Đánh giá thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 1998- 2003 và những giải pháp thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình giai đoạn 2004 - 2010

Lời mở đầu Một trong bài học lớn được rút ra tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI cña §¶ng (12-1986) là: Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học đó khẳng định dân là nguồn lực quan trọng nhất, nên cần phải phát huy nhân tố con người, lấy việc phục vụ con người làm mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động. Bài học đó có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước, là yếu tố cơ bản phát triển nhanh bền vững của cộng đồng; để thực hiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", đây là một chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng. Thông qua cơ chế đó, từng bước chúng ta hoàn thiện việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nhân dân thực sự là người làm chủ và mọi việc của cộng đồng đều được giải quyết theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhằm cụ thể hoá những tư tuởng, quan điểm về phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta; ngày 18-2-1998 Bộ Chính trị (khoá VIII) đã ban hành chỉ thị số 30/CT-TW về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đây là một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân. Chỉ thị được ban hành đúng lúc đáp ứng sự mong đợi của nhân dân nên đã được nhân dân hưởng ứng, sớm đi vào cuộc sống. Chấp hành Chỉ thị của Bộ chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11-5-1998 về thực hiện quy chế dân chủ ở xã (phường, thị trấn); Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8-9-1998 về thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động ở cơ quan; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13-2-1999 về thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động doanh nghiệp nhà nước. Sau mỗi nghị định đều có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và thông tư hướng dẫn, văn bản chỉ đạo của các Ban, ngành trung ương. Ngày 11-11-1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 38/CT-TTg hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan. ngày 5-12-1998 Ban tổ chức cán bộ Chính phủ hướng dẫn Thông tư số 10 triển khai hoạt động quy chế dân chủ ở cơ quan. Tiếp ®Õn, ngày 28-3-2002 Ban bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) ban hành Chỉ thị số 10/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Ngày 7-7-2003 Chính phủ tiếp tục ra Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở xã (phường, thị trấn) thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP trước đây, sau đó Bộ Nội vụ có Thông tư số 12/2004/TT về hướng dẫn thực hiện nghị định này. Quán triệt các văn bản của Bộ chính trị và Chính phủ, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh. Thực hiện nội dung các văn bản trên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và các tổ chức đoàn thể và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân. Sau hơn 5 năm tỉnh Lào Cai triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã và đang ®i vµo cuộc sống mang lại kết quả thiết thực, từng bước đi vào cuộc sống. Tính cấp thiết của đề tài: Mặc dù có đạt được kết quả trên, song chưa thật bền vững, còn có những thiếu sót, hạn chế. Để QCDC cơ sở trở thành động lực mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; thì công tác tổng kết việc thực hiện QCDC của toàn tỉnh cần được kiểm điểm, đánh giá một cách khoa học, đầy đủ để tiếp tục đưa việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thành nền nếp trong đời sống hàng ngày của xã hội. Được sự quan tâm của Hội đồng khoa học tỉnh Lào Cai, Ban dân vận - Dân tộc tỉnh uỷ Lào Cai thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học Đánh giá thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 1998-2003 và những giải pháp thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình giai đoạn 2004-2010. §Ò tµi cÇn ®¹t ®­îc c¸c néi dung sau: Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình. Đánh giá đúng thực chất kết quả triển khai, những mặt được, chưa được, những khó khăn hạn chế khuyết điểm, thiểu sót, nguyên nhân thiếu sót và rút ra được các bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó đề ra được nhiệm vụ trọng tâm và những giải pháp tiếp tục thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp tình hình địa phương đến năm 2010 một cách có hiệu quả. Góp phần phát triển mọi mặt của địa phương, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng, chính quyền. Nội dung nghiên cứu của đề tài: §ánh giá kÕt qu¶ việc thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở xã (ph­êng, thÞ trÊn) c¬ quan vµ c¸c doanh nghiÖp nhµ n­íc; vÒ nh÷ng thµnh c«ng vµ ch­a thµnh c«ng. Rót ra ®­îc bµi häc kinh nghiÖm, trªn c¬ së ®ã ®Ò ra ®­îc nhiÖm vô, gi¶i ph¸p thùc hiÖn quy chÕ d©n chñ ë c¬ së giai ®o¹n tiÕp theo. Phương pháp nghiên cứu, ®ề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp lý luận với thực tiễn. Thực hiện theo các phương pháp điều tra xã hội học, trong đó có phương pháp thu thËp th«ng tin qua phỏng vấn bằng phiếu ®iÒu tra và phương pháp phỏng vấn trùc tiÕp, phương pháp phân tích tổng hợp. - Điều tra theo Nghị định số 29/NĐ-CP trước đây, nay là Nghị định số 79/NĐ-CP (Quy chế dân chủ xã phường, thị trấn). Loại hình này đề tài chọn 27 xã, phường thị trấn ở 9 huyện thị đại diện cho 3 vùng. Bao gồm những hộ làm nghề công nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp, thương nghiệp (theo mẫu 79a). Các xã vùng thấp, vùng cao bao gồm các hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản theo mẫu phiếu 79b, số phiếu điều tra là 3% số hộ. - Loại hình cơ sở theo Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ban hành quy chế dân chủ trong cơ quan. Tổng số cơ quan chọn điều tra là 23 cơ quan trong đó, 5 cơ quan cấp tỉnh và 18 cơ quan cấp huyện. Số phiếu điều tra của mỗi cơ quan là 10 phiếu, tổng số phiếu sẽ là 230 phiếu. - Loại hình cơ sở theo Nghị định số 07/1998/NĐ-CP ban hành quy chế dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước. Chọn 5 doanh nghiệp nhà nước ở thị xã và 3 doanh nghiệp ở Bảo Thắng, Văn Bàn, mỗi doanh nghiệp điều tra 20 phiếu. Ý nghĩa khoa học, hiệu quả của đề tài, thông qua thực hiện đề tài, tiếp tục nâng cao nhận thức việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, của cán bộ đảng viên và nhân dân về phát huy dân chủ. Làm chuyển biến một bước nhận thức về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Thông qua đó tạo thêm động lực mới để thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của địa phương, của các cấp, các ngành. Những nơi quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện còn yếu, cấp uỷ các cấp cần phải quan tâm lãnh đạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy lùi tiêu cực, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Đồng thời giúp cho cấp uỷ các cấp vận dụng các bài học kinh nghiệm, biện pháp được rút ra qua kết quả thực hiện đề tài này vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ở đơn vị, địa phương mình, góp phần vào việc đẩy mạnh các mặt hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị. Nội dung, bố cục của đề tài: Phần mở đầu của đề tài giới thiệu một cách khái quát tầm quan trọng, ý nghĩa của dân chủ; các chỉ thị, nghị quyết, nghị định, thông tư của Trung ương về việc triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở. Đồng thời giới thiệu mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài Phần nội dung chính của đề tài gồm 4 chuyên đề sau: - Chuyên đề I: Thực trạng và giải pháp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã (ph­êng, thÞ trÊn) tØnh Lµo Cai theo Nghị định số 29-CP trước đây (nay được thay thế bằng Nghị định số 79-CP ngày 7-7-2003). - Chuyên đề II: KÕt qu¶ và giải pháp thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong ho¹t ®éng ë c¬ quan theo Nghị định số 71-CP ngày 8-9-1998. - Chuyên đề III: T×nh h×nh vµ nh÷ng vÊn ®Ò ®Æt ra thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong ho¹t ®éng cña doanh nghiÖp nhµ n­íc theo Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 03-02-1999. - Chuyên đề IV: Kết luận chung về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cña ba lo¹i h×nh, một số vấn đề về lý luận và thực tiễn. Đánh giá chung việc thực hiện quy chế dân chủ c¬ së ở Lào Cai qua 5 năm qua. Một số giải pháp và kiến nghị tiếp tục thực hiện quy chế dân chủ ở Lào Cai đến năm 2010. - Phụ lục: - Một số mô hình tiêu biểu của 3 loại hình - Biểu mẫu thống kê

doc57 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/02/2013 | Lượt xem: 1840 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 1998- 2003 và những giải pháp thực hiện quy chế dân chủ ở ba loại hình giai đoạn 2004 - 2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ội CNVC công ty và được giám đốc công ty, chủ tịch công đoàn ký tại đại hội CNVC, hàng năm có rà soát, sửa đổi, bổ xung. 1.4. Thực hiện quyền đối thoại, lãnh đạo doanh nghiệp và các xí nghiệp thành viên phải chú trọng phát huy quyền dân chủ của công nhân lao động, thường xuyên tiếp xúc, tôn trọng, lắng nghe, đối thoại trực tiếp trên nguyên tắc bình đẳng và xây dựng trên tất cả các lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh, các chế độ chính sách liên quan đến đời sống cán bộ CNVC -LĐ. §ång thêi các doanh nghiệp phải chỉ đạo các đơn vị đặt hòm thu góp ý, phải giải quyết dứt điểm, kịp thời, thỏa đáng các đơn thư, khiếu nại tố cáo của người lao động, những kết luận phải được thông báo rộng rãi, công khai cho cán bộ, công nhân, người lao động. 1.5. T¨ng c­êng hoạt động của Ban thanh tra nhân dânvà công đoàn ban thanh tra nhân dân do §¹i héi CNVC bÇu ra. Ban này xây dựng nội dung, chương trình hoạt động, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, tập trung kiểm tra việc ký thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động, thực hiện chế độ chính sách, việc làm, kiểm tra việc thực hiện, chấp hành các quy định, quy chế, định mức kỹ thuật, kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Phát huy quyền dân chủ, thực hiện quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn. Lãnh đạo doanh nghiệp thường xuyên phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ. Đơn vị giành quỹ lương thanh toán phụ cấp kiêm nhiệm cho cán bộ công đoàn và các đoàn thể khác. Công đoàn thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của CNVC-LĐ, xây dựng doanh nghiệp và tổ chức công đoàn vững mạnh. 1.6. Thực hiện công khai tài chính, các đơn vị thực hiện nghiêm túc quy định Nhà nước về quản lý tài chính trong doanh nghiệp, thường xuyên báo cáo công khai tài chính tại đại hội CNVC hàng năm. Mọi chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, tiền lương, thu nhập các quỹ phúc lợi được CNVC-LĐ thảo luận và quyết định. 2. Một số giải pháp 2.1. Tiếp tục triển khai tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp một cách sâu rộng, đảm bảo 100% các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện quy chế thực hiện dân chủ. Các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục rà soát, bổ sung nội dung, hoàn chỉnh các quy chế dân chủ sau khi thảo luận lấy ý kiến của cán bộ công nhân viên chức lao động trong đơn vị, đảm bảo cho quy chế thực hiện thiết thực với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực sự làm đòn bẩy thúc đẩy phong trào phát huy dân chủ của đơn vị. 2.2. Tăng cường bồi dưỡng học tập thường xuyên, nâng cao trình độ nhận thức, văn hoá và nghiệp vụ tay nghề cho cán bộ công nhân viên chức lao động để mọi người tự nguyện phát huy dân chủ, tham gia quản lý và xây dựng đơn vị vững mạnh, có hiệu quả kinh tế, xã hội cao. Tiếp tục phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí ở cả Trung ương và địa phương để tuyên truyền về thực hiện quy chế dân chủ. Cần xây dựng chuyên mục hỏi đáp về thực hiện dân chủ giúp cho người lao động có thể tìm hiểu, trao đổi. Các cơ quan văn hóa cũng phải vào cuộc để xây dựng chương trình, những tiểu phẩm về chủ đề thực hiện dân chủ, để cho quy chế thực hiện dân chủ thực sự và là món ăn tinh thần, đi vào cuộc sống, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện. 2.3. Đổi mới phong cách lãnh đạo, phối hợp chặt chẽ hoạt động của cấp uỷ, đảng, công đoàn, đoàn thể và chính quyền, làm rõ trách nhiệm của từng đoàn thể trong việc tổ chức, triển khai thực hiện quy chế dân chủ. Việc thực hiện quy chế dân chủ phải gắn chặt với cuộc vận động chỉnh đốn đảng trong các doanh nghiệp, cũng như kết hợp chặt chẽ việc thực hiện quy chế dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong các cơ quan hành chính. Cần đưa việc thực hiện quy chế dân chủ vào nội dung thi đua của đơn vị, đánh giá phẩm chất của người lãnh đạo. 2.4. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, tiến hành công tác sơ kết, tổng kết và thực hiện tốt chế độ báo cáo định kỳ việc thực hiện quy chế dân chủ ở trong doanh nghiệp. Đồng thời tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm giữa cơ quan các địa phương nhằm đúc rút kinh nghiệm, hạn chế những tồn tại, phát huy những ưu điểm và nhân rộng những điển hình của các doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện tốt công tác dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước. Để động viên kịp thời trong thời gian tới cần có những hình thức khen thưởng thoả đáng cho những cá nhân, đơn vị thực hiện tốt quy chế dân chủ. 2.5. Tiếp tục nâng cao hiệu quả, đề cao trách nhiệm BCĐ thực hiện QCDC, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời uốn nắn những sai lệch trong quá trình tổ chức thực hiện. Biểu dương khen thưởng kịp thời những đơn vị và cá nhân làm tốt. Chấn chỉnh và xử lý nghiêm những cơ sở, những cán bộ có tư tưởng né tránh, chần trừ việc thực hiện QCDC ở cơ sở. Giải quyết đúng, đủ, kịp thời những đơn thư khiếu nại tố cáo của CNVC-LĐ là cơ sở tạo lòng tin của CNVC-LĐ đối với Đảng Nhà nước và các tổ chức công đoàn. Chuyªn ®Ò IV KÕt luËn chung vÒ thùc hiÖn QCDC ë c¬ së cña 3 lo¹i h×nh I- THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. 1. Vấn đề dân chủ cơ sở là một khâu trong công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. 1.1. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm mục đích phát triển cộng đồng, lấy dân làm gốc là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người dân bằng những quy định cụ thể, làm cho người dân có ý thức, có khả năng, có trách nhiệm tham gia trực tiếp vào các công việc phát triển chung của cộng đồng, khắc phục lối sống “đèn ai người nấy rạng” của cá nhân, vị kỷ trước đây. Đồng thời nâng cao nhận thức về nghĩa vụ của công dân, không nhận thức được điều đó, con người trở nên thụ động, lệ thuộc với những phạm vi cá nhân nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường… Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, dân chủ cũng cần phải có chuyên chính, để giữ gìn lấy dân chủ thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Lúc sinh thời, Bác Hồ đã nói: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng nhân dân. Nhân dân sống ở các cộng đồng cụ thể, họ tự làm chủ thì mọi việc giải quyết đến nơi, đến chốn. Ngược lại nhân dân không thông, không thấy đó là công việc của chính mình thì mọi việc không thể giải quyết được và dễ nảy sinh tâm lý "cha chung không ai khóc" làm cho xã hội ngừng đọng hoặc tạo ra một xã hội vô chính phủ. Cho nên thực hiện dân chủ ở cơ sở góp phần khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống trong cộng đồng. Thực hiện dân chủ ở cơ sở còn nhằm giữ vững kỷ cương, phép nước, ngăn chặn tiêu cực các tệ nạn xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền các cấp. Khi cộng đồng xã hội được vận hành theo sự kết hợp hài hoà giữa quyền làm chủ của nhân dân với kỷ cương pháp luật hoàn toàn thì các cấp chính quyền sẽ phát huy tốt vai trò quản lý của mình, làm cho mối quan hệ giữa dân với Đảng và chính quyền chặt chẽ, gắn bó máu thịt hơn. Nhân dân là chủ thể của xã hội, là chủ thể của lịch sử, mọi giá trị vật chất, tinh thần trong xã hội đều do nhân dân sáng tạo ra. Đảng, chính quyền là người đại diện quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức nhân dân thực hiện các mục tiêu cao đẹp. Nhân dân có niềm tin sắt đá vào Đảng và chính quyền thì nhân dân mới vững tin, mới một lòng, một dạ thực hiện sáng tạo sự lãnh đạo của Đảng vào quản lý chính quyền. Đảng trong sạch, vững mạnh hết lòng phục vụ nhân dân càng thắt chặt mối quan hệ giữa dân với Đảng và chính quyền. 1.2. Dân chủ XHCN là mục tiêu của công cuộc xây dựng CNXH. Nhằm xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cao gấp triệu lần dân chủ tư sản như VI Lênin đã từng nói. Đó là nền dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội không những có một nền dân chủ kinh tế phát triển cao, mà còn là xây dựng một nền chính trị dân chủ cao, một nền văn hoá phong phú; để các thành viên trong xã hội không những có mức sống vật chất dồi dào mà còn có đời sống chính trị tự do và lối sống văn hoá cao đẹp. Nền dân chủ XHCN ở nước ta đã được khẳng định trong đường lối của Đảng, Hiến pháp pháp luật của Nhà nước. Quyền làm chủ của công dân được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Hệ thống chính quyền ở nước ta gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện, (thị, quận), xã (phường, thị trấn) đều vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong qúa trình thực hiện dân chủ ở tất cả các cấp đều quan trọng, nhưng dân chủ ở cơ sở là khâu trực tiếp quyết định kết quả cuối cùng là cấp cơ sở, là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, là khâu quan trọng nhất trong đời sống xã hội. Khi chúng ta nói đưa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, có nghĩa là những đường lối, chủ trương chính sách đó được thực hiện có hiệu quả ở cấp cơ sở. Hầu hết các lợi ích của công dân hiện nay đều được thực hiện ở cấp xã, phường, cơ quan, xí nghiệp là đơn vị trực tiếp của người lao động. 1.3. Sau khi Chỉ thị số 30-CT/TW Bộ Chính trị khoá VIII về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được ban hành. Chính phủ đã lần lượt ban hành 3 Nghị định về Quy chế thực hiện dân chủ ở ba loại hình cơ sở. Đây là những văn bản dưới luật có tính chất pháp lý buộc mọi người với tư cách là công dân, mọi tổ chức với tư cách là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị phải nghiêm chỉnh thực hiện. Các quy chế đó đã cụ thể hoá Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, chủ yếu là bốn vấn đề dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đã được Đại hội VI của Đảng đề ra từ năm 1986. Lần đầu tiên, bốn vấn đề này được xác định cụ thể đối với người dân ở cơ sở, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người dân ở cơ sở vừa hiểu được quyền của mình một cách cụ thể, mà không dừng lại ở khái niệm dân chủ nói chung; đồng thời hiểu được nghĩa vụ của mình trong việc xây dựng cộng đồng dân cư ở xã, (phường, thị trấn), xây dựng những tập thể lao động mới ở cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước. Hiểu để làm những gì mình có nghĩa vụ phải làm và để hưởng những gì mình có quyền được hưởng như Hồ Chí Minh đã từng nói. Đồng thời làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị thấy rõ trách nhiệm của mình, cần phải làm gì để thực hiện trách nhiệm đó đối với người dân ở cơ sở, để xây dựng củng cố chế độ dân chủ ở cơ sở ngày càng vững chắc. Thông qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được thể chế hoá về mặt nhà nước được tiến hành một cách khẩn trương qua hai khâu, cụ thể hoá và pháp lý hoá bằng các văn bản pháp quy buộc mọi người, mọi tổ chức trong hệ thống chính trị phải chấp nhận. Người dân được bàn đến những vấn đề cụ thể và thiết thực, gắn liền với đời sống, làm ăn hàng ngày, với lợi ích, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người, mỗi hộ gia đình. Đó là những vấn đề như đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, điện. đường, trường, trạm, việc thu chi ngân sách, việc đóng góp của dân, việc vay vốn để phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề tiêu cực, khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện chính sách xã hội , việc góp ý, phê bình cán bộ đảng viên, hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.... Nói chung đó là những vấn đề mà người dân ở cơ sở được biết, được bàn, được quyết, được tham gia ý kiến, được làm, được hưởng, được giám sát, kiểm tra. Các nội dung trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu việc xác định chủ trương đúng bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định, thì việc thể chế hoá kịp thời về mặt nhà nước và việc chỉ đạo chặt chẽ của các cấp, các ngành lại có ý nghĩa rất quan trọng, để biến chủ trương của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, nhằm thu hút được những kết quả mong muốn. Sự gặp gỡ giữa chủ trương của Đảng và Nhà nước với những yêu cầu bức xúc của nhân dân, đã tạo nên những chuyển biến rất quan trọng trong đời sống dân chủ ở cơ sở. Thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, với những kinh nghiệm trên sẽ giúp ích rất nhiều cho việc xác định và chỉ đạo thực hiện những chủ trương khác của Đảng. 2. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thực sự là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. 2.1. Nhìn một cách tổng quát có thể thấy xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã sớm đi vào cuộc sống, được nhân dân cơ sở hưởng ứng nhiệt tình và tích cực thực hiện; là vì chủ trương này đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân, nên được nhân dân nhiệt tình đón nhận. Việc chỉ đạo của các cấp, các ngành trước hết là các cấp uỷ Đảng được tiến hành chặt chẽ ngay từ đầu. Trong quá trình triển khai có kiểm tra, đôn đốc, hàng năm có tổng kết, rút kinh nghiệm để bổ sung cả về nội dung và cả về cách tiến hành. 2.2. Để Chỉ thị 30-CT/TW và các nghị định của Chính phủ đi vào cuộc sống, các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và các đoàn thể nhân dân từ các bộ, ngành ở Trung ương đến địa phương và cơ sở đều tổ chức nghiên cứu, quán triệt một cách sâu sắc. Việc tuyên truyền phổ biến quy chế dân chủ ở cơ sở đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sôi động trong các tầng lớp nhân dân ở cơ sở nhất là ở địa bàn nông thôn. Ban chỉ đạo các cấp đã giúp cơ sở xây dựng các hương ước, quy ước, quy chế nhằm cụ thể hoá những quy định trong các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở mà Chính phủ đã ban hành. Trường chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, đã đưa nội dung quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở vào chương trình giảng dạy để bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở. Các cấp cán bộ lãnh đạo địa phương đã chỉ đạo lồng ghép các nội dung thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc thực hiện các chủ trương khác của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là việc thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng Đảng, chống các tệ nạn xã hội. 2.3. Quá trình triển khai thấy rằng quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào tầng lớp nhân dân ở xã, phường nhanh hơn ở các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các cơ quan. Có một lượng khá đông các cán bộ nghỉ hưu hoặc bộ đội xuất ngũ về sinh hoạt ở xã phường là lực lượng góp phần tích cực vào việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Ở cơ sở xã, phường, người dân hăng hái với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đòi hỏi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở vì Quy chế dân chủ đem lại cho họ nhiều cái lợi cụ thể, thiết thực, nếu có mất, chỉ mất đi những cái chuyên quyền, độc đoán, bất công, vi phạm dân chủ đã thường xảy ra trước kia. Ở các doanh nghiệp nhà nước hay cơ quan lại có nhiều chuyện mà mỗi người phải suy tính: đó là chuyện lương tiền, ngạch bậc hay hợp đồng lao động, đó là chuyện chức vụ cao hay thấp, đề bạt hay không đề bạt; đó còn là chuyện ở doanh nghiệp nhà nước còn có chế độ Giám đốc, cơ quan còn có chế độ thủ trưởng quyết định và những chế độ khác ràng buộc. Vì vậy những thành viên trong các tập thể lao động đó không thể đòi hỏi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở như ở xã phường. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở doanh nghiệp nhà nước và cơ quan cũng như ở các loại hình cơ sở khác có nhiều vấn đề phải thông qua thực tiễn mới dần dần làm sáng tỏ được. 2.4. Trong qúa trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Ban chỉ đạo Trung ương đã tiến hành tổ chức kiểm tra, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra 2 đợt. Thông qua công tác kiểm tra đã phát hiện được những bất cập của quy chế dân chủ ở cơ sở. Từ đó Ban Bí thư Trung ương (khoá IX) đã ra Chỉ thị số 10/CP/TW ngày 28-3-2002 tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tiếp đó ngày 7-7-2003 Chính phủ lại ra Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, (phường, thị trấn). Trong bản quy chế mới có một số điểm bổ sung nhằm hoàn chỉnh thêm một bước bản quy chế tại Nghị định số 29/NĐ-CP năm 1998. Vừa qua, Ban chỉ đạo Trung ương đã có hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW và tiến hành tổng kết 5 năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, rút ra những kết luận cần thiết để báo cáo Trung ương có hướng bổ sung mới cho phù hợp. Từ những việc đã làm trong 5 năm qua có thể thấy việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng đã được các cấp, các ngành từ trên xuống dưới chỉ đạo thực hiện khá chặt chẽ. bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã thực sự trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy công cuộc đổi mới ở cơ sở. Trong xã hội, nếu động lực là cái có thể làm cho những bộ phận khác có liên quan với nó chuyển động và tạo ra sự phát triển, thì dân chủ đã thực hiện được vai trò đó. Cũng có thể coi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là một động lực chủ yếu như chúng ta đã thấy, chính động lực này đã và đang thúc đẩy các động lực khác như văn hoá, con người, kết hợp các lợi ích... vận động mạnh hơn để cùng tạo ra những chuyển biến ngày càng to lớn hơn ở cơ sở. 3. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở - một trong những động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới cơ sở ở Lào Cai. 3.1. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đã có nhiều chuyển biến quan trọng, ý thức dân chủ được nâng cao rõ rệt. Đối với người dân thì đó là ý thức về quyền làm chủ của mình; đối với cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở thì đó là ý thức tôn trọng quyền làm chủ của dân theo những điều quy định rất cụ thể trong Quy chế dân chủ ở cơ sở. Trước kia đã kéo dài tình trạng người dân ở cơ sở được cấp uỷ Đảng cho biết gì thì biết nấy, coi như được nhận một sự ban phát. Đối với nhiều vấn đề ở cơ sở, người dân hoặc không được tham gia bàn bạc, hoặc có bàn bạc biểu quyết thì nói chung vẫn mang nặng tính hình thức. Việc giám sát, kiểm tra của người dân đối với các công việc ở cơ sở, cũng như đối với các cán bộ đảng viên và chính quyền tuy đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng, cũng như trong các văn bản pháp quy của Nhà nước, nhưng nói chung chưa được thực hiện. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhiều nơi đã làm thay đổi cơ bản về nhận thức. Người dân ở cơ sở đã từ chủ thể bị động đang chuyển thành những chủ thể chủ động trong các lĩnh vực của đời sống ở cơ sở. Họ thảo luận bàn bạc sôi nổi hơn và có những ý kiến đề xuất, chất vấn, phê bình mạnh mẽ, thẳng thắn hơn. tư cách công dân ngày càng được khẳng định trong cuộc sống hàng ngày. Việc xây dựng các hương ước, quy chế, quy ước ở làng, xã, phường, thị trấn do nhân dân ở cơ sở bàn bạc và trực tiếp quyết định là những dẫn chứng rõ rệt về điều này. ĐaĐĐa số các địa phương đã kết hợp Quy chế dân chủ ở cơ sở do Chính phủ ban hành với những truyền thống tốt đẹp của nhân dân để xây dựng và ban hành hương ước, quy chế. Đối với cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là của tổ chức Đảng và Chính quyền đã có nhiều chuyển biến trong quan hệ với dân. Trách nhiệm được đề cao hơn, thái độ hống hách, cửa quyền, gây phiền hà cho dân giảm bớt. Trên 90% trưởng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố đã được nhân dân bầu trực tiếp. 3.2. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển các mặt về kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương. Người dân không chỉ quan tâm đến việc làm ăn sinh sống của bản thân và gia đình mình; mà còn quan tâm ngày càng nhiều hơn đến việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội của cơ sở, đến việc xây dựng cộng đồng dân cư lành mạnh và ngày càng tiến bộ. Đối với người dân ở nông thôn, đó là việc tích cực tham gia xây dựng phương hướng sản xuất, giải quyết các vướng mắc để thực hiện, quy hoạch lại đồng ruộng, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đó là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, giải quyết đầu vào và đầu ra cho nông nghiệp, phát triển ngành nghề để tạo thêm việc làm cho người lao động….. Đối với người dân ở các phường, thị trấn, đó là việc tham gia xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, giải phóng mặt bằng, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước... Ở nhiều địa phương nông thôn, đã thực hiện được mục tiêu xoá được hộ đói, giảm được hộ nghèo, tăng thêm số hộ khá giả, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Các tầng lớp nhân dân ở cơ sở đã tự nguyện đóng góp sức người, sức của xây dựng nhiều công trình mới theo tinh thần "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Đó là những công trình thiết yếu đối với sản xuất và đời sống của mọi người như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, cầu cống, kênh mương... Cũng có những công trình được xây dựng hoàn toàn dựa vào sự đóng góp của nhân dân. Các khoản đóng góp nhân dân đều tự giác, nếu trước kia không ít những khoản đóng góp của người dân ở cơ sở còn do mệnh lệnh ép buộc của chính quyền, thì từ khi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, mọi sự đóng góp đều do người dân bàn bạc và trực tiếp quyết định. Trong 5 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã đóng hàng chục tỷ đồng để xây dựng các công trình phục vụ sản xuất và đời sống cơ sở. 3.3. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã kết hợp với việc đẩy mạnh các cuộc vận động lớn có tính quần chúng rộng rãi do các ngành, các đoàn thể phát động. Cuộc vận động xây dựng "gia đình văn hoá", "làmg xã văn hoá" đã trở thành phong trào xây dựng thôn, ấp, bản làng văn hoá, xã, phường, thị trấn văn hoá. Thành phố Lào Cai và Bắc Hà, phong trào được mở rộng, tỷ lệ gia đình thôn, khu phố, phường văn hoá đạt tỷ lệ cao. Bát Xát đến nay đã có 55% số gia đình, 42,2% số thôn, bản đạt chuẩn văn hoá. Sa Pa có 50 cơ quan, trường học được công nhận là cơ sở văn hoá. Đây chỉ là một số điểm chứng tỏ cuộc vận động này đang đi vào cuộc sống. Đối với các cuộc vận động "Xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương", tôn tạo, tu sửa các di tích lịch sử, văn hoá, hoà giải các xích mích trong khu dân cư, đẩy lùi các tệ nạn xã hội... đã tạo nên những chuyển biến rất quan trọng. Điển hình huyện Bát Xát trong 5 năm qua, nhân dân ở đây đã đóng góp được hàng tỷ đồng thêm vào nguồn đầu tư của Nhà nước, xây dựng nhiều công trình mới, trong đó có 15 căn nhà tình thương, 30 căn nhà tình nghĩa (trị giá mỗi căn nhà từ 10 đến 15 triệu đồng). Từ đó nhìn ra cả tỉnh, chúng ta có thể thấy sự đóng góp của nhân dân là rất to lớn về công sức, tiền của, nhưng to lớn hơn chính là tình nghĩa con người với con người. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đòi hỏi chính quyền cơ sở phải đổi mới rất nhiều về phương thức quản lý, điều hành. Đã cải cách một bước về thủ tục hành chính giảm bớt phiền hà cho dân, giải quyết công việc nhanh hơn, thái độ hạch sách, cửa quyền giảm nhiều. Trách nhiệm của cán bộ các cơ quan dân cử, công quyền được nâng cao. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể dựa theo Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có nhiều việc làm cụ thể, hoạt động bớt chung chung. Trách nhiệm làm cầu nối giữa Đảng, chính quyền với dân, được thể hiện rõ rệt, một mặt nâng cao ý thức công dân của mọi người. Mặt khác giúp cho Đảng, chính quyền hiểu rõ được các mặt của đời sống nhân dân, từ dân tâm, dân tình đến dân sinh, dân ý, đóng góp vào việc nâng cao ý thức công bộc của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở. II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở LÀO CAI 5 NĂM (1998 - 2004). 1. Khái quát kết quả đạt được 1.1. Qua 5 năm tiến hành thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18-02-1998 của Bộ Chính trị và các nghị định của Chính phủ về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thuộc 3 loại hình. Tỉnh Lào Cai đã thành lập BCĐ thực hiện QCDC ở cơ sở từ tỉnh đến huyện; thường xuyên kiện toàn. Đến nay đã có hơn 90% xã, phường, thị trấn, hơn 80% số cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước đã xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tuy mức độ có khác nhau nhưng đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Làm chuyển biến một bước về ý thức và phong cách làm việc của cán bộ Đảng, Chính quyền, đoàn thể theo hướng gần dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân hơn. Có tác động tích cực tới việc xây dựng hệ thống chính trị, phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; chất lượng của cấp ủy Đảng, Chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội được nâng lên, xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở thôn, bản, tổ dân phố. 1.2. Bầu không khí trong xã hội cởi mở, nhân dân đã mạnh dạn thẳng thắn, chân thành phê bình cán bộ, đảng viên, góp ý kiến xây dựng tổ chức Đảng loại được một số cán bộ, đảng viên kém phẩm chất, năng lực thoái hóa biến chất, uy tín của Đảng được nâng lên. Thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào chế độ, từ đó tạo động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, các ngành. Nổi bật nhất là trên lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng ở xã, phường, thị trấn, xây dựng nếp sống văn hóa ở nông thôn và đô thị. 1.3. Hầu hết các cấp uỷ đã xây dựng được quy chế làm việc, trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và cá nhân.Nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất phát huy sức mạnh tập thể. Nhiều địa phương đã loại bỏ được những quy định không phù hợp, cản trở quyền làm chủ của nhân dân. Công khai hoá các văn bản thủ tục hành chính, các loại phí, lệ phí, tăng cường cán bộ xuống cơ sở để trực tiếp nghe ý kiến nhân dân, đối thoại, tháo gỡ những khó khăn thắc mắc. 1.4. Thông qua việc thực hiện QCDC ở cơ sở mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng gắn bó thông cảm hơn, Đảng và nhân dân gần nhau hơn, phương châm Nghe được dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin bước đầu có hiệu quả. Thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức Đảng và đảng viên cũng như công dân. Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội các cấp tăng lên cả về số và chất lượng hoạt động. Nội dung hoạt động cụ thể, thiết thực chăm lo đáp ứng nguyện vọng chính đáng của hội viên, đoàn viên. Tổ chức được nhiều phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Từ kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở ở Lào Cai chúng ta cần nhận thức sâu sắc dân chủ là một nhu cầu lớn của nhân dân, một động lực to lớn của cách mạng đã tỏ rõ sức sống của nó và cũng là thể hiện trình độ dân trí, trình độ phát triển của xã hội. Ở những nơi chỉ đạo tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở đã tạo được động lực mới làm chuyển biến tình hình, giải quyết được nhiều khó khăn. Bầu không khí dân chủ được cởi mở hơn, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào Đảng. Từ đó đã tạo ra động lực mới thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Bảo đảm cho người dân có điều kiện tham gia trực tiếp xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân. 2. Một số mặt hạn chế trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở Lào Cai. 2.1. Bên cạnh những kết quả đạt được bước đầu nêu trên, quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Lào Cai hơn 5 năm qua còn bộc lộ một số mặt hạn chế cần tập trung khắc phục. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn chưa vững chắc, chưa rộng khắp, chưa đều giữa các địa phương, khu vực; chưa thường xuyên liên tục. Dân chủ hình thức còn nhiều, dân chủ công khai về tài chính chưa được triển khai rộng, dân chủ trong cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước chưa được phát huy mạnh mẽ. Còn nhiều loại hình dân chủ ở cơ sở chưa được hướng dẫn xây dựng thực hiện. Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, cũng như tình trạng lợi dụng dân chủ, vi phạm pháp luật, kỷ cương còn xảy ra ở nhiều nơi. 2.2. Một số cấp uỷ, cán bộ, đảng viên còn xem nhẹ, chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược lâu dài của Quy chế dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực tạo ra thắng lợi cuộc cách mạng trong công cuộc đổi mới. Một số địa phương trong chỉ đạo triển khai còn làm lướt, chiếu lệ, dân chủ hình thức, hoặc có nơi sợ triển khai đầy đủ dân sẽ biết dẫn đến mất ổn định nên triển khai qua loa các nội dung. Ngược lại có nơi một số cán bộ, đảng viên lại cho rằng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là việc của cán bộ chủ chốt nên bản thân tỏ ra thờ ơ, bàn quang thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chủ trương quan trọng này. Một số nơi khác chỉ nhấn mạnh một chiều về quyền lợi, về dân chủ mà coi nhẹ nghĩa vụ trách nhiệm kỷ cương phép nước của công dân. Cũng có người lợi dụng dân chủ xem thường pháp luật, khiếu kiện, tố cáo sai sự thật, kích động nhân dân gây ra chia rẽ mất đoàn kết ở một số địa phương. 2.3. Trong những việc công khai để dân biết theo Nghị định 29/CP qua kiểm tra cho thấy đa số các cơ sở thực hiện được 8-10 việc/14 việc cần thông báo. Còn từ 4-6 việc dân chưa được biết hoặc biết không rõ, đó là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội dài hạn và hàng năm của địa phương, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân xã và cấp trên liên quan đến địa phương, dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm. Những việc nhân dân được bàn bạc tham gia đã được cấp uỷ, chính quyền cơ sở tạo điều kiện để nhân dân các thôn, bản, cụm dân cư tự bàn bạc thống nhất quyết định, phù hợp với pháp luật nhà nước, như việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các công trình tại địa phương, xây dựng quy ước, hương ước, các mức đóng góp để nhân dân xây dựng các loại quỹ. 2.4. Đa số các xã, phường đã thực hiện được 4/6 việc dân bàn và quyết định trực tiếp, còn 2 việc chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ. Đó là chưa thành lập Ban giám sát công trình do dân đóng góp, chưa tổ chức bảo vệ sản xuất kinh doanh. Những việc nhân dân giám sát kiểm tra đến nay đã có 100% xã, phường thị trấn đã thành lập Ban thanh tra nhân dân theo đúng quy định, bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả. Song đa số các cơ sở mới thực hiện được 8/10 việc nhân dân giám sát, kiểm tra, còn 2 việc thực hiện chưa đầy đủ đó là dự toán và quyết toán ngân sách xã, kết quả thanh tra, kiểm tra giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ xã. Đối với cơ quan còn nhiều ý kiến cho rằng Ban thanh tra nhân dan bầu ra để lấy lệ, chưa phát huyđược tác dụng của nó. Ở các doanh nghiệp Nhà nước vai trò giám sát trực tiếp của người lao động còn hạn chế, nhất là Ban thanh tra nhân dân chưa phát huy được tác dụng. 3. Nguyên nhân của những thiếu sót tồn tại. 3.1. Mọi thiếu sót tồn tại đều có nguyên nhân khách quan và chủ quan, để khắc phục thiếu sót trên chúng ta cần đi sâu kiểm điểm nguyên nhân chủ quan. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Chính quyền ở địa phương và các ngành, nhất là của những người đứng đầu chưa quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo trong Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị. Chưa gắn quy chế dân chủ với thực hiện chức năng, nhiệm vụ thường xuyên của địa phương, đơn vị. 3.2. Việc cụ thể hóa Chỉ thị 30-CT/TW trên một số mặt còn chậm và thiếu đồng bộ. Công tác kiểm tra ở địa phương chưa thường xuyên, công tác tuyên truyền giáo dục về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan đơn vị, địa phương, trong nhân dân chưa thường xuyên, liên tục. 3.3. Một bộ phận cán bộ cơ sở thiếu gương mẫu, còn vướng mắc một số thiếu sót khuyết điểm, trình độ năng lực hạn chế, mất lòng tin của nhân dân. Những nơi không thực hiện tốt quy chế dân chủ thường là những nơi có cán bộ mắc nhiều khuyết điểm, hệ thống chính trị cơ sở chưa được quan tâm củng cố. 3.4. Sự phân công trách nhiệm giữa các bộ phận của hệ thống chính trị các cấp chưa cụ thể, sự phối hợp chưa đồng bộ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thực hiện QCDC ở cơ sở. Ban chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp sau bầu cử HĐND và Đại hội Đảng các cấp có nhiều thay đổi song chậm được củng cố, kiện toàn. 4. Một số kinh nghiệm bước đầu rút ra. 4.1. Không ngừng nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp phải có nhận thức đúng đắn phải thực sự quan tâm tập trung chỉ đạo. Phải thường xuyên kiểm tra và bám sát cơ sở, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình triển khai quy chế. Việc quán triệt Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và quy chế dân chủ trước hết phải làm thông suốt từ trong cán bộ, đảng viên nhất là đối với cán bộ đảng viên giữ cương vị chủ chốt ở cơ sở tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động. 4.2. Cần tạo nên sự hòa hợp, đồng bộ từ 2 phía giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong đó phía cán bộ, đảng viên đóng vai trò quyết định vì là người đưa quy chế dân chủ đến với nhân dân, đồng thời tổ chức nhân dân thực hiện quy chế. Nếu như cán bộ, đảng viên không tự giác thực hiện, không coi trọng quy chế thì quy chế không thể triển khai có hiệu quả. Quy chế triển khai hình thức, qua loa, sẽ càng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền ở cơ sở. Hiện nay nhận thức của dân mới chỉ dừng ở mức độ biết có quy chế, do đó phải đặc biệt chú trọng công tác phổ biến, tuyên truyền và tổ chức nhân dân học tập quy chế, tìm mọi cách đưa quy chế đến tầng lớp nhân dân làm cho dân hiểu, nắm vững và làm theo quy chế. 4.3. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phải đảm bảo quan điểm thống nhất giữa dân chủ và đảm bảo kỷ cương pháp luật. Đó là 2 mặt thống nhất không thể tách rời không chỉ nhấn mạnh mặt này, nhẹ mặt kia. Kỷ cương pháp luật chỉ là những điều kiện nhằm bảo đảm phát huy mạnh mẽ dân chủ của nhân dân là cái khóa bảo vệ “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Dân chủ phải luôn đi liền với kỷ cương, quyền hạn đi đôi với trách nhiệm. Hiện nay chúng ta đang đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ, song cũng đang có tình trạng ở một số nơi thiếu kỷ cương, kỷ luật. Một số người cũng đang lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật, xâm phạm dân chủ của nhân dân. Do vậy cùng với quá trình thực hiện và phát huy dân chủ cần tăng cường giữ vững kỷ cương, pháp luật. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân nhận thức đúng cả hai mặt này. Đồng thời thường xuyên chăm lo đời sống nhân dân giải quyết rứt điểm các vụ việc tồn đọng các đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Kịp thời uốn nắm các biểu hiện lệch lạc tuyên truyền giải thích để nhân dân thấy rõ quyền lợi và trách nhiệm thực hiện dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, chấp hành luật pháp nhà nước, ngăn ngừa xử lý kịp thời các biểu hiện hình thức cực đoan lợi dụng dân chủ để gây rối. 4.4. Tăng cường phát huy dân chủ trực tiếp, đồng thời nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, mở rộng hơn nữa chế độ dân chủ tự quản. Thực tiễn trong 5 năm qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, hình thức dân chủ trực tiếp đang tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó được nhân dân đồng tình phấn khởi thực hiện. Việc nâng cao chất lượng hình thức dân chủ đại diện thông qua chính quyền của các đoàn thể nhân dân cũng rất quan trọng. HĐND và UBND phải thực sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phải làm tốt chức năng đại diện cho nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tham gia quản lý Nhà nước. Giữa chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở cần có sự phân công trách nhiệm tạo điều kiện cho nhau hoạt động. Một số chương trình kinh tế - xã hội của địa phương có thể giao cho các đòan thể nhân dân đảm nhiệm thì cần phải có cơ chế chính sách cụ thể tạo ra sự phối hợp đồng bộ từ cơ sở. 4.5. Tiếp tục củng cố Ban thanh tra nhân dân và thành lập nhóm cộng đồng dân cư tự quản. Qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và cuộc vận động toàn dân đòan kết xây dựng đời sống văn hóa chúng ta đã xây dựng được Ban thanh tra nhân dân và nhóm tự quản trong dân cư. Chế độ tự quản là chế độ quản lý tiên tiến phát huy tính tích cực sáng tạo của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Đây là hình thức tốt, có hiệu quả cần tiếp tục nghiên cứu, nâng cao chất lượng hình thức này. Các điều kiện vật chất cần thiết cho việc phát huy hình thức dân chủ trực tiếp và chế độ dân chủ tự quản ở cộng đồng dân cư cũng cần được quan tâm hơn nữa. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ Ở 3 LOẠI HÌNH ĐẾN NĂM 2010. 1. Một số việc cần tập trung từ nay đến năm 2010. 1.1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc chỉ thị 30-CT/TW ngày 18-2-1998 của BCT , Chỉ thị số 10-CT/TW, Thông báo số 159 TB/TW, các Nghị định 79,71,07 của Chính phủ về Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đồng thời quán triệt sâu sắc các nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII (2005 - 2010) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Chỉ thị số 18/CT của Chính phủ về tăng cường công tác vận động quần chúng trong tình hình mới. Đặc biệt Thông báo 159 ngày 15/11/2004 của Ban bí thư về kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII) về tiếp tục chỉ đạo xây dựng thực hiện QCDC ở cơ sở. 1.2. Tiếp tục triển khai xây dựng và thực hiện 3 loại hình QCDC đã ban hành (xã, cơ quan và doanh nghiệp Nhà nước): - Đối với xã (phường, thị trấn) công khai và bàn với dân về những chương trình xoá đói giảm nghèo ưu tiên những công trình quan trọng đối với địa phương. Thông báo cho nhân dân biết những mục tiêu, chương trình trọng tâm của địa phương do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII đề ra. Nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị, nhất là việc sử dụng nguồn vốn do dân đóng góp và nghĩa vụ của công dân. - Các cơ quan hành chính sự nghiệp cần thực hiện quy chế phối hợp làm việc giữa cơ quan đảng, chính quyền, các đoàn thể. Công khai các vấn đề như đào tạo, đánh giá bổ nhiệm lại, luân chuyển cán bộ; khen thưởng, kỷ luật và tài chính của cơ quan, dân chủ trong đề bạt bổ nhiệm cán bộ. Thực hiện QCDC cần gắn chặt với cải cách hành chính. - Các doanh nghiệp nhà nước cần tập trung đi sâu chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung của QCDC, nhất là nội dung dân được bàn thảo luận. Tổ chức hội nghị công nhân viên chức và người lao động để thống nhất chương trình kế hoạch của đơn vị công khai việc khoán sản phẩm, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. 1.3. Tập trung đổi mới vấn đề dân chủ ở cơ sở trước hết phải dân chủ về kinh tế, cần hoàn thiện một cơ chế. Người nông dân thực sự làm chủ rộng đất, người lao động thực sự làm chủ nhà máy, phân xưởng, xí nghiệp, công chức thực sự làm chủ công tác ở cơ quan… Từ đó mới thực sự động viên được tinh thần chủ động sáng tạo của quần chúng trong lao động học tập và công tác. Quần chúng ở cơ sở được quyền làm chủ đời sống văn hoá, mặt khác nhà nước phải thông qua các chính sách về giáo dục để nâng cao trình độ về dân trí. Ý thức dân chủ và khả năng sử dụng quyền dân chủ để có thể đạt được trên một trình độ dân trí cần thiết. 1.4. Tất cả những nơi thực hiện QCDC cơ sở đều phải phấn đấu đạt kết quả thiết thực: Nội bộ đoàn kết, các tệ nạn tiêu cực được ngăn chặn đẩy lùi, các nhiệm vụ của đơn vị hoàn thành tốt. 2. Một số giải pháp chủ yếu. 2.1. Tiếp tục tăng cường nhận thức sâu sắc về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng nêu trong Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị (khóa VIII). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục bằng nhiều hình thức, nhằm không ngừng nâng cao nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản trong các Chỉ thị của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, các Nghị định của Chính phủ ở ba loại hình cơ sở xã (phường, thị trấn), cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước. Làm cho cấp uỷ chính quyền các cấp có nhận thức đúng đắn thực sự quan tâm, tập trung chỉ, lãnh đạo, thường xuyên kiểm tra bán sát cơ sở giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn và những vấn đề mới nẩy sinh trong quá trình triển khai thực hiện quy chế. Thực tiễn cho thấy qua 5 năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tỏ rõ sức sống của nó. Ở những nơi như huyện Bắc Hà, Sa Pa, thành phố Lào Cai có nhận thức sâu sắc chỉ đạo tốt quy chế dân chủ đã tạo ra những động lực mới làm chuyển biến tình hình. Cấp uỷ chính quyền và ban chỉ đạo có nhận thức đúng đắn, tập trung lãnh, chỉ đạo chặt chẽ đảm bảo cơ chế Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản và nhân dân làm chủ thì việc triển khai quy chế là hoàn toàn chủ động, theo đúng chương trình kế hoạch giải quyết được nhiều khó khăn thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng. Đồng thời phải tiến hành cả ba mặt dân chủ, dân sinh, dân trí, đồng bộ từ chủ trương của Đảng đến thể chế hoá văn bản của Nhà nước, Đảng bộ giữ vai trò chủ động và thực hiện, đồng bộ cả cơ sở và cấp trên cơ sở trong hệ thống chính trị. Trong quá trình Đảng bộ phải có khâu đột phá trong ba loại hình dân chủ, tỉnh Lào Cai đã chọn thực hiện dân chủ ở nông thôn sự lựa chọn này là đúng đắn nên đã tạo được sự chuyển biến tích cực. 2.2. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đưa công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở vào nền nếp. Gắn chặt việc thực hiện Quy chế dân chủ với chức năng, nhiệm vụ từng tổ chức, từng mặt công tác và trách nhiệm của từng cá nhân nhất là người đứng đầu các chương trình, dự án, kế hoạch kinh tế, xã hội, việc đền bù giải phóng mặt bằng. Các cuộc vận động lớn như xây dựng chỉnh đốn Đảng, cải cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí đều phải gắn với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, coi Quy chế dân chủ là một giải pháp quan trọng để thực hiện. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân lồng ghép các nội dung của Quy chế dân chủ với việc thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hoá. Đồng thời phát huy tốt vai trò chủ động vận động nhân dân thực hiện và giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cũng như việc thực hiện có hiệu quả 7 chương trình trọng tâm toàn khóa và 29 đề án, nghị quyết, kế hoạch chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá XII vừa qua, và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (2005 - 2010) sắp tới. Cùng với việc tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, ở những nơi làm tốt cần tập trung giúp đỡ những địa phương cơ sở làm chậm, làm kém, nhất là môt số cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp. Những xã vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn phức tạp, các cấp cần cụ thể hoá và hướng những điều dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đi vào từng loại hình cơ sở. Đưa một số nội dung cụ thể về quy chế dân chủ ở cơ sở vào việc mở lớp tập huấn cho cán bộ các cấp chú ý đến cán bộ cơ sở từ trưởng thôn bản trở lên. tiếp tục củng cố tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn. 2.3. Thực hiện quy chế dân chủ phải đi đôi đảm bảo kỷ cương pháp luật, quyền hạn đối với trách nhiệm là hai mặt thống nhất, không thể tách rời, không thể coi nặng mặt này nhẹ mặt kia và ngược lại. Dân chủ và kỷ cương là 2 mặt thống nhất biện chứng với nhau, có dân chủ ý thức pháp luật của người dân được nâng lên thì kỷ cương mới vững chắc. Đồng thời kỷ cương pháp luật nghiêm minh mới đảm bảo cho quyền làm chủ của người dân được thực thi. Nó hoàn toàn đối lập với những lợi ích lợi dụng dân chủ để phá vỡ kỷ cương, để sống theo lối tự do, vô chính phủ, bất chấp pháp luật. Đất nước nào, chế độ nào cũng có pháp luật, đương nhiên những người coi thường pháp luật vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo pháp luật và khi ấy họ mất tự do, mất quyền làm chủ của mình. Rõ ràng pháp luật là bảo vệ quyền làm chủ của người dân, khi cộng đồng xã hội được vận hành theo sự kết hợp hài hoà giữa quyền làm chủ của nhân dân với kỷ cương pháp luật hoàn toàn thì các cấp chính quyền sẽ phát huy tốt vai trò quản lý của mình. Thực tiễn hiện nay ở một số nơi đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ song đang có tình hình thiếu kỷ cương, phép nước. Một số người cũng đang lợi dụng dân chủ không thấy hết quyền hạn và trách nhiệm của mình đã dẫn đến vi phạm pháp luật, xâm phạm dân chủ của số đông nhân dân. Do vậy, cùng với quá trình thực hiện và phát huy dân chủ càng tăng cường giữ vững kỷ cương, pháp luật, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân nhận thức đúng cả hai mặt này. Cần có nhiều hình thức, biện pháp có hiệu quả hơn nữa tuyên truyền phổ biến sâu rộng các chính sách pháp luật trong nhân dân. Song phải thấy rằng kỷ cương pháp luật chỉ là những điều kiện nhằm bảo đảm phát huy mạnh mẽ dân chủ của nhân dân, là cái cần,cái khó, bảo vệ dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân như Bác Hồ đã dạy. 2.4. Tăng cường dân chủ trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho nhân dân. Quyền của mọi người dân ở cơ sở là được thông tin về pháp luật, các chủ trương chính sách của nhà nước nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở. Có chế độ và hình thức báo cáo công khai trước nhân dân công việc của chính quyền, cơ quan, đơn vị sản xuất. Phân phối và sử dụng công quỹ, tài sản công, về thu, chi tài chính và các khoản đóng góp của dân quyết toán các công trình xây dựng cơ bản. Cần có những quy định về cách làm của chính quyền xã, (phường, thị trấn) thực hiện cung cấp thông tin về 14 việc chính quyền có trách nhiệm thông tin công khai để dân biết, 5 việc dân quyết định trực tiếp, 9 việc nhân dân bàn tham gia ý kiến. Có quy định cụ thể về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Cần có các quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ của chính quyền, cơ quan đơn vị. Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân cán bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuân khổ pháp luật. Những công việc mang tính xã hội hoá có sự hỗ trợ của chính quyền cơ quan đơn vị như việc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, xây dựng tổ hoà giải, tổ an ninh, phong trào vệ sinh môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo, tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết việc khiếu nại tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, công nhân, công chức. Cơ quan đơn vị có định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức góp ý, xây dựng cho lãnh đạo. 2.5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo sự phối hợp thực hiện của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc đẩy mạnh xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đưa công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở vào nề nếp. Gắn chặt việc thực hiện quy chế dân chủ với thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức, từng mặt công tác và trách nhiệm của từng cá nhân, trước hết là người đứng đầu. Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân cần phát huy tốt vai trò chủ động tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện và giám sát thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện quy chế, đưa xây dựng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thành một tiêu chuẩn để xem xét chi Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, đơn vị tiên tiến xuất sắc. Thực hiện tốt chế độ lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành các chủ trương, chính sách, các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội quan trọng có liên quan rộng đến đời sống nhân dân ở cơ sở và trước khi phân xếp loại chi bộ, đảng viên, tổ chức Đảng cũng như trong công tác cán bộ. Đảng lãnh đạo quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở không chỉ bằng việc ra các chủ trương, nghị quyết mà còn phải bằng công tác kiểm tra uốn nắn thường xuyên, bằng đề cao vai trò của cán bộ, đảng viên gắn cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, việc xét các danh hiệu trong Đảng…. Kinh nghiệm cho thấy phải lập được Ban chỉ đạo đủ mạnh và ổn định, có quy chế và chương trình làm việc hợp lý, có bộ phận giúp việc chuyên trách am hiểu chuyên môn nghiệp vụ thì chất lượng hoạt động sẽ được nâng lên. Đồng thời chăm lo bồi dưỡng đào tạo cán bộ am hiểu luật pháp và nghiệp vụ, gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, biết thông qua QCDC ở cơ sở mà hướng dẫn phát huy quyền làm chủ và tự quản của nhân dân. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy của Đảng, chính quyền những cán bộ đảng viên, công chức thái hóa biến chất, tham nhũng, sách nhiễu dân và kịp thời bổ sung những người có phẩm chất đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay vào bộ máy Nhà nước. Phát huy sức mạnh tổng hợp, triển khai đồng bộ có sự phối hợp chặt chẽ và phân công cụ thể giữa chính quyền Mặt trận các đoàn thể, các hội trong quá trình triển khai Quy chế, thực hiện dân chủ ở xã, cơ quan, doanh nghiệp. Hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể, các hội hướng vào việc tuyên truyền vận động nhân dân tham gia học tập Quy chế, tham gia vào các công trình cụ thể của địa phương. Kiện toàn Ban thanh tra nhân dân, để thực sự đóng vai trò kiểm tra giám sát ngăn chặn từ xa mọi hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của người lao động. Kiện toàn củng cố cộng đồng dân cư thôn, làng, cơ quan doanh nghiệp. 3. Một số kiến nghị. 3.1. Phải đưa việc thực hiện QCDC ở cơ sở thành một nội dung báo cáo kiểm điểm hàng năm của cơ quan, đơn vị và các tổ chức. Đưa việc thực hiện QCDC ở cơ sở thành một tiêu chuẩn để xem xét cán bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, đơn vị tiên tiến xuất sắc. 3.2. Tăng cường sự lãnh đạo của TW và tỉnh, tăng cường công tác kiểm tra chỉ đạo kịp thời của cấp trên. Cần có quy định cụ thể về quyền hạn của ban thanh tra nhân dân để ban này hoạt động có hiệu quả hơn. 3.3. Thực hiện tốt chế độ lấy ý kiến nhân dân trước khi đề ra chủ trương, nhiệm vụ, trước khi phân loại cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng cũng như công tác cán bộ. * * * Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực cách mạng, là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của đời sống xã hội là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm động viên sức mạnh đoàn kết, sáng tạo của cả dân tộc vượt lên khó khăn, thử thách. Phát huy kết quả đạt được 5 năm qua kiên quyết sửa chữa khắc phục những khuyết điểm, hạn chế. Các cấp, các ngành, các địa phương đơn vị trong tỉnh cần thực hiện tốt hơn nữa quy chế dân chủ ở cơ sở, để phát huy sức mạnh của nhân dân các dân tộc Lào Cai. Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng Lào Cai ngày càng giàu mạnh./.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐánh giá thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 1998- 2003 và những giải pháp thực hiện quy chế dân chủ.doc