ khác. Nhưng điều đáng lo ngại là có nhiều hộ bón quá nhiều (48 hộ bón quá 10 kg N/tấn quả khô với lượng dư thừa trung bình là 110 kg, 33 hộ bón thừa 10 kg K/tấn quả khô với lượng dư thừa trung bình là 128 kg và đặc biệt có tới 74 hộ bón thừa trên 10 kg P/tấn quả khô với lượng dư thừa trung bình là 53 kg). Bảng 47: Yếu tố dinh dưỡng từ phân bón còn dư (kg/tấn quả khô) Biến Số hộ TB Độ lệch Min Max P còn dư 80 48.8 43.0 -9.1 287.2 K còn dư 80 0.5 173.0 -400.6 965.7 N còn dư 80 39.4 137.9 -331.1 663.7 Dư lượng phân hoá học có thể thấy rõ hơn trong hình dưới đây. Biểu đồ 26: Dư lượng phân hoá học trong sản xuất cà phê (kg/tấn cà phê) Việc phân tích theo nhóm nhận được và không nhận được các dịch vụ khuyến nông cũng cho thấy những hộ nông dân không nhận được dịch vụ khuyến nông sử dụng ít phân hoá học hơn những hộ nhận được hỗ trợ. Phân tích tương quan cho thấy có mối tương quan ý nghĩa giữa dịch vụ khuyến nông và dư lượng phân, ở mức độ tin cậy 95%. Bảng 48: Phân tích tương quan giữa yếu tố dinh dưỡng phân bón và các dịch vụ khuyến nông Khuyến nông P Khuyến nông N Khuyến nông K Tương quan Pearson 1 0.011 1 0.240 1 0.262 Mức ý nghĩa (2 đuôi) . 0.922 . 0.033 . 0.020 Tương quan Pearson 0.011 1 0.240 1 0.262 1.000 Mức ý nghĩa (2 đuôi) 0.922 . 0.033 . 0.020 . Phép tương quan có ý nghĩa với độ tin cậy 95% Lượng phân vô cơ thực tế sử dụng có thể được so sánh với lượng khuyến cáo của Trạm nghiên cứu thổ nhưỡng Tây Nguyên trong bảng dưới đây. Bảng 49: Lượng phân bón vô cơ khuyến cáo (N, P2O5, và K2O), kg/ ha/năm Tuổi cây kg ha-1/năm N P2O5 K2O Năm thứ nhất (cây mới trồng) 60 60 30 Năm thứ 2 (đốn lần 1) 120 75 100 Năm thứ 3 (đốn lần 2) 150 90 130 Năm thứ 4 trở đi (3,5 – 4,0 t hạt xanh) 280 100 300 Nguồn: Lịch & Tuấn, Trạm Nghiên cứu thổ nhưỡng Tây Nguyên Để có thể so sánh lượng phân bón sử dụng trên thực tế với lượng khuyến cáo, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp kiểm định giá trị ‘t”. Bảng 47 trình bày kết qủa kiểm định, qua đó cho thấy tất cả các kiểm định giá trị “t” đều có ý nghĩa thống kê, có nghĩa là lượng thực tế sử dụng của cả 3 yếu tố phân bón vô cơ đều cao hơn lượng phân bón khuyến cáo. Tính bình quân, độ lệch chuẩn của đạm là cao nhất (147 kg/ha), trong khi độ lệch chuẩn của lân và kali chỉ là 63 kg. Tuy nhiên, chỉ 63 kg cũng đã gây tổn hại tới môi trường, đặc biệt là hệ thống nước ngầm bao gồm cả nước cho sản xuất nông nghiệp và nước cho sinh hoạt hàng ngày. Bảng 50: Kiểm định giá trị “t” cho tổng lượng phân bón thực tế sử dụng so với lượng phân bón khuyên cáo (kg/ha) Biến Số quan sát GT trung bình Sai số chuẩn Độ lệch chuẩn Khoảng tin cậy 95% . t-test tot_P_ha == 100 tot_P_ha 80 119.17 7.10 63.48 105.05 133.30 . t-test tot_N_ha == 280 tot_N_ha 80 324.73 16.6 148.1 291.8 357.7 . t-test tot_K_ha ==300 tot_P_ha 80 292 19.0 169.9 254.2 329.8 Nguồn: Điều tra của IAE (2005) Số lần bón phân Năm 2004, các hộ bón phân trung bình khoảng 5,6 lần, cao hơn rất nhiều so với số lần bón khuyến cáo (2 lần). Số lần bón phân ở CuMgar cao hơn chút ít so với ở Krong Ana. Số lần bón phân của nhóm hộ giàu và hộ trung bình cũng cao hơn nhóm hộ nghèo, song sự khác biệt là rất nhỏ như trình bày trong Bảng 48. Bảng 51: Số lần bón phân theo nhóm Nhóm Số lần Tổng 5.6 Huyện Krong Ana 5.49 CuMgar 5.68 Nhóm thu nhập Nghèo 5.48 TB 5.63 Giàu 5.65 Theo khuyến cáo của các chuyên gia cà phê, nên sử dụng phân bón lần đầu vào mùa khô, chủ yếu là phân SA. Tuy nhiên, tại khu vực điều tra, chỉ có 1,6% số hộ bón phân vào tháng 1. Lần bón phân khuyến cáo thứ hai là khi mùa mưa bắt đầu đến, khi đó đã đủ độ ẩm đất. Mùa mưa năm 2004 ở Đắc Lắc bắt đầu vào từ tháng 3 – tháng 4. Tuy nhiên trên thực tế các hộ bón chủ yếu và tháng 5,6 và 7 (chiếm gần 60%), chậm hơn rất nhiều so với thời gian khuyến cáo. Theo các chuyên gia cà phê, chỉ cần 2 lần bón phân bởi vì sau tháng 3 lượng mưa bắt đầu tăng dần cho tới tháng 9, đủ để cho cây ra hoa, kích thích cây ra cành chuẩn bị cho lần ra hoa thứ hai. Thuốc trừ sâu Như đã phân tích ở trên, nông dân trong vùng điều tra phát hiện được 3 loại bệnh mà họ cho là gây hại đến cà phê, đó là rệp vừng (7.5% số hộ phỏng vấn), vảy nến (31.2%) và kiến (5.4%). Tuy nhiên, kiến không được coi là côn trùng mà chỉ là sinh vật dẫn dụ côn trùng. Điều này cho thấy nông dân chưa có nhận thức đầy đủ về các loại bệnh gây hại cho cây. Nông dân coi tất cả các loại sâu là bệnh khác để sử dụng nhiều thuốc trừ sâu khác nhau nhưng trên thực tế có rất nhiều loại sâu bệnh khác nhau cần được khuyến cáo sử dụng các loại thuốc khác nhau. Họ thậm chí còn không biết gọi tên các loại bệnh vì vậy không biết sử dụng thuốc nào cho loại bệnh nào. Tại Đắk Lắk và các khu vực khác đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có một số loại bệnh phổ biến cây cà phê thường mắc phải như bệnh gỉ sắt, bệnh thối cổ rễ, stem canker, nematodes.... Những loại bệnh này do các vi sinh vật gây ra và rất phổ biễn ở Đắk Lắk. Tuy nhiên, điều tra cho thấy không có nông dân nào đề cập đến các loại bệnh này vì có thể họ không nhận ra các dấu hiệu của bệnh trên cây. Bảng sau đây mô tả việc sử dụng thuốc trừ sâu của nông dân và tác dụng của nó do các nhà nghiên cứu khuyến cáo. Kết quả cho thấy hầu hết nông dân sử dụng thuốc trừ sâu cho các loại bệnh không giống như khuyến cáo của các viện nghiên cứu. Họ thậm chí còn sử dụng sai mục đích, lấy thuốc Basa để diệt kiến nhưng thực tế thuốc Basa dùng để diệt sâu hại. Bảng : Sử dụng thuốc trừ sâu của nông dân và khuyến cáo của cq nghiên cứu Loại thuốc Nông dân sử dụng Viện nghiên cứu Dibamirin 5EC Côn trùng, kiến hại Supracide 40EC Rệp vừng, côn trùng Rệp vảy, rệp sáp, rệp sáp hại rễ Supracide 40 FC Rệp vừng, rệp sáp, côn trùng Rệp sáp hại rễ Ofatox Côn trùng Suprathion 40EC Rệp vừng, côn trùng Rệp vảy, rệp sáp Ba Sa Sâu, kiến hại Sâu Furadan Sâu KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản chính của Việt Nam tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng từ xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho nhiều hộ dân trong ngành hàng này, đặc biệt là nông dân và tiểu thương. Từ đầu những năm 90 cho tới năm 1996-1997 cà phê luôn là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau gạo, đưa Việt nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới sau Brazil. Nhiều hộ ở các vùng trồng cà phê đã nhanh chóng trở nên giàu có trong thời gian này. Tuy nhiên, việc phụ thuộc qúa nhiều vào thị trường thế giới mà không có các biện pháp hỗ trợ thương mại hiệu qủa đã khiến Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng cà phê trầm trọng khắp thế giới kể từ năm 1998. Hiện nay mặc dù đã xuất hiện một số tín hiệu tốt trên thị trường cà phê thế giới, song Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức mới để hướng tới phát triển cà phê bền vững. Các yếu tố đầu vào trong sản xuất cà phê đang gặp nhiều khó khăn. Nước - nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng trong sản xuất cà phê đang bị khai thác qúa mức, nhất là trong điều kiện thời tiết ngày càng khô hanh. Giá nhiên liệu đang trên đà gia tăng trên thị trường thế giới cũng như ở thị trường Việt Nam, khiến cho chi phí tưới nước ngày càng trở nên tốn kém. Thêm nữa, giá phân bón và thuốc trừ sâu cũng đang gia tăng trong những năm gần đây, khiến cho chi phí sản xuất cà phê tăng mạnh. Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho người sản xuất cà phê tuy đã được cải thiện song không phải lúc nào cũng đáp ứng được đúng yêu cầu đúng đối tượng. Các vấn đề nêu trên khiến cho việc thực hiện nghiên cứu “đánh giá thực tiễn sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà phê Đắk Lắk” trở nên rất cần thiết. Nghiên cứu sẽ mô tả thực tiễn quản lý tài nguyên (nước, phân bón, thuốc trừ sâu) của người nông dân trồng cà phê, so sánh với những khuyến cáo của các cơ quan nghiên cứu và hệ thống khuyến nông để đưa ra những khuyến nghị chính sách cho cả cấp trung ương và địa phương. Sau nửa năm thực hiện nghiên cứu, các kết qủa sơ bộ đã cho thấy một bức tranh lý thú về việc sử dụng nguồn tài nguyên trồng cà phê của tỉnh Đắc Lắc, cụ thể như sau: * Nước tưới: Người nông dân ở 2 huyện Krong Ana và CuMgar chủ yếu sử dụng biện pháp tưới gốc với chi phí đầu tư ban đầu thấp và dễ áp dụng. Chỉ có 15% số hộ áp dụng biện pháp tưới phun với chi phí đầu tư ban đầu rất lớn nhưng hiệu qủa năng suất cà phê rất cao. Kết qủa nghiên cứu cho thấy nông dân sử dụng 815 lít nước/cây nếu áp dụng biện pháp tưới gốc và 630 lít nước/cây nếu sử dụng biện pháp tưới phun. So với khuyến cáo của WASI và của các nhà nghiên cứu khác (Dave, 2003), lượng nước sử dụng của cả hai phương pháp đều cao qúa mức, với chênh lệch là 315 lít/cây đối với biện pháp tưới gốc và 153 lít/cây đối với biện pháp tưới phun. Lượng nước sử dụng của Krong Ana thấp hơn nhiều so với CuMgar, với mức chệnh lêch là 304 lít/cây đối với biện pháp tưới gốc và 43 lít/cây đối với biện pháp tưới phun. Tuy nhiên, năng suất cà phê năm 2004 của CuMgar (2,62 tấn/ha) lại thấp hơn rất nhiều so với của Krong Ana (2,98 tấn/ha). Như vậy, tưới nhiều nước không hẳn đã nâng cao năng suất cà phê, đặc biệt là phân tích thống kê cho thấy lượng nước tưới không có tương quan ý nghĩa với năng suất cà phê. Lượng nước sử dụng nhiều nhất là ở nhóm hộ giàu (976 lít/cây bằng biện pháp tưới gốc), kế đến là nhóm hộ trung bình (735 lít/cây) và hộ nghèo (722 lít/cây). Sự khác biệt có thể là do nhóm hộ giàu với thu nhập cao hơn nên có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho hệ thống nước tưới. Tuy nhiên, năng suất cà phê lại cao nhất ở nhóm thu nhập trung bình (3,02 tấn/ha). Năng suất cà phê của nhóm hộ giàu và hộ nghèo không khác nhau nhiều (lần lượt là 2,67 tấn/ha so với 2,64 tấn/ha). Điều này cũng khẳng định kết qủa phân tích nêu trên, tưới quá nhiều nước đã không nâng cao được năng suất cà phê. Nghiên cứu cũng xem xét số lần tưới nước của các hộ nông dân địa phương. Kết qủa cho thấy có tới 68% hộ nông dân tưới nước qúa 4 lần trong năm 2004, trong đó có 2% số hộ thậm chí tưới đến 7 lần. Tuy nhiên khi phân tích phân bố lượng mưa năm 2004, các nhà nghiên cứu đã khuyến cáo chỉ nên tưới từ 2-3 lần cho cây cà phê trong năm 2004, đủ để cây cà phê ra hoa ra hạt đúng kích cỡ. Điều này cho thấy hầu hết nông dân đều lạm dụng tưới nước so với số lần tưới khuyến cáo cho năm 2004. Trong các nhóm thu nhập khác nhau, số lần tưới của nhóm hộ giàu ít hơn nhóm hộ trung bình và hộ nghèo. Chỉ có 41% hộ giàu tưới 4 lần, số còn lại chỉ tưới 3 lần, trong khi đó con số này của nhóm hộ nghèo là 70% số hộ tưới 4 lần, thậm chí có 8% số hộ tưới tới 6-7 lần. Để đánh giá được tác động môi trường đối với nguồn tài nguyên nước trong vùng, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp từng được các nhà nghiên cứu khác áp dụng để tính toán mực nước ngầm còn lại của lưu vực Eatul. Kết qủa cho thấy mực nước ngầm còn lại luôn luôn âm đối với cả hộ tưới phun lẫn hộ tưới gốc, song mực nước ngầm của những hộ áp dụng phương pháp tưới phun thấp hơn so với tưới gốc. Mực nước ngầm còn lại ở huyện Krong Ana cao hơn so với huyện CuMgar khi sử dụng biện pháp tưới gốc và thấp hơn khi sử dụng biện pháp tưới phun. Mực nước ngầm còn lại của nhóm hộ giàu bao giờ cũng thấp hơn so với hai nhóm kia trong cả hai biện pháp tưới nước. Đánh giá tác động kinh tế của việc sử dụng nước đối với sản xuất cà phê được thực hiện bằng phương pháp phân tích chi phí. Khi sử dụng biện pháp tưới phun, tổng chi phí tưới nước luôn cao hơn khi sử dụng biện pháp tưới gốc. Trong đó, chi phí cố định của biện pháp tưới phun cao hơn rất nhiều so với biện pháp tưới gốc. Chi phí hoạt động của biện pháp tưới phun vẫn còn thấp hơn chút ít so với biện pháp tưới gốc, bởi vì phương pháp tưới phun sử dụng ít lao động hơn phương pháp tưới gốc. Chi phí khi sử dụng lao động gia đình cũng cao hơn rất nhiều so với khi không sử dụng lao động gia đình, cho thấy lao động gia đình cũng là một nguồn quan trọng trong sản xuất cà phê. Với những hộ áp dụng biện pháp tưới gốc, chi phí cố định và chi phí hoạt động của Krong Ana cao hơn CuMgar 9% và 22%. Sở dĩ như vậy là do cả chi phí nhân công và chi phí nhiên liệu ở Krong Ana đều cao hơn ở CuMgar. Tất cả các hạng mục chi phí của những hộ sử dụng nguồn nước công cộng đều cao hơn so với các hộ sử dụng nguồn nước tư nhân. Sở dĩ như vậy là do khi sử dụng biện pháp tưới gốc, chi phí về ống dẫn nước và máy bơm nước từ nguồn nước công cộng cao gấp 4 lần và 1,1 lần so với khi sử dụng nguồn nước tư nhân. Với biện pháp tưới phun, giá máy bơm và giá thiết bị phun nước, tưới nước của nguồn nước công cộng đều cao hơn rất nhiều so với nguồn nước tư nhân. Chi phí nhân công và nhiên liệu không khác nhau nhiều giữa hai nhóm này. Hiện nay, chi phí tưới phun cao hơn chi phí tưới gốc. Tuy nhiên, lượng nước dùng cho biện pháp tưới gốc cao hơn rất nhiều so với tưới phun. Như vậy nếu trong tương lai, nông dân phải trả phí sử dụng nước thì chi phí tưới gốc sẽ chắc chắn cao hơn rất nhiều. Điều này cho thấy hiện nay người nông dân chưa áp dụng đúng phương pháp tưới gốc, làm ảnh hưởng lớn đến mực nước ngầm. * Phân bón Có tới 99% hộ điều tra xác nhận đã từng sử dụng phân bón. Chỉ có 1 hộ ở CuMgar chưa bao giờ sử dụng. Người sản xuất cà phê của Đắc Lắc sử dụng 11 loại phân bón khác nhau. Nhìn chung, mỗi hộ sử dụng khoảng 1.140 kg phân bón/tấn cà phê. Các hộ ở Krong Ana sử dụng phân bón ít hơn so với CuMgar. Hộ giàu sử dụng lượng phân bón ít nhất, tức là khoảng 1.061 kg/tấn cà phê so với 1.240 kg và 1.161 kg/tân của nhóm hộ trung bình và hộ nghèo trong năm 2004, nhưng hộ giàu lại sử dụng nhiều phân hóa học nhất. Nhóm nghiên cứu cũng tính toán lượng dinh dưỡng từ phân bón. Các hộ sản xuất cà phê bón nhiều đạm nhất, với sự khác biệt lớn về lượng phân bón trong số 80 hộ điều tra trong năm 2004. Các hộ ở huyện CuMgar sử dụng phân hoá học nhiều hơn so với các hộ ở Krong Ana. Tuy nhiên, trên thực tế năng suất cà phê năm 2004 của Krong Ana (2,9 tấn/ha) còn cao hơn 0,3 tấn/ha so với của CuMgar (2,6 tấn/ha). Do vậy, năng suất cà phê không chỉ phụ thuộc vào lượng phân bón, mà còn phụ thuộc vào kỹ thuật trồng cà phê hiệu qủa. Nhóm thu nhập cao sử dụng nhiều phân hoá học hơn nhóm thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là Kali. Để có thể đánh giá được tác động môi trường của việc sử dụng phân bón, nhóm nghiên cứu đã tính toán dư lượng phân hoá học đơn. Kết qủa cho thấy mức dư của 3 yếu tố đều rất lớn, nhiều nhất là lân, kế đến là đạm và kali với độ lệch chuẩn rất lớn, qua đây cho thấy lượng phân bón sử dụng giữa các hộ là rất khác nhau. Nhiều hộ sử dụng rất hiệu qủa, trong khi một số hộ khác lại sử dụng qúa ít hoặc qúa nhiều phân bón. Để đánh giá tác động đến môi trường, nhóm nghiên cứu đã so sánh lượng phân hoá học thực tế sử dụng với lượng phân bón khuyến cáo, tất cả đều cho thấy dư lượng rất lớn, làm tổn hại tới môi trường, ví dụ như nước ngầm, trong đó có cả nước phục vụ sản xuất nông nghiêp và nước sinh hoạt hàng ngày. Nông dân ở hai huyện bón phân trung bình 5,6 lần năm 2004, cao hơn rất nhiều so với mức khuyến cáo của các chuyên gia cà phê là 2 lần trong năm 2004. Số lần bón phân ở CuMgar có cao hơn đôi chút so với ở Krong Ana và cao hơn ở nhóm hộ giàu so với nhóm hộ trung bình và hộ nghèo. * Thuốc trừ sâu: Có tới 77,5% số hộ cho biết đã sử dụng 7 loại thuốc trừ sâu khác nhau để trị các loại bệnh do rệp, bọ sáp, kiến và các loại sinh vật khác gây ra. Tính trung bình một hộ trong năm 2004 đã phun 2,60 lít thuốc trừ sâu các loại. Con số này cao hơn nhiều so với 1,3 lít của năm 2003 do sâu bọ hại năm 2003 không nhiều như năm 2004. Lượng thuốc trừ sâu trung bình năm 2004 không khác nhau nhiều giữa Krong Ana và CuMgar. Nhóm thu nhập trung bình (3,19 lít năm 2004) sử dụng nhiều thuốc trừ sâu hơn nhóm hộ giàu và hộ nghèo (2,75 lít và 1,9 lít/năm). Nhìn chung, người nông dân ở vùng điều tra đã phân biệt được 3 loại bệnh hại cây cà phê, đó là rệp (7,5% trong tổng số hộ điều tra), vảy nến (31,2%) và kiến (5,4%). Tuy nhiên kiến không được xem như một loại sâu bệnh hại, mà chỉ là một loài truyền bệnh. Hơn nữa, người nông dân coi tất cả các loại bệnh khác đều là sâu bọ. Nhiều người không biết tên cụ thể của loại bệnh, do vậy họ không biết nên sử dụng loại thuốc trừ sâu nào cho loài bệnh gì. Hầu hết các loại thuốc trừ sâu mà nông dân sử dụng để trị các loại bệnh đều không được các viện nghiên cứu khuyến cáo sử dụng để trị những căn bệnh cây đó. Như vậy, các viện nghiên cứu và cơ sở khuyến nông cần hợp tác chặt chẽ, thường xuyên hơn để cung cấp kiến thức cho nông dân về các loại bệnh gây hại phổ biến cho cây cà phê và các biện pháp phòng trừ, đặc biệt là nhóm dân nghèo do họ không có khả năng đầu tư nhiều vào chăm sóc cây cà phê ngay từ đầu * Dịch vụ khuyến nông Ở vùng điều tra khi có tới 99% số hộ điều tra đã nhận được các dịch vụ khuyến nông trong năm 2004, các hộ ở Krong Ana nhận được nhiều hơn các hộ ở CuMgar. Hầu hết các dịch vụ khuyến nông đều được cung cấp từ các cơ quan khuyến nông cho người nông dân và đây cũng là các dịch vụ có chất lượng tốt nhất. Tất cả các dịch vụ khuyến nông đều được cung cấp miễn phí. Người nghèo được hưởng ưu đãi nhận trợ giúp về khuyến nông. Đặc biệt là nhận thức của người nông dân về tầm quan trọng của khuyến nông cũng đang được nâng lên khi có tới 65% số hộ đồng ý trả chi phí khuyến nông trong tương lai nếu như các dịch vụ khuyến nông đó đạt yêu cầu chất lượng. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn và hạn chế trong các hoạt động khuyến nông. Thứ nhất, loại hình cung cấp dịch vụ vẫn chỉ là những loại hình truyền thống, người nông dân vẫn chưa tiếp cận được với các dịch vụ qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyền hình, đài phát thanh và mạng internet. Thứ hai, các viện nghiên cứu chưa chủ động tham gia vào việc chuyển giao công nghệ cho hệ thống khuyến nông. Thứ ba, vẫn còn thiếu sự hỗ trợ khuyến nông hai chiều. Thứ tư, các dịch vụ khuyến nông được cung cấp chủ yếu dưới hình thức các lớp tập huấn và chỉ diễn ra một năm một lần. KHUYẾN NGHỊ * Cho Bộ và chính quyền địa phương - Thường xuyên theo dõi và đánh giá việc sử dụng các yếu tố đầu vào để đưa ra khuyến nghị kịp thời - Thiết lập cơ chế quản lý thống nhất trong ngành cà phê nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với ngành và đặc biệt là mối quan hệ giữa viện nghiên cứu và hệ thống khuyến nông thông qua các hình thức: + Các Viện nghiên cứu phải báo cáo kết quả nghiên cứu hàng năm cho Bộ và từ đó Bộ có thể chuyển giao lại cho các đơn vị khác và hệ thống khuyến nông. + Tạo nên cơ chế chuyển giao thông tin lẫn nhau giữa hai hệ thống nghiên cứu và khuyến nông, chẳng hạn như có thể đưa vào hợp đồng nghiên cứu hoặc quyết định giao kế hoạch hàng năm một điều khoản về chuyển giao công nghệ. Cách làm đó cũng rất hữu hiệu trong việc đánh giá ngay tính thực tiễn và hiệu quả của kết quả nghiên cứu. - Thường xuyên thu thập kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước (đặc biệt qua tổ chức ICO) và chuyển giao qua hệ thống khuyến nông. - Mở rộng các hình thức phổ biến thông tin như TV, báo, bưu điện, bảng thông báo, truyền thanh địa phương, internet. - Các vấn đề về tài chính: hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khuyến nông và khoa học cần được điều chính theo các hướng sau: + Kinh phí cần được cấp dựa trên yêu cầu từ dưới lên. Hệ thống khuyến nông và nghiên cứu phải lập kế hoạch dựa trên thực tiễn sản xuất và những khó khăn nông dân mắc phải. Điều này yêu cầu phải có hệ thống giám sát đánh giá và giám sát tốt để kịp thời điều chỉnh các yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu. + Thời gian lập kế hoạch và thông qua kế hoạch cần được rút ngắn. Trên thực tế, có đơn vị nghiên cứu ở Đắk Lắk phải chờ đến hơn 2 năm để được thông qua kế hoạch. Đến lúc đó, tính thời sự và cấp thiết của nghiên cứu đã giảm đi rất nhiều. + Cần giao quyền tự chủ tài chính cho khuyến nông và nghiên cứu thông qua hình thức khoán kinh phí đề các đơn vị có thể điều chỉnh đáp ứng yêu cầu thực tế và đặc biệt có thể trả lương cao hơn cho các cán bộ nghiên cứu và khuyến nông. Cần giành một quỹ linh hoạt để các đơn vị này có thể sử dụng trong các trường hợp cấp thiết như thiên tai, sâu bệnh... * Đối với hệ thống khuyến nông và các viện nghiên cứu - Tăng số lần cung cấp dịch vụ: kỹ thuật cho các vấn đề tưới, bón phân và thuốc trừ sâu cần được hỗ trợ thường xuyên hơn và đúng thời điểm. Hiện nay, hệ thống khuyến nông chỉ mới cung cấp dịch vụ cho một nhóm nông dân khoảng 1 lần một năm, không đủ để nông dân tiếp nhận, thực hành kỹ thuật. Vì vậy, dịch vụ này cần ddwowcj cung cấp thường xuyên hơn, đặc biệt là vào những thời điểm quan trọng như trước vụ sản xuất, trong trường hợp thiên tai hoặc sâu bệnh. - Tăng cường thông tin hai chiều: Cần khuyến khích và có hình thức khuyến khích nông dân phản hồi về những thông tin nhận được. Trên thực tế, hệ thống khuyến nông không phải lúc nào cũng đáp ứng đúng yêu cầu thực tế của dân. Nếu nông dân không được trao đổi thống tin thông qua phản hồi, họ sẽ không thể nêu ra những vấn đề vướng mắc trên đồng ruộng. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có nông dân nào phản hồi lại về tác dụng của thông tin và những khó khăn của họ. Điều này cũng khiến cho việc đánh giá hiệu quả của khuyến nông rất khó và nhiều khi chỉ là một chiều. - Mở rộng đối tượng cung cấp dịch vụ: nghiên cứu cho thấy hệ thống khuyến nông hiện nay đã chú ý đến đối tượng dân nghèo, thu nhập thấp. Tuy nhiên trên thực tế, nhóm dân thu nhập cao lại sử dụng đầu vào quá mức khuyến cáo rất nhiều. Vì vậy, hệ thống khuyến nông nên trú trọng cả nhóm dân này. Ngoài ra cũng cần cung cấp thông tin cho các cửa hàng, người buôn bán phân bón và thuốc trừ sâu vì chính họ đưa ra rất nhiều khuyến cáo cho nông dân khi bán sản phẩm. - Mở rộng kênh cung cấp thông tin: Hỗ trợ kỹ thuật không chỉ được cung cấp bằng các hình thức truyền thống như tổ chức lớp hộ, mô hình đầu bờ mà nên được mở rộng bằng các hình thức khác như vừa học vừa làm, tổ chức phổ biến tại mô hình trình diễn giỏi, in tờ roi bằng nhiều thứ tiến khác nhau (Kinh và dân tộc), thông qua TV, báo đài... - Cần cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu thị trường: Điều này đặc biệt quan trọng để giúp khuyến nông và nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu của người buôn bán, chế biến và tiêu dùng. Để làm được như vậy, cần thường xuyên cập nhật nghiên cứu yêu cầu kỹ thuật về sản phẩm của các đối tượng này trong nước và quốc tế (thông qua các diễn đàn quốc tế). - Cho phép hệ thống khuyến nông và nghiên cứu thu phí tư vấn khuyến nông. Điều này sẽ giúp nông dân tôn trọng và tuân theo chỉ dẫn. Tuy nhiên, để làm được điều này, các dịch vụ cung cấp phải được chuẩn hoá, đa dạng, hướng tới thị trường và linh hoạt... * Đối với nông dân Những khuyến cáo cụ thể tới người dân sẽ được cung cấp chi tiết và đầy đủ thông qua hệ thống khuyến nông và các đơn vị nghiên cứu. Trong khuôn khổ báo cáo này, nhóm tác giả chỉ đưa ra những khuyến nghị rất chung: - Cần nhận thức rằng không phải tưới nhiều nước là sẽ khiến năng suất cà phê tăng cao. Trên thực tế, tưới quá nhiều nước có thể làm mất cân bằng mực nước ngầm và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất nếu tưới nước không đúng lúc, làm tăng chi phí sản xuất nhất là khi giá nhiên liệu tăng đột biến như hiện nay. Mức tưới khuyến cáo hiện nay là khoảng 400 lít trong trường hợp năm ít mưa như 2004. Số lần tưới nước cũng không nên quá nhiều, chỉ nên khoảng 2-3 lần vào giữa tháng 1 và cuối tháng 2, tuỳ thuộc vào việc phân bổ lượng mưa. - Việc bón phân hợp lý cũng là cách để tránh ô nhiễm môi trường (đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt), tránh lãng phí chi phí, ảnh hưởng xấu tới chất lượng và an toàn thực phẩm của cà phê trong trường hợp nhiều dư chất. Nông dân chỉ nên bón lượng phân hợp lý theo khuyến cáo N: 280 kg/ha, P2O5: 100 kg/ha và K2O: 300 kg/ha. Chỉ nên bón phân lần đầu vào mùa khô, chủ yếu là phân SA, lần thứ hai khi mùa mưa bắt đầu đến. - Sử dụng thuốc trừ sâu hợp lý cũng đóng vai trò rất quan trọng để giúp nâng cao chất lượng và đáp ứng các yêu cầu an toàn thực phẩm. Nông dân nên trú trọng nhiều hơn đến các khuyến cáo của khuyến nông để nhận biết được loại bệnh và phương pháp cứu chữa. - Nông dân cũng nên cung cấp các thông tin phản hồi cho hệ thống khuyến nông và nghiên cứu về những hỗ trợ kỹ thuật nhận được. TÀI LIỆU THAM KHẢO Báu và cộng sự, training profile on irrigation for coffee in daklak, WASI 1/2005 Báu và Dave D’Haeze, Technical Training of Trainers-Pest & Disease management, Dự án PPP Dave D’Haeze, Over_Irrigation for Coffee canephora in the Central Highlands of Vietnam revisited simulation of soil moisture dynamics in Rhodic Ferralsols, 3/ 2003 Đoàn Triệu Nhạn và cộng sự, Cây cà phê ở Việt Nam, 1999 Hoang Thanh Tiem, physical characteristics of coffee, 2000 ICARD & Oxfam, Tác động của tự do hoá thương mại đến người trồng cà phê, 2003 Lịch và Tuấn, Bón phân cho cà phê vối ở Đắk Lắk, Trạm Nghiên cứu đất Tây Nguyên. MISPA, Báo cáo tổng quan ngành hàng cà phê Việt Nam, 2004 Sở Nông nghiệp và PTNT Đắk Lắk, Báo cáo năm 2002. Tin giá Reuters, 2004-2005 Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2004, 2005 Tổ chức nông lương thế giới-FAO, Số liệu nông nghiệp, 2005

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docfinal_report_vn_28_10__5627.doc
Luận văn liên quan