Đề án Vai trò mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Với nguồn vốn ODA cần đồng bộ hoá khung pháp lý của Việt nam, nghiên cứu và tiến hành sửa đổi một số nghị định liên quan đến quản lý và sử dụng nhằm tạo sự hài hoà giữa thủ tục của phía các nhà tài trợ và phía Việt Nam . Thực tế đòi hỏi Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính cùng các ban ngành chức năng cần có những cuộc tiếp xúc trao đổi với các nhà tài trợ. Các nhà tài trợ chỉ nên thống nhất với chính phủ về các quy định có tính chất chung nhất, các chi tiết cụthểnên giao quyền cho các địa phương thống nhất để phù hợp với đặc thù của họ, hạn chế được những vướng mắc trong quá trình triển khai dự án sau này.

pdf36 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1464 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề án Vai trò mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
để vốn đầu tư nước ngoài phát huy tác dụng cần có một tỉ lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp. Nghĩa là muốn tiếp nhận được vốn nước ngoài thì trong nước cũng phải chuẩn bị sẵn một số cơ sở nhất định toạ điều kiện cho vốn nước ngoài hoạt động hiệu quả. Theo kinh nghiệm của một số nước nhóm NICS thì giai đoạn đầu của quá trình phát triển tỉ lệ này thường thấp 1/1.5 nghĩa là một đồng vốn nước ngoài cần 1.5 đồng vốn trong nước. Ở giai đoạn sau khi các chương trình đầu tư nghiêng về ngành công gnhiệp chế biến có hàm lượng vốn và kĩ thuật cao thì tỉ lệ này tăng lên 1/2.5. Ngoài ra vốn đầu tư trong nước còn đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết. Đầu tư trong nước trên cơ sở đầu tư ban đầu tạo ra những cơ sỡ hạ tầng căn bản, đầu ra, đầu vào…song lại thiếu máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao, mang tính cạnh tranh so với quốc tế để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.Với cơ sở hạ tầng sẵn có đó thì đầu tư nước ngoài trở nên an toàn và ít tính rủi ro hơn, bởi vì bản chất của dòng đầu tư nước ngoài là tìm kiếm nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn, đem lại nhiều lợi nhuận hơn sẽ làm đầu tư nước ngoài tập trung nhiều hơn. Như vậy vốn trong nước và vốn nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Như Đảng và Nhà nước ta đã xác định trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá vốn nước ngoài có thể đóng vai trò xung lực tạo sức đột phá cho bước nhảy vọt sản lượng, cũng như những cơ sở vững chắc cho việc đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh lâu bền. Song về lâu dài nó không thể đóng vai trò quyết định so với nguồn lực riêng có của đất nước. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC, NƯỚC NGOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG Ở VIỆT NAM Trong hơn một chục năm trở lại đây với việc chuyển sang hệ thống thị trường mở của nền kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ.Từ chỗ khủng hoảng thiếu trầm trọng, ngày nay đời sống nhân dân đã được nâng lên một bước ,được đánh giá là một quốc gia an toàn cho đầu tư với tốc độ tang trưởng cao trong một thời kì dài, nền chính trị ổn định. Đạt được kết quả đó là nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước ta trong việc khơi thông nguồn lực trong nước tận dụng nguồn lực nước ngoài.Vốn đầu tư trong nước và nước ngoài đã góp phần quan trọng tạo nên tốc độ tăng trưởng và sự phát triển kinh tế nước ta.Tìm hiêủ về thực trạng hai nguồn vốn trong thời gian qua sẽ cho chúng ta cách nhìn đúng đắn hơn về vai trò của hai nguồn vốn cũng như mối quan hệ giữa chúng.Từ đó ta có thể đưa ra các biện pháp về huy động và sử dụng hai nguồn lực này cho sự phát triển kinh tế nước ta trong thời gian tới. Bảng 1: Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển Khu vực trong nước Năm Tỉ lệ VĐT/GDP % Tổng số % Tổng số KTNN Ngoài QD Khu vực có VĐTNN Tỉ lệ VĐT trong nước/ nước ngoài 1995 27.1 100 69.6 42 27.6 30.4 2.29 1996 100 74 49.1 24.9 26 2.85 1997 28.3 100 72 49.4 22.6 28 2.57 1998 100 79.3 55.5 23.4 20.7 3.83 1999 19.7 100 82.7 58.7 24 17.3 4.78 2000 32.9 100 81.3 57.5 23.8 18.7 4.35 2001 34 100 81.6 58.1 23.5 18.4 4.43 2002 34.3 100 81.5 56.2 25.3 18.5 4.41 Ước 2003 35.9 100 83.5 56.5 26.7 16.5 5.06 Tổng hợp Thời báo kinh tế Việt Nam I.THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC Để không lệ thuộc nước ngoài về kinh tế Đảng luôn xác định nhiệm vụ và giải pháp quan trọng phát triển kinh tế xã hội là “huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội nhất là nội lực, nguồn lực trong dân và tăng sức thu hút đầu tư nước ngoài, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư của nước ngoài, tăng cường quản lý sử dụng đất đai, đề cao kỉ luật tài chính, đẩy mạnh thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu giảm bội chi”.Thực tế cho thấy tỉ lệ vốn đầu tư khu vực trong nước luôn chiếm khoảng trên 70% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hiện nay có xu hướng ngày càng tăng. 1.Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì đầu tư từ khu vực nhà nước luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tỉ lệ này đạt khoảng 50% và hiện nay có xu hướng ngày càng tăng. Giai đoạn 1996-2000 tỉ trọng vốn đầu tư phát triển khu vực kinh tế nhà nước chiếm 54.6% so với tổg vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Đến giai đoạn 2001-2003 là 56.87%, riêng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước năm 2003 ước tính chiếm 56.52% tổng vốn đầu tư phát triển.Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước bao gồm các thành phần: Ngân sách nhà nước,vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. 1.1 Ngân sách nhà nước (NSNN) NSNN có vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều khiển kinh tế vĩ mô của nhà nước. Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật. Đồng thời NSNN cũng góp phần trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Hiện nay chi cho đầu tư phát triển luôn chiếm khoảng 30%. Năm 1994 chi của NSNN cho đầu tư là khoảng 1 tỷ USD trong khi GDP là 15.5 tỷ USD như vậy tỷ lệ đầu tư từ ngân sách đạt khoảng 6% GDP.Trong giai đoạn 1996-2000 đẻ phù hợp với sự phát triển kinh tế NSNN bước đầu được cơ cấu lại theo hướng tích cực và có hiệu quả hơn.Việc cải cách thuế giai đoạn 2, cùng với triển khai luật ngân sách đã góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách. Tổng thu ngân sách tăng bình quân hàng năm trên 7% cao hơn mức bình quân tăng GDP của giai đoạn này. Chi cho đầu tư phát triển tăng lên bình quân khoảng 25% GDP trong tổng chi NSNN. Trong giai đoạn này tổng nguồn vốn đầu tư thuộc NSNN bình quân 5 năm chiếm 21.5% tổng vốn đầu tư xã hội, tức là khoảng 8 tỉ USD. Đến năm 2000 tỷ lệ chi NSNN là 24.7% so với GDP trong đó chi cho đầu tư phát triển là 6.7%.Tỷ Lệ chi đầu tư phát triển tăng dần qua các năm : Năm 2000 là 8.4% năm 2002 là 8.2% và năm 2003 ước đạt 7.7%. Chi phí đầu tư phát triển của NSNN cho các ngàmh kinh tế thì tập trung chủ yếu ở lĩnh vực công nghiệp và giao thông vận tải, bưu chính viễn thông chiếm khoảng 35.3%, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn khoảng 22.5%, cho các lĩnh vực còn lại bao gồm khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế , văn hoá, thể dục thể thao chiếm khoảng 36.7%. Như vậy nhờ tăng đầu tư, số công trình được đưa vào sử dụng và năng lực của hầu hết các ngành đều tăng. Gía trị tài sản cố định đến cuối năm 2000 tăng khoảng 30% so với 1995. Đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia được ngân sách cấp rất lớn: Đầu tư cho xoá đói giảm nghèo ,chương trình 135 đã tạo được niềm tin của đồng bào và dân tộc với Đảng và Nhà nước; dự án trồng 5 triệu ha rừng… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra với vốn đầu tư phát triển có nguồn gốc từ NSNN là việc thực hiện vẫn trong tình trạng phân tán dàn trải, thiếu tập trung, số lượng các dự án ngày càng gia tăng.Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì năm 2003 các bộ và địa phương đã bố trí 10600 công trình tăng 2500 công trình so với năm 2000. Trong đó các công trình do địa phương bố trí tăng 47%, nhiều dự án là theo ý kiến chủ quan của ngành địa phương.Việc đầu tư dàn trải như thế lại diễn ra trong điều kiện nguồn ngân sách còn nhiều hạn hẹp khiến nhiều công trình xây dựng dở dang nằm chờ vốn gây lãng phí nguồn lực, tình hình nợ đọng vốn trong đầu tư xây dựng khá cao. Theo số liệu cho đến giữa năm 2003, được tổng hợp từ các bộ,ngành 53/61 tỉnh, thành phố thì số nợ này lên tới 11000 tỷ đồng. Giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn là những bộ có khối lương nợ đọng lớn. Nhưng đáng ngại nhất là vấn đề chất lượng các công trình xây dựng chưa thực sự được đảm bảo. Không ít công trình mới bàn giao, đưa vào sử dụng chưa được bao lâu đã nhanh chong xuống cấp và hư hỏng… Việc sai phạm dẫn đến những tổn thất về chất lượng không chỉ từ phía các đơn vị thi công mà ngay từ các đơn vị tư vấn thiết kế, các cơ quan thẩm tra thẩm định kinh tế… Việc thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là một vấn đề nhức nhối cần được tập trung giải quyết vì chất lượng các công trình tác động đến thời gian sử dụng tạo ra trình độ về cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Do đó, đòi hỏi phải có giải pháp thiết thực để sử dung có hiệu quả vốn đầu tư từ nguồn ngân sách này. 1.2. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) Theo số liệu thống kê thì năm 2000 có khoảng 5700 DNNN, nhưng hầu hết nhỏ bé về quy mô: Vốn bình quân dưới 5 tỷ chiếm 66% trong đó DNNNcủa các tỉnh, thành phố có vốn 1 tỷ chiếm 30%, nhiều tỉnh là 60%. Đến năm 2001 số DNNN giảm còn 5355 và năm 2001 là 5364 doanh nghiệp. Đấy là do chủ trương cơ cấu lại hệ thống DNNN thực hiện chuyển đổi hình thức DNNN.Trước đây, vốn cho DNNN chủ yếu được cấp từ ngân sách thì nay thực hiện cổ phần hoá để đa dạng hoá các nguồn vốn.Trước đây, đa số các doanh nghiệp đều trong tình trạng làm ăn thua lỗ, khoảng hơn 20% gây nên gánh nặng ho NSNN.Trong ba năm 1997-1999 NSNN cấp gần 8000 tỷ đồng trực tiếp cho các DNNN, 1464.4 tỷ để bù lỗ nhằm làm giảm gánh nặng tài chính. Ngoài ra, từ năm 1996 chính phủ còn miễn, giảm thuế là 2288 tỷ đồng, xoá nợ 1088.5 tỷ, khoanh nợ 3392 tỷ, dãn nợ 540 tỷ và tiếp tục cung cấp 8685 tỷ tín dụng ưu đãi cho DNNN.Theo chủ trương mới, thực hiện cổ phần hoá các DNNN còn khả năng sản xuất, giải thể những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ keo dài.Tính đến hết 11-2000 đã cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu cho 520 doanh nghiệp, với tổng vốn là 2000 tỷ chiếm 1.6% tổng số vốn đầu tư của Nhà nước vào khu vực DNNN.Sau khi cổ phần hoá thì các doanh nghiệp này đều làm ăn có lãi với doanh thu tăng gấp 2 lần, nộp NSNN tăng 2.5 lần, tốc độ tăng trưởng vốn là 2.5 lần. Với 300 DNNN cỡ lớn (trong đó có 90 doanh nghiệp thuộc các tổng công ty 90-91 đóng góp trên 80% tổng thu NSNN của khu vực DNNN. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước có được từ hai nguồn là ngân sách cấp và lợi nhuận để lại. Hiện nay còn thêm huy động từ nguồn cổ phần hoá. Tính đến thời diểm 31/12/2002 tổng số vốn doanh nghiệp Nhà nước là 895,2 nghìn tỉ đồng chiếm 62.1% so với tổng vốn của các doanh nghiệp tăng 9,5% một năm. Đóng góp của doanh nghiệp Nhà nước vào GDP tăng lên năm1995 là 30,4% thì đến 2001 là 30,6%. Song ở khu vực này vẫn còn nhiều tồn tại, doanh nghiệp Nhà nước với vai trò ngày càng lớn- chỉ là sức người cản trở thay vì là sức kéo đối với tăng trưởng. Chính phủ đổ rất nhiều vốn đầu tư vào khu vực này nhằm vực dậy, đưa khu vực này thực hiện được vai trò là đầu tàu tăng trưởng là nơi nắm giữ vốn lớn, khoa học công nghệ tiến bộ song số doanh nghiệp bị thua lỗ vẫn chiếm 17,5% năm 2000 và 16,7% năm 2001, 14,7% năm 2002 mức lỗ bình quân ủa một doanh nghiẹp là 4 tỉ dẫn đến thất thoát nguồn lực hoặc một số doanh nghiệp có lãi song bấp bênh, lãi có được là do được bảo hộ và đối xử ưu đãi: Như cácnhà máy đường, xi măng… mặt khác trong khi Nhà nước với những nỗ lực nhằm cải cách những doanh nghiệp hiện có và làm cho nó hiệu quả hơn thì những doanh nghiệp Nhà nước mới thành lập lại chỉ vì lí do có những dự án về cơ sở hạ tầng và thay thế nhập khẩu. Một số cơ quan thành lập ra doanh nghiệp nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, không tiến hành bất cứ nghiên cứu thị trường nào cho sản phẩm của mình. Do đó nhiều doanh nghiệp Nhà nước vừa thành lập đẫ bị mắc nợ, sản phẩm không bán được và dư thừa công suất. Ngoài ra nhiều doanh nghiệp Nhà nước nằm trong diện bị chuyển thể tìm cách ôm đồm thêm chức năng công ích để được giữ lại trong tay Nhà nước. Với những bất cập trên khu vực này cần phải có những cải cách mạnh mẽ và tích cực hơn. 1. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân Khu vực tư nhân Việt nam, cả bộ phận doanh nghiệp có đăng ký và bộ phận hộ gia đình phi chính thức chiếm 40% GDP và 90% số việc làm năm 1998 khu vực này có vốn đầu tư phát triển khá và có xu hướng ngày càng gia tăng. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua và trong thời gian tới là tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn trong dân. Nhà nước đã ban hành luật doanh nghiệp và đến nay sau 4 năm thực hiện ta đã huy động được trên 10 tỉ USD. Theo đánh giá sơ bộ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư và phần tích luỹ của cách doanh nghiệp dân doanh. 2.1 Tiết kiệm của khu vực dân cư Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước một bộ phận không nhỏ trong dan cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ tồn tại dưới dạng vàng ngoại tệ tiền mặt. Nguông vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Điều này đã được thể hiện bằng thực tế, nguồn vốn huy động từ tiết kiệm của dân cư chiếm 80% tổng nguồn vốn huy độgn của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Qua một số đợt phát hành công trái đã huy động một lượng vốn rất lớn từ dân cư, chỉ một thời gian ngắn nhưng số tiền huy động đã lên đến hàng ngàn tỉ đồng. Với khoảng 15 triệu hộ gia đình đống góp khoảng 1/3 GDP, giai đoạn 1996 – 2000 tiết kiệm của khu vực dân cư chiếm 15% GDP và xu hướng ngày càng tăng Bảng2 : Tỉ lệ tiết kiệm dân cư / GDP (%) 1999 2000 2001 2002 2003 Tiếtkiệm/GDP 22% 29,6% 31,2% 32,1% Tỉ lệ tăngGDP 4,8% 6,79% 6,89% 7,04% 7,24% Thời báo kinh tế Việt Nam Khu vực này còn đóng góp một nguồn thu ngoại tệ khá từ lượng kiều hối chuyển về của người đi xuất khẩu lao động và thân nhân ở nước ngoài. Trong 9 tháng đầu năm 1999 lượng kiều hối chuyển vào Việt Nam đạt 585 triệu USD cả năm 1999 đạt khoảng 1,2 tỉ USD. Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư góp phần quan trọng vào vốn đầu tư phát triển chiếm khoảng 25% ngày càng quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi xu hướng đầu tư nước ngoài đang giảm sút thì đây là nguồn bù đắp quan trọng. Tuy nhiên do hệ thống ngân hàng Việt Nam còn hoạt động chưa hiệu quả nên mặc dù thu hút được tiết kiệm dân cư song chưa đầy đủ, hai là việc sử dụng vốn tiết kiệm này chưa đạt hiệu quả các ngân hàng hiện nay còn dư nợ cho vay trong khi khu vực tư nhân cần vốn lại không được vay. Đây là bất cập cần giải quyết để khai thông nguồn lực từ sức dân. 2.2 Đầu tư của khu vực dân doanh Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua và trong thời gian tới là tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn trong dân. Năm 1999 Nhà nước ban hành luật doanh nghiệp và đến nay sau 4 năm thực hiện ta đã huy động được trên 10 tỉ USD bình quân mỗi năm là 2,5 tỉ USD. Năm 2003 đầu tư của tư nhân và dân cư là 58000 tỉ đồng tăng 24,9 % so với năm 2002. Theo thời báo kinh tế Việt Nam thì số lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng lên qua từng năm, năm 2000 số lượng doah nghiệp tư nhân là 35004 thì 2001 là 44314 và năm 2002 là 55236, tỉ lệ tăng số doanh nghiệp tư nhân là 25,6% một năm (trong đó tăng nhanh nhất là công ty cổ phần chiếm 93,3%, công ty TNHH 49,9%)ở khu vực này số doanh nghiệp có lãi tăng từ 27916 lên 32593 doanh nghiệp và 2002 là 41743 doanh nghiệp tổng mức lãi tăng dần từ 3168 tỉ đồng lên 4753 tỉ và 7024 tỉ, lãi bình quân của một doanh nghiệp tăng lên từ 0,11 tỉ đến 0,15 tỉ và 0,17 tỉ. Và khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 1995 góp 54,7% GDP và năm 2001 góp 46,8% GDP. Điều này khẳng định tiềm năng phát triển to lớn của khu vực này. Khu vực tư nhân năng động có thể tăng trưởng nhanh và tạo việc làm mà không cần có sự hỗ trợ nào từ ngân sách hay gần giống ngân sách. Nếu tạo điều kiện thông thoáng và tính hiệu rõ ràng từ phía chính phủ. Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển vủa khu vực ngoài quốc doanh hiện nay là cao nhất năm 2002 tăng 18,3 so với năm trước và năm 2003 tăng 25% so với năm trước mặc dù có nhiều tiến bộ về tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu song cũng còn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập. Phần lớn các doanh nghiệp đều có qui mô nhỏ phân tán với công nghiệp lạc hậu, việc phát triển doanh nghiệp còn mang tính tự phát, năng lực cạnh tranh còn yếu kém. 2. Thị trường vốn Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phảt triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán là trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Hoạt động của thị trường chứng khoán mặc dù chưa phảt triển như mong muốn song bước đầu đã được triển khai khá suôn sẻ không gây ra những biến động lớn hoặc tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Cho đến gày 20/12/2003 thị trường giao dịch chứng khoán đã tổ chức được 692 phiên giao dịch với tổng lượng giao dịch đạt 5189 tỉ đồng. Riêng tổng năm 2003 tổ chức được 239 phiên giao dịch đạt 2991 tỉ đồng bình quân 12,5 tỉ/ 1 phiên giao dịch. Doanh số giao dịch tăng 2,76 lần so với doanh số giao dịch năm 2002. Thông qua bảo lãnh phát hành và đấu thầu lớn hơn 100 loại trái phiếu chính phủ và niêm yết trên thị trường giao dịch chứng khoán với khối lượng trên 11000 tỉ. Tổng giá trị chứng khoán niêm yết ( cổ phiếu, trái phiếu) tính theo mệnh giá là 12397 tỉ đồng chiếm 2,32% GDP năm 2002. Công chúng đã dần quen với một phương thức đầu tư mới với khoảng trên 16000 tài khoản giao dịch trong đó có 152 nhà đầu tư có tổ chức và 85 nhà đầu tư nước ngoài. Sự tham gia của các nhà đầu tư đã góp phần quan trọng cho sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đặc biệt là trong giai đoạn gần đây. Số lượng tài khoản và giao dịch thường xuyên của các nhà đầu tư nước ngoài tăng lên đã góp phần kích thích nhà đầu tư quay lại với thị trường chứng khoán. Song hoạt động của thị trường này còn nhiều bất cập như qui mô thị trường nhỏ bé, chưa tổ chức tốt thị trường thứ cấp hiệu quả với trái phiếu đặc biệt là trái phiếu chính phủ. Kiến thức và hiểu biết của công chúng còn hạn chế, các công cụ chính sách của Nhà nước còn thiếu đồng bộ, thị trường bị chia cắt: Thị trường tiền tệ do ngân hàng nhà nước quản lý, thị trường bảo hiểp do bộ tài chính, thị trường chứng khoán do uỷ ban chứng khoán Nhà nước quản lý giám sát. Nhà nước chưa đưa ra được chiến lược phát triển thống nhất chung chính vì vậy thị trường vốn chưa thể hiện được vai trò của mình là cái van điều tiết các nguồn vốn và tăng hiệu quả sử dụng vốn. II.THỰC TRẠNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Sau khi thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Việt Nam đã mở ra một kênh mới rất có triển vọng trong việc thu hút nguồ lực từ bên ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đặc biệt là từ khi chính phủ ban bố luật đầu tư nước ngoài khối lượng FDI gia tăng nhanh dần qua các năm. Và FDI đã góp phần tạo đà tăng trưởng nhanh cho kinh tế nước ta. Cuối năm 1993 là thời điểm đánh dấu bước chuyển của động thái dùng vốn nước ngoài, khi mà các thành tựu cải cách đã đủ sức chứng tỏ triển vọng phát triển nhanh và lâu bền của nền kinh tế Việt Nam.Tháng 10/1993 diễn ra Hội nghị lần 1 các nhà tài trợ cho Việt nam tại Pari - ở hội nghị này các chính phủ và tổ chức quốc tế cam kết tài trợ cho Việt nam 1.860 tỉ USD. Ngay sau đó cùng với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ quốc tế ta đã giải quyết nợ quá hạn với IMF. IMF cũng tuyên bố cho Việt Nam vay theo thể thức dự phòng 230 triệu USD. Đến năm 1994 Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, năm 1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Những điều đó đã làm dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được thuận lợi hơn. 1. Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức Nếu như FDI làm thúc đẩy chuyển địch cơ câú thì ODA lại là nguồn tài trợ quan trọng cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triểnvăn hoá giáo dục y tế, là động lực cho phát triển bền vững nếu biết sử dụng đúng. ODA với đặc điểm vay ưu đãi thời hạn dài là phần thiết yếu để thực hiện tái thiết đất nước, nhưng hiện nay nguồn vốn này càng khó khăn hơn do có sự cạnh tranh giữa các nước nghèo trong khi ngân khố ODA của các nước giàu ngày một giảm.Vốn ODA được đầu tư chủ yếu theo các chương trình dự án giúp phát triển khu vực kém phát triển, vùng núi,vùng sâu vùng xa đặc biệt là các chương trình xoá đói giảm nghèo, định canh định cư … Bảng 3: Cam kết giải ngân vốn ODA 1995-2002(tỷ USD ) Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Cam kết(1) 2.26 2.43 2.4 2.2 2.1 2.4 2.4 2.5 Giải ngân(2) 0.74 0.9 1 1.24 1.35 1.65 1.5 1.53 Tỷ lệ (2)/(1) 0.327 0.37 0.417 0.564 0.643 0.688 0.625 0.612 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư ) Qua 10 lần tổ chức hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam số vốn cam kết đều tăng dần qua các năm. Song số vốn được hợp thức hoá bắng ký kết các hiệp định thì lại không tăng tương xứng. Như năm 2002số vốn này đạt 2.574 tỷ USD giảm 26%so với kết quả của năm 2000. Trong đó vốn vay là gần 1.3347tỷ USD và viện trợ không hoàn lại khoảng 239.4triệu USD. Như vậy kể từ năm 1993 tống số vốn ODA được các nhà cam kết tài trợ dành cho Việt nam lên đến 22.43 tỷ USD chưa kể đến phần tài trợ riêng để thực hiện cải cách kinh tế. Trong đó tính đến hết 2002 tổng số vốn được hợp thức hoá bằng hiệp định đạt khoảng 16.5 tỷ USD và số vốn giải ngân đạt khoảng 11.04 tỷ USD. Rõ ràng là vốn giải ngân đạt tỷ lệ chưa cao, so với vốn cam kết thì còn thấp chỉ đạt 49.2%. Có thể thấy rằng nhu cầu vốn ODA ở nước ta là rất lớn.Theo “chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” thì thời kỳ 2001-2005 Việt Nam cần thực hiện số vốn ODA khoảng 9 tỷ - nghĩa là mỗi năm cần thực hiện 1.8tỷ USD. Như vậy kết quả giải ngân chưa đảm bảo được yêucầu đề ra. Điều đó cũng cho thấy rằng vấn đề quản lý sử dụng vốn ODA ở nước ta chưa đạt hiệu quả, chưa khai thác tốt được tác động tích cực của nguồn vốn này. Cứ với tình hình sử dụng vốn ODA như vậy thì việc vay vốn ODA không những không làm phát triển kinh tế mà còn gia tăng nợ quốc gia. Nhất là 5năm tới khi thời hạn trả nợ của một số khoản ODA đã đến mà các chương trình dự án không hiệu quả không có khả năng thu hồi vốn trả nợ. Song cũng không thể phủ nhận những thành tựu mà ODA đem lại cho sự phát triển của nước ta. Nhờ ODA mà cơ sở hạ tầng trong nước được cải thiện hơn (dù có thể còn thiếu đồng bộ ). Tất cả các chương trình dự án lớn, các công trình trọng điểm quốc gia đều có sự góp mặt của vốn ODA: Đường sá được mở mang, các nhà máy, các công trình phục vụ dân sinh, đặc biệt ODA góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về xoá đối giảm nghèo trên thế giới. ODA đã tạo điều kiện hoàn thiện cơ sỏ hạ tầng cho sự phát triển kinh tế, khơi thông được các nguồn lực trong dân . Theo ngân hàng thế giới (WB) Việt Nam hiện nay đang đứng trước ba thách thức là cần đẩy mạnh cải cách, tăng tốc giảm nghèo và cải thiện chất lượng quản lý Nhà nước. Khả năng tiếp nhận và giải ngân ODA là thể hiện nội lực và tài trí của người Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước. Nếu biết khơi dậy cả mọi nguồn vốn trong dân để thực hiện các dự án ODA thì sẽ đẩy mạnh được việc giải ngân vốn ODA,từ đó sẽ ngày càng tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của các nhà tài trợ quốc tế 2. Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Kể từ năm 1998 khi luật đầu tư nước ngoài bắt đầu có hiệu lực đến ngày 20-12-2002 đã có 2582 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký 50.3 tỷ USD và vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 24 tỷ USD.Trong số này có khoảng 1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh vói tổng vốn đăng ký 25 tỷ USD. Bảng 4: Một số chỉ tiêu đóng góp của đầu tư nước ngoài Chỉ tiêu\Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 1 Doanh thu(triệuUSD) 2063 2743 3815 3910 4600 6167 2Xuất khẩu (triệuUSD) 336 788 1790 1982 2547 3300 3. Tỉ trọng trong GDP (%) 6.3 7.39 9.07 10.03 12.24 13.25 4. Tốc độ tăng trong công nghiệp (%) 8.8 21.7 23.2 24.4 20 23 5. Tỉ trọng trong công nghiệp (%) 25.1 26.2 28.9 32 34.4 36 6. Nộp ngân sách(triệu USD) 195 263 315 317 271 260 7. Lao động trực tiếp ( ngàn người) 220 250 270 296 327 Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần hình thành lên một khu vực kinh tế mới: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Từ đó đẻ ra 2014 doanh nghiệp mới và 1584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu ở nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ bao gồm công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp dầu khí công nghiệp thực phẩm và xây dựng…chiếm hơn 61% vốn đăng ký và 67% vốn thực hiện 71% số lao động, 94% doanh thu và 91% giá trị xuất khẩu (không kể dầu thô ) của toàn khu vực đầu tư nước ngoài. Như vậy rõ ràng đầu tư nước ngoài đã thực hiện theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng gia tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ. Theo tổng điều tra gần đây thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm gần 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội 25.1% giá trị sản xuất công nghiêp 27.4% kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo việc làm cho 400000 lao động trực tiếp cùng hàng vạn lao động gián tiếp khác.Và thu nhập của người lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn so vơí các khu vực khác . Đóng góp của khu vực này cho ngân sách nhà nước tăng lên qua các năm: năm 2000 nộp NSNN đạt 1.3%so với GDP thì đến 2003 ước đạt 1.5% so với GDP Kết quả sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực của khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội so vơí các khu vực kinh tế trong nước. Chẳng hạn năm 2002 trong khi giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng 11.7% hay khu vực ngoài quốc doanh là 19.2% thì khu vực doanh nghiệp cố vốn đầu tư nước ngoài tăng 24.8% hoặc kim ngạch xuất khẩu trong nước 6.3% thì đầu tư nước ngoài tăng 23.7%. Như vậy đầu tư nước ngoài đóng vai trò là đầu tàu trong quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế nước ta hiện nay. Có thể nói đóng góp của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cho sự tăng trưởng kinh tế các năm qua ở Việt nam là rất lớn, được xem là xung lực chính. Tuy nhiên một câu hỏi được đặt ra là liệu sự tăng trưởng trên còn tiếp tục được duy trì không nếu đầu tư của khu vực nước ngoài mỗi năm một giảm sút từ năm 1997 cuộc khủnh hoảng tiền tệ Châu á đã làm dòng vốn đầu tư nước ngoài bị đình trệ, tỷ lệ đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm từ 28% năm 1997 đến 2001 còn 18.4%và năm 2003 ước đạt 16.8%, quy mô các dự án cũng có xu hướng giảm dần. Hiện nay quy mô trung bình một dự án đăng ký cấp phép là là chưa đầy 2 triệu USD trong khi giai đoạn trước là 10 triệu USD (năm 1994) Nhịp độ tăng vốn đầu tư nước ngoài cấp mới và vốn thực hiện suy giảm. Năm 1997 giảm 49% so với năm trước, năm1998 giảm 16%. Vốn thực hiện năm 1997 đạt 3.25 tỷ tăng 25% nhưng năm 1998 lại giảm 40% năm 1999 giảm 25%. Số dự án đã cấp xin giảm tiến độ là 6-7 tỷ nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng hoặc thu hẹp sản xuất . Song vốn đầu tư trực tiếp vẫn còn một số hạn chế: Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài còn một số bất hợp lý: Đầu tư rất ít vào dự án nuôi trồng và chế biến nông sản (khai thác nguồn lực trong nước hướng về xuất khẩu) cơ khí chế tạo (tạo điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật) mà còn tập trung vào những địa phương có điều kiện thuận lợi những ngành dự kiến có thể thu lợi nhuận nhanh. Chủ trương đa phương hoá nguồn đầu tư nước ngoài còn chưa thực hiện tốt. Vốn đầu tư nước ngoài từ Châu Á chiếm 70% trong đó ASEAN chiếm 25% trong khi vốn từ Châu âu và Mỹ còn thấp, bài học về khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á còn chưa ráo mực. Nếu tập trung thu vốn của một khu vực xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh song chủ yếu là các mặt hàng gia công: Dệt may, giày dép lắp ráp điện tử …giá trị gia tăng thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường không cao. Công tác dự báo chưa chuẩn xác dẫn đến rủi ro làm dự án bị đình trệ bị rút giấy phép. Công tác quản lý cấp phép đầu tư thực sự vẫn chưa thông thoáng quá tập trung vào thủ tục ban đầu nhưng lại buông lỏng quản lý sau giấy phép là khâu quyết định thành bại của dự án. Việc phân phối vốn đầu tư để sản xuất hàng thay thế nhập khẩu mạnh hơn xu hướng sản xuất hàng hoá hướng vào xuất khẩu, có thể thấy rõ là 3/4 vốn FDI trong khu vực công nghiệp được tập trung vào khu vực thay thế nhập khẩu, chỉ 1/4 FDI tập trung vào phục vụ xuất khẩu. Hơn nữa khu vực FDI bỏ ra khá nhiều vốn đầu tư cho một việc làm 66000USD cho thấy đầu tư nước ngoài thay thế nhập khẩu cần nhiều vốn hơn là sản xuất hàng xuất khẩu cần nhiều lao động. Ngoài ra đầu tư nước ngoài còn gây ra nhiều tác động tiêu cực khác khai thác tài nguyên quá mức, không quan tâm tới việc xử lý ô nhiễm môi trường, bóc lột người lao động bản xứ, chuyển giao kĩ thuật công nghệ lạc hậu nhưng lại khai khống lên giá trị lợi ích của nước nhận đầu tư. Như năm 1995 qua giám định 14 doanh nghiệp liên doanh thì có 6 doanh nghiệp bị khai khống máy móc thiết bị với tổng số là 13,173 triệu USD, với ưu thế về vốn kĩ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất dẫn đến gây lũng loạn và phá sản các doanh nghiệp trong nước kém sức cạnh tranh. Lợi ích mà đầu tư nước ngoài đem lại là không nhỏ nhưng để phù hợp với lợi ích và định hướng phát triển quốc gia nhà nước cần có chính sách quản lý phù hợp vừa tăng cường thu hút vừa kiềm chế tác động tiêu cực. 3. Thực trạng về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một trong những xu hướng vận động chủ yếu của đòi sống quốc tế hiện nay. Với xu hướng này, mở cửa và hội nhập các nền kinh tế quốc gia và khu vực trở thành điều kiện bắt buộc của sự phát triển. Bên cạnh đó với sự tiến bộ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật công nghệ khi tiềm lực kinh tế nói cung của thế giới đã trở nên hùng hậu, vấn đề tăng trưởng lâu bền, tốc độ cao và dịch chuyển cơ cấu trở thành quản lý phát triển cho mọi nền kinh tế hiện đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng ấy, bên cạnh yếu tố quyết định của nội lực thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng tạo nên đà tăng trưởng. Vốn đầu tư nước ngoài năm 1995 thu ngân sách từ khu vực nước ngoài đạt 128 triệu USD thì đến năm 1997 là 315 triệu USD và đến năm 2000 là 260 triệu USD đóng góp vào thu ngân sách nhà nước từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30%. Trong những năm gần đây các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên tục có mức đóng góp vào ngân sách nhà nước năm sau tăng cao hơn năm trước (năm 2001 tăng 20,4%, năm 2002 tăng 26,9%, năm 2003 tăng 30% ) góp phần vào nguồn thu để nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội, an ninh quốc phòng. Đầu tư nước ngoài góp phần tạo ra một số năng lực sản xuất, ngành sản xuất, phương thức quản lý và kinh doanh mới thúc đẩy doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho nền kinh tế nước ta nhiều công nghệ mới hiện đại mà biểu hiện cụ thể nhất là ở các lĩnh vực viễn thông dầu khí, hoá chất, điện tử tin học, ô tô xe máy… làm tiền đề cho sự phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Ta cũng học tập được nhiều mô hình quản lý tiên tiến và các phương thức kinh doanh hiện đại trên thương trường quốc tế đã được áp dụng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đây có thể được coi là những yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp trong nước không ngừng thúc đẩy đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường. Trong thời gian qua khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.Với tỷ trọng bằng 35% giá trị sản lượng cả nước khu vực kinh tế này góp phần quạn trọng trong việc nang cao giá trị sản xuất trong cả nước từ 11%/ năm lên 13%/ năm . Bên cạnh đó các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài còn tạo ra nhiều hàng hoá trong thị trường trong nước góp phần thay thế hàng nhập khẩu, và khu vực này cũng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao nhất làm cải thiện cán cân thanh toán quốc tế cho nước ta với kim ngạch xuất khẩu bằng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đầu tư nước ngoài cũng làm tăng lượng việc làm cho lao động, tính đến nay là khoảng 44 vạn lao động trực tiếp cùng chục vạn lao động gián tiếp, với thu nhập của người lao động cao hơn 30% các khu vực khác. Hàng năm thu nhập của người lao động ở khu vực này lên đến 300-350 triệu US. Ngoài ra khu vực này còn thúc đẩy quá trình phát triển đổi mới và hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới. Nhờ có đầu tư nước ngoài mà các quan hệ song phương và đa phương được mở rộng, phát triển, Việt Nam từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở rộng bạn hàng và thị phần ở nước ngoài. Như vậy đầu tư nước ngoài có rất nhiều tác động tích cực tới sự phát triển và mở rộng của đầu tư trong nước. Đầu tư nước ngoài đã tích cực đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, gia tăng về quy mô tích luỹ và chất lượng đầu tư cho nền kinh tế.Vừa thúc đẩy tích luỹ nội bộ vừa tạo ra môi trường cạnh tranh cọ sát cho các doanh nghiệp Việt Nam trước thềm hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ngược lại đầu tư trong nước cũng tác động rất lớn đến đầu tư nước ngoài là định hướng cho dòng chảy đầu tư đầu tư nước ngoài vào các ngành và lĩnh vực cần thiết. Khi đầu tư trong nước được tập trung tạo ra cơ sở hạ tầng, nguồn năng lực cho một ngành nhất định thì làm cho chi phí trung gian sản xuất trong ngành đó giảm đi, tỷ suất lợi nhuận trong ngành tăng lên làm các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn được đầu tư vào ngành đó hơn. Ví dụ trong các năm qua khi đầu tư trong nước tập trung vào ngành thuỷ sản tăng diện tích nuôi trồng, tăng sản lượng làm cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản phát triển, ngay lập tức có công ty nướcc ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến thuỷ sản hoặc trong ngành công nghiệp may mặc là nơi thu hút vốn đầu tư khá do tận dụng được nguồn lao động rẻ. Ở Việt Nam, lĩnh vực du lịch khách sạn cũng là nơi thu hút vốn đầu tư khá, vốn đầu tư trong nước luôn chiếm một tỷ lệ ưu thế hơn so với vốn đầu tư nước ngoài, các năm qua tỷ trọng vốn đầu tư trong nước tăng dần qua các năm: Năm1995 tỷ lệ vốn đầu tư trong nước so với vốn đầu tư nước ngoài là 2.29 lần, năm 1999 là 4.78 lần và năm 2003 là 5.06. Điều đó khẳng định nguồn chủ yếu, quyết định là vốn đầu tư trong nước. Mặc dù ta có thể thấy vốn đầu tư trong nước và nước ngoái có mối quan hệ mật thiết song hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập. Các năm qua vốn đầu tư trong nước tăng thêm song lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng ngày càng giảm- không chỉ ở FDI mà ngay cả ODA nếu không có biện pháp điều chỉnh để tăng trở lại nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì các năm tới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá sẽ gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hỏi nhà nước ta phải có biện pháp điều chỉnh kịp thời gia tăng nguồn vốn trong nước, tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng. CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NGUỒN VỐN I .NHỮNG NGUYÊN NHÂN Từ thực trạng nêu trên về nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài cũng như mối quan hệ giữa chúng. Hạn chế đã nêu có thể gây cản trở tới quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Nguyên nhân của những hạn chế này theo chúng tôi xuất phát từ những điều chủ yếu sau: 1. Môi trường pháp lý Đầu tiên là khâu cấp giây phép đầu tư, thủ tục hành chính rườm rà, mất thời gian. Mặc dù đã có những quy định mới cải tiến song lại dẫn đến “một cửa nhiều khoá ” chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành địa phương. Hai nữa là tính ổn định của pháp luật và chính sách chưa cao, thiếu tính rõ ràng, không thể dự đoán trước được. Các chính sách liên quan đến FDI thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, làm đảo lộn phương án kinh doanh gây thiệt hại cho họ. Nhiều văn bản duới luật ban hành chậm so với quy định, chậm đi vào cuộc sống. Một số văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, “đẻ” thêm quy trình dẫn đến tình trạng “ trên thoáng dưới chặt ” thậm chí chồng chéo, thiếu thống nhất làm nản lòng các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hiện nay các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính chưa cao, chưa giải quyết thoả đáng lợi ích cho các bên. 2. Môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh ở Việt Nam hiện nay còn chưa thông thoáng, thiếu hấp dẫn và thiếu tính đồng bộ.Trước hết thể hiện ở chi phí kinh cao, khả năng sinh lời thấp.Theo kết quả điều tra giá điện tại Việt Nam cao gấp 2 lần Thượng Hải, Băngkok, cước phí vận chuyển container cao gấp 2 lần Singapore, cước phí điện thoại cao gấp 2 lần các nước khác. Các khoán chi phí ngoài luật (tư vấn chạy thủ tục) tình trạng sách nhiễu của cán bộ, tệ quan liêu vẫn còn tồn tại. Mặt khác công tác quản lý còn chưa tốt nên tình trạng kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế, sản xuất hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại vẫn còn phổ biến. Các thị trường còn thiếu tính đồng bộ, thị trường công nghệ và các dịch vụ thông tin, tài chính, bảo hiểm, kiểm toán chưa phát triển kịp thời với các yêu cầu của lĩnh vực đầu tư. Thị trường vốn - thị trường chứng khoán chậm phát triển đãc hạn chế khả năng đáp ứng yêu cấu vốn vay của các thành phần kinh tế. Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, giao thông vận tải, bưu điện nhiều nơi đang trong tình trạng xuống cấp. Chất lượng lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tính kỷ luật kém, tay nghề chưa cao. II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU Trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư phát triển nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược là rất lớn. Do vậy ta phải cùng lúc phấn đấu huy động ở mức cao nhất nguồn vốn trong nước phát huy tối đa nội lực, đồng thời phải xây dựng và thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm cải tạo nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam, tích cực thu hút vốn đầu t ư nước ngoài. 1.Vốn đầu tư trong nước Với vốn đầu tư từ NSNN cần tập trung, rà soát lại các dự án, bố trí vốn cho các công trình then chốt. Kiên quyết không bố trí vốn một cách tràn lan cho các công trình, dự án chưa đủ các điều kiệ ,nhất là về quy hoạch. Nguồn bù dắp thiếu hụt ngân sách được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức :đấu thấu tín phiếu kho bạc nhà nước, bán lẻ trái phiếu chính phủ qua kho bạc nhà nước, đấu thầu và bảo lãnh phát hành qua thị trường chương khoán tập trung.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám định đầu tư, chống lãng phí tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo sử dụng vốn một cách có hiệu quả, tập trung theo mục tiêu kế hoạch và cơ cấu đầu tư hợp lý. Với nguồn vốn tín dụng cần đẩy mạnh việc huy động, đặc biệt vốn trung và dài hạn mở rộng đầu tư thông qua tín dụng với các thành phần kinh tế nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các ngân hàng thương mại cần đa dạng hoá các hình thức hoạt động vốn, đặc biệt chú ý các loại vốn trung, dài hạn đồng thời phải có các biện pháp tích cực thu hồi nợ quá hạn để tạo nguồn tiếp tục cho vay. Cần có cơ chế cho phép các tổ chức tín dụng mở rộng phạm vi cho vay ngoại tệ trong nước theo hướng tập trung cho vay các dự án sản xuất hàng xuất khẩu . Với nguồn vốn từ doanh nghiệp và dân cư cần có các chính sách để huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính của mọi thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển.Thông qua việc cải thiện môi tường đầu tư đẩy nhanh việc giải quyết các thu tục hành chính, công khai cơ chế chính sách …nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận các yếu tố sản xuất.Thực hiện các giải pháp ưu đãi từ thuế tín dụng, giao quyền sử dụng đất, cho thuê tài sản. Xoá bỏ sự phân biệt đói xử giữa các thành phần kinh tế trong các văn bản pháp lý, quan niệm xã hội, các quy định hành chính. 2. Vốn đầu tư nước ngoài Sửa đổi một số chính sách để tạo thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài như tài chính ngân hàng, thuế, xuất nhập khẩu, đất đai, lao động. Có chính sách đặc biệt ưu đãi vào khu công nghiệp như giảm giá thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giải quyết dứt điểm vấn đề giải phóng mặt bằng, chính sách đền bù nên ổn định, nhất quán, kiên quyết. Từng bước thực hiện tự do hoá chuyển đổi ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai. Tạo điều kiện cho các doanh nghệp đầu tư nước ngoài dược tiếp cận thị trường vốn, được vay tín dụng (cả trung và dài hạn) tại các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Tiến tới cổ phần hoá các doanh nghiệp nước ngoài. Ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp dồng thời đảm bảo các điều kiện của nhà nước. Về việc thực hiện giảm chi phí đầu tư, thực hiện điều chỉnh giá, phí một số hàng hoá dịch vụ tiến tới áp dụng mặt bằng giá thống nhất với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thực hiện đổi mới và đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư theo chủ trương đa phương hoá các đối tác nhằm tạo thế chủ động trong mọi tình huống, tranh thủ tiềm lực vốn, công nghệ kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Việt nam cần phải đẩy mạnh tuyên truyền hình ảnh của mình ra bên ngoài, tăng cường mạng lưới xúc tiến trong và ngoài nước (tổ chức các buổi hội thảo, thuê các tổ chức độc lập nước ngoài chuyên làm công tác xúc tiến đầu tư …) Với nguồn vốn ODA cần đồng bộ hoá khung pháp lý của Việt nam, nghiên cứu và tiến hành sửa đổi một số nghị định liên quan đến quản lý và sử dụng nhằm tạo sự hài hoà giữa thủ tục của phía các nhà tài trợ và phía Việt Nam . Thực tế đòi hỏi Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính cùng các ban ngành chức năng cần có những cuộc tiếp xúc trao đổi với các nhà tài trợ. Các nhà tài trợ chỉ nên thống nhất với chính phủ về các quy định có tính chất chung nhất, các chi tiết cụ thể nên giao quyền cho các địa phương thống nhất để phù hợp với đặc thù của họ, hạn chế được những vướng mắc trong quá trình triển khai dự án sau này. Phát triển nguồn nhân lực cho dự án ODA bằng cách nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ dự án thông qua hình thức tập huấn đào tạo ngắn ngày đối với một số nghiệp vụ đặc thù của dự án.Về lâu dài cần chuẩn hoá trình độ cán bộ phục vụ dự án: Phải có trình độ đại học trở lên và thông thạo ngoại ngữ để có thể hoàn thành nhanh chóng chính xác các công việc của dự án . Trên đây là một số kiến nghị nhằm tăng cường công tác thu hút và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Mặc dù chưa thực sự đầy đủ nhưng đó là những định hướng giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư . PHẦN KẾT LUẬN Như vậy nhìn lại vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưỏng và phát triển kinh tế ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy được những vấn đề lý luận chung như thực trạng về vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu tư trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Để từ đó có được một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy những lợi thế làm giảm bớt những mặt còn hạn chế. Có thể thấy rằng nguồn vốn trong nước là chủ yếu, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng, tuy nhiên giữa hai nguồn vốn có tỉ lệ khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế mỗi nước, nhu cầu về đầu tư cũng khác nhau trong mỗi thời kỳ khác nhau. Trong sự vận động khác nhau không ngừng, luôn biến động của thế giới bất kỳ quốc gia nào cũng phải hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.Vì vậy Việt Nam hiện nay đang nỗ lực xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để thúc đẩy phát triển kinh tế Đảng và nhà nước đã có những nhận định đúng đắn đối với vai trò của đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là vai trò của hai nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Đặt nguồn vốn đầu tư trong điều kiện hơn 10 năm đổi mới chúng ta đã thu được những thành tựu quan trọng đáng tự hào và đã có nhiều cố gắng để giải quyết mối quan hệ giữa hai nguồn vốn,đặc biệt chúng ta đã và đang hoàn thiện hàng loạt các chính sách kinh tế cũng như các biện pháp ưu đãi phù hợp dựa trên những nguyên tắc về kinh tế thị trường một cách triệt để nhằm tháo gỡ những khó khăn những bất cập còn tồn tại. Nhìn nhận rõ và giải quyết được những vấn đề đã nêu trên sẽ góp phần không nhỏ trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh tổng hợp góp phần vào việc hoàn thiện những mục tiêu chủ yếu mà đất nước đề ra. Từ đó có thể phát huy tốt tiềm lực bên trong, tăng cường thực lực kinh tế làm cho đất nước phồn vinh thịnh vượng - đây là điều quốc gia nào cũng mong muốn mà Việt Nam không nằm ngoài mục tiêu đó. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình kinh tế đầu tư - NXB thống kê năm 2002 2. Giáo trình kinh tế phát triển - NXB thống kê năm 1999 3. Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ - Nguyễn Hồng Minh 4. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Viêt Nam - NXB chính trị Quốc gia 5. Chính sách và biện pháp huy động các nguồn vốn 6. Vốn trong quá trình tăng trưởng kinh tế cao ở Nhật Bản sau chiến tranh 7. Đánh thức con Rồng ngủ quên 8. Tích tụ và tập trung vốn trong nước 9. Tài chính chứng khoán Việt Nam Số 1 + 6 năm 2000 số 9- 2001 tr3 10. Kinh tế Việt Nam 2002-2003 - Thời báo kinh tế Việt Nam 11. Kinh tế Việt Nam 2003-2004 – Thời báo kinh tế Việt Nam 12. Tài chính kinh tế và phát triển 13. Tạp chí Cộng sản - Số 15 + số 18/2003 14. Nghiên cứu kinh tế - Số 265 Tr6/2000 15. Thời báo kinh tế Việt Nam - Số 10 -15/2004 MỤC LỤC Lời nói đầu ............................................................................................ 1 Chương I: Những vấn đề lý luận chung............................................. 3 I. Khái niệm phân loại và bản chất của nguồn vốn đầu tư ................ 3 1. Khái niệm ........................................................................................... 3 1.1. Vốn đầu tư ....................................................................................... 3 1.2. Nguồn vốn đầu tư............................................................................ 3 2. Phân loại nguồn vốn đầu tư ............................................................... 3 2.1. Nguồn vốn trong nước .................................................................... 3 2.2. Nguồn vốn nước ngoài.................................................................... 4 3. Bản chất của nguồn vốn đầu tư ......................................................... 6 II. Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ................................................................................... 9 1. Khái niệm tăng trưởng và phát triển ................................................. 9 2. Vai trò của vốn đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế ............. 9 2.1. Vai trò của vốn trong nước ............................................................ 9 2.2. Vai trò của vốn nước ngoài ............................................................. 10 III. Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn .................................................... 12 Chương II: Thực trạng vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam ........................................................ 14 I. Thực trạng về nguồn vốn trong nước............................................... 15 1.Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước ........................................................ 15 1.1. Ngân sách nhà nước ....................................................................... 15 1.2. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước .................................. 16 1.3. Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân ...................................................... 17 2. Thị trường vốn ................................................................................... 19 II. Thực trạng về vốn nước ngoài ........................................................ 20 1. Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức ............................................. 20 2. Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ................................................. 20 3. Thực trạng về mối quan hệ giữa vốn đầu trong nước và nước ngoài 24 Chương III: Một số kiến nghị chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn .......................................................................... 27 I. Những nguyên nhân ......................................................................... 27 1. Môi trường pháp lý ........................................................................... 27 2. Môi trường kinh doanh ..................................................................... 27 II. Một số kiến nghị chủ yếu ................................................................ 28 1. Vốn đầu tư trong nước ...................................................................... 28 2. Vốn đầu tư nước ngoài ...................................................................... 29 Kết luận ................................................................................................. 31 Tài liệu tham khảo .............................................................................. 32

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐÈ ÁN- VAI TRÒ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.pdf
Luận văn liên quan