Dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5

Theo SGK Tiếng Việt 5: Từ nhiều nghĩa là từ cú một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển .Cỏc nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng cú mối liờn hệ với nhau. Theo cỏch phõn chia này nghĩa của từ được chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa chuyển. Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà những người trong một cộng đồng ngôn ngữ thường hiểu đối với một từ nào đó khi nó đứng một mỡnh, ớt bị phụ thuộc vào những từ đi trước hoặc sau nó. Nghĩa chuyển là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc .Ví dụ: Đối với từ chõn nghĩa “chi dưới của động vật”, đối với từ nhà nghĩa “cụng trỡnh kiến trỳc để ở”, đối với từ chạy nghĩa :“dời chổ bằng chân với tốc độ cao”, đối với chớn nghĩa “chỉ trạng thỏi của quả cõy” là nghĩa gốc thỡ cỏc nghĩa cũn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển. Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu vật thường chuyển nghĩa theo một hướng nên nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống nhau. Vớ dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động vật” là nghĩa gốc của từ tay thỡ đó cũng là nghĩa gốc của từ: đầu, mặt, cổ, chân, cánh, lưng, bụng .và các nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là nghĩa chuyển của chúng: tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu sóng, mặt bàn, tai mũ, tai chén, cổ áo, cổ chai, cánh quạt lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn, chân mây, ruột bút, ruột máy Từ cú thể chuyển nghĩa dựa trờn sự giống nhau về vị trớ hoặc hỡnh thức của cỏc sự vật như: lũng sụng, đầu làng, ngọn núi. Từ cũng cú thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về chức năng của sự vật như: bến trong bến xe, bến tàu điện giống với bến đũ, bến sụng vỡ cựng chỉ chức năng đầu mối giao thông. Có khi người ta dùng tên gọi của những giác quan này để gọi tên những cảm giác của những giác quan khỏc hay những cảm giỏc trớ tuệ, tỡnh cảm như: “chua”, “nhạt”, “mặn”, “chỏt” là những cảm giỏc vị giỏc được dùng để gọi tên các cảm giác thính giác : “núi chua loột”, “lời núi ngọt ngào”, “pha trũ nhạt quỏ”, “núi cay quỏ”

doc8 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/02/2013 | Lượt xem: 10690 | Lượt tải: 16download
Tóm tắt tài liệu Dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chuyªn ®Ò: D¹y TỪ NHIỀU NGHĨA ë líp 5. Ng­êi b¸o c¸o : NguyÔn ThÞ MÜ Hoµn Tæ 4-5. Theo SGK Tiếng Việt 5: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển .Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ còng có mối liên hệ với nhau. Theo cách phân chia này nghĩa của từ được chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa chuyển. Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà những người trong một cộng đồng ngôn ngữ thường hiểu đối víi một từ nào đó khi nó đứng một mình, ít bị phụ thuộc vào những từ đi trước hoặc sau nó. Nghĩa chuyển là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc .Ví dụ: Đối với từ chân nghĩa “chi dưới của động vật”, đối với từ nhà nghĩa “công trình kiến trúc để ở”, đối với từ chạy nghĩa :“dời chổ bằng chân với tốc độ cao”, đối với chín nghĩa “chỉ trạng thái của quả cây” là nghĩa gốc thì các nghĩa còn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển. Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu vật thường chuyển nghĩa theo một hướng nên nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống nhau. Ví dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động vật” là nghĩa gốc của từ tay thì đó cũng là nghĩa gốc của từ: đầu, mặt, cổ, chân, cánh, lưng, bụng….và các nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là nghĩa chuyển của chúng: tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu sóng, mặt bàn, tai mũ, tai chén, cổ áo, cổ chai, cánh quạt lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn, chân mây, ruột bút, ruột máy… Từ có thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về vị trí hoặc hình thức của các sự vật như: lòng sông, đầu làng, ngọn núi. Từ cũng có thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về chức năng của sự vật như: bến trong bến xe, bến tàu điện giống với bến đò, bến sông vì cùng chỉ chức năng đầu mối giao thông. Có khi người ta dùng tên gọi của những giác quan này để gọi tên những cảm giác của những giác quan khác hay những cảm giác trí tuệ, tình cảm như: “chua”, “nhạt”, “mặn”, “chát” là những cảm giác vị giác được dùng để gọi tên các cảm giác thính giác : “nói chua loét”, “lời nói ngọt ngào”, “pha trò nhạt quá”, “nói cay quá”… Cũng có nhiều khi từ chuyển nghĩa bằng cách lấy tên gọi bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể, cho cả người hay cả toàn thể . Ví dụ: chân, tay, miệng là tên gọi bộ phận cơ thể nhưng trong các tập hợp sau: “có chân trong đội bóng đá”, “ một tay cờ xuất sắc”, “ gia đình bảy tám miệng ăn” chúng chỉ cả người hay cả cơ thể trọn vẹn. Cũng có khi lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên đơn vị thời gian. Ví dụ xuân là tên gọi một mùa nhưng nó có thể để chỉ năm “ bảy mươi xuân”. Trong Tiếng Việt lại có hiện tượng đồng âm, đó là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa. Ví dụ từ chín trong “lúa chín” và trong “suy nghĩ chín chắn” là từ nhiều nghĩa và nó đồng âm với chín trong “số chín”. Như vậy dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học rất phức tạp. Là giáo viên giảng dạy lớp 5 giáo viên cần phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa, các cách thức chuyển nghĩa của từ để từ đó có thể lựa chọn phương pháp hướng dẫn học sinh học tập phù hợp. Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững các thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu cầu học sinh phải giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa. Néi dung chuyªn ®Ò: KHI d¹y c¸c bµi vÒ tõ nhiÒu nghÜa 1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa: Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh theo kiểu truyền thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững kiến thức sâu sắc để hướng dẫn, làm trọng tài khoa học cho học sinh. Đối với các tiết luyện từ và câu về từ nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên lại đặc biệt quan trọng. Muốn có điều này giáo viên phải bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu kĩ, đặc biệt phải nắm rõ các nghĩa của từ một cách chính xác. VD: Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa” SGK đưa ra hai nghĩa của từ: tai, răng, mũi thì giáo viên còn phải nắm thêm một số nét nghĩa nữa. Ví dụ : Từ “ mũi” có một số nét nghĩa sau: Bộ phận của cơ quan hô hấp. Phần trước của tàu thuyền. Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng. Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi cà Mau. Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có mũi thính. Đơn vị quân đội : mũi quân bên trái. 2. Thiết kế hệ thống bài tập: Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là một trong những hình thức học tập rất hữu hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động trong học tập. Mặt khác nó còn giúp giáo viên nắm được kết quả ngược từ học sinh một cách chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong việc giảng dạy, học sinh nắm vững nội dung bài học. Phiếu học tập cần được thiết kế bằng hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như: nối, đúng- sai, nhiều lựa chọn… 3. Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới: Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên cần đưa các phương pháp dạy học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp trò chơi… -Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh tham gia tính cực chủ động vào quá trình học tập, học sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để cùng giải quyết một vấn đề khó khăn nào đó. -Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích đưa học sinh và tình huống có vấn đề, từ đó kích thích sự hứng thú học tập của học sinh vào việc giải quyết vấn đề đưa ra. VD: Bài “ Luyện tập về từ nhiều nghĩa” trang 73. ? Đặt một câu có từ chạy . Học sinh đặt câu. ? Từ chạy trong câu trên có nghĩa là gì? Học sinh không giải thích được. Giáo viên cho học sinh làm bài tập 1 SGK 4. Cần chuẩn bị tốt tâm thế học tập cho học sinh Giáo viên cần phải giao nhiệm vụ cho học sinh rõ ràng, kích thích hứng thú học tập của các em bằng các hình thức thi đua, khen thưởng. ngoài ra giáo viên cần kiểm tra bài vở học sinh kể cả học sinh yếu lẫn học sinh khá, giỏi để tất cả các em cùng học tập, tránh tình trạng vì kiến thức quá khó nên một vài học sinh không học tập hoặc học tập không hiệu quả. 5. Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa”: Mục tiêu của bài học này là giúp học sinh nắm ®­îc khái niệm về từ nhiều nghĩa, phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ. Xác định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa. Tìm được nghĩa chuyển của một số danh từ chỉ bộ phận cơ thể người , động vật. Để giúp học sinh hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa, giáo viên hướng dẫn học sinh từ nhận xét 1, học sinh có thể nêu ra một số ví dụ về nghĩa của từ đó. Ví dụ: răng em bé, răng sữa, răng mèo…Để đến nhận xét 2, học sinh tìm thêm được từ chứa tiếng mới: răng cào, từ đó giúp học sinh hiểu được răng của chiếc cào không nhai được như răng người hay động vật nhưng vẫn gọi là răng vì chúng chỉ vật nhọn, sắc, sắp đều nhau thành hàng. Sau đó yêu cầu học sinh tìm thêm các từ chứa tiếng răng có nghĩa như răng cào: răng lược, răng bừa…Tiếp theo đó yêu cầu học sinh nhận xét được từ răng qua nhận xét 1 và 2 có 2 nghĩa: Nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa gốc. Nghĩa ở nhận xét 2 là nghĩa chuyển. Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và 2 cần đặt câu hỏi vấn đáp để giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa, yêu cầu học sinh lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa. Giáo viên cùng học sinh phân tích từ vừa tím được. Nếu học sinh còn lúng túng, giáo viên có thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong các kết hợp từ khác nhau. Ví dụ: Đi - Nó chạy còn tôi đi. - Chân nó không đi giày. - Ca nô đi nhanh hơn thuyền. Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ đi trong câu 1 có nghĩa là di chuyển từ nơi này sang này sang nơi khác bằng những bước chân. Từ đi trong câu thứ 2 có nghĩa là mang hay đeo vào. Từ đi trong câu thứ 3 có nghĩa là chuyển động của các phương tiện giao thông. Để rút ra kết luận đi trong câu 1 là nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt động của cơ thể người, từ đi trong câu 2, câu 3 là nghĩa chuyển vì nghĩa của nó được suy ra từ nghĩa gốc và nó có mối liên hệ về nghĩa với từ đi trong câu 1. -Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong các câu văn giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát biểu ý kiến của mình sau khi học sinh đã rút ra được kết quả đúng. Giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm thêm một số câu hay từ chứa tiếng đó mang nghĩa chuyển. Ví dụ với từ: - Mắt: mắt kính, mắt tre, mắt lưới,mắt xích… - Chân: chân bàn, chân lưới, chân núi, chân mây… - Đầu: chải đầu, đầu tàu hỏa, đầu đũa, đầu người( thành viên trong một gia đình)… - Với bài tập 2 của phần luyện tập của tiết học yêu cầu học sinh tìm sự chuyển nghĩa của từ cổ, tay, lưng, lưỡi, miệng. Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ được nhận xét các từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật là những từ nhiều nghĩa và nó luôn là nghĩa gốc của từ. 6. Khi dạy các tiết “Luyện tập về từ nhiều nghĩa”: Trong SGK Tiếng Việt 5, sau khi học bài khái niệm từ nhiều nghĩa có 3 tiết dành để luyện tập về từ nhiều nghĩa. Ở các tiết luyện tập này giáo viên cần củng cố cho học sinh về khái niệm về từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển. mối liên hệ về nghĩa của từ nhiều nghĩa. * Để tránh sự nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh, đối với các bài tập tìm nghĩa ở cột A ứng với nghĩa ở cột B giáo viên nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi: “Nhà giải nghĩa giỏi”, “ Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn”. Đồng thời sau khi học sinh chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao em làm như vậy. * Đối với các bài tập yêu cầu học sinh đặt câu để phân biệt từ nhiều nghĩa là động từ hay tính từ, giáo viên nên hướng dẫn học sinh tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu với những từ vừa tìm được. Nên khuyến khích học sinh tìm được nhiều từ, có khi đó là những từ có nghĩa khác với yêu cầu nhưng như vậy cũng tốt vì như thế học sinh sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được giải thích từ giáo viên . Ví dụ : Đi Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng hai chân: đi bộ, tập đi Nghĩa 2: Mang, xỏ vào chân hoặc tay để che, giữ. Học sinh có thể đặt câu: Nghĩa 1: Em đi bộ đến trường. Bé Na đang tập đi. Nghĩa 2: Em đi dép quai hậu đến trường Mùa đông phải đi tất để giữ ấm đôi chân. Nhận xét: Đi nghĩa 1 mang nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt động di chuyển bằng hai chân của con người. Còn đi nghĩa 2 là nghĩa chuyển, mặc dù nó không chỉ hoạt động di chuyển bằng hai chân của con người nhưng đều chỉ hoạt động mang, xỏ cái gì đó vào chân, tay. Song song với biện pháp trên đối với dạng bài tập này để giúp học sinh phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giáo viên nên sử dụng một số câu hỏi để giúp học sinh hình dung ra nghĩa ban đầu của nó. Ví dụ: ? Nhắc đến ngọt ta có cảm giác thế nào? (ngọt của đường, mật) ? Từ ăn gợi cho ta hoạt động gì của bộ phận nào? (hoạt động đưa thức ăn vào miệng) ? Từ đi gợi cho ta hoạt ®ộng của cái gì? (sự di chuyển của hai chân) Nhờ thế học sinh sẽ dễ dàng nhận ra nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong dạng bài tập này và cũng nhờ thế nên chắc chắn học sinh sẽ dễ dàng đặt câu theo yêu cầu bài tập hơn rất nhiều. * Dạng bài tập yêu cầu phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa là một dạng bài tập khó đối với học sinh vì học sinh rất khó khăn trong việc gọi ra nét nghĩa của từng từ trong các kết hợp khác nhau. So sánh nó với các kết hợp bên cạnh để xác đÞnh nó là đồng âm hay nhiều nghĩa. Trước khi làm bài tập giáo viên phải yêu cầu học sinh nêu khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Mối quan hệ về ý nghĩa của từ đồng âm (khác nhau hoàn toàn), nghĩa của từ nhiều nghĩa ( bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau). Để giúp học sinh làm tốt dạng bài tập này giáo viên nên sử dụng phiếu học tập cho nhóm, cá nhân hoặc cả lớp để học sinh tìm nghĩa của nó cho phù hợp rồi nêu nhân xét đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa. Ví dụ: a) Chín Câu có từ chín Nghĩa của từ chín trong câu - Lúa ngoài đồng chín vàng. 1. Suy nghĩ kĩ càng. - Tổ em có chín học sinh. 2. Hoa, quả, hạt phát triển đến mức thu hoạch được. - Nghĩ cho chín rồi hãy nói. 3. Số 9. Chín…. với chín … là từ nhiều nghĩa, đồng âm với chín…. b) Đường Câu có từ đường Nghĩa của từ đường trong câu - Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt. 1. Chất kết tinh vị ngọt. -Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại. 2. Vật nối liền hai đầu. - Ngoài đường, mọi người đã đi lại nhộn nhịp. 3.Chỉ lối đi lại. Đường ….. với đường ….. là từ nhiều nghĩa, đồng âm với đường … * Sau mỗi tiết luyện tập để củng cố kiến thức cho học sinh, giáo viên có thể đưa ra thêm một số dạng bài tập mới. Mục đích của các bài tập này là củng cố, mở rộng kiến thức từ nhiều nghĩa. Dạng bài tập 1: Tìm từ đồng nghĩa có thể thay thế từ nhiều nghĩa trong các câu văn. Ví dụ : Tìm từ có thể thay thế từ ăn trong câu sau: - Cả nhà ăn tối chưa? (dùng bữa) - Loại ô tô này ăn xăng lắm. (tốn, hao) - Tàu ăn hàng ở cảng. (tiếp nhận) - Bà Đào ăn lương rất cao (hưởng) - Cậu làm như vậy dễ ăn đòn lắm. (chịu) - Da cậu ăn nắng quá. (bắt) - Hồ dán không ăn. (dính) - Hai màu này rất ăn với nhau. (hợp) - Rễ tre ăn ra tới ruộng. (lan) Dạng bài tập 2: Cho từ trong các kết hợp từ, tìm nghĩa của nó tương ứng. Ví dụ: Trong thành ngữ: “ Chạy thầy chạy thuốc” dòng nào dưới đây nêu đúng nét nghĩa của từ chạy? Chọn câu trả lời đúng: Di chuyển nhanh bằng chân. Hoạt động của máy móc. Lo liệu khẩn trương để được cái mình cần. Khẩn trương tránh những điều không may xảy đến. Dạng bài tập 3: Cho nghĩa của từ trong kết hợp từ, câu văn tìm câu có từ dùng với nghĩa đó. Ví dụ : Câu nào dưới đây từ đánh được dùng với nghĩa “ xoa hoặc xát lên bề mặt của vật để vật sạch , đẹp” Bọn trẻ chơi trò đánh trận giả. Các bác nông dân đang đánh trâu ra đồng. Sau bữa tối, ông và bố thường đánh cờ. Hàng tuần vào ngày nghỉ, bố thường đánh giày. Dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học là một vấn đề rất khó và phức tạp. Việc nắm vững các kiến thức về từ nhiều nghĩa góp phần quan trọng nâng cao kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh để từ đó học sinh có thể giao tiếp tèt trong môi trường hoạt động lứa tuổi. Thực tế hiện nay chất lượng các tiết học về từ nhiều nghĩa chưa cao, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong những tiết học. Giáo viên chưa lôi cuốn thu hút được học sinh vào hoạt động học tập tích cực. Nguyên nhân của vấn đề này có từ hai phía: giáo viên và học sinh. Qua nghiên cứu tôi cũng nhận thấy rằng nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng khéo léo các phương pháp dạy học, các hình thức dạy học khác nhau có thể phát huy được tính tích cực của học sinh và kích thích, lôi kéo các em vào quá trình học tập, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học. 3. KIẾN NGHỊ Qua 2 năm nghiên cứu thử nghiệm tôi nhận thấy để dạy các tiết học về từ nhiều nghĩa có kết quả cao, hạn chế được những khó khăn của học sinh khi học từ nhiều nghĩa đồng thời kích thích hứng thú học tập, nâng cao chất lượng học tập của học sinh, tôi xin đề xuất một số biện pháp sau: a.Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ SGK chuẩn về kiến thức, kĩ năng, tài liệu tham khảo về hiện tượng nhiều nghĩa của từ để từ đó nắm vững, giải nghĩa từ một cách chính xác. b. Giáo viên cần phải nghiên cứu tình hình học tập của học sinh, xác định những khó khăn mà học sinh lớp mình gặp phải để từ đó có biện pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả các tiết học. c. Với mỗi tiết học giáo viên cần phải phân loại các dạng bài tập, lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau để kích thích hứng thú học tập của học sinh. d. Sau mỗi bài học giáo viên nên đưa ra một số dạng bài tập khác nhau để củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh. Là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 5, cũng đã có một số kinh nghiệm bản thân song chưa nhiều, thời gian và điều kiện nghiên cứu hạn chế nên CTSKKN chắc chắn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong hội đồng khoa học nhà trường, phòng Giáo dục các bạn đồng nghiệp đọc và góp ý để đề tài hoàn thiện hơn. ........................... ngày 15 tháng 3 năm 2010. Người viết SKKN. PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM (Trang cuối của SKKN) Tên đề tài : Tác giả : Trường (đối với đơn vị trực thuộc Phòng GD & ĐT), Tổ chuyên môn (đối với đơn vị trực thuộc Sở GD & ĐT) Phòng GD & ĐT (hoặc trường, trung tâm đơn vị trực thuộc sở). Nội dung Xếp loại Nội dung Xếp loại - Đặt vấn đề - Biện pháp - Kết quả phổ biến ứng dụng - Tính khoa học - Tính sáng tạo - Đặt vấn đề - Biện pháp - Kết quả phổ biến ứng dụng - Tính khoa học - Tính sáng tạo Xếp loại chung: ..……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……….., ngày tháng năm 2010 Hiệu trưởng (Hoặc tổ trưởng chuyên môn) Xếp loại chung : ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… …………., ngày tháng năm 2010 Thủ trưởng đơn vị Căn cứ kết quả nhận xét, thẩm định của Hội đồng khoa học ngành GD & ĐT cấp tỉnh ; Giám đốc Sở GD & ĐT……… thống nhất công nhận SKKN và xếp loại :……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. ……………., ngày tháng năm 2009 GIÁM ĐỐC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5.doc
Luận văn liên quan