Đề tài Bằng chứng kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN I. Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán 1. Khái niệm 2. Phân loại bằng chứng kiểm toán và một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt 3. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán II. Các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán 1. Kiểm tra vật chất 2. Lấy xác nhận 3. Xác minh tài liệu 4. Quan sát 5. Phỏng vấn 6. Kỹ thuật tính toán 7. Phân tích PHẦN II: THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH I. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán II. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán đối với một số chu kỳ cụ thể 1. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán trong chu kỳ bán hàng - thu tiền 2. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu kỳ tiền lương nhân sự 3. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình mua hàng, thanh toán 4. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình tồn kho và nhập kho 5. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tiền 6. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tài sản cố định III. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn kết thúc kiểm toán KẾT LUẬN

doc50 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/04/2013 | Lượt xem: 2846 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Bằng chứng kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng, không có giá trị thanh toán như tiền, thì bằng chứng đó là một tài liệu chứng minh. Đối với trái phiếu, khi chưa được ký, nó là một chứng từ, sau khi được kí, nó là một tài sản, sau khi thanh toán, nó là một chứng từ. Kỹ thuật kiểm tra vật chất áp dụng với trái phiếu khi nó là một tài sản, kỹ thuật kiểm tra tài liệu áp dụng khi phiếu chi là một chứng từ. 4. Quan sát Là phương pháp được sử dụng để đánh giá một thực trạng hay hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đi thị sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ mới cũng như sự vận hành của máy móc; hay quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ để đánh giá về thực tế hoạt động của đơn vị... Kỹ thuật này rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán; bằng chứng thu được đáng tin cậy. Tuy nhiên bản thân bằng chứng thu được từ kỹ thuật quan sát chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm với kỹ thuật khác. Kỹ thuật này chỉ cung cấp phương pháp về phương pháp thực thi công việc ở thời điểm quan sát, không chắc chắn có được thực hiện ở các thời điểm khác hay không. Bằng chứng thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu quan sát. 5. Phỏng vấn Là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc thẩm vấn về những người hiểu biết về vấn đề kiểm toán viên quan tâm. Ví dụ thẩm vấn khách hàng về những quy định kiểm soát nội bộ, hoặc hỏi nhân viên về sự hoạt động của các quy chế này. Quá trình thu thập bằng chứng qua phỏng vấn thường bao gồm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: lập kế hoạch phỏng vấn. kiểm toán viên phải xác định được mục đích, đối tượng mà nội dung cần phỏng vấn (có thể cụ thể hoá ra thành những trọng điểm cần phỏng vấn), thời gian, địa điểm phỏng vấn... Giai đoạn thứ hai: thực hiện phỏng vấn. kiểm toán viên giới thiệu lý do cuộc phỏng vấn, trao đổi về những trọng điểm đã xác định. Khi phỏng vấn, kiểm toán viên có thể dùng hai loại câu hỏi cơ bản là câu hỏi “đóng” hoặc câu hỏi “mở”. Câu hỏi mở giúp kiểm toán viên thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ; được sử dụng khi kiểm toán viên muốn thu thập thêm thông tin. Loại câu hỏi này thường có các cụm từ “thế nào”, “cái gì”. “tại sao”. Câu hỏi đóng giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn; được sử dụng khi kiểm toán viên muốn xác nhận một vấn đề đã nge hay đã biết. Loại câu hỏi này thường có các cụm từ “có hay không”, “tôi (không) biết rằng...” Giai đoạn thứ ba: kết thúc phỏng vấn. Kiểm toán viên cần đưa ra kết luận trên cơ sở thông tin đã thu thập được. Tuy nhiên, kiểm toán viên cũng cần lưu ý đến tính khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn để có kết luận các đáng về bằng chứng thu thập được. Ưu điểm của kỹ thuật này là giúp kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng chưa có nhằm thu thập những thong tin phản hồi để củng cố luận cứ của kiểm toán viên. Tuy nhiên nhược điểm của kỹ thuật này là độ tin cậy của bằng chứng không cao do đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là người chủ yếu trong đơn vị được kiểm toán nên thiếu tính khách quan; chất lượng của bằng chứng cũng phụ thuộc vào trình độ và sự hiểu biết của người được hỏi. Bằng chứng thu được do đó nên được dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hay để thu thập các thông tin phản hồi. Bằng chứng kiểm toán thu được khi áp dụng kỹ thuật này được gọi là kiểu mầu phỏng vấn. 6. Kỹ thuật tính toán Là quá trình kiểm toán viên kiểm tra chính xác về mặt số học của việc tính toán và ghi sổ. Ví dụ, đối với việc kiểm tra việc tính toán, kiểm toán viên xem xét tính chính xác (bằng cách tính lại) các hoá đơn, phiếu nhập, xuất kho, số liệu hàng tồn kho, tính lại chi phí khấu hao, giá thành; các khoản dự phòng, thuế; số tổng cộng trên sổ chi tiết và sổ cái,... Đối với việc kiểm tra chính xác của việc ghi sổ, kiểm toán viên đối chiếu các chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin đuợc phản ánh trên chứng từ khác nhau, ở những nơi khác nhau. Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần tuý về mặt số học, không chú ý đến sự phù hợp của phườn pháp tính được sử dụng. Do đó kỹ thuật này thường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như kiểm tra tài liệu, kiểm tra vật chất, phân tích... trong quá trình thu thập bằng chứng. Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét về mặt số học. Tuy nhiên nhược điểm của kỹ thuật này là các phép tính và phân bổ đôi khi quá phức tạp, tốn thời gian, đặc biệt là khi đơn vị được kiểm toán có qui mô lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, luồng tiền ra vào rất lớn... Trong trường hợp đó để thực hiện kỹ thuật này kiểm toán viên cần được trang bị máy tính cá nhân nhiều số, máy tính xách tay... Bằng chứng kiểm toán thu được khi áp dụng kỹ thuật thật tính toán gọi là kiểu mẫu chính xác số học. 7. Phân tích Là quá trình so sánh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ để xác định tính hợp lý của các số dư trên tài khoản. Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau và quan hệ giữa các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính. Do đó kỹ thuật phân tích gồm ba nội dung: dự đoán, so sánh và đánh giá. Dự đoán: là việc ước đoán về số dư tài khoản, giá trị tỷ suất hoặc xu hướng... So sánh: là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo. Đánh giá: là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn, và các kỹ thuật khác (phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi so sánh. Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực gồm 3 loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất. Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so sánh cơ bản như: so sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán... Từ kết quả so sánh, việc điều tra những sai khác lớn giữa số thực tế và số kế hoạch sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị và các chỉ tiêu bình quân trong ngành. Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. So sánh số liệu của đơn vị được kiểm toán và kết quả dự kiến của kiểm toán viên. b. Phân tích xu hướng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số dư tài khoản, hay nghiệp vụ. Phân tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụng qua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin kỳ trước hay so sánh thông tin giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, nhằm phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểm tra, xem xét. c. Phân tích tỷ suất là cách thức so sánh những só dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ. Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình tài chính của một công ty nào đó với một công ty khác trong cùng tập đoàn hay với ngành đó. Thông thường khi phân tích tỷ suất cũng phải xem xét xu hướng của tỷ suất đó. Trong ba loại hình phân tích nêu trên, kiểm tra tính hợp lý kết hợp các dữ liệu hoạt động, dữ liệu tài chính và được lập ra để kiểm tra sự tương ứng giữa hai loại dữ liệu này. Do đó mức độ chính xác hay tính tin cậy của bằng chứng thu thập được khi kiểm tra tính hợp lý được xem là cao nhất. Phân tích tỷ suất được dựa trên mối quan hệ giữa các báo cáo khác nhau có mối liên quan nên việc phân tích các tỷ suất cũng có thể cung cấp thông tin có giá trị. Phân tích xu hướng được xem là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy thấp nhất vì kỹ thuật này dùng nhiều vào việc xem xét dữ liệu năm trước. Tuy nhiên, nếu có cả sự phân tích lùi thì các bằng chứng tập hợp được trở nên có ý nghĩa hơn. mối quan hệ giữa các thủ tục phân tích và độ tin cậy của bằng chứng được khái quát qua bảng số 3.2. Quan hệ giữa kỹ thuật phân tích và độ tin cậy của bằng chứng thu thập được Các loại hình phân tích Độ tin cậy kết quả dễ sử dụng h Phân tích xu hướng Phân tích tỷ suất Kiểm tra tính hợp lý Khi sử dụng kỹ thuật phân tích để thu thập được bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên cần giải quyết bốn vấn đề: Thứ nhất, chọn loại hình phân tích phù hợp. Nhìn chung các loại hình phân tich áp dụng hiệu quả đối với các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh và các loại nghiệp vụ liên quan hơn là đối với các tài khoản trong bảng Cân đối kế toán. Các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh dễ dự đoán hơn, trong khi đó tài khoản trong bảng cân đối kế toán thường kết hợp nhiều loại hình nghiệp vụ phức tạp. Khi lựa chọn sử dụng loại hình phân tích, kiểm toán viên có thể tham khảo hướng dẫn chung ở bảng sau: Hướng dẫn chọn loại hình phân tích LOẠI HÌNH PHÂN TÍCH Đối tượng kiểm toán Phân tích xu hướng Phân tích tỷ suất Kiểm tra tính hợp lý Khoản mục trong bảng cân đối kế toán Hạn chế Hữu ích Hạn chế Khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh Hữu ích Rất hữu ích Rất hữu ích Thứ hai, đưa ra mô hình để dự đoán những số liệu tài chính hoặc những xu hướng hay những tỷ suất về số liệu tài chính và số liệu hoạt động. Vấn đề này bao gồm những bước công việc sau: Xác định các biến tài chính và các biến hoạt động cũng như mối quan hệ có thể dự đoán được giữa hai loại biến này. Ví dụ, xét trong chu trình kiểm toán tiền lương và nhân công thì biến tài chính có thể là tổng quĩ lương thực hiện trong một niên độ kế toán, biến hoạt động có thể là tổng số sản phẩm sản xuất ra trong kỳ, hay tổng số thời gian lao động của công nhân viên trong đơn vị được kiểm toán . Đưa ra mô hình để kết hợp thông tin. Ở nội dung này, kiểm toán viên xác định mô hình về mối quan hệ giữa các biến, phù hợp với đơn vị được kiểm toán.Trong ví dụ kiểm toán tiền lương và nhân công nói trên, nếu đơn vị trả lương theo hình thức khoán sản phẩm hoàn thành, thì mô hình hợp lý là mô hình mô tả mối quan hệ giữa tổng quĩ lương thực hiện và tổng số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Ngược lại, nếu đặc điểm của đơn vị phù hợp với hình thức trả lương theo thời gian thì mô hình hợp lý là mô hình mô tả mối quan hệ giữa tổng quĩ lương thực hiện và tổng thời gian của người lao động trong đơn vị được kiểm toán . Thu thập những số liệu cơ sở. kiểm toán viên thu thập số liệu về các biến đã xác định được ở trên từ thực tế của đơn vị được kiểm toán . Xem xét tính độc lập và độ tin cậy của những số liệu cơ sở về hoạt động và về tài chính. Đưa ra dự đoán sử dụng mô hình mà kiểm toán viên đã triển khai. Thứ ba, dự đoán và so sánh dự đoán của kiểm toán viên với số liệu của đơn vị được kiểm toán. Nếu có chênh lệch, có thể do các nguyên nhân: có những sai sót trong mô hình của kiểm toán viên; hoặc có sai sót đáng kể trong mô hình số dư tài khoản. Để tìm nguyên nhân của chênh lệch, kiểm toán viên có thể phỏng vấn nhà quản lý hiểu biết về những vấn đề tài chính và hoạt động của công ty... để được giải thích hay để thu thập thông tin giúp hoàn thiện hơn mô hình. Đồng thời kiểm toán viên cần theo dõi và kiểm tra những thông tin này. Tất cả nhũng điều giải thích cần được chứng thực bằng một bằng chứng độc lập. Có thể phóng vấn nhiều nhân viên trong đơn vị được kiểm toán và kiểm tra xem những lời giải thích của họ có thống nhất hay không; hoặc có thể kiểm tra chứng từ có liên quan. Thứ tư, sử dụng đánh giá chuyên môn để rút ra kết luận về bằng chứng kiểm toán thu thập được Nếu chênh lệch giữa dự đoán của kiểm toán viên với số liệu thực tế lớn hơn rất nhiều so với mức chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên không thu được bằng chứng kiểm toán như dự tính. Khi đó kiểm toán viên phải điều tra tính chất và nguyên nhân của chênh lệch và xem xét ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. Nếu chênh lệch thấp hơn mức đáng kể mức chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên kết luận rằng mục tiêu kiểm toán đã đạt được. Tuy nhiên kiểm toán viên vẫn cần phải xem xét liệu những phát hiện của kiểm toán viên có thu được từ những theo dõi thích hợp đối với kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin và các vấn đề khác hay không. Nếu chênh lệch này xấp xỉ độ chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên sẽ sử dụng đánh giá của mình để xem xét có nên: Chấp nhận chênh lệch này là chênh lệch kiểm toán và chuyển nó vào bảng tóm tắt nhũng chênh lệch kiểm toán chưa được điều chỉnh. Tiếp tục hoàn thiện những dự doán của mình, đưa vào nhiều biến hơn và đưa ít số xấp xỉ hơn, cho đến khi số chênh lệch đạt đến mức có thể chấp nhận được. Tiến hành kiểm tra chi tiết. Ưu điểm của thủ tục phân tích là tương đối đơn giản, có hiệu quả cao vì ít tốn thời gian, chi phí cho kiểm toán thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, chuẩn xác và có giá trị pháp lý về mặt kế toán; giúp kiểm toán viên đánh giá được tổng thể không bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể. Thủ tục phân tích do đó được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của qui trình kiểm toán và được xem là rất hữu ích. Tuy nhiên khi áp dụng kỹ thuật thuật này kiểm toán viên cần lưu ý một số điểm: Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ không có ý nghĩa nếu các chỉ tiêu không có mối liên hệ với nhau. Ngoài ra kỹ thuật này chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu đồng chất về nội dung và phương pháp tính. Đối với những khoản mục hay những chỉ tiêu trọng yếu, kiểm toán viên không thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích đơn thuần mà cần kết hợp với các kỹ thuật khác để tìm được bằng chứng thích hợp. Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, cần thận trọng trong phân tích và nên kết hợp với nhiều kỹ thuật khác. Đánh giá chênh lệch khi phân tích sẽ sai lầm nếu kiểm toán viên thiếu hiểu biết về những mức chuẩn ngành kinh doanh của đơn vị được kiểm toán . Bằng chứng kiểm toán thu được từ kỹ thuật phân tích được gọi là kiểu mầu phân tích. PHẦN II THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH. I. THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán, nó có vai trò rất quan trọng chi phối tới chất lượng và hiệu của chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Đây là công việc quyết định tới chất lượng kiểm toán đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẽ. Trong khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, cũng như quy trình, phương pháp vận dụng trong những cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn ban đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Lập kế hoạch giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể thu được những bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về báo cáo tài chính từ đó giúp kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng. Ở giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán chỉ với mục đích hướng tới việc đưa ra các quyết định về kiểm toán mà chưa đặt ra mục đích thu thập bằng chứng cho kết luận kiểm toán. Do vậy, nhiệm vụ thu thập bằng chứng ở giai đoạn này cần đặt ra tương ứng với mục tiêu và phạm vi kiểm toán song nói chung cần quan tâm đến chiều rộng hơn là chiều sâu. Trong khi thu thập bằng chứng cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã có song trong một số trường hợp nguồn thông tin đã có chưa đủ thì kiểm toán viên tiến hành khảo sát, điều tra bổ sung. Các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được trong giai đoạn này chủ yếu là các bằng chứng liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên tiếp cận khách hàng để thu thập những thông tin giúp cho kiểm toán viên tiến hành xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng để đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán. Kiểm toán viên thu thập các thông tin về tính liêm chính của ban giám đốc, của khách hàng thông qua việc điều tra, quan sát các mối liên hệ của khách hàng. Kiểm toán viên tiến hành thu thập những thông tin cơ sở về ngành nghề kinh doanh của khách hàng bằng cách quan sát nhà xưởng, kho bãi. Đồng thời tạo điều kiện cho kiểm toán viên tiếp xúc với cán bộ công nhân viên then chốt của doanh nghiệp để biết được sự quản lý vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ. Sau đó, kiểm toán viên tiến hành gặp gỡ với kiểm toán viên tiền nhiệm để biết về những vấn đề liên quan đến việc kiểm toán để quyết định chấp nhận hợp đồng hay không. Các vấn đề này bao gồm những thông tin về tính liêm chính của ban giám đốc; những bất đồng giữa ban giám đốc với kiểm toán viên tiền nhiệm về các nguyên tắc kế toán hoặc các vấn đề quan trọng khác và lý do thay đổi kiểm toán viên của khách hàng. Ngoài ra kiểm toán viên có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm để hỗ trợ cho kiểm toán viên kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán. Kiểm toán viên cần nhận diện lí do kiểm toán của công ty khách hàng. Đó là việc xác định người sử dụng, Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ. Để biết được điều đó kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm toán đã thực hiện trước đó. Việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng tới số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra trong báo cáo kiểm toán. Cụ thể, nếu các Báo cáo tài chính cần được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên Báo cáo tài chính được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cũng như quy mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán càng tăng. II. THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI MỘT SỐ CHU KỲ CỤ THỂ. 1. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán trong chu kỳ bán hàng - thu tiền. Trong chu trình bán hàng-thu tiền, phương pháp chủ yếu để thu thập bằng chứng kiểm toán là kiểm tra, đối chiếu, quan sát. Đối với các nghiệp vụ bán hàng, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra: Các nghiệp vụ bán hàng ghi sổ là có thật : kiểm toán viên xem xét lại các nhật ký bán hàng, sổ cái, sổ chi tiết các khoản phải thu với những khoản mục có quy mô lớn và bất thường. Đối chiếu và xác nhận các bút toán bán hàng với hóa đơn, vận đơn…Đối chiếu chứng từ vận chuyển với sổ theo dõi hàng tồn kho. Các nghiệp vụ bán hàng được ghi sổ đầy đủ:kiểm toán viên tiến hành đối chiếu vận đơn với hóa đơn, giữa hóa đơn với các bút toán hạch toán để khẳng định mọi chứng từ đều được ghi sổ. Các nghiệp vụ bán hàng ghi sổ đã được định giá đúng: kiểm toán viên tiến hành tính toán lại các con số trên hóa đơn bán hàng, đối chiếu các bút toán trên nhật kí bán hàng, đối chiếu chi tiết các hóa đơn bán hàng với các chứng từ vận chuyển, bảng giá, đơn dặt hàng, hợp đồng kinh tế. Các nghiệp vụ bán hàng đều được phê chuẩn đúng đắn: kiểm toán viên so sánh giá trị trên hóa đơn với bảng giá hoặc hợp đồng kinh tế. Các nghiệp vụ bán hàng, ghi sổ đã được phân loại thích hợp: kiểm toán viên xem xét nội dung kinh tế cụ thể của từng nghiệp vụ và việc phân loại định khoản tương ứng. Các nghiệp vụ bán hàng được ghi sổ đúng thời gian phát sinh: kiểm toán viên so sánh ngày ghi sổ các nghiệp vụ bán hàng với ngày ghi trên hóa đơn, sổ vận chuyển hàng hóa. Ngoài ra kiểm toán viên kiểm tra các nghiệp vụ bán hàng được ghi đúng vào sổ thu tiền và cộng dồn chính xác hay chưa. Đối với các nghiệp vụ thu tiền: kiểm toán viên kiểm tra các khoản thu tiền, ghi sổ thực tế đã nhận: kiểm toán viên kiểm tra nhật kí thu tiền, sổ chi tiết các khoản phải thu. Đối với nghiệp vụ thu tiền có tuy mô lớn và bất thường kiểm toán viên tiến hành đối chiếu các khoản phải thu tiền đã ghi sổ với phiếu thu, giấy báo có của ngân hàng. Các khoản chiết khấu đã được xét duyệt đúng đắn, phiếu thu tiền đã được chiết khấu và kí duyệt: kiểm toán viên tiến hành đối chiếu những khoản chiết khấu đã thanh toán với chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Đối chiếu phiếu thu với chứng từ gốc, giấy báo có của ngân hàng và các chứng từ bán hàng. Tiền mặt thu được đã ghi vào sổ quỹ và nhật kí thu tiền. Kiểm toán viên Tiến hành đối chiếu giấy báo nhận tiền hoặc bảng kê tiền nhận được với các nghiệp vụ ghi trong nhật kí thu tiền. Các khoản tiền thu được đã ghi sổ và nộp đúng với chính sách giá bán: kiểm toán viên soát xét các chứng từ về thu tiền, đối chiếu các khoản thu được với bảng giá quy định. Các khoản phải thu tiền đều được phân loại đúng: kiểm toán viên kiểm tra các chứng từ thu tiền và đối chiếu việc phân lọai trên tài khoản tiền. Các khoản tiền thu được ghi đúng thời gian: kiểm toán viên so sánh ngày nộp tiền với ngày trên nhật kí thu tiền và bảng kê thu tiền của các bộ phận và các khoản thu tiần được ghi đúng vào sổ quỹ, sổ cái, sổ tổng hợp. Với các khoản phải thu của khách hàng: kiểm toán viên tiến hành gửi thư xác nhận để kiểm tra sự chênh lệch giữa thực tế và sổ sách. Nếu có chênh lệch, kiểm toán viên xác định rõ nguyên nhân chênh lệch này và đưa ra hướng xử lý. 2. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu kỳ tiền lương nhân sự. Chu trình tiền lương – nhân sự bắt đầu bằng việc tuyển dụng và thuê mướn nhân công và kết thúc bằng việc thanh toán lương cho người lao động. Do vậy phương pháp thu thập bằng chứng trong chu trình này chủ yếu là phương pháp kiểm tra, xác minh tài liệu. Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra chi tiết về tiền lương nhằm kiểm tra các khoảng tính dồn về tiền lương, các khoản trích trên lương và xác định xem các nghiệp vụ trong chu trình này có được ghi sổ đúng kỳ hạn hay không. Để tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán về tiền lương, nhân sự kiểm toán viên tiến hành kiểm tra chi tiết TK 334, TK 338, và các TK 622, TK 627, TK 641, Tk 642 có liên quan đến tiền lương và các khoản trích trên lương. Với TK 334: Kiểm toán viên tiến hành xem xét các chính sách, chế độ thanh toán tiền lương xem có nhất quán hay không, nếu nhất quán thì kiểm toán viên tiến hành tính toán lại chi phí tiền lương và các khoản đã trả để khẳng định độ tin cậy của số dư TK 334. Với các khoản tiền thưởng tính dồn, kiểm toán viên xem xét tính kịp thời, tính chính xác trong việc ghi sổ kế toán thông qua việc đối chiếu các quyết định hoặc biên bản của ban quản lý. Với các khoản phải trả khác như từ phúc lợi, khen thưởng, ốm đau… Kiểm toán viên xem xét tính nhất quán và tính toán lại các khoản đó và xem xét các chứng từ đi kèm. Với TK 338 (TK 3382, TK3383, TK3384) Kiểm toán viên so sánh số dư của các tài khoản đó với các số liệu trên bảng trích BHXH, BHYT, KPCĐ và với các bảng kê khai phải nộp các khoản trích trên tiền lương và đối chiếu với việc thanh toán các khoản đó. Ngoài ra, kiểm toán viên cần kiểm tra thời hạn tính, trích và thanh toán các khoản đó. Với tài khoản chi phí tiền lương như TK622, TK627, TK641, TK642: kiểm toán viên tiến hành so sánh chi phí tiền lương giữa kỳ này với kỳ trươc nhằm phát hiện những biến động bất thường trong đó quan tâm đến việc phân bổ lương cho các đối tượng chịu chi phí hoặc hướng vào các khoản chi trả lương do làm thêm giờ, bồi dương… theo đó kiểm toán viên cần kiểm tra tổng số giờ làm ca, làm thêm giờ có phù hợp với thực tế không và tiến hành điều tra phỏng vấn nhân viên. 3. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình mua hàng, thanh toán. Chu trình mua hàng thanh toán bao gồm các quyết định và quá trình cần thiết để có hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán chủ yếu ở đây là đối chiếu, xác minh tài liệu, tính toán lại. Chu trình mua hàng thanh toán có liên quan đến rất nhiều các khoản mục trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên nhiều khoản mục trong số đó có liên quan đến các chu trình kiểm toán khác như kiểm toán hàng tồn kho, kiểm toán vốn bằng tiền…Vì vậy ở đây ta chỉ đề cập đến nợ phải trả người bán. Để thu thập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra chi tiết số dư TK 331 nhằm các mục tiêu: Chính xác máy móc: các khỏan phải trả trong danh sách phải khớp với số liệu trên sổ hạch toán chi tiết TK 331, số tổng cộng phải cộng đúng và khớp với sổ cái. Để kiểm tra điều này, kiểm toán viên tiến hành cộng tổng danh sách các khoản phải trả, đối chiếu số tổng cộng với sổ cái, đối chiếu hoá đơn của người bán với sổ chi tiết. Các khoản phải trả trong sổ hạch toán chi tiết phải có căn cứ hợp lý: kiểm toán viên tiến hành đối chiếu các khoản phải trả với hoá đơn và bảng kê của người bán, gửi thư xác nhận các khoản phải trả trong đó quan tâm đến các khoản phải trả có số dư lớn và bất thường. Các khoản phải trả hiện có đều phải xuất hiện trong danh sách các khoản phải trả: kiểm toán viên tiến hành kiểm tra chi tiết các khoản nợ quá hạn. Các khoản nợ phải trả người bán phải được ghi nhận đúng kỳ: Để kiểm tra điều này, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các công nợ quá hạn, đối chiếu số liệu kiểm toán của chu trình hang tồn kho và xem xét hồ sơ của hàng mua đi đường. Tài khoản phải trả người bán phải được trình bày đúng đắn: kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo nợ phải trả người bán, nợ ngắn hạn và nợ dài hạn được tách riêng ra. 4. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình tồn kho và nhập kho. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán ở chu trình hàng tồn kho chủ yếu là quan sát, kiểm kê vật chất tồn kho và nhập kho. Để thu thập bằng chứng khi kiểm toán chu trình này, kiểm toán viên tiến hành: Quan sát kiểm kê vật chất hàng tồn kho: Xác minh hàng tồn kho ghi trên sổ kho, thẻ kho có chứng từ hợp lý hay không thì kiểm toán viên chọn ngẫu nhiên một loại vật tư và kiểm tra việc mở sổ, thẻ kho theo dõi vật tư đó của thủ kho. Xác định hàng tồn kho hiện có thực tế đã được kiểm kê và ghi rõ vào sổ kho, thẻ kho; kiểm toán viên tiến hành điều tra hàn tồn kho tại các nơi bảo quản xem chúng có bị bỏ sót trong quá trình kiểm kê và vào sổ không. Xác minh hàng tồn kho hiện có và tất cả hàng tồn kho đã ghi sổ đều thuộc quyền sở hữu của đơn vị: kiểm toán viên tiến hành điều tra về hàng nhận giữ hộ, ký gửi, đại lý… Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra tính chính xác của kiểm kê hàng tồn kho bằng cách kiểm tra lại biên bản kiểm kê hàng tồn kho và đối chiếu kết qủa đó với số liệu trên sổ kế toán. Kiểm toán tiến hành phỏng vấn thủ kho, công nhân sản xuất, kế toán để xem xét việc xoá sổ hàng tồn kho kém phẩm chất, hư hỏng, quá hạn sử dụng và xem xét việc lập dự phòng giảm gía hàng tồn kho. Kiểm toán viên xem xét việc phân loại hàng tồn kho trên sổ kho và thẻ kho đồng thời so sánh với hàng tồn kho dự trữ thực tế. Để kiểm tra hàng tồn kho có được ghi sổ đúng kỳ hay không, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra lại một chuỗi các thẻ kho và các loại hàng tồn kho được ghi trong sổ kho trước và sau ngày khóa sổ kế toán. Bên cạnh đó, kiểm toán viên tiến hành xác minh các thẻ kho đều được vào sổ đầy đủ bằng cách xem xét tính liên tục của các số thứ tự trên các thẻ kho và đối chiếu việc vào sổ các thẻ kho. Kiểm tra việc định giá hàng tồn kho, chi phí, sản phẩm tại đơn vị: Với hàng tồn kho: Kiểm toán viên phải xem xét phương pháp định giá của đơn vị và xem xét việc áp dụng phương pháp đó có nhất quán không. Kiểm toán viên đánh giá tính hợp lý và phù hợp giữa phương pháp đánh giá hàng tồn kho mà đơn vị đang áp dụng. Đối với nguyên vật liệu mua vào, kiểm toán viên kiểm tra các hóa đơn của nhà cung cấp để xác minh về số lượng và đơn giá cũng như chi phí thu mua, hao hụt trong định mức… Còn đối với hàng tồn kho do đơn vị sản xuất ra kiểm toán viên tiến hành lấy mẫu hoặc lựa chọn nguyên vật liệu chính để kiểm tra chi tiết trong đó quan tâm đến phương pháp áp dụng và sự nhất quán. Kiểm toán viên kiểm tra việc định giá chi phí nhân công trực tiếp bằng cách xác định cơ sở xây dựng đơn giá tiền lương và kết hợp với chu trình tiền lương – nhân sự. Với chi phí sản xuất chung: Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Riêng đối với khấu hao tài sản cố định kiểm toán viên xem xét các khía cạnh chủ yếu như: phương pháp tính khấu hao tài sản cố định đang được áp dụng có phù hợp và nhất quán không, xem xét việc ghi sổ chi phí khấu hao tài sản cố định có đúng vào bộ phận sử dụng không. Với chi phí sản xuất kinh doanh dở dang: kiểm toán viên căn cứ vào biên bản kiểm kê và phương pháp áp dụng để tính giá sản phẩm dở dang và xem xét tính nhất quán trong việc áp dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang của doanh nghiệp. Với sản phẩm hoàn thành: Kiểm toán viên tiến hành chọn sản phẩm chính, sản phẩm trọng điểm và chọn mẫu một số lô hàng cụ thể để kiểm tra chi tiết việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong đó quan tâm đến tính nhất quán trong việc phân bổ chi phí giữa các kỳ kế toán. Gửi thư xác nhận đối với hàng tồn kho được lưu giữ ở bên thứ ba: Kiểm toán viên tiến hành liên hệ trực tiếp với bên thứ ba đang lưu giữ hàng gửi bán, ký gửi để kiểm tra tính hiện hữu của hàng tồn kho. Nếu hàng tồn kho được lưu giữ ở bên thứ ba không quá lớn hoặc chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản thì kiểm toán viên tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán thông qua thư xác nhận. Ngược lại, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung về tính độc lập của bên thứ ba. 5. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tiền. Kiểm toán số dư tiền là một lĩnh vực khá phức tạp vì khi thu thập bằng chứng kiểm toán thi phải phụ thuộc rất nhiều vào các kết quả của các chu kỳ nghiệp vụ khác nhau. Khi thực hiện kiểm toán thì kiểm toán viên tuy vào tình hình để quyết định có tiếp tục thực hiện kiêm toán chi tiết số dư cuối năm của tiền với quy mô rộng hay không.Nếu phải tiến hành kiểm toán số dư cuối năm của tài khoản tiền tổng hợp thì kiểm toán viên phải tập hợp đầy đủ bằng chứng để đánh giá xem tiền phản ánh trên bảng cân đối tài sản có được trình bày trung thực và công khai đúng đắn hay chưa. Trong chu kỳ này kiểm toán viên phải mở rộng các thủ tục kiểm toán để xác định khả năng của một sự gian lận trọng yếu khi không có một quá trình kiểm soát nội bộ đầy đủ, nhất là sự tách riêng không đúng đắn các trách nhiệm quản lý tiền với ghi sổ các nghiệp vụ liên quan đến tiền trên các sổ nhật ký .Các thủ tục mà kiểm toán viên thực hiện đều được thiết kế chủ yếu nhằm phát hiện ra gian lận được xem xét trong cuộc kiểm toán số dư tiền tổng hợp cuối năm. 6. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tài sản cố định. Trong chu trình kiểm toán tài sản cố định, kiểm toán viên thưởng sử dụng phương pháp phân tích, kiểm tra, xác minh liệu để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đối với nghiệp vụ tăng tài sản cố định: Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra nhằm thỏa mãn các mục tiêu: Các nghiệp vụ tăng tài sản cố định đều được ghi chép hợp lý: kiểm toán viên tiến hành so sánh số phát sinh tăng tài sản cố định năm nay với năm trước và đánh giá các khoản tăng tài sản cố định có phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không. Nguyên giá tài sản cố định được tính toán và ghi sổ đúng đắn: kiểm toán viên tiến hành kiểm tra hóa đơn người bán , biên bản bàn giao tài sản cố định, biên bản quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành nghiệm thu bàn giao, biên bản liên doanh liên kết và đối chiếu với kết quả kiểm kê thực tế, tiến hành kiểm tra quá trình mua sắm và hạch toán nguyên giá tài sản cố định. Phát sinh tăng tài sản cố định được ghi chép đầy đủ: kiểm toán viên kiểm tra hóa đơn người bán, các chứng từ tăng tài sản cố định, các chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định để phát hiện trường hợp bỏ sót chưa ghi sổ tài sản cố định. Tài sản cố định thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài của doanh nghiệp: kiểm toán viên kiểm tra hóa đơn người bán, kiểm tra các điều khoản của hợp đồng thuê tài chính cũng như chứng từ liên quan đến tài sản cố định. Các nghiệp vụ tăng tài sản cố định được tính toán và cộng dồn chính xác: kiểm toán viên cộng số phát sinh trên các bảng ke mua sắm, đầu tư cấp phát tài sản cố định và đối chiếu số tổng cộng trong sổ hạch toán chi tiết tài sản cố định. Các nghiệp vụ tăng tài sản cố định được hạch toán đúng chế độ kế toán và phân loại đúng: kiểm toán viên kiểm tra các chứng từ có liên quan và các bút toán có tuân thu chế độ tài chính kế toán hiện hành không. Các nghiệp vụ tăng tài sản cố định được ghi sổ kịp thời khi đó kiểm toán viên tiến hành đối chiếu ngày ghi trên hóa đơn mua hàng và các chứng từ ghi tăng tài sản cố định với ngày ghi sổ kế toán. Đối với các nghiệp vụ giảm tài sản cố định: kiểm toán viên tiến hành lập bảng tổng hợp giảm tài sản cố định và đối chiếu sổ hạch toán chi tiết cac trương hợp ghi giảm tài sản cố định. Giảm tài sản cố định có thể do thanh lý nhượng bán trả lại tài sản cố định cố định cho bên tham gia liên doanh. Đối với các nghiệp vụ giảm tài sản cố định chưa ghi sổ hoặc ghi sổ không đúng, kiểm toán viên có thể áp dụng các thủ tục sau: Xem xét các mối quan hệ giữa các nghiệp vụ ghi giảm tài sản cố định với chi phí bất thường thu nhập bất thường. Tính toán lại thu nhập và chi phí của các nghiệp vụ ghi thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để thấy được các điểm bất hợp lý. Phân tích sự thay đổi hao mòn lũy kế của tài sản cố định để xem xét tính đúng đắn của việc ghi giảm tài sản cố định. So sánh khấu hao lũy kế và chi phí có liên quan đến việc ghi giảm tài sản cố định trên sổ kế toán chi tiết. Đối với số dư: Với số dư tài sản cố định đầu kỳ: Nếu khoản mục này trên bảng cân đối kế toán năm trước đã được kiểm toán thì kiểm toán viên ghi nhận số liệu đó. Nếu khoản mục này năm trước chưa được kiểm toán thì kiểm toán viên tiến hành phân loại tài sản cố định theo nhóm và đối chiếu số liệu trên sổ sách kế toán. Với số dư tài sản cố định cuối kỳ: kiểm toán viên căn cứ và số liệu đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ và tính toán được số dư cuối kỳ. So sánh số liệu trên sổ sách kế toán với biên bản kiểm kê tài sản cố định và chọn mẫu một số tài sản cố định trên sổ chi tiết và đối chiếu số liệu trên thực tế. Đối với chi phí khấu hao tài sản cố định: kiểm toán viên tiến hành công việc: Xem xét bảng đăng ký trích khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp trong đó có sự xét duyệt của cơ quan có thẩm quyền, đối chiếu việc tính khấu hao tài sản cố định trên thực tế với bảng đăng ký trích khấu hao tài sản cố định xem xét việc phân bổ khấu hao tài sản cố định cho bộ phận sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp, kiểm tra hạch toán chi phi khấu hao tài sản cố định và việc vào các tài khoản chi phí tương ứng. Đối với các trường hợp nâng cấp kéo dài thời gian sử dụng dẫn đến tăng nguyên giá, tăng khấu hao tài sản cố định thì cần tiến hành kiểm tra chi tiết trong từng trường hợp. III. THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN KẾT THÚC KIỂM TOÁN Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành các công việc thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tổng hợp các kết quả có tính chất tỏng hợp nhiều hơn. Đây là giai cuối cùng của một cuộc kiểm toán, trong đó chúng ta xem lại các khoản nợ ngoài ý muốn và các sụ kiện sau đó và đánh giá kết quả.Ngoài ra,các thư quản lý và sự phát hiện ra các sự kiện bất thường sau khi kiểm toán viên đã hoàn tất báo cáo thì vẫn được đề cập đến. * Nợ ngoài ý muốn là một khoản nợ tiềm ẩn trong tương lai đối với một số thành phần bên ngoài về một số tiền chưa biết sinh ra từ các hoạt động đã xảy ra.Tinhkhông chắc chắn của khoản thanh toán trong tương lai có thể thay đổi từ rất có khả năng đến không hề có khả năng.Có nhiều khoản nợ trong số các khoản nợ tiềm ẩn này thường được kiểm tra như một phànn của nhiều bộ phận khác nhau của hợp đồng kiểm toán hơn là một hoạt động riêng rẽ gần cuối cuộc kiểm toán. *Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán về nợ ngoài ý muốn: Các thủ tục kiểm toán cá khoản mục ngoài ý muốn xác định không được rõ ràng vì mục tiêu chủ yếu ở giai đoạn đầu là xác định sự tồn tại của các khoản ngoài ý muốn. Việc phát hiện ra nghiệp vụ hoặc sự kiện chưa được vào sổ khó hơn việc kiểm tra các thông tin ghi sổ. Khi kiểm toán viên nhận thức được là có các khoản ngoài ý muốn tồn tại, việc đánh giá tính trọng yếu của chúng và sự công khai quy định có thể được giải quyết một cách thoả đáng.Một số thủ tục kiểm toán thường được sử dụng để tìm các khoản nợ ngoài ý muốn: - Thẩm vấn ban quản trị về khả năng của các khoản ngoài ý muốn chưa ghi sổ. Trong lần phỏng vấn này, kiểm toán viên phải tập trung vào việc mô tả các loại khoản ngoài ý muốn cần công khai.Tuy nhiên, phỏng vấn ban quản trị sẽ không có tác dụng trong việc phát hiện sự cố ý không công khai các khoản nợ ngoài ý muốn hiện có. - Xem lại các báo cáo hiện hành và báo cáo các năm trước của cơ quan thuế nội địa về các khoản thuế lợi tức.Các báo cáo có thể chỉ rõ các lĩnh vực mà ở đó sự không nhất trí ở những năm không ổn định có khả năng phát sinh.Nếu công việc đó tiến hành trong một thời gian dài thì có khả năng tranh cãi mức thuế hiện tại sẽ tăng lên. - Xem lại các biên bản họp của HĐQT và của cổ đông để tìm các dấu hiệu của các vụ kiện hoặc các khoản ngoài ý muốn khác. - Phân tích phí tổn pháp lý của kỳ được kiểm toán và xem lại các hoá đơn và các bản kê từ nhà tư vấn pháp lý để tìm dấu hiệu của các khoản nợ ngoài ý muốn, nhất là các vụ kiện và mức thuế đang chờ quyết định. - Thu thập một bản xác nhận từ tất cả các luật sư chính có cung cấp dịch vụ pháp lý cho công ty khách hàng về tình trạng của vụ kiện đang chờ xét xử và các khoản nợ ngoài ý muốn khác. - Xem xét lại các tư liệu hiện có của bất kì thông tin nào mà có thể chỉ ra một sự kiện ngoài ý muốn tiềm ẩn như: các bản xác nhận của ngân hàng có thể chỉ rõ các phiếu nợ phải thu được chiết khấu hay sự bảo lãnh nợ vay. - Thu thập các thư tín dụng đang hiệu lực vào ngày lập bảng cân đối tái sản và thu thập bản xác nhận về số dư đã sử dụng và chưa sử dụng. * Sự xác nhận từ người cố vấn pháp luật của khách hàng: - Một thủ tục chính mà các kiểm toán viên dựa vào để phát hiện các khoản ngoài ý muốn là thư xác nhận từ người cố vấn pháp luật của khách hàng, thông báo cho kiểm toán viên về vụ kiện đang chờ xét xử hoặc bất kì thông tin nầo khác có liên quan với người cố vấn pháp luật, thích hợp với sự công khai trên báo cáo tài chính. - Yêu cầu khách hàng gửi một mẫy thư cho tất cả các luật sư mà công ty khách hàng có quan hệ trong năm hiện hành hoặc trong năm trước, cộng với tất cả các luật sư mà khách hàng thỉnh thoảng có thuê mướn - Các luật sư trong những năm gần dây đã trở nên miễn cưỡng khi phải cung cấp một số thông tin nhất định cho kiểm toán viên vì sự vạch trần của chính họ trước trách nhiệm pháp lý đối vơis việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc thông tin bảo mật. - Tuy nhiên có một số vấn đề kiểm toán nghiêm trọng phát sinh khi luật sư từ chối cung cấp thông tin thuộc về phạm vi quyền hạn cho phép của họ và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc trình bày trung thực của báo cáo tài chính.Và đã có quy định trong SAS 12 là yêu cầu ban quản trị cho phép các luật sư cung cấp thông tin về khoản nợ ngoài ý muốn cho các kiểm toán viên và động viên các luật sư hợp tác với các kiểm toán viên trong việc thu thập thông tin về các khoản nợ ngoài ý muốn. * Đánh giá các khoản nợ ngoài ý muốn đã biết. Nếu kiểm toán viên kết luận là có các khoản nợ ngoài ý muốn, thì kiểm toán viên đó phải đánh giá tầm quan trọng của khoản nợ tiềm ẩn đó và bẩn chất của sự công khai cần thiết trên báo cáo tài chính. Khoản nợ tiềm ẩn được biết đủ rõ và phải được ghi vào các báo cáo như một khoản nợ thực tế. Sự công khai có thể không cần thiết nếu khoản nợ ngoài ý muốn rất mơ hồ hoặc không trọng yếu. Kiểm toán viên thường có được sự đánh giá khoản nợ tiềm ẩn từ người tư vấn pháp luật chứ không phải là từ ban quản trị hoặc các luật sư của ban quản trị, hơn nữa luật sư của khách hàng là người bào chữa cho khách một cách thường xuyên nên sẽ không khách quan khi đánh giá. * Sự cam kết. Sự cam kết có sự gắn bó chặt chẽ với các khoản nợ ngoài ý muốn. Trong một cam kết, đặc điểm quan trọng nhất là thoả thuận gắn bó một doanh nghiệp vào một tập hợp các điều kiện cố định trong tương lai mà không xét đến điều gì sẽ xảy ra cho lợi nhuận hoặc nền kinh tế nói chung. Tất cả các cam kết thường được mô tả cùng trên một phần ghi chú riêng hoặc được kết hợp vào phần ghi chú liên quan với các khoản ngoài ý muốn. Việc tìm kiếm các cam kết chưa biết thường được thực hiện như một phần của cuộc kiểm toán của từng lĩnh vực kiểm toán. * Xem xét lại các sự kiện tiếp sau. - Kiểm toán viên có trách nhiệm xem xét lại các nghiệp vụ và các sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng cân đối tài sản để xác địn liệu có điều gì đã xảu ra mà có ảnh hưởng đến cách đánh giá hoặc sự công khai của các báo cáo đang được kiểm toán hay không. Các thủ tục kiểm toán mà SAS 1 quy định cho việc kiểm tra các nghiệp vụ và các sự kiện này thường được xem như sự xem xét lại các sự kiện tiếp sau hoặc sự xem xét lại sau khi cân đối tài sản. - Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc xem xét lại sự kiện tiếp sau thường bị giới hạn bởi kỳ bắt đầu là ngày lập bảng cân đối tài sản và kết thúc vào ngày viết báo cáo của kiểm toán viên. Vì ngày viết báo cáo của kiểm toán viên liên quan với việc hoàn thành các thủ tục kiểm toán quan trọng ở cơ quan khách hàng, sự xem xét lại các sự kiện tiếp sau phải được hoàn thành gần ngày cuối của hợp đồng. * Các loại sự kiện tiếp sau. - Những sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến các báo cáo tài chính và cần điều chỉnh. Những sự kiện hoặc quá trình này cung cấp thêm thông tin cho ban quản trị khi xác định cách đánh giá các số dư tài khoản vào ngày lập bảng cân đối tài sản, và cho các kiểm toán viên khi kiểm tra số dư. - Những sự kiện không có ảnh hưởng trực tiếp đến các báo cáo tài chính nhưng cần công khai. Các sự kiện tiếp sau loại này cung cấp bằng chứng của các điều kiện không tồn tại vào ngày lập bảng cân đối tài sản nhưng có ý nghĩa lớn nên chúng phải được công khai, cho dù chúng không cần điều chỉnh. *Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán các khoản nợ ngoài ý muốn (được chia làm 2 nhóm). - Nhóm thứ nhất bao gồm các khảo sát giới hạn và các khảo sát đánh giá được thực hiện như một phần của các khảo sát chi tiết số dư. - Nhóm hai gồm các khảo sát được thực hiện chủ yếu nhằm thu thập thông tin mà phải được kết hợp vào các số dư tài khoản của kỳ hiện hành, hoặc phải công khai trong phần ghi chú. Các khảo sát này gồm: +Thẩm vấn ban quản trị phải được tiến hành với đúng người để có những câu trả lời có ý nghĩa. + Liên lạc với luật sư nhằm tìm kiếm các khoản nợ ngoài ý muốn. Khi thu thập thư xác nhận từ luật sư, kiểm toán viên phải ghi nhớ trách nhiệm là khảo sát các sự kiện tiếp saucho đến ngày viết báo cáo kiểm toán, yêu cầu các luật sư ghi ngày và gửi thư xác nhận vài ngày dự kiến hoàn thành công việc nghiệp vụ. + xem xét lại các báo cáo nội bộ được lập sau ngày lập bảng cân đối tài sản: là các biến động trong kinh doanh liên quan tới các kết quả của cùng kỳ trong năm được kiểm toán, nhất là các biến động lớn. Các báo cáo phải được tranh luận với ban quản trị để xác nhận liệu chúng có được lập trên cùng một cơ sở như các báo cáo của kỳ hiện hành hay không. + Xem xét các sổ sách được lập sau ngày lập bảng cân đối tài sản. Các sổ nhật ký và sổ cái phải được xem xét lại để xác định sự hiện diện và bản chất của bất kỳ nghiệp vụ nào liên quan với năm hiện hành. + Kiểm tra các biên bản được phát hành sau ngày lập bản cân đối tài sản. Các biên bản của các kỳ họp HĐQT và cổ đông sau ngày lập bản cân đối tài sản phải được kiểm tra các sự kiện quan trọng tiếp sau mà có ảnh hưởng đến các báo cáo tài chính của kỳ hiện hành. + Thu thập thư kiến nghị. Thư kiến nghị do công ty khách hành viết cho kiểm toán viên, chính thức hoá các báo cáo mà khách hàng đã lập về những vấn đề khác nhau trong suốt cuộc kiểm toán, kể cả các cuộc tranh luận về các sự kiện tiếp sau. * Việc ghi cùng lúc hai ngày trên báo cáo kiểm toán. Đôi lúc kiểm toán viên nhận định là có sự kiện quan trọng tiếp sau sẽ xảy ra khi công tác nghiệp vụ hoàn tất, nhưng trước khi phát hành báo cáo kiểm toán và nguồn của các thông tin này là từ ban quản trị hoặc trên báo chí. Vậy ta có thể nói vào giai đoạn hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm toán đặc thù cho các lĩnh vực kiểm toán, điều cần làm là hợp nhất tất cả các kết quả vào một kết luận chung. Cuối cùng, kiểm toán viên phải quyết đinh liệu bằng chứng kiểm toán đã được tập hợp đầy đủ chưa để đảm bảo cho các kết luận là các báo cáo tài chính được trình bày phù hợp với các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận, áp dụng nhất quán với các báo cáo của năm trước hay chưa. KẾT LUẬN Thực chất của hoạt động kiểm toán chính là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về các vấn đề cần được kiểm toán mà trước hết và chủ yếu là Báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán là trung tâm của mọi việc mà kiểm toán viên phải làm. Các bằng chứng kiểm toán có thể là sẵn có hay có thể do kiểm toán viên tạo ra. Các kiểu mẫu bằng chứng cơ bản được thu thập nhờ các kỹ thuật kiểm toán như kiểm tra vật chất; lấy xác nhận; xác minh tài liệu; phỏng vấn; quan sát; kỹ thuật tính toán; phân tích. Ngoài các liểu mẫu bằng chứng cơ bản đó thì trong một số trường hợp đặc biệt kiểm toán viên các bằng chứng kiểm toán khác như ý kiến của các chuyên gia, giải trình của các nhà quản lý hay sử dụng tài liệu của kiểm toán viên nội bộ, của kiểm toán viên khác hay bằng chứng của các bên hữu quan. Đối với những vấn đề mà kiểm toán viên không am hiểu sâu sắc như việc đánh giá giá trị của tài sản quý hiếm, các công trình công nghệ, khoán sản, kiểm toán viên có thể tham khảo ý kiến của chuyên gia làm bằng chứng kiểm toán , tuy nhiên chuẩn mực kiểm toán vẫn đòi hỏi kiểm toán viên là người chịu trách nhiệm sau cùng về ý kiến nhận xét đối với báo cáo tài chính. Quyết định chủ yếu đặt ra cho từng kiểm toán viên là việc xác định số lượng bằng chứng thích hợp phải tập hợp để được thoả mãn là các yếu tố cấu thành các báo cáo tài chính của khách hàng và toàn bộ các báo cáo được trình bày một cách trung thực. Sự phán xét này rất quan trọng vì chi phí của quá trình kiểm tra và đánh giá tất cả các bằng chứng sẵn có rất cao. Do vậy kiểm toán viên cần phải cân đối được giữa số lượng bằng chứng thu được và chi phí bỏ ra để có được các bằng chứng đó. Trong thực tế kiểm toán, trên cơ sở thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên sẽ hình thành nên ý kiến kết luận kiểm toán. Vấn đề đặt ra là cần thu thập được những bằng chứng thuyết phục. Tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán được quyết định bởi hai tính chất quan trọng là tính hiệu lực và tính đầy đủ. Bằng cách kết hợp tất cả các bằng chứng từ cuộc kiểm toán toàn bộ, kiểm toán viên có thể quyết định khi nào mình đủ bị thuyết phục để đưa ra một báo cáo kiểm toán. Trong trường hợp kiểm toán viên không thể thu thập đủ bằng chứng về một sự việc quan trọng, thì họ có thể hoàn thành những nghĩa vụ luật định và chuyên môn của mình bằng cách trình bày dè dặt báo cáo kiểm toán của mình vì không biết chắc. Thế nhưng thật là không bình thường đối với đối với công ty khách hàng khi không có khả năng đưa ra những bằng chứng xác đáng để biện minh cho những số dư trong tài khoản. Để nâng cao chất lượng thu thập bằng chứng kiểm toán, cần tổ chức công tác kiểm toán một cách chu đáo và toàn diện, mở rộng phạm vi thu thập bằng chứng và phát huy thế mạnh hữu hiệu trong các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán. Kiểm toán viên cũng cần có kiến nghị với bộ tài chính cung cấp đủ kinh phí để trang bị thêm phương tiện vận chuyển và máy móc thiết bị làm việc. Kiểm toán của nước ta hiện nay đang trong quá trình hội nhập và hoàn thiện mình, tiến tới nâng cao hơn nữa cả về chất lượng cũng như quy mô hoạt động để khẳng định vai trò trong nền kinh tế đang phát triển, để theo kịp tiến trình đó đòi hỏi mỗi kiểm toán viên phải nắm chắc những kiến thức cơ bản về kinh tế nói chung và về nghề kiểm toán nói riêng. Do hạn chế về kiến thức cũng như thời gian nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót mặc dù được sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Mạnh Dũng. Em mong sẽ được sự góp ý bổ sung của thầy giáo hướng dẫn cũng như của các bạn đọc để em hoàn thiện đề tài này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Kiểm toán tài chính (GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH - ĐHKTQD, nhà xuất bản tài chính). Kiểm toán lý thuyết và thực hành (JOHN DUNN). Kiểm toán (ALVIN A. ARENS, JAMES K. LOEBBECKE). Hệ thống chuẩn mực kiểm toán và Việt Nam. Quyển I, NXB Tài chính, Hà Nội 09/1999. Quyển II (06/2001). Tạp chí kiểm toán. Tạp chí kế toán. Bằng chứng kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính (50 trang) BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN 2 I. Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán 2 1. Khái niệm 2 2. Phân loại bằng chứng kiểm toán và một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt 3 3. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán 13 II. Các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán 16 1. Kiểm tra vật chất 16 2. Lấy xác nhận 17 3. Xác minh tài liệu 18 4. Quan sát 19 5. Phỏng vấn 20 6. Kỹ thuật tính toán 21 7. Phân tích 22 PHẦN II: THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 27 I. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 27 II. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán đối với một số chu kỳ cụ thể 29 1. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán trong chu kỳ bán hàng - thu tiền 29 2. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu kỳ tiền lương nhân sự 31 3. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình mua hàng, thanh toán 32 4. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán chu trình tồn kho và nhập kho 33 5. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tiền 35 6. Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi kiểm toán tài sản cố định 36 III. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn kết thúc kiểm toán 38 KẾT LUẬN 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBằng chứng kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính.Doc
Luận văn liên quan