Đầu tư xóa đói giảm nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn tại tỉnh hà tỉnh, thực trạng và giải pháp

Lời mở đầu Đầu tư xóa đói giảm nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, do đó tìm nguyên nhân và giải pháp để xoá đói, giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách có tính chiến lược lâu dài của mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Đầu tư xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đó là một trong những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội hướng vào phát triển con người nói chung và người nghèo nói riêng, tạo cơ hội hoà nhập vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi đồng bào cả nước phát huy tinh thần thân ái “ lá lành đùm lá rách” “ tương thân tương ái’ để cứu giúp người nghèo đói. Phong trào hũ gạo cứu dân và tuần lễ vàng kiến quốc đã được Người phát động và nêu gương bằng cử chỉ cao quý mỗi tuần nhịn một bữa ăn để dành gạo cứu đói. Bằng cách đó, Người đã huy động được sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc vào cuộc vận động này. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại lời căn dặn về trách nhiệm và tinh thần của Đảng và Nhà nước đối với cuộc sống của nhân dân “ hễ dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, hễ dân rét là Đãng và Chính phủ có lỗi, hễ dân ốm đau bệnh tật là Đảng và Chính phủ có lỗi, hễ dân không được học hành là Đảng và Chính phủ có lỗi”.Tư tưởng đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chính sách của Đảng và Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo. Qua đó góp phần tạo động lực thực hiện mục tiêu “ dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh" mà bước đầu là thực hiện có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước những năm đầu thế kỉ XXI. Những năm qua Hà Tĩnh đã có bước phát triển kinh tế khá nhanh và tương đối ổn định, hơn nữa đã gắn việc phát triển kinh tế với đầu tư xoá đói, giảm nghèo . Vì thế đã góp phần ổn định và nâng cao đời sống dân cư, giảm chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên sự chênh lệch giàu nghèo, phân hoá các tầng lớp dân cư diễn ra có ranh giới rõ rệt. Đó chính là vấn đề xã hội đặc biệt quan tâm. Trong thời kỳ đổi mới xoá đói, giảm nghèo đã và đang trở thành cuộc vận động lớn có tác dụng thiết thực góp phần giảm hộ đói, nghèo, tạo điều kiện giúp họ vươn lên hoà nhập với cuộc sống cộng đồng. Hoà chung với phong trào xoá đói giảm nghèo của cả nước, với đặc điểm là một tỉnh nghèo, được sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương, các tổ chức Quốc tế. Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh sớm phát động và thực hiện phong trào xoá đói giảm nghèo tập trung phát triển kinh tế -xã hội, đảm bảo ổn định chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng góp phần thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo . Đầu tư xoá đói, giảm nghèo đến nay đã trở thành phong trào, chương trình hành động được phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu đều khắp trên 11 huyện, thị xã, 261 xã, phường, thị trấn và các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể quần chúng. Đó là những mặt thuận lợi cơ bản để qua đó lượng hoá những chủ trương mục tiêu mà Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XV, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cấp từng ngành, từng tổ chức, đoàn thể trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đó cũng chính là cơ sở để chúng ta từng bước tiếp cận chuẩn mực đói nghèo quốc tế góp phần vào quá trình hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá, tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên, nâng cao thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội để từng bước nâng cao tính bền vững của xoá đói, giảm nghèo . Tuy vậy, vẫn còn một phận dân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng bãi ngang đang chịu cảnh đói nghèo và thiếu việc làm, không đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu của cuộc sống. Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm thể hiện qua các chính sách, chương trình, dự án hướng vào mục tiêu xoá đói, giảm nghèo cho các vùng đặc biệt khó nhưng những kết quả đạt được còn rất nhiều hạn chế, tốc độ giảm còn chậm, hơn nữa những kết quả này chưa vững chắc, tình trạng tái nghèo vẫn còn xuất hiện, thêm vào đó khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng đặc biệt khó khăn và các vùng khác trong toàn tỉnh có xu hướng ngày một nới rộng ra. Đối với các vùng này đói nghèo đối với họ trở thành một vấn đề nan giải, nó như một căn bệnh cố hữu trong cuộc sống của họ, hơn nữa do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, phương thức canh tác lạc hậu, trình độ nhận thức thấp, nên việc xoá đói, giảm nghèo cho các vùng đặc biệt khó khăn là việc vô cùng khó khăn phức tạp không chỉ là một sớm một chiều mà phải là một công việc thường xuyên lâu dài, nó đòi hỏi phải có những chương trình, dự án, những chính sách đồng bộ về phương tiện, kỹ thuật, về vốn, về cây con và phương thức sản xuất để họ có thể tự thoát đói nghèo. Chính vì vậy, bằng kiến thức và sự hiểu biết của mình và được sự giúp đỡ hướng dẫn của thày cô Khoa Đầu tư và các cô chú Phòng kế hoạch phát triển sản xuất, em mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Đầu tư xóa đói giảm nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn tại tỉnh Hà Tỉnh. Thực trạng và giải pháp” Nội dung của đề tài bao gồm 2 phần: Phần I: Thực trạng đầu tư xóa đói giảm nghèo ở các xã gặp khó khăn ở Hà Tĩnh Phần II: Giải pháp đầu tư xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, do tầm hiểu biết, kiến thức còn hạn chế, thông tin không đầy đủ nên đề tài không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết, em rất mong được sự góp ý của thầy và các cô chú Phòng kế hoạch phát triển sản xuất để em hoàn thành đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn các thày cô Khoa Đầu tư cùng với các cán bộ tại sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh mà đặc biệt là Phòng kế hoạch phát triển ngành đã quan tâm và tạo điều kiện thuận trong thời gian em thực hiện chuyên đề thực tập.

doc52 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/04/2013 | Lượt xem: 1775 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đầu tư xóa đói giảm nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn tại tỉnh hà tỉnh, thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ụng ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất, đặc biệt là hỗ trợ hộ nghèo vượt khó. Trong giai đoạn 1996-2005 dư nợ tín dụng tăng nhanh. Tuy vậy, các hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn tập trung vào cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay xoá đói giảm nghèo, nên chưa thực sự đóng vai trò trung gian, thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn. Nguyên nhân chủ yếu là: Một là: Ngân hàng chỉ mới thực hiện công tác cung cấp vốn cho người dân vay, nhưng nguồn vốn đó được sử dụng như thế nào cho hợp lý, và mang lại hiệu quả cao nhất, thì công tác quản lý này của Ngân hàng vẫn còn nhiều yếu kém. Hai là: Mức lãi suất đang là một vấn đề bất hợp lý đối với việc cho vay với người nghèo. Nó được áp dụng ở một mức thống nhất trên cả nước. Ba là: Đối với các gia đình khó khăn, thì việc vay vốn và sử dụng vốn là rất khó khăn, việc trả lãi suất đối với một số hộ gia đình là không thể, do đó nó hạn chế phần nào động lực vay vốn làm ăn, nhằm xóa đói giảm nghèo của các hộ gia đình. Bốn là: Điều kiện giao lưu mua bán của các vùng này rất khó khăn, nguồn thông tin mà người dân tiếp cận được còn rất hạn hẹp, do đó, trong quá trình mua bán gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy đúng hướng nhưng còn rất chậm. Ta có thể so sánh cơ cấu chuyển dịch qua bảng sau: Biểu 1.13 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỉnh Cơ cấu GDP (%) 1995 2000 2005 Hà Tĩnh: 100 100 100    - Nông, lâm, ngư nghiệp 60,5 51,3 43,13    - Công nghiệp – Xây dựng 10,9 13,5 22,45    - Dịch vụ 28,6 35,2 34,42 Toàn vùng Bắc Trung Bộ: 100 100 100    - Nông nghiệp 37,0 36,8 33,1    - Công nghiệp -Xây dựng 17,9 22,4 26,5    - Dịch vụ 45,1 40,7 40,4 Cả nước 100 100 100    - Nông, lâm, ngư nghiệp 27,2 24,5 20,9    - Công nghiệp – xây dựng 28,8 36,7 41,0    - Dịch vụ 44,1 38,7 38,1 Nguồn: Niên giám thống kê hàng năm và Kế hoạch 2006-2010. Qua đó ta có thể thấy rằng, trong cùng thời kỳ, thì cơ cấu chuyển dịch kinh tế còn rất chậm. Tỷ lệ gia tăng trong ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ còn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. 1.4.2.5. Các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục dành cho các hộ nghèo còn nhiều hạn chế. Mặc dù Tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai thực hiện nhiều chương trình đầu tư xóa đói giảm nghèo, nhưng trên thực tế, tỷ lệ nghèo ở Tỉnh vẫn là tương đối cao. Mặc dù việc tăng trưởng kinh tế tạo ra nhiều cơ hội tăng thu nhập cho người nghèo, nhưng hạn chế lớn nhất ở đây là vẫn còn phần lớn những người nghèo mù chữ, kém sức khỏe và dinh dưỡng. a. Với vấn đề giáo dục: Khả năng đi học, nhất là đối với người nghèo bị hạn chế bởi nhiều nguyên nhân song có thể nói là do 2 nguyên nhân chính:  + Do các khó khăn trước mắt của gia đình, trẻ em buộc phải đi làm để giúp bố mẹ.   + Kết quả của việc giáo dục chưa đem lại sự no đủ ngay, người nghèo thường thấy kết quả của việc không tương xứng với khoản chi phí mà họ phải bỏ ra bây giờ và họ còn so sánh với những chi phí cơ hội cho người đi học. Mặt khác, một số xã, huyện, các trường học còn ở quá xa nhà, do đó, gây cản trở rất lớn cho khả năng đến trường của các em. Chi phí cơ hội để các em đến trường còn quá cao. Với số tiền bỏ ra như vậy, một số hộ gia đình, đặc biệt là những gia đình có thu nhập thấp sẽ không sẵn sàng cho con em mình đến trường. Giáo dục phát triển mạnh chủ yếu về quy mô, chuyển biến về chất lượng còn chậm, chưa đồng đều giữa các bậc học, các vùng, hiệu quả giáo dục chưa cao. Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển chậm so với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội cả về quy mô, chất lượng, hiệu quả đào tạo. Mạng lưới trường học và cơ sở dạy nghề tuy đã được quy hoạch một bước nhưng vẫn chưa hợp lý và chưa có quan hệ gắn kết chặt chẽ với sản xuất, công tác quản lý chất lượng dạy và học chưa được quan tâm đúng mức.  Cơ sở vật chất và trang thiết bị của các cơ sở giáo dục và đào tạo tuy có tăng lên nhưng nhìn chung còn yếu kém, nhất là các cơ sở dạy nghề (để tăng thời gian thực hành). Một bộ phận giáo viên hạn chế về năng lực và sa sút về phẩm chất, không có tâm huyết với nghề. Một bộ phận học sinh vừa yếu kém trong học tập, vừa sa sút về phẩm chất, đạo đức... Xã hội hóa giáo dục và đào tạo chuyển biến chưa mạnh mẽ, chưa sâu sắc và chưa toàn diện để động viên mạnh mẽ các lực lượng xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển con người. Theo tính toán, một năm cần khoảng một nguồn vốn ít nhất 10-15% ngân sách của tỉnh hỗ trợ cho khoảng 8000-10000 học sinh sau khi tốt nghiệp PTTH theo học các trường đại học, cao đẳng và THCN và CNKT để đáp ứng yếu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa của đât nước cũng như trên địa bàn tỉnh. b. Về dịch vụ y tế. Không được tiếp cận với thông tin, cộng thêm sự kém hiểu biết của người dân về bảo vệ sức khoẻ và phòng bệnh dịch  thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn phát bệnh trầm trọng, mãn tính nên  rất khó chữa trị. Các phương pháp chữa trị không khoa học, dùng các phương pháp dân dan, tuy tỏ ra có hiệu quả, nhưng do trình độ dân trí thấp, nên không ít bà con bị lừa bịp, do đó có thể gây ra nguy hiểm đến tính mạng. Khâu quản lý của các huyện xã về việc này còn nhiều bất cập. Cùng với đó là hệ thống trạm y tế chỉ mang tính hình thức là chủ yếu, khả năng chuyên môn không có, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên không đủ, do địa bàn rộng nên bị phân tán. - Các cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh đang xuống cấp, thiếu máy móc, thuốc men, bác sỹ (cấp một) giỏi của một số chuyên khoa thiếu như sản, chụp cắt lớp, dược sỹ thiếu trầm trọng, nhiều trạm y tế xã còn chưa có bác sỹ, trong khi nhu cầu của người dân về chất lượng chữa trị ngày càng cao. - Quy mô tuyến tỉnh, tuyến huyện chưa phù hợp với mặt bằng chung của toàn quốc. - Một số trang thiết bị y tế và một phần thuốc men từ nguồn nhập ngoại, chữa trị cho nhân dân trong tỉnh có giá cao, vì vậy viện phí vượt quá khả năng thanh toán của người bệnh. Chương II: Giải pháp đầu tư xóa đói giảm nghèo. 2.1. Giải pháp cơ bản đầu tư xóa đói, giảm nghèo. Trải qua gần 19 năm tách Tỉnh đến nay, những gì mà Tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được trong công cuộc đầu tư xóa đói giảm nghèo không phải là nhỏ. Nhưng đầu tư xóa đói giảm nghèo tại Tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua gặp không ít khó khăn, do đó, cần phải có những giải pháp đầu tư xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới như sau: 2.1.1. Thực hiện tốt quá trình quản lý sử dụng vốn đầu tư Vốn đầu tư vào quá trình xóa đói giảm nghèo trong những năm qua tại Tỉnh Hà Tĩnh tuy đã mang lại hiệu quả nhất đinh, nhưng nhìn chung thì quá trình sử dụng vốn đầu tư ở các xã nghèo tại Tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều bất cập. Do đó các mục tiêu đầu tư xóa đói giảm nghèo của Hà Tĩnh hiện thực hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Từ nay đến 2020, để thực hiện được mục tiêu về xóa đói giảm nghèo, cần tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho khu vực nông thôn tại các xã nghèo Tỉnh Hà Tĩnh. Để thực hiện được dự án nêu trên, dự báo nhu cầu đầu tư như sau: Biểu 2.1: Nhu cầu đầu tư theo giá 2005 Đơn vị 2005 2006-2010 2011-2020  Tổng số tỷ đồng 2322 46335 164034  Nông nghiệp tỷ đồng 383 5453 6879  Công nghiệp  + XD tỷ đồng 304 35020 95963  Dịch vụ tỷ đồng 1635 5862 61192 Theo tính toán nhu cầu đầu tư từ các công trình kết hợp với dự báo tỷ trọng đầu tư so với GDP,  nhu cầu đầu tư toàn xã hội năm 2005 vào khoảng 2.322 tỷ đồng sẽ tăng lên trên 9.250 tỷ đồng/ năm trong giai đoạn 2006-2010, khi khai thác sắt Thạch Khê. Một số giải pháp chính: -       Tiếp tục cải thiện kết cấu hạ tầng, gắn với giảm thiểu tác động của thiên tai và các điều kiện kém bất lợi -       Phối hợp với các nhà đầu tư trong đào tạo nguồn nhân lực -       Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện thu hút đầu tư lớn vào công nghiệp Tiếp tục thúc đẩy các chương trình xúc tiến đầu tư một cách có hiệu quả. Cải thiện văn hoá ứng xử trong xúc tiến đầu tư. Đổi mới tư duy về cách nhìn đối với các nhà đầu tư để thu hút các nhà đầu tư đến với Hà Tĩnh. Tỉnh Hà Tĩnh cần phải có sự kết hợp hợp lý giữa việc phân bổ nguồn vốn để  xây dựng cơ sở hạ tầng và xóa đói giảm nghèo, nhằm hạn chế sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở các huyện tại Tỉnh Hà Tĩnh. 2.1.2.  Phát triển nông nghiệp nông thôn để Xoá đói giảm nghèo Ở các xã đặc biệt khó khăn thì có tới 95% lao động dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Do đó, có thể nói đây là khu vực có tỷ lệ đói nghèo cao nhất. Vì vậy, biện pháp tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp sẽ có tác dụng tăng khả năng xoá đói, giảm nghèo ở toàn bộ khu vực nông thôn. Trong đó, nâng cao hiệu quả và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng là một giải pháp hữu hiệu nhất đối với các xã này. Để giải quyết vấn đề này cần hướng sản xuất nông nghiệp nông thôn theo các giải pháp sau: a. Nâng cao hiệu quả và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp.     Các giải pháp về đất đai và thuỷ lợi.  Đất đai và thuỷ lợi là hai yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp, nó quyết định năng suất, sản lượng sản xuất nông nghiệp. Vì thế, cần phải khẩn trương hoàn thiện việc giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân sử dụng và phải phân bố đều các cơ hội sử dụng các yếu tố này giữa các nhóm thu nhập, giúp điều hoà thu nhập gia đình từ sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là + Giao quyền sử dụng đất đai cho các hộ nông dân dưới nhiều hình thức thích hợp để người nông dân yên tâm đầu tư vào sản xuất trên diện tích đất của mình. + Khuyến khích nông dân tự bỏ vốn và sức lao động để cải tạo đồng ruộng, xây dựng hệ thống kênh mương và giao thông nông thôn.  + Khuyến khích quá trình tích tụ ruộng đất hợp lý thông qua việc thực hiện quyền chuyển đổi và chuyển  nhượng ruộng đất hợp lý. + Đối với những nông dân không có ruộng đất vì những rủi ro bất ngờ mà có năng lực làm ăn thì có thể nên có cơ chế nào đó để mua lại đất mới cho họ. Bên cạnh đó, đầu tư hỗ trợ xã nghèo, vùng nghèo nâng cấp hệ thống thuỷ lợi. Đối với các xã đặc biệt khó khăn thì ưu tiên xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ ở những nơi có điều kiện, nâng cấp các hồ đập đã bị xuống cấp và thực hiện chủ trương kiên cố hoá kênh mương. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Với xu thế mở cửa hội như hiện nay, chúng ta dễ dàng tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến như trang bị công nghệ, vật tư và thiết bị tiên tiến trong nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, sử dụng hợp lý hơn các yếu tố đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu, thuỷ lợi...), cải tiến giống và phương pháp canh tác...  Điều này có ý nghĩa rất to lớn trong việc nâng cao sản lượng và năng suất nông nghiệp và cũng là một hướng đi rất cơ bản để cải tạo nông nghiệp tự cấp tự túc thành nông nghiệp hiện đại, năng suất cao mang tính chất hàng hoá rộng rãi. Nó cũng là cơ sở để tận dụng triệt để tiềm năng đất đai, lao động ở nông thôn. Để áp dụng được các thành tựu khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn là phần có ý nghĩa quan trọng nhưng phải kêu gọi sự đóng góp của nhân dân như xây dựng hệ thống thuỷ lợi, tổ chức mô hình tổ sản xuất kết hợp giữa các hộ có vốn với các hộ có sức lao động. Ngoài ra Hà Tĩnh cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục, cử cán bộ có năng lực về giảng dạy, giúp đỡ cho nhân dân  để bản thân họ có thể hiểu và áp dụng các thành tựu khoa học vào trong sản xuất, tự vươn lên xoá đói, giảm nghèo. Về công tác khuyến nông. Khuyến nông có vai trò quan trọng nhờ vào việc nó giúp người nông dân có quyết định tối ưu về sử dụng các yếu tố sản xuất, cung cấp các thông tin về vấn đề giá cả, dung lượng thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, các thông tin về giống cây trồng, phân bón và phương pháp sản xuất. Trong thời gian tới, công tác khuyến nông cần tập trung vào các nội dung quan trọng sau: + Nghiên cứu hệ thống đất canh tác để thiết lập quá trình sản xuất có hiệu quả với từng loại cây trồng khác nhau nhằm giúp nông dân lựa chọn. + Nghiên cứu thuần dưỡng và phổ biến các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao cho các hộ gia đình. + Triển khai các dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y tới từng thôn xóm. +Trong việc nghiên cứu cần quan tâm tới những tập quán canh tác ở các vùng cao để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất mới dễ chấp nhận đối với đồng bào và không ảnh hưởng tới môi trường. + Cần nâng cao năng lực thị trường cho nông dân vì trong hoàn cảnh thị trường còn nhiều biến động như hiện nay thì người nông dân rất cần đến sự linh hoạt để có các lựa chọn khôn khéo. Ba nội dung trên có tác dụng rất tích cực trong việc nâng cao và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp nhưng nó đòi hỏi phải có thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, trong phương pháp tổ chức, đặc biệt là đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hoá thu nhập ở nông thôn. Một nền kinh tế thuần nông không thể mang lại sự giàu có, ổn định và phồn vinh cho một hộ làm nghề nông nói riêng và nền kinh tế nông nghiệp nói chung.Nếu chỉ sản xuất thuần nông thì sẽ gặp rất nhiều rủi ro và khó tránh khỏi tình trạng đói nghèo. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn là một biện pháp quan trọng hàng đầu vừa có tính cấp bách để xoá đói, giảm nghèo và mang chiến lược cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng chuyển nền kinh tế thuần nông tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện kiên quyết việc chuyển nền kinh tế thuần nông gắn với xoá đói, giảm nghèo, trước hết phải giúp từng hộ nghèo và xã nghèo có kế hoạch sản xuất lương thực một cách hợp lý, đồng thời mở rộng phát triển các loại cây trồng khác nhất là cây công nghiệp, thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu, thuỷ lợi và thị trường, trên có sở tính toán hiệu quả kinh tế. Làm được như vậy sẽ hạn chế được tỷ lệ rủi ro, mất ở đồng thấp, vẫn thu hoạch được ở đồng cao, mất cây ngắn ngày, vẫn thu hoạch được ở cây dài ngày. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ lệ thuần nông, tăng việc làm phi nông nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Điều đó sẽ có tác dụng: +Tạo việc làm  cho lao động nông thôn, đặc biệt là trong lúc nguồn lao động nông thôn càng ngày càng dư thừa nhiều. Giải quyết việc làm ở nông thôn thông qua mạng lưới ngành nghề phi nông nghiệp là một phương thức thích hợp và trên thực tế đã đem lại hiệu quả thiết thực ở nhiều nước đang phát triển. Nó không những làm tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo điều kiện để đầu tư lại nông nghiệp, thúc đẩy quả trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. +Nếu như lao động nông thôn vừa làm ruộng vừa làm các nghề khác trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn sẽ là hình thức tốt nhất để tăng thu nhập cho người nông dân mà không cần sử dụng đến các giải pháp di dân. Có thể nói đây là hướng đi quyết định đến phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế của nông thôn, giải quyết việc làm và hướng tới sự giàu có cho nông dân. Muốn vậy, cần thực hiện các giải pháp cụ thể sau: + Thực hiện kiên quyết việc chuyển nền kinh tế thuần nông gắn với xoá đói, giảm nghèo, trước hết phải giúp từng hộ nghèo và xã nghèo có kế hoạch sản xuất lương thực một cách hợp lý, đồng thời mở rộng phát triển các loại cây trồng khác nhất là cây công nghiệp, thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu, thuỷ lợi và thị trường, trên có sở tính toán hiệu quả kinh tế. Làm được như vậy sẽ hạn chế được tỷ lệ rủi ro, mất ở đồng thấp, vẫn thu hoạch được ở đồng cao, mất cây ngắn ngày, vẫn thu hoạch được ở cây dài ngày. Chúng ta đặc biệt lưu ý tới mô hình phát triển VAC hoặc mô hình trang trại nhỏ, đây là hai mô hình khá phổ biến ở các khu vực nông thôn miền núi và trung du hiện nay. Tiến hành đa dạng hoá ngành nghề, thực hiện nguyên tắc ai giỏi việc gì thì làm việc ấy, trên cơ sở giao đất ổn định cho các hộ gia đình, đồng thời thông qua các cơ chế chính sách và các biện pháp cụ thể để từng bước tập trung ruộng đất cho các hộ gia đình có khả năng kinh doanh nông sản với điều kiện họ phải thu hút thêm người nghèo vào làm việc. Tiến hành khai hoang, cải tạo ruộng đất, cố gắng khắc phục diện tích đất nông nghiệp thấp như hiện nay. Đa dạng hoá việc làm và thu nhập cần trở thành một hình thức phổ biến ở nông thôn. Đồng thời kết hợp với việc giải quyết tận gốc những nguyên nhân: Thiếu vốn, thiếu kiến thức, mất trật tự an ninh trong địa bàn sinh sống và cư trú. + Cần phát triển mạnh mẽ ngành nghề phi nông nghiệp, đây là xu hướng cơ bản để phát triển nông thôn trong tương lai. Để phát triển những ngành nghề phi nông nghiệp ta cần phải: Thứ nhất, cần thiết phải khôi phục các ngành nghề truyền thống. Đó là các làng nghề  có quá trình phát triển từ lâu đời, nên nếu khôi phục lại sẽ có điều kiện phát huy các lợi thề về tay nghề của các nghệ nhân, nhãn hiệu truyền thống cũng  như các thị trường tiêu thụ truyền  thống. Bên cạnh đó cần phải mở rộng địa bàn chủng loại  mẫu mả sản phẩm phong phú, đa dạng nhằm  tăng giá trị sản phẩm và hiệu quả hoạt động cao. Thứ hai, phát triển các ngành có khả năng tạo việc làm tại chỗ cho những lao động dư thừa ở nông thôn trong điều kiện vốn ít và công nghệ lạc hậu, có thể sử dụng mọi các loại lao động nam, nữ, già, trẻ, như các ngành nghề thực phẩm, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, mây, tre đan, sản xuất hàng tiêu dùng, vật tư kỹ thuật và tư liệu sản xuất phục vụ cho nông nghiệp. Thứ ba, phát triển mạng lưới dịch vụ trong nông nghiệp từ dịch vụ tín dụng, bảo hiểm, cung cấp vật tư kỹ thuật, máy móc thiết bị, cung cấp hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, đến các dịch vụ mua bán, chế biến lương thực, thực phẩm, kể cả dịch vụ bảo vệ thực vật, giao thông vận tải ở nông thôn, xây dựng sửa chữa nhà cửa. Để thực hiện được mục tiêu phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp thì Nhà nước cần có các chính sách và cơ chế khuyến khích hoạt động này như về ưu đãi, tín dụng, giảm các lại thuế và vướng mắc về thị trường. Hiện nay, ở các xã vùng đặc biệt khó khăn thường phát triển thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống với ba mô hình: + Những hộ có điều kiện thì chuyển hoàn toàn thành gia đình làm  tiểu thủ công nghiệp. + Hộ kết hợp vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề khi hết thời vụ. + Hộ thường xuyên có lao động làm nghề nông nghiệp và lao động làm nghề. Bên cạnh đó, cần gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và tiêu thụ hàng hoá nông sản chế biến, tăng cường  nghiên cứu thị trường và thực hiện xây dựng mối liên kết bốn nhà: Nhà khoa học, nhà nông, nhà doanh nghiệp và Nhà nước trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Trong nền kinh tế hàng hoá, chất lượng hàng tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao nên phải tổ chức và đầu tư kết hợp các loại quy mô nhỏ và vừa, công nghệ phù hợp với tập quán truyền thống. ở  các xã đặc biệt khó khăn có các loại nông sản có thể đưa vào chế biến như lương thực, rau quả, gia cầm, gia súc vừa đảm bảo nhu cầu của địa phương vừa cung ứng cho thị trường tiêu thụ bên ngoài. Mở rộng các dịch vụ cung ứng vật tư về kỹ thuật sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề thiết thực cho phát triển kinh tế nông thôn và xoá đói, giảm nghèo. 2.1.3. Phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo tiếp cận các dịch vụ công. Việc thiếu cơ sở hạ tầng ở các xã vùng đặc biệt khó khăn có thể nói là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao ở các khu này. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được coi là khâu trọng tâm cần giải quyết và là biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, hộ nghèo và xã nghèo. Bao gồm: a. Về phát triển kết cấu hạ tầng. Đầu tư cơ sở hạ tầng, trong đó thiết yếu nhất là xây dựng đường giao thông đi lại đến các xã và đến các thôn bản; phát triển hệ thống đài truyền thanh xã để phổ biến kiến thức, kinh nghiệm cho người dân... Về phát triển và sử dụng điện cho các xã nghèo. - Hỗ trợ đầu tư xây dựng mạng lưới điện quốc gia đến từng thôn bản.  - Hỗ trợ vốn hoặc cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất bằng không để nhân dân tự làm các công trình cấp điện tại chỗ như thuỷ điện nhỏ, máy phát điện gia đình... - Hỗ trợ kinh phí nối điện cho các gia đình khó khăn - Hỗ trợ kinh phí sửa chữa - Đào tạo, tập huấn cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng hệ thống phân phối điện - Ưu tiên đồng bào các dân tộc tình nguyện làm việc tại các vùng dân tộc và có chính sách ưu đãi hợp lý, tiền lương thoả đáng.  Về phát triển đường giao thông. Hệ thống giao thông lạc hậu, kém phát triển  là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự cách biệt, chính vì vậy, nếu giải quyết tốt sẽ là cơ hội của người nghèo miền núi, vùng sâu, vùng xa thoát khỏi đói nghèo: + Kết hợp hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng mới, nâng cấp đường giao thông và thay thế các cầu khỉ tạo thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. + Nhà nước nên trợ giúp về phương tiện kỹ thuật và cho thuê lao động địa phương sẽ giải quyết được công ăn việc làm cho những hộ nghèo hoặc trợ quỹ dưới hình thức Nhà nước cho không lương thực, dân đóng góp ngày công. + Các nguồn vốn cần chuyển thẳng về cấp huyện để tránh vòng vèo và chi phí quản lý, tránh các hiện tượng tiêu cực và thất thoát ở các cấp trên. Đồng thời dành quyền chủ động cho cấp huyện, có sự tham gia của cộng đồng vào kế hoạch ưu tiên. Như vậy sẽ sát hợp yêu cầu của người dân hơn là sự vạch kế hoạch, chỉ định mục tiêu từ cấp tỉnh và cấp Trung ương một cách áp đặt + Ngoài ra, vốn cho giao thông còn có thể huy động một phần từ các chương trình dự án trên địa bàn nếu thấy giao thông là rất cần và tạo điều kiện để góp phần tăng hiệu quả của chính các chương trình dự án đang và sẽ thực hiện. Hoặc góp phần tích cực xoá đói, giảm nghèo , tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương. +Thường xuyên tiến hành duy trì và bảo dưỡng đường miền núi. Do địa hình dốc, phức tạp, độ xói mòn lớn, mưa gió thất thường nên đường thường xuyên hư hỏng nặng sau mùa mưa. Biện pháp tốt nhất là nên giao công việc này cho cơ quan địa phương phối hớp với hạt giao thông và được Nhà nước giúp đỡ  một phần kinh phí  sửa chữa. +Về lâu dài, cần có kế hoạch từng bước nâng cấp đường giao thông theo hướng nhựa hoá tỉnh lộ, đá hoá huyện  lộ, cơ giới hoá xa lộ và mở rộng đường liên thôn, liên bản để xe ngựa và xe máy có thể  đi lại dễ dàng. +Công khai khả năng tham gia của người dân để lựa chọn và quyết định xây dựng cải tạo, nâng cấp đường giao thông trên cơ sở vốn và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, gắn quyền lợi, trách nhiệm, tình cảm của nhân dân vào đầu tư, khai thác, sử dụng công trình giao thông. Việc nâng cấp hệ thống giao thông tuy không mang lại lợi ích nhanh chóng như đầu tư vào các lĩnh vực khác nhưng cái lợi lớn nhất là giải thoát thế bí cho kinh tế địa phương, tạo cơ hội cho người dân các vùng này tiếp cận với kinh tế thị trường, giao lưu buôn bán, trao đổi để cải thiện đời sống và từ đó có thể vươn lên xoá đói, giảm nghèo xoá dần khoảng cách kinh tế - xã hội giữa miền núi và miền xuôi. Hiện nay, ở các xã vùng đặc biệt khó khăn có con đường Hồ Chí Minh đi qua, đây là một lợi thế cho vùng này. Tuy nhiên, nó gây tác động tiêu cực là khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguy cơ ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn, khu du lịch; các nguy cơ khác do các tác dộng của con người tới thiên nhiên như giảm diện tích xanh, nghèo nàn hệ thống thực vật, gia tăng lũ lụt, thay đổi dòng chảy chế độ thuỷ văn, xói mòn, sạt lở. Nhưng nó có tác động tích cực là: Đẩy mạnh phát triển kinh tế -xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế khu vực này; khai thác hiệu quả các tiềm năng, giảm thiểu các chi phí trong vận chuyển và đi lại của người dân; nâng cao được các giá trị lịch sử và nhân văn, bảo tồn và khai thác cảnh quan và môi trường; đóng góp vào việc xoá đói, giảm nghèo và nâng cao trình độ dân trí; phân bố lại dân cư, tạo điều kiện phát huy thế mạnh về quỹ đất, tài nguyên thiên nhiên. Về phát triển thuỷ lợi nhỏ cho các xã nghèo: Đối với các xã nghèo thuộc chương trình 135 chưa có công trình thuỷ lợi tưới hoặc bị xuống cấp, Nhà nước dùng ngân sách hỗ trợ đầu tư xây dựng và cải tạo, nâng cấp. Đối với các vùng không có ruộng nước, Nhà nước hỗ trợ kinh phí để làm ruộng bậc thang nhằm  giúp đỡ người nghèo có điều kiện sản xuất  lương thực tại chỗ, hoặc trồng rừng. Đối với các xã nghèo nằm gần các công trình thuỷ lợi lớn, Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống kênh dẫn từ công trình lớn tạo nguồn nước hỗ trợ vật tư cùng nhân dân xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng. Về phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống phát thanh: Tiếp tục phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống phát thanh xã nhằm giúp người dân tiếp cận với các kinh nghiệm làm ăn, với các thông tin thị trường, tình hình kinh tế xã hội từ đó có cái nhìn, quan điểm đúng đắn để không bị bọn phản động lôi kéo, tuyên truyền. b. Chăm lo về giáo dục và y tế -Thanh toán hiện tượng  các xã không có trường tiểu học và tiếp tục - Xây dựng các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, đồng thời phát triển nhà trẻ, mẫu giáo ở các vùng này 2.1.4. Tăng cường các hoạt động hổ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tự vươn lên Xoá đói, giảm nghèo. Nhằm tăng cường sự tham gia của người nghèo trong các hoạt động tăng trưởng trong tương lai và ảnh hưởng đến mức độ người nghèo được hưởng lợi từ mục tiêu tăng trưởng nhanh. Các chính sách có tác động tích cực gồm: Hỗ trợ người nghèo về vốn vay: Thiếu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh là nguyên nhân phổ biến với hầu hết các hộ nghèo. Thực tế trong những năm qua người nghèo rất ít tiếp cận được vay tín dụng để có thể đầu tư cho nông nghiệp. Người nghèo bị hạn chế rất nhiều bởi việc thiếu các nguồn vốn này thì nông dân không thể không đầu tư vào việc mua trang thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao cần thiết để tăng năng suất và người kinh doanh cũng không thể lập các cơ sở sản xuất kinh doanh nông sản quy mô nhỏ và mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có. Vì vậy, để người nghèo tiếp cận được các khoản vay, cần phải:  +  Mở rộng diện vay, kéo dài thời gian cho vay có tính đến thời vụ và giảm bớt mức lãi suất cho vay. Ngân hàng chính sách xã hội nên nghiên cứu để nới lỏng các điều kiện vay vốn quan trọng hơn việc đưa ra các điều kiện khắt khe trong vay vốn. Tín dụng cho người nghèo phải thể hiện tính ưu đãi của nó cho người nghèo như vay không cần thế chấp, vay lãi suất thấp nhưng đồng thời cũng phải nhận thức được rằng đây không phải là tiền cứu trợ nhân đạo. Muốn vậy: Một là: Ngân hàng cần tăng cường công tác hướng dẫn họ cách sử dụng, quản lý vốn, tìm hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tức là giúp người nghèo vừa có vốn lại vừa biết cách làm ăn. Hai là: Lãi suất của ngân hàng người nghèo đang được áp dụng một mức thống nhất trên phạm vi cả nước. Đây là một điều bất hợp lý. Mức lãi suất tiền vay hiện nay được tính bằng: Lãi suất huy động vốn (tiền gửi): + Chi phi giao dịch quản lý + Chi phí phòng ngừa rủi ro của hoạt động tín dụng. Qua cách xác định lãi suất tiền vay, có thể nhận thấy nó xa vời với thực tế làm ăn sản xuất kinh doanh của người nghèo vì mức độ sinh lợi trên một đồng vốn giữa các địa phương khác nhau. Người dân ở khu vực có kinh tế phát triển thì ắt có cơ hội để thoát khỏi cảnh nghèo đói do có nhiều ưu đãi về kinh tế, xã hội hơn so với người dân ở các vùng nghèo. Do đó, để thực hiện đúng với tinh thần của tín dụng, xoá đói, giảm nghèo cần nghiên cứu đặt ra những mức lãi suất ưu đãi đối với khu vực đặc biệt khó khăn,        Ba là:  Miễn lãi suất cho một số hộ. Những gia đình thuộc diện đói nghèo là những người thuộc diện khó khăn nhất trong xã hội, khả năng sản xuất kinh doanh rất dễ bị tổn thương trước những rủi ro bất ngờ trong cuộc sống. Do vậy, những gia đình này cần có sự quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn nữa. Trong vấn đề cung cấp tín dụng, sự hỗ trợ đặc biệt này có thể được áp dụng bằng cách miễn toàn bộ lãi suất các khoản vay của họ. Việc xoá bỏ lãi suất tiền vay cho các gia đinh thuộc diện đó có hết sức có ý nghĩa, nó sẽ khuyến khích các hộ này mạnh dạn vay vốn hơn, khoản tiền lãi không phải trả tuy không lớn nhưng cũng rất cần thiết để họ có thể mở rộng sản xuất kinh doanh hay đối phó với những rủi ro bất ngờ. Bốn là: cho vay bằng hiện vật đối với những người nghèo không biết cách làm ăn mà cụ thể là họ không biết dùng khoản tiền vay vào việc gì. Tình trạng này diễn ra khá nhiều tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi nơi có tỷ lệ đói nghèo cao nhất. Việc giúp đỡ để giải quyết sự lúng túng của người nghèo sau khi vay có thể giao trực tiếp một công cụ sản xuất cần thiết tương ứng với số  tiền mà họ đã vay. Điều kiện giao lưu mua bán của các vùng này rất khó khăn, nguồn thông tin mà người dân tiếp cận rất hạn hẹp mà ở đây người dân không quen với việc mua bán nên để ngân hàng đứng ra kết hợp với các đoàn thể,  chính quyền địa phương để đứng ra để giải  quyết. + Cải tiến phương thức tiếp cận nguồn vốn vay: Ngoài hình thức cho vay bằng tiền thì có thể áp dụng kiểu cho vay hiện vật như cho vay cây, con giống, mở rộng mô hình “ cho vay bò mẹ trả bò con” với các nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh hoặc huy động từ cộng đồng. + Đa dạng hoá các kênh thu hút vốn tín dụng: Ngoài nguồn vốn từ khu vực Nhà nước thông qua ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng chính sách xã hội cần mở rộng hình thức ngân hàng cổ phần nông thôn, đây là cách hữu hiệu nhất để huy động vốn của nông dân đầu tư trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp và xoá đói, giảm nghèo, tăng cường hoạt động tài chính vi mô theo các dự án của các tổ chức quốc tế giúp người nghèo tiếp cận dịch vụ tín dụng, phát triển sản xuất kinh doanh với quy mô lớn hơn. Hướng dẫn người nghèo làm kinh tế theo mô hình “4 nhà”. Người nghèo ở nông thôn có thể ví như người bệnh. Một bệnh nhân biết mình cảm thấy khó chịu, đau đớn trong người như thế nào nhưng không thể tự mình chuẩn đoán căn bệnh để biên toa thuốc. Người nông dân biết rõ những diễn biến về đất, nước, cây trồng, mưa, gió nơi mình sinh sống nhưng không có kiến thức của các nhà trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, kinh tế nên không tận dụng hữu hiệu các tài nguyên thiên và lao động để làm giàu. Vì vậy, để có sự thành công trong phát triển nông thôn, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, nhà khoa học cần áp dụng một phương pháp tiếp cận trước, tức họ không thể trực tiếp suy nghĩ giùm và đặt chỉ tiêu cho nông dân sản xuất theo cảm tính mà cần phải đi thẳng vào nông hộ, để cùng với nông dân xác định hướng sản xuất nông lâm nghiệp cụ thể vừa phù hợp với từng điều kiện vùng sinh thái vừa phù hợp với mục tiêu phát triển của huyện và tỉnh. Những hướng sản xuất ở từng vùng sinh thái nông nghiệp là nội dung cụ thể cho các chương trình xoá đói, giảm nghèo hữu hiệu nhất và hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý nhất (trồng thêm cây gì? Nuôi thêm con gì? trong thời gian nào? và trên địa bàn nào?) từ đó, cũng xác định cụ thể hơn hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (công nghệ gì? Chế biến ra sao? Tiêu thụ như thế nào? Dịch vụ nông thôn nào?) tín dụng Nhà nước và các chương trình tài chính vi mô sẽ căn cứ vào những yêu cầu cụ thể của các định hướng này mà cho vay đúng đối tượng và đúng mục đích. Đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp và nông thôn, cần có các chính sách nhằm đảm bảo cho người lao động. 2.1.5. Phát triển các dịch vụ xã hội và mạng lưới tài trợ xã hội cho người nghèo. Tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra nhiều cơ hội tăng thu nhập mới cho người nghèo. Tuy nhiên, trong số đó vẫn có một số người nghèo không tận dụng được các cơ hội này do mù chữ, thiếu kỹ năng, kém sức khoẻ và dinh dưỡng. Vì vậy, việc đảm bảo cho người nghèo tiếp cận được với các dịch vụ xã hội đặc biệt là về giáo dục, chăm sóc y tế và kế hoạch hoá gia đình, có tầm quan trọng gấp bội. Việc bảo đảm này sẽ làm giảm bớt những hậu quả trước mắt của sự nghèo đói đồng thời cũng loại bỏ được nguồn gốc của sự nghèo đói. Như vậy, nói đến giải pháp xoá đói, giảm nghèo hiện nay ta không thể không nhắc tới vấn đề đảm bảo cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ về giáo dục, y tế và kế hoạch hoá gia đình nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. a. Nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo với vấn đề giáo dục: Khả năng tiếp cận với giáo dục của các hộ nghèo còn gặp nhiều hạn chế. Do đó, để tăng khả năng tiếp cận của người nghèo với giáo dục, cần phải giải quyết hai vấn đề là giảm chi phí cho việc đi học của người nghèo và nâng cao lợi ích của việc giáo dục, tức là tạo ra những hiệu quả thiết thực nhận được từ giáo dục của người nghèo. Và để đạt được hai vấn đề này cần phải tiến hành các giải pháp sau: Thứ nhất: Tăng mức độ sẵn có của giáo dục thông qua chương trình xây dựng trường học để giảm khoảng cách từ nhà đến trường. Đa phần các con em ở các vùng này đến trường học phải qua chặng đường dài phải trèo đèo, lội suối. Do đó, đây là một cản trở rất lớn cho khả năng tiếp cận giáo dục của người nghèo. Vì vậy, vấn đề xây dựng và phát triển mạng lưới giáo dục vẫn còn là một vấn đề cần được sự quan tâm của  Nhà nước và của chính quyền tỉnh. Cũng trong nội dung của việc tăng mức độ sẵn có của giáo dục cho người nghèo, một nội dung không kém phần quan trọng là nâng cao  mạng lưới cơ sở hạ tầng giáo dục. Hiện nay hầu hết các trường học còn tạm bợ, tranh tre, nứa lá còn chiếm tỷ lệ khá cao. Bàn học cho thầy trò, bảng đen, đồ dùng dạy và học còn thiếu thốn và chưa đảm bảo được các tiêu chuẩn tối thiểu. Điện, nước phần lớn các trường  học còn chưa có. Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận các cơ sở giáo dục cho người dân bằng một số giải pháp sau: +Mở các nhóm xoá mù tại chòm, xóm, bản, người biết nhiều dạy cho người biết ít, người biết ít dạy cho người chưa biết ở bất cứ nơi nào. Người tình nguyện dạy đạt kết quả tốt thì được hỗ trợ một khoản tiền hoặc vật chất để khuyến khích. +Mở rộng loại hình lớp học bán trú dân nuôi thành một quy định đóng góp hợp lý của toàn dân (Bằng ngô, lúa, lương thực, lương thực, thực phẩm tự có) +  Phát triển giáo dục, phát triển mẫu giáo, nhà trẻ ở các thôn, bản, ở các xã có ý nghĩa quan trọng đối với việc người nghèo tiếp cận dịch vụ công và giảm nghèo một cách bền vững. Nhà trẻ, mẫu giáo giúp trẻ em được nuôi dạy hợp lý, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, phát triển trí lực, giúp các em đi học đúng tuổi. Đồng thời, nhà trẻ, mẫu giáo giúp các em gái có nhiều cơ hội đến trường do không phải trông em, các gia đình có trẻ em nhỏ có thể tăng thời gian lao động sản xuất, chủ động tìm kiếm việc làm, giảm nghèo khó. Thứ hai: Giảm chi phí đến trường cho mỗi cá nhân của các gia đình. Số tiền bỏ ra cho việc đi học cho thấy rằng các gia đình chịu các chi phí không nhỏ cho con em mình. Trong khi thu nhập các hộ gia đình nghèo là rất thấp và ít có gia đình nào chỉ có một con trong độ tuổi đi học. Qua đó cho thấy tỷ lệ nhập học ngay cả ở cấp I đối với người nghèo khó có thể tăng lên được nếu như không có những biện pháp làm giảm bớt những chi phí đi học cho con em họ. Để giải quyết vấn đề này cần loại bỏ bớt các chi phí hình thức: Cụ thể là xoá bỏ học phí chính thức cho những học sinh thuộc diện nghèo khó. Tuy vậy, theo thực tế thống kê, các khoản đóng góp chính thức của học sinh lại chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí của gia đình cho việc đi học, do đó cùng với việc xoá bỏ học phí cần phải kết hợp tác động với các biện pháp khác : + Tăng trợ cấp đi học để giảm yêu cầu đóng góp cho cha mẹ học sinh, trợ cấp giáo dục phải bao gồm cả trợ cấp đầu vào cho giáo dục đối với người nghèo, trợ cấp đào tạo giáo viên, sách giáo khoa, các thiết bị trường học, lớp học tình thương cho người tàn tật...  + Tiến tới cung cấp miễn phí các khoản đóng góp xây dựng trường lớp, miễn phí sách giáo khoa cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học thay vì mất tiền như hiện nay. + Cần trích hợp lý một phần nhỏ kinh phí từ các chương trình, dự án trên địa bàn để hỗ trợ cho giáo dục và con em các dân tộc ít người. Cần phải thấy đầu tư cho giáo dục tốt chính là nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án. Thứ ba: Nâng cao chất lượng giáo dục cho người nghèo. Hiện nay, cơ sở hạ tầng trường học, đội ngũ giáo viên nhiều nơi còn thiếu rất nhiều về mặt số lượng và chất lượng thấp. Chương trình giáo dục còn nhiều bất cập, nên khả năng tiếp cận của học sinh còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên còn nhiều khó khăn, thiếu thốn làm chất lượng giảng dạy cũng kém hơn so với các vùng khác. Vì nhiều lý do từ phía người cung cấp dịch vụ giáo dục cũng như từ bản thân người nghèo làm chất lượng của học sinh ở các vùng nghèo thấp hơn hẳn so với các học sinh ở các vùng khác, đặc biệt là tình trạng bỏ học ở đây rất cao. Để nâng cao chất lượng giáo dục cho người nghèo cần thực hiện một số biện pháp sau: + Cần phải có quy hoạch tổng thể, toàn diện phát triển giáo dục nói chung và giáo dục cho người nghèo nói riêng. + Dần đào tạo, thay thế hệ thống giáo viên thôn, bản bằng hệ thống giáo viên người dân tộc, người bản địa và có chế độ đãi ngộ để họ đủ sống, yên tâm để có thể bám trụ ở trường, ở lớp dạy. + Cải thiện đời sống cho các giáo viên và nâng cấp các trường miền núi.  + Tiếp tục phát triển chương trình dạy song ngữ( dạy học song song bằng hai thứ tiếng, tiếng kinh và tiếng dân tộc) đối với con em đồng bào vùng dân tộc + Mở rộng sự cộng tác, hợp tác giữa các đơn vị quân đội, đoàn thể nhân dân với nhà trường nhằm giúp đỡ, ủng hộ về mặt vật chất, ngày công sửa chữa trường lớp và đồ dùng, sách vở học tập. b. Tăng cường các dịch vụ y tế cho nông người nghèo. Mục tiêu cơ bản là ưu tiên phân phối các nguồn lực công cộng cho những chương trình y tế mà người nghèo có khả năng sử dụng được một phần lớn. Về tình hình y tế các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa cần lưu ý một số vấn đề sau đây: +Sự kém hiểu biết của người dân về bảo vệ sức khoẻ và phòng bệnh dịch  thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn phát bệnh trầm trọng, mãn tính nên  rất khó chữa trị. + Các bệnh nguy hiểm thường bắt nguồn từ những bệnh rất thông thường. Do một lý do nào đó mà coi thường hoặc ngại đi đến các cơ sở  khám chữa bệnh, do không có thuốc nên từ bệnh này đã chuyển sang bệnh khác nên khó chữa trị hơn. +Các phương pháp chữa trị dân gian tỏ ra có hiệu quả, rẻ tiền và dễ kiếm ở địa phương. Song vẫn dễ xẩy ra tình trạng một số bà con chữa bệnh bằng phương pháp lạc hậu hoặc bị lừa bịp, phản khoa học của thầy mo, thầy cúng nên thường gây nguy hiểm đến tính mạng. + Hệ thống trạm y tế còn nặng về hình thức, thiếu khả năng chuyên môn, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên địa bàn rộng nhưng phân tán. Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho người nghèo ở các xã vùng đặc biệt khó khăn cần thực hiện một số biện pháp sau: Giáo dục, phổ biến kiến thức y tế, bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho bà mẹ, trẻ em để bước đầu có thể phát hiện, tự chữa các bệnh thông thường. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và vô cùng cần thiết trong việc đảm bảo sức khoẻ cho người dân. Trong khi mạng lưới y tế còn chưa về được đến từng thôn bản thì khả năng tiếp cận được các cơ sở y tế là rất khó khăn và họ phải vượt qua một chặng đường dài mới đến được các cơ sở y tế. Hơn nữa trong thôn, bản của họ vẫn còn thầy mo, thầy cúng chữa bệnh bằng phương pháp phi khoa học, kém hiệu quả, thậm chí còn gây nguy hiểm đến tính mạng cho người bệnh. Do đó, giáo dục phổ biến các kiến thức y tế, bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho bà mẹ, trẻ em để họ có đủ nhận thức để tự nhận biết và tự chữa các bệnh thông thường, từ đó có thể tự đảm bảo được sức khoẻ mà còn giúp họ thoát khỏi những hũ tục mê tín dị đoan, phi khoa học. Nâng cao khả năng tiếp cận các cơ sở, dịch vụ y tế, chăm  sóc sức khoẻ cộng đồng, cần thực hiện một số biện pháp sau: + Phổ biến  rộng khắp mạng lưới y tế viên cộng đồng gồm các giáo viên phổ thông, người có trình độ học vấn, các cán bộ đoàn thể kết hợp công tác chuyên trách với công tác y tế cộng đồng. +Tập hợp, tổ chức các bà lang, ông lang có uy tín ở địa phương cùng hợp tác chữa bệnh. Khuyến khích chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc lá. Xây dựng vườn thuốc thôn bản. + Kết hợp với sự giúp đỡ về y tế của lực lượng y tế bộ đội, biên phòng, các đồn biên phòng để chăm sóc chức khoẻ nhân dân ở cơ sở. + Tổ chức các đợt khám bệnh lưu động, miễn phí, định kỳ xuống các thôn bản. Phát hiện kịp thời để đưa các bệnh nhân nặng về tuyến y tế huyện, tỉnh. +Giảm chi phí y tế cho người nghèo: Để giảm chi phí cho người nghèo cần đưa ra các giải pháp chính là:      § Cần phải thiết lập một cơ chế và xây dựng một hệ thống y tế trợ cấp cho các hộ nghèo, hộ dân tộc ít người. áp dụng các loại giá khác nhau, cho việc sử dụng các dịch vụ y tế khám và chữa bệnh cho các nhóm người có mức thu nhập khác nhau, kể cả áp dụng các chính sách miễn phí cho những người đặc biệt khó khăn. Để thực hiện được điều này cần bán thẻ BHYT với giá thấp hoặc cấp miễn phí cho các hộ nghèo, đồng thời phối hợp với các chương trình xã hội khác để chăm lo sức khoẻ cho người nghèo.      §Cấp thuốc nhân đạo cho các trường hợp quá khó khăn và các đối tượng thuộc chính sách xã hội .      §Vấn đề đặt ra làm sao có thể xác định chính xác đối tượng nào là nghèo cần được miễn giảm và trợ cấp các dịch vụ y tế. Để giải quyết điều này, biện pháp quan trọng là: Củng cố hệ thống chứng nhận miễn phí dựa trên cơ sở khảo sát chính xác mức thu  nhập. số nhân khẩu trong gia đình kết hợp với công tác giảm chi phí tại các cơ sở y tế thường được người nghèo sử dụng.      § Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ của hệ thống các dịch vụ y tế cơ sở. Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho người nghèo, có nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt là phải tăng kinh phí đào tạo và cung cấp đầy đủ thuốc men chữa bệnh vừa túi tiền; cần thiết phải quy hoạch đội ngũ nhân viên y tế xã và các vùng đói nghèo, trong đó đưa lương của nhân viên y tế xã vào ngân sách Nhà nước  là một yếu tố quan trọng. 2.2. Định hướng về công tác đầu tư xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn thời gian tới. 2.2.1. Định hướng phát triển. Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010), mục tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2009 là: Tập trung thực hiện các mục tiêu đầu tư xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh Hà Tĩnh ở những xã đặc biệt khó khăn, nhằm bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, tạo động lực để phát triển thương mại - dịch vụ; tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ cho người dân. Như các dự án xây dựng đường rải thảm, các dự án xây dựng công trình thủy lợi ở huyện Hương Sơn…Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí. Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. 2.2.2. Các chỉ tiêu cụ thể: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 11,5%; trong đó: + Nông- lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,3%, + Công nghiệp-xây dựng tăng 21,6%, + Dịch vụ tăng 10,1%. + Cơ cấu kinh tế: Nông-lâm nghiệp và thủy sản 35,85%; + Công nghiệp-xây dựng 31,03%; Dịch vụ 33,12%. - Sản lượng lương thực trên 50 vạn tấn. - Kim ngạch xuất khẩu 65 triệu USD. - Thu ngân sách nội địa 820 tỷ đồng. - Giảm tỷ lệ sinh 0,4‰, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,7%. - Giảm 4 - 5% hộ nghèo. - Tạo việc làm khoảng 3,2 vạn lao động, đào tạo nghề 2,5-3 vạn lao động. - Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 20,3%; 85% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. - Tỷ lệ hộ dân xem truyền hình đạt 90%, nghe đài đạt 96%; 75% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá; 25% làng, bản, khối phố, thôn xóm đạt tiêu chuẩn đơn vị văn hoá. - 100% đơn vị đạt tiêu chuẩn an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu, trong đó 80% đơn vị đạt xuất sắc; 100% xã, phường, thị trấn ổn định chính trị. 2.3. Kiến nghị. 2.3.1. Kiến nghị đối với nhà nước. Với chủ trương xóa hết hộ đói, giảm hết hộ nghèo, trong điều kiện hội nhập toàn cầu như hiện nay, thì sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng quan trọng. Vai trò điều tiết của nhà nước ngày càng được khẳng định. Với xu hướng hội nhập, Tỉnh Hà Tĩnh cũng có những thuận lợi nhất định. Và những thành tựu Tỉnh Hà Tĩnh đạt được là Hà Tĩnh đã thu hút được 7 dự án FDI, với số vốn đăng ký đạt 30,6 triệu USD, chiếm gần 2,4% vốn đăng ký trong vùng Bắc Trung Bộ và chiếm 0,07% vốn đăng ký trên cả nước. Tuy nhiên tỷ lệ vốn thực hiện đạt thấp: 5,2% vốn đăng ký, trong vùng Bắc Trung Bộ: 53%, cả nước đạt 46,82%. Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn Hà Tĩnh chiếm tỷ trọng nhỏ về số lượng và số vốn đăng ký so với vùng Bắc Trung Bộ và cả nước, đồng thời mức độ giải ngân so với số vốn đăng ký cũng thấp nhất vùng. Là một tỉnh nghèo, năm 2005 thu hút vốn ODA vào tỉnh đạt 81,6 triệu USD, chiếm khoảng 14,5% tổng vốn ODA vào vùng, đứng thứ 5 trong 6 tỉnh vùng Bắc Trung bộ, tính từ cao đến thấp. Tuy nhiên bên cạnh đó thì hoạt động xuất nhập khẩu đã có nhiều tiến bộ trong những năm gần đây nhưng còn chưa xứng với tiềm năng phát triển của tỉnh.Do có những đặc thù riêng, mặc dù có những chính sách ưu đãi nhất định. Nhưng Hà Tĩnh là tỉnh có nhiều rủi ro về thiên tai, đất đai kém màu mỡ, thị trường nội tại nhỏ, cơ sở hạ tầng còn yếu kém... nên hiện hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Hà Tĩnh, còn khiêm tốn, nhất là trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do vậy, đầu tư xóa đói giảm nghèo nói chung cần nhiều chính sách phù hợp với mục tiêu của từng thời kỳ để có thể giúp Tỉnh Hà Tĩnh thoát khỏi đói nghèo. Như vậy, Tỉnh Hà Tĩnh đề xuất một số kiến nghị sau: - Tạo môi trường thuận lợi để phát triển sản xuất kinh tế hộ gia đình. - Cải thiện đội ngủ cán bộ ở cấp huyện xã, đào tạo các cán bộ có trình độ chuyên môn cũng như có phẩm chất đạo đức tốt. 2.3.2. Kiến nghị đối với UBND Tỉnh Hà Tĩnh. Bên cạnh những kiến nghĩ đối với nhà nước, thì đối với UBND Tỉnh, cần có những chính sách chủ trương phù hợp để cho các hộ dân có thể yên tâm sản xuất kinh doanh. Tránh trường hợp sản phẩm của người dân sản xuất ra không tiêu thụ được. Cần có chế độ cải thiện và xây thêm một số kênh mương đê đập ở các huyện, xã  như: Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Hương khê...để bà con không phải lo ngại ngập lụt như trong thời gian vừa qua. Tình trạng ngập lụt cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của Tỉnh Hà Tĩnh. Cùng với đó, việc đưa máy móc thiết bị vào trong nông nghiệp cũng là vấn đề mà UBND Tỉnh Hà Tĩnh cần phải xem xét. Như thế thì mới nâng cao được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, giảm nguồn nhân lực, mà năng suất vẫn tăng. Cần cải thiện hệ thống y tế và trường học ở các xã miền núi như các xã Sơn Lĩnh, Sơn Lâm, Sơn Tiên....và một số xã khó khăn ở huyện Vũ Quang như: Sơn Thọ, Đức Liên... Kết luận Qua lịch sử phát triển chúng ta có thể nhận thấy rằng đói nghèo luôn luôn là một vấn đề nổi cộm của bất kỳ quốc gia nào từ phát triển đến đang phát triển, mặc dù ở những nước đang phát triển nó tỏ rõ nghiêm trọng và phức tạp hơn. Nhưng tất cả người nghèo ở các nước đều có chung một đặc điểm là họ luôn phải chấp nhận những thiệt thòi so với xã hội. Chính vì thế mà bất kỳ quốc gia nào muốn tăng trưởng và phát triển một cách bền vững, đưa thành tựu của phát triển đến với mọi người dân đều luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xoá đói giảm nghèo. Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, tự nó đã nói lên tính tất yếu của việc xoá đói giảm nghèo. Có thể nói, không giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ ổn định chính trị xã hội, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế xã hội. Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo  sẽ không thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển bền vững sẽ không thực hiện được. Vì thế, hơn 10 năm qua, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xoá đói giảm nghèo, Đảng, chính quyền, nhân dân Hà Tĩnh đã rất quan tâm, chú trọng đến công tác xoá đói giảm nghèo.Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND cùng phối hợp với các ngành, các cấp, các huyện thị Hà Tĩnh đã đưa ra những chính sách thích hợp cụ thể đối với chính người nghèo, vùng nghèo, xã nghèo. Qua đó nghiên cứu thực trạng đói nghèo của các xã vùng đặc biệt khó khăn, xem xét các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, nhìn chung các nguyên nhân cũng như ở các vùng khác trong tỉnh và trong cả nước. Nhưng cũng có những đặc thù nổi bật, đó là nguyên nhân đói nghèo tập trung ở nhóm hộ nghèo đông con, văn hoá, trình độ dân trí thấp, còn nhiều hủ tục, nông nghiệp thuần tuý còn nặng nề. Ngoài ra, tình trạng khó khăn chung của các xã đặc biệt khó khăn là điều kiện sản xuất thiếu thốn, tình trạng rủi ro trong sản xuất còn lớn. Vì vậy, để giải quyết được vấn đề xoá đói giảm nghèo  cần phải lồng ghép các chương trình, dự án như chương trình 135, chương trình 133, dự án 5 triệu ha rừng... Việc phối hợp lồng ghép các mục tiêu của dự án sao cho hiệu quả hợp lý là một trong những công việc để đẩy nhanh tiến độ xoá đói giảm nghèo. Đồng thời, phải tiến hành đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội với tốc độ cao và bền vững nhưng phải toàn diện, phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý và đúng đắn. Đói nghèo là vấn đề có tính xã hội, do đó mọi nỗ lực đầu tư của Nhà nước lấy từ kinh phí và ngân sách quốc gia dù có tăng tiến bao nhiêu cũng không thể đáp ứng hết yêu cầu to lớn của xoá đói, giảm nghèo trên quy mô toàn xã hội. Cũng do vậy, cần thiết phải huy động vào phong trào quần chúng có tính chất xã hội sâu rộng này tham gia đóng góp, sự hỗ trợ của mọi lực lượng, mọi tổ chức, mọi địa phương, mọi người, mọi nhà về vật chất và tinh thần. Cũng như rất cần phải có sự giúp đỡ, hỗ trợ và hợp tác của cộng đồng quốc tế và của khu vực mà Nhà nước ta đang có quan hệ ngày một rộng rãi hơn. Chỉ như vậy, các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo mới có thể thực hiện thành công và thắng lợi được.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐầu tư xóa đói giảm nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn tại tỉnh Hà Tỉnh Thực trạng và giải pháp.doc
Luận văn liên quan