Đề tài Biện pháp phát triển ngành dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Mục lục Phần nội dung 3 Chương I: Những vấn đề lí luận cơ bản về các dịch vụ logistics. 3 I. Bản chất, vai trò và tác dụng của các dịch vụ logistics. 3 1. Bản chất của các dịch vụ logistics. 3 1.1 Các quan niệm về logistics và các dịch vụ logistics. 3 1.2. Chức năng, nhiệm vụ của các dịch vụ logistics trong kinh tế thị trường 5 2.Vai trò của các dịch vụ logistics. 7 3. Tác dụng của dịch vụ logistics: 9 II. Hệ thống các dịch vụ logistics ở Việt Nam. 11 III.Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ logistics. 12 1. Nhóm các nhân tố bên ngoài. 13 1.1. Yếu tố chính trị, pháp luật. 13 1.2. Yếu tố kinh tế. 13 1.3. Yếu tố công nghệ. 14 1.4. Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên. 14 1.5. Sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics. 15 1.6. Yếu tố khách hàng 15 2. Nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp. 15 2.1. Tiềm lực doanh nghiệp. 15 2.2. Hệ thống thông tin 16 2.3. Nghiên cứu và phát triển 16 Chương II: Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam 17 I. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam. 17 1. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của các dịch vụ logistics. 17 2.Quá trình phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam. 17 II. Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay. 18 1. Khái quát thực trạng ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian qua. 18 2.Thực trạng phát triển dịch vụ logistics của một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics điển hình. 27 2.1. Thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Vinafco Logistics. 27 2.2. Tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines 29 III. Một số kết luận rút ra từ thực trạng trên. 30 1. Điểm mạnh, điểm yếu của ngành dịch vụ logistics của Việt Nam. 30 1.1. Những điểm mạnh 30 1.2. Những điểm yếu 31 2. Xu hướng phát triển dịch vụ logistics trên thế giới. 31 3. Cơ hội và thách thức đối với ngành kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam trong thời gian tới. 33 3.1. Những cơ hội 33 3.2. Những thách thức 34 Chương III. Phương hướng và giải pháp phát triển các dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian tới. 35 I. Mục tiêu của ngành dịch vụ logistics trong thời gian tới. 35 II. Phương hướng phát triển 36 III.Một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian tới. 37 1.Tăng cường nhận thức về dịch vụ logistics. 37 2. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ logistics và ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hoạt động logistics. 38 3. Tập trung đầu tư quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, phương tiện kĩ thuật đồng bộ, tiên tiến nhằm phục vụ cho phát triển dịch vụ logistics. 39 4. Vấn đề quản lý của Nhà nước. 42 5. Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics. 44 6. Vấn đề liên kết và phát huy vai trò của các hiệp hội Logistics ở Việt Nam. 45 7. Giải pháp đối với người cung ứng dịch vụ logistics. 46 Phần kết luận 52 Tài liệu tham khảo 54 Nếu có thắc mắc gì về bài viết bạn liên hệ tới số ***********

doc76 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/04/2013 | Lượt xem: 5198 | Lượt tải: 45download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Biện pháp phát triển ngành dịch vụ Logistics ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
logistics như ở trên cùng với những cơ hội và thách thức đối với ngành trong thời gian tới thì yêu cầu cấp thiết là phải xác định được phương hướng và đề ra những giải pháp để có thể nắm bắt những cơ hội và khắc phục những khó khăn, thách thức nhằm đưa ngành kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam đứng vững và phát triển hơn nữa. Chương III. Phương hướng và giải pháp phát triển các dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian tới. I. Mục tiêu của ngành dịch vụ logistics trong thời gian tới. Mục tiêu cần đạt được của ngành dịch vụ logistics trên bình diện quốc gia là khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực quốc gia trong các hoạt động giao nhận, lưu trữ hàng hoá và nguyên vật liệu, vận tải và những hoạt động logistics khác. Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có mục tiêu tổng quát cho toàn ngành dịch vụ logistics mà chỉ có mục tiêu cho một số hoạt động trong chuỗi dịch vụ logistics mà thôi đặc biệt là lĩnh vực vận tải biển. Mục tiêu đối với dịch vụ vận tải giao nhận hàng hoá: tốc độ tăng trưởng bình quân vận tải nội địa giai đoạn 2002-2010 phải đạt 7,56%/năm về tấn và 9,65% về TKm; giai đoạn 2011-2020 là 6,83%/năm về tấn và 7,17% về TKm. Tốc độ tăng trưởng bình quân của vận tải hàng hoá XNK: giai đoạn 2002-2010 phải đạt 7,64% về tấn và giai đoạn 2011-2020 là 6,98% về tấn. Trong đó tỷ lệ đảm nhận hàng hoá vận chuyển XNK của đội tàu biển Việt Nam năm 2010 là 25% và 2020 là 35%.Thị phần vận tải quốc tế của các hãng hàng không Việt Nam đạt 50%. Đẩy mạnh khai thác cảng biển đầu mối tại những vùng kinh tế trọng điểm: Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ,Trung Trung Bộ,Nam Trung Bộ,Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ; các cảng, các bến cảng, cầu cảng chuyên dụng tại khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, trên đảo và cảng trung chuyển quốc tế, đảm bảo năng lực hàng hoá thông qua đạt trên 320 triệu tấn vào năm 2015 và trên 550 triệu tấn vào năm 2020. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: cải tạo, nâng cấp, làm mới hệ thống cở hạ tầng cho ngành dịch vụ logistics. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 của từng loại đường như sau: Đường bộ: Toàn bộ hệ thống quốc lộ và hầu hết tỉnh lộ phải được đưa vào đúng cấp kỹ thuật; Mở rộng và xây dựng mới các quốc lộ có nhu cầu vận tải lớn; Xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc trên các hành lang vận tải quan trọng. Đường sắt: Hoàn thành nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có đạt cấp đường sắt quốc gia và khu vực; Xây dựng một số tuyến mới có nhu cầu; Cải tạo và xây dựng một số tuyến đường sắt đôi và điện khí hóa; Triển khai xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc- Nam. Đường biển: Hoàn thành việc mở rộng, nâng cấp các cảng tổng hợp quốc gia chính; Xây dựng cảng nước sâu ở 3 khu vực kinh tế trọng điểm; Phát triển cảng trung chuyển quốc tế tiếp nhận tàu trọng tải lớn, đáp ứng được nhu cầu vận tải. Cụ thể, mở rộng các cảng Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Chân Mây, cảng Sài Gòn, Nhà Bè, Hiệp Phước…Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong cho tàu container sức chở 4000-6000 TEU và tàu dầu đến trọng tải 240.000 DWT. Nâng cấp xây dựng đường thuộc hành lang Đông-Tây và các đường ngang nối các cảng biển Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Campuchia. Đường sông: Nâng tổng chiều dài quản lý lên 16.500 km; Nâng cấp hệ thống đường sông chính yếu trong mạng đường sông Trung ương và địa phương đạt cấp kỹ thuật quy định; Đầu tư chiều sâu, nâng cấp và xây dựng mới các cảng hàng hóa và hành khách, đặc biệt ở đông bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Hàng không: Nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cảng hàng không quốc tế có quy mô và chất lượng ngang tầm với các nước trong khu vực. Hoàn thành nâng cấp và xây dựng mới các sân bay nội địa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể, phát triển cảng hàng không sân bay quốc tế Nội Bài thành điểm trung chuyển hàng hóa có sức cạnh tranh trong khu vực, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển cảng hàng không sân bay quốc tế Đà Nẵng, nâng cấp sân bay Chu Lai thành sân bay dự bị quốc tế và là sân bay trung chuyển hàng hóa của khu vực. Phát triển cảng hàng không sân bay Tân Sơn Nhất, Long Thành… Đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hoá cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước , đảm bảo chất lượng tốt, giá thành giảm. Dịch vụ kho bãi: Tăng diện tích kho bãi lưu trữ hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu..., đảm bảo chất lượng hàng hoá lưu trữ. Tinh giảm gọn nhẹ các thủ tục khai quan, thông quan,chứng từ...Đến 2010 các doanh nghiệp đều sử dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của mình. Đa dạng các lĩnh vực dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics và dần dần hướng tới cung cấp chuỗi dịch vụ logistics trọn vẹn như đúng nghĩa của nó. II. Phương hướng phát triển Để đạt được các mục tiêu đề ra ở trên, ngành dịch vụ logistics của Việt Nam đề ra một số phương hướng nhằm phát triển ngành như sau: Đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản pháp luật phù hợp điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến logistics và dịch vụ logistics, tạo môi trường thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển các dịch vụ logistics. Hình thành những tổng công ty, công ty mạnh đủ thế và lực hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics. Đối với một số đại gia trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam như: Vinafco, Sotrans, Tổng công ty hàng không Việt Nam, Tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines...thì cần tiếp tục duy trì và hoàn thiện các dịch vụ logistics mà mình đang cung ứng cho khách hàng đồng thời mở rộng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ logistics nhằm hướng tới cung ứng cho khách hàng chuỗi dịch vụ logistics trọn gói. Định hướng liên doanh, liên kết trong ngành kinh doanh dịch vụ logistics. Đối với các công ty kinh doanh dịch vụ logistics vừa và nhỏ có kinh nghiệm trong kinh doanh dịch vụ logistics nhưng chưa có đủ thế và lực cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics trọn gói thì cần liên kết lại với nhau, chuyên môn hoá theo mặt mạnh của mỗi công ty. Đầu tư phát triển các dịch vụ logistics nội địa, liên doanh, liên kết với các công ty logistics nước ngoài, dần mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam cung cấp toàn bộ dịch vụ logistics nội địa; tiếp thu công nghệ kĩ thuật, trình độ quản lý , kinh nghiệm... khi đủ lớn mạnh về thế và lực có thể vươn ra cung cấp logistics toàn cầu. Cụ thể là trước hết doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nội địa sẽ liên kết với các công ty logistics nước ngoài để tiếp nhận công nghệ, tích luỹ kinh nghiệm, tích luỹ vốn. Sau đó sẽ phát triển kinh doanh dịch vụ logistics một cách độc lập. Phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics theo hướng chính quy, chuyên nghiệp. Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ logistics cho khách hàng. III.Một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian tới. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, logistics là một trong 12 ngành dịch vụ mà Việt Nam mở cửa. Cơ hội cho ngành dịch vụ logistics của Việt Nam rất nhiều nhưng thách thức lại còn nhiều hơn. Qua quá trình phát triển, có thể thấy ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam bên cạnh những điểm mạnh thì cũng bộc lộ rất nhiều những điểm yếu cần phải khắc phục trong thời gian tới để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp logistics nước ngoài hiện đang có mặt tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp sắp vào Việt Nam khi Việt Nam mở cửa ngành này theo cam kết gia nhập WTO. Để phát triển hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của các dịch vụ logistics ở Việt Nam trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau: 1.Tăng cường nhận thức về dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics là một lĩnh vực còn rất mới mẻ đối với các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Để có thể phát triển tốt dịch vụ logistics thì phải tăng cường nhận thức về dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tránh tình trạng hiểu không thấu đáo, sẽ vận dụng sai, không hiệu quả.Chỉ khi có nhận thức về dịch vụ logistics thì các cơ quan nhà nước mới có thể quản lý tốt ngành này cũng như tạo các điều kiện thuận lợi cho ngành phát triển. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,từ nhận thức đầy đủ về dịch vụ logistics, các doanh nghiệp sẽ sử dụng dịch vụ logistics vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời tạo cơ hội phát triển dịch vụ logistics. Để phục vụ nhu cầu trước mắt nên thành lập nhóm công tác để nghiên cứu và triển khai dự án lập "Trung tâm Logistics" tại các vùng kinh tế trọng điểm. Nhóm nghiên cứu gồm cán bộ của Bộ Giao thông vận tải, của VIFFAS, các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về logistics, các chuyên viên thực tế về Logistics ( trong và ngoài nước), phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ: Công thương, Tài chính,Giao thông vận tải,… Tổng cục hải quan, các địa phương, các doanh nghiệp... Trên cơ sở các nghiên cứu và khuyến nghị của các nhóm sẽ đề nghị Chính phủ tháo gỡ, giải quyết những vấn đề vướng mắc để thành lập các Trung tâm Logistics trên cả nước sao cho hiệu quả. Đồng thời cũng dựa trên các kết quả nghiên cứu đó mà công bố và phổ biến kiến thức rộng rãi để các doanh nghiệp và những người quan tâm hiểu và áp dụng loại hình dịch vụ này. 2. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ logistics và ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hoạt động logistics. Logistics là một lĩnh vực mang lại hiệu quả rất lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như toàn xã hội. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới có điều kiện thuận lợi đều chú trọng phát triển, chiến lược phát triển dịch vụ logistics được nằm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và thực tế các quốc gia này đã thu được hiệu quả rất lớn, ví dụ như Singapore, Trung Quốc hay các nước thuộc EU. Từ những bài học kinh nghiệm của các nước cho thấy, muốn phát triển dịch vụ logistics thì Nhà nước phải xây dựng chiến lược phát triển cho ngành kinh doanh dịch vụ này. Nếu không có một chiến lược phát triển đúng đắn sẽ dẫn đến sự tự phát, manh mún, gây lãng phí các nguồn lực, đầu tư không mang lại hiệu quả cao. Ngoài việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ logistics, Nhà nước cần ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics hoạt động có hiệu quả. Nội dung các chính sách theo các hướng sau: Khuyến khích việc đầu tư vốn phát triển kết cấu hạ tầng logistics và các phương tiện vận chuyển, tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho các dịch vụ logistics phát triển. Có chính sách khuyến khích về thuế đối với các dịch vụ logistics và người kinh doanh dịch vụ logistics. Cụ thể như giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics và giảm thuế xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam khi sử dụng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp logistics Việt Nam. Điều này cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển logistics ở Việt Nam. Cho phép các doanh nghiệp kinh doanh logistics của Việt Nam liên doanh, liên kết với các công ty logistics nước ngoài khai thác thị trường trong và ngoài nước để học hỏi kinh nghiệm phát triển và quản lý dịch vụ logistics, mở rộng thị trường hoạt động từng bước thâm nhập thị trường logistics quốc tế. 3. Tập trung đầu tư quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, phương tiện kĩ thuật đồng bộ, tiên tiến nhằm phục vụ cho phát triển dịch vụ logistics. Đối với phát triển dịch vụ logistics thì điều kiện về cơ sở hạ tầng và phương tiện kĩ thuật là điều kiện tiên quyết.Ở Việt Nam, dịch vụ vận tải và dịch vụ kho bãi là hai hình thức dịch vụ logistics phổ biến và phát triển nhất. Vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng và cần thật chú trọng phát triển cho hợp lý. Để phát triển dịch vụ logistics thì cần làm tốt công tác quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sá, cầu cống; nhà ga, bến cảng; kho tàng, bến bãi; phương tiện vận chuyển cũng như các trang thiết bị phục vụ giao nhận vận chuyển...Đây là những yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động dịch vụ logistics. Tuy nhiên đầu tư phải đồng bộ, tiên tiến tránh tình trạng không tương thích giữa cơ sở hạ tầng với các phương tiện vận chuyển như một số bất cập trong chuyên chở container vừa qua (đường cầu không đáp ứng trọng tải và chiều cao của container). Ở Việt Nam hiện nay, phát triển dịch vụ logistics cần tập trung vào hai vấn đề chính: *Phát triển cơ sở hạ tầng và phương tiện vật chất kĩ thuật của ngành giao thông vận tải. Kết cấu hạ tầng và phương tiện vật chất kĩ thuật của giao thông vận tải đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển dịch vụ logistics. Không có cơ sở vật chất đồng bộ, tiên tiến khó có thể mang lại hiệu quả cho hoạt động logistics.Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ " xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, điện lực, thông tin...". Vì vậy, phát triển hệ thống cơ sở vật chất cũng như phương tiện vật chất kĩ thuật của giao thông vận tải đường bộ, hiện đại hoá là việc làm hết sức cần thiết để phục vụ yêu cầu của nền kinh tế xã hội nói chung và phát triển dịch vụ logistics nói riêng. Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải phục vụ cho phát triển dịch vụ logistics bao gồm: hệ thống đường sông, đường bộ, đường biển, các nhà ga, hệ thống cảng biển, sông, cảng hàng không, kho tàng bến bãi cũng như các trang thiết bị xếp dỡ hàng hóa, container ở các điểm vận tải giao nhận. + Đối với vận tải biển cần tập trung xây dựng và phát triển hệ thống cảng và nâng cấp đội tàu. Vận tải biển là lĩnh vực phát triển nhất trong lĩnh vực vận tải của nước ta bởi có đến 90% hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam là vận chuyển bằng đường biển. Cần đặc biệt chú trọng tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất cho lĩnh vực này phát triển. Xây dựng và phát triển hệ thống cảng. Hiện tại, hệ thống cảng biển của Việt Nam còn nhiều bất cập như quy mô còn nhỏ, cơ sở vật chất kĩ thuật còn lạc hậu, quản lý và khai thác chưa đạt hiệu quả. Vì vậy, cần phải tập trung xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển cho hợp lý đồng thời đảm bảo tính hiện đai đáp ứng nhu cầu thực tế.Xây dựng hệ thống cảng biển cần tuân thủ theo các quy hoạch phát triển cảng đã được Chính phủ phê duyệt, tránh đầu tư dàn trải theo cơ chế "xin- cho" không mang lại hiệu quả kinh tế khi đưa vào sử dụng. Phát triển cảng biển cần chú trọng đầu tư xây dựng cảng container, cảng trung chuyển để phục vụ nhu cầu vận chuyển container trong nước và khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ logistics. Trong hoạt động vận tải giao nhận thì vận chuyển hàng hoá bằng container ngày càng trở nên phổ biến, vì thế phải chú trọng phát triển cảng container nhằm nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics. Cần phải nâng cấp theo hướng hiện đại hoá, mở rộng quy mô, đón đầu cơ hội trong tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ logistics.Ngoài ra cũng cần quan tâm xây dựng và phát triển hệ thống cảng cạn. Về vốn đầu tư, nhà nước cần bỏ vốn từ ngân sách , vốn viện trợ, vốn vay của các chính phủ, các tổ chức quốc tế...để xây dựng mới và cải tạo nâng cấp các cảng biển lớn, nạo vét luồng lạch, mua sắm các trang thiết bị, cải tạo và xây dựng mới hệ thống kho tàng, để cảng biển trở thành trung tâm luân chuyển và phân phối hàng hoá cho các khu vực. Các địa phương bỏ vốn xây dựng cảng biển địa phương, kinh phí đầu tư xây dựng cảng phải sử dụng đúng mục đích, tập trung theo quy hoạch phát triển. Nhà nước cần có những biện pháp kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển. Tích cực liên doanh, liên kết để tận dụng vốn và công nghệ hiện đại của nước ngoài. Phát triển các tuyến vận tải. Bên cạnh các tuyến vận tải hiện có, phải mở thêm các tuyến vận tải mới, đặc biệt các tuyến vận tải quốc tế. Xây dựng và phát triển đội tàu vận chuyển. Những năm qua, nhà nước chủ yếu tập trung đầu tư vốn cho việc xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển còn việc xây dựng và phát triển đội tàu là do ngành, doanh nghiệp tự bỏ vốn. Trên thực tế, đầu tư cho phát triển đội tàu là rất lớn nên cần có sự hỗ trợ trực tiếp cũng như gián tiếp từ phía nhà nước. Đội tàu phải được phát triển theo hướng hiện đại hoá, trẻ hoá và chuyên dụng hoá. Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ đầu tư để các công ty vận tải biển có thể thuê, mua hay vay mua tàu mới bằng cách đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn của các ngân hàng trong và ngoài nước với lãi suất ưu đãi. Tuy nhiên cũng phải xem xét kĩ tính khả thi của dự án, đồng thời chỉ bảo lãnh cho các dự án trọng điểm. Trong quá trình thực hiện cần kiểm tra, giám sát để đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư, tránh những tiêu cực phát sinh. Ngoài ra, cần xem xét giảm thuế nhập khẩu tàu biển để tạo điều kiện phát triển đội tàu. Nhà nước cũng có thể gián tiếp đầu tư phát triển đội tàu bằng cách đầu tư cho ngành công nghiệp đóng tàu để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, khuyến khích đóng tàu viễn dương có trọng tải lớn, hiện đại như tàu bách hợp, tàu container. Đồng thời có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đóng tàu trong nước. + Đối với vận tải đường sông, cần xác định các tuyến đường chính trên đó xây dựng các cầu cảng và đầu tư phát triển phương tiện vận chuyển thích hợp. Vận tải đường sông cũng là một lợi thế của Việt Nam. Vì vậy cần có các giải pháp phát triển cho dịch vụ vận tải đường sông. Xây dựng các tuyến đường vận tải đường sông phải liên thông với các tuyến đường biển, đường sắt, đường ôtô để tạo thành phương tiện vận tải thông suốt. Vì vậy, phải xây dựng các cảng sông thật hợp lý và thuận lợi. + Đối với vận tải đường sắt, cần tập trung cải tạo, nâng cấp và mở rộng các tuyến đường đồng thời bổ sung phương tiện vận chuyển như đầu máy, toa xe, đặc biệt là các toa xe chuyên dụng. Cần đầu tư cải tạo và nâng cấp các tuyến đường sắt đặc biệt là tuyến đường Bắc Nam nhằm đảm bảo tốc độ chạy , mở rộng các tuyến đường nhánh tới các khu vực, các trung tâm công nghiệp,khu chế xuất, đặc biệt là các nhánh đến các cảng Hải Phòng, Cái Lân, Sài Gòn, Vũng Tàu...để đáp ứng nhu cầu vận chuyển. + Đối với vận tải hàng không Theo dự báo thì nhu cầu vận chuyển bằng đường hàng không sẽ tăng trong thời gian tới. Để đáp ứng nhu cầu chuyên chở, phải đầu tư mua sắm máy bay chuyên chở hàng, các phương tiện xếp dỡ vận chuyển hàng đồng thời thiết lập các tuyến bay chở hàng tới các điểm có nhu cầu vận chuyển hàng hoá đi và đến Việt Nam. * Đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin. Hạ tầng thông tin là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả của các dịch vụ logistics ở nhiều quốc gia trên thế giới. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để phục vụ cho phát triển dịch vụ logistics bao gồm: mạng lưới thông tin phục vụ sản xuất kinh doanh, trao đổi dữ liệu điện tử, hệ thống Internet... Trước hết nhà nước cần đẩy nhanh việc thiết lập hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử-công nghệ đang áp dụng trong kinh doanh. Cần thiết lập hệ thống thông tin giữa các bên liên quan để có thể nhanh chóng cập nhật những thông tin về phương tiện vận chuyển cũng như hàng hoá được vận chuyển, kịp thời triển khai các dịch vụ như làm thủ tục hải quan, tổ chức xếp dỡ và giao hàng,nhanh chóng giải phóng phưong tiện vận chuyển, hạn chế tối đa các chi phí phát sinh. Để phát triển hệ thống Internet, chính phủ cần có kế hoạch đẩy mạnh hiện đại hoá hệ thống truyền thông, gia tăng tốc độ đường truyền...đảm bảo thông tin được truyền đi nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ logistics nâng cao hiệu quả cung ứng cho các doanh nghiệp. kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics,đặc biệt là trong lĩnh vực giao nhận vận tải. Điều này giúp giảm được chi phí đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, từ đó nâng cao được sức cạnh tranh của các dịch vụ logistics và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam. 4. Vấn đề quản lý của Nhà nước. * Nhà nước cần sớm xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động logistics, ban hành các quy định pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển ngành dịch vụ logistics. Để có thể phát triển tốt dịch vụ logistics thì sự hỗ trợ về chính sách và pháp luật có vai trò hết sức quan trọng. + Các văn bản pháp luật cho hoạt động logistics. Ở Việt Nam hoạt động của các dịch vụ logistics đã được điều chỉnh bởi luật Thương mại Việt Nam năm 2005 với 8 điều ( từ điều 233 đến điều 240) quy định về dịch vụ logistics. Cần tiếp tục triển khai chi tiết để thực hiện, ra các văn bản hướng dẫn thực hiện các điều khoản trong luật đã quy định. Giải thích và cụ thể hoá các nội dung: khái niệm dịch vụ logistics, người kinh doanh dịch vụ logistics, hợp đồng dịch vụ logistics, thời hạn trách nhiệm , cơ sở trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ logistics…để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ logistics. + Các văn bản pháp luật cho những lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển dịch vụ logistics như: luật về giao thông vận tải, thương mại điện tử, thủ tục hải quan… Dịch vụ logistics chỉ phát triển hiệu quả trên cơ sở có sự hỗ trợ của luật pháp các lĩnh vực liên quan như luật lệ về giao thong vận tải, thương mại điện tử hay chữ kí điện tử…Vì vậy, để hỗ trợ tốt cho dịch vụ logistics phát triển thì ngoài việc xây dựng và ban hành luật về dịch vụ logistics nhà nước cần ban hành các luật lệ hỗ trợ để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển dịch vụ logistics. Nhà nước cần hoàn thiện hơn về luật trong lĩnh vực giao thông vận tải, cụ thể là luật về hàng hải, luật hàng không, luật giao thông đường bộ, luật đường sông, luật đường sắt …để có một bộ luật khá đầy đủ cho hoạt động vận tải nói chung và phát triển dịch logistics nói riêng. Bên cạnh đó, dịch vụ vận chuyển trong chuỗi dịch vụ logistics không chỉ là vận chuyển trong nội địa mà hơn thế nữa là dịch vụ vận chuyển hàng hoá quốc tế. Vì thế, bên cạnh xây dựng và hoàn thiện luật trong nước, Nhà nước cũng cần cung cấp cho các doanh nghiệp liên quan đến dịch vụ logistics những thông tin cần thiết về luật quốc tế về dịch vụ logistics và các luật hỗ trợ liên quan. Về phát triển thương mại điện tử, nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp lý để hỗ trợ cho thương mại điện tử phát triển nhằm tạo điều kiện phát triển dịch vụ logistics.Hệ thống pháp lý cho thương mại điện tử cần xây dựng trên cơ sở đạo luật mẫu về thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế nhằm tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam với Luật Quốc tế, bảo vệ hợp pháp quyền lợi trong các giao dịch điện tử. Về nội dung Luật Thương mại điện tử của Việt Nam, phải thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch thương mại điện tử( thông qua hệ thống Internet và hệ thống EDI), chữ kí điện tử và chữ kí số hoá, bảo vệ tính pháp lý của các hợp đồng thương mại điện tử, các hình thức , phương tiện thanh toán điện tử, đối với sở hữu trí tuệ lien quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử, đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập bằng thu thập tin tức mật, thay đổi các thông tin trên trang web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virut phá hoại một cách bất hợp pháp, thiết lập hệ thống mã nguồn cho tất cả các thông tin số hoá. Về thủ tục hải quan. Để thủ tục hải quan cụ thể là thủ tục thông quan ngày càng có hiệu quả và góp phần hỗ trợ cho dịch vụ logistics được nhanh chóng và thuận tiện thì bên cạnh việc thực thi các qui định về Luật Hải quan, Nhà nước cũng cần nghiên cứu và ban hành một số chính sách để giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng luật.Việc phát triển công nghệ thông tin, xây dựng căn cứ pháp lý về khai hải quan điện tử và trao đổi dữ liệu điện tử trong việc làm thủ tục hải quan theo qui định của Luật Hải quan là một yêu cầu cấp bách và là khâu đột phá nhằm đảm bảo thủ tục hải quan thông thoáng, đơn giản, gọn nhẹ, tránh rườm rà làm hàng hoá thông quan khó khăn và chậm trễ, ảnh hưởng đến hợp đồng giao hàng cũng như chất lượng của dịch vụ logistics. Áp dụng công nghệ thông tin vào thủ tục hải quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động, giảm thời gian và chi phí trong việc làm thủ tục, tạo điều kiện cho thông quan hàng hoá. Để thực hiện được mục tiêu này, Nhà nước cần hỗ trợ ngành hải quan xây dựng hệ thống thông tin máy tính hải quan, đảm bảo cho việc truyền và nhận thông tin từ trung tâm thông tin dữ liệu tổng cục hải quan tới chi cục hải quan, các cơ quan nhà nước, tổ chức có lien quan để phục vụ cho nhu cầu quản lý, điều hành, trao đổi, sử dụng dữ liệu điện tử trong việc làm thủ tục hải quan, kiểm tra hàng hoá, quản lý thu nộp thuế với hàng hóa xuất nhập khẩu và yêu cầu hiện đại hoá quản lý hải quan cũng như đảm bảo việc kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu bằng phương thức thương mại điện tử. Cải cách hoạt động hải quan trong kiểm tra, giám sát sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động logistics phát triển. *Tăng cường thể chế quản lý dịch vụ logistics. Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy việc tăng cường quản lý dịch vụ logistics của nhà nước là hết sức cần thiết, góp phần tích cực cho dịch vụ logistics phát triển. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương… phối hợp thành lập uỷ ban quốc gia về dịch vụ logistics hoặc giao nhiệm vụ cho một vụ hay cục quản lý về dịch vụ logistics , nói khác đi là phải có một cơ quan quản lý dịch vụ logistics. Cơ quan quản lý sẽ chịu trách nhiệm: Hoạch định chính sách và đề xuất các biện pháp phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Đề xuất việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cho dịch vụ logistics. Nghiên cứu và đề xuất các qui định pháp luật điều chỉnh hoạt động logistics cũng như các vấn đề giao dịch trong dịch vụ logistics. Nghiên cứu và đề xuất ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là thương mại điện tử và công nghệ truyền dữ liệu áp dụng trong hoạt động logistics. Xét đăng ký và cấp phép cho người kinh doanh dịch vụ logistics. - Giúp đỡ và hỗ trợ việc thành lập và phát triển các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. - Phối hợp với các tổ chức trong khu vực và thế giới trong việc phát triển dịch vụ logistics. 5. Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics. Nhân lực cho ngành dịch vụ logistics là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định sự phát triển của dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay. Với thực trạng nguồn nhân lực cho dịch vụ logistics vừa thiếu vừa yếu như phân tích ở trên thì phát triển nguồn nhân lực là vấn đề bức thiết. Để có nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của dịch vụ logistics thì cần triển khai các biện pháp sau: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho dịch vụ logistics. Chiến lược này nằm trong chiến lược phát triển ngành dịch vụ logistics nói chung. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương… phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đưa dịch vụ logistics vào chương trình giảng dạy tại các khoa quản trị kinh doanh của các trường đại học, hoặc thành lập các trường đào tạo nghề kinh doanh dịch vụ logistics. Nội dung đào tạo cần tập trung vào nội dung logistics, tổ chức vận hành chuỗi dịch vụ logistics và quản lý sự vận động của chuỗi logistics cũng như các quy định pháp lý lien quan tới hoạt động logistics. Trong đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics thì không thể thiếu kiến thức về tin học. Việc truyền, nhận, xử lý thông tin để ra được những quyết định đúng đắn sẽ đơn giản hoá thủ tục giấy tờ, xử lý kịp thời tình huống nâng cao được hiệu quả hoạt động. Hình thức đào tạo có thể áp dụng nhiều hình thức như đào tạo trong nước hoặc hợp tác với nước ngoài trong đào tạo, tổ chức các hội thảo trao đổi kinh nghiệm và học tập kinh nghiệm của các nước ngoài hay khảo sát thực tế. Ngoài ra có thể thông qua hỗ trợ của các dự án đào tạo logistics của ASEAN, FIATA hay ESCAP và sự hỗ trợ kĩ thuật của các tập đoàn logistics quốc tế để phát triển nguồn nhân lực logistics của Việt Nam. Tìm kiếm các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Nguồn nhân lực cho phát triển dịch vụ logistics là rất quan trọng. Vì vậy, cần phát triển nguồn nhân lực này theo hướng chính quy, chuyên nghiệp. Đào tạo và tái đào tạo, chương trình đào tạo phải được cập nhật, đổi mới. Có được nguồn nhân lực phục vụ ngành dịch vụ logistics chuyên nghiệp thì ngành dịch vụ này sẽ nhanh chóng phát triển và đạt hiệu quả cao. 6. Vấn đề liên kết và phát huy vai trò của các hiệp hội Logistics ở Việt Nam. Trước thực trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam như hiện nay thì vấn đề liên kết các doanh nghiệp đó lại với nhau là một vấn đề cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thế giới mà đặc biệt là các doanh nghiệp logistics nước ngoài hiện đang và sẽ kinh doanh dịch vụ này Việt Nam. Chính phủ cần có các chính sách và biện pháp hướng dẫn, thúc đẩy sự liên kết các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics để có những doanh nghiệp có đủ quy mô, điều kiện cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng loại trong khu vực và trên thế giới. Ở Việt Nam hiện nay, liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics có rất nhiều hiệp hội: Hiệp hội chủ tàu Việt Nam, Hiệp hội cảng biển Việt Nam, Hiệp hội đại lý và môi giới hàng hải, Hiệp hội bảo hiểm, Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam. Thời gian qua, các hiệp hội đã hoạt động tích bảo vệ quyền lợi của các hội viên trong kinh doanh. Để phát huy vai trò của mình trong việc phát triển ngành dịch vụ logistics, các hiệp hội cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau: Thiết lập các thủ tục và các tiêu chuẩn kinh doanh của các hội viên, trên cơ sở đó đảm bảo chất lượng của người kinh doanh dịch vụ logistics. Đại diện lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp trong các quan hệ kinh doanh trong và ngoài nước. Làm cầu nối giữa nhà nước và doanh nghiệp trong việc đề ra các chính sách trong việc quy hoạch và phát triển ngành nghề. Tư vấn cho các doanh nghiệp về luật pháp quốc tế, thông tin thị trường, mở rộng khách hàng và bảo vệ lợi ích của hội viên khi gặp rào cản hay tranh chấp thương mại quốc tế. Xử lí tốt việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các hội viên, điều hoà quyền lợi giữa các hội viên, trên cơ sở đó đề xuất với chính phủ thoả thuận ban hành giá cả dịch vụ để tạo sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Tham gia ý kiến vào các văn bản pháp luật liên quan tới hoạt động của các doanh nghiệp từ khi soạn thảo để đảm bảo tính khả thi của pháp luật. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước về biện pháp và chính sách quản lý và phát triển dịch vụ logistics. Các hiệp hội ngành nghề nếu thực hiện tốt các nhiệm vụ trên đây sẽ hỗ trợ đắc lực cho nhà nước trong việc đào tạo và phát triển dịch vụ logistics cũng như việc xây dựng và ban hành luật lệ, chính sách liên quan đến dịch vụ logistics. Nếu liên kết chặt chẽ và phát huy tốt vai trò của hiệp hội ngành nghề trong cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics sẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong việc cung ứng dịch vụ logistics và từ đó phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam. 7. Giải pháp đối với người cung ứng dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phát triển thì các dịch vụ logistics mới phát triển được. Để phát triển dịch vụ logistics thì không chỉ có các chính sách và hệ thống pháp luật từ phía Nhà nước mà bản thân các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này cũng phải có các giải pháp để phát triển. Các giải pháp của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics cần tập trung vào một số vấn đề sau: *Đầu tư và xây dựng hợp lý có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp. Bên cạnh các hệ thống cơ sở hạ tầng mà nhà nước đầu tư xây dựng thì đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cũng phải trang bị và đầu tư cho hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật cho doanh nghiệp mình. Để đảm bảo cơ sở vật chất kĩ thuật cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics , các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ này cần có kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống kho bãi và các phương tiện vận tải hợp lý và có hiệu quả. Nên phát triển đa dạng các loại hình kho bãi để đáp ứng tính đa dạng của hàng hoá mà doanh nghiệp nhận bảo quản, đóng gói, vận chuyển…Các loại kho như: kho chứa hàng bao kiện, hàng rời có khối lượng lớn, kho hàng chuyên dụng như kho lạnh chứa hàng đông lạnh, kho chứa hàng sống; kho chứa hàng công nghệ có giá trị cao, nhất là sản phẩm kĩ thuật cao, cơ khí chính xác, thiết bị đồng bộ. Loại kho này cần có hệ thống ngăn kệ nhiều tầng để tối ưu diện tích. Mỗi tầng sẽ được chia thành nhiều ngăn, hàng sẽ được xếp dỡ vào mỗi ngăn bởi hệ thống Pallet bởi các xe nâng. Loại kho này ở Việt Nam hiện còn thiếu và trang thiết bị phục vụ chưa đảm bảo. Các kho bãi cần được đặt ở những địa điểm thuận lợi; tiện cho việc lưu thông hàng hoá bằng các phương thức vận tải, và nên xây dựng ở những nơi khô ráo để đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong những điều kiện khí hậu. Cần xây dựng những kho trung tâm có sức chứa lớn ở một số điểm vận tải chính như các cảng, các sân bay quốc tế lớn để phục vụ việc lưu trữ, tập kết hàng, chờ xuất khẩu hoặc nhập hàng, chờ phân phối đi các tỉnh thành và các khu công nghiệp. Doanh nghiệp mua sắm phương tiện vận chuyển sao cho hợp lý cả về lượng, loại hình phương tiện cũng như chất lượng phương tiện.Tuỳ vào loại hình dịch vụ và sản phẩm doanh nghiệp nhận chuyên chở mà các doanh nghiệp nên chọn loại phương tiện vận chuyển nào cho hiệu quả: tàu, ôtô tải, container… * Mở rộng đa dạng các loại hình dịch vụ logistics cung ứng để dần hướng tới phát triển toàn diện mô hình dịch vụ logistics. Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ logistics cung ứng cho khách hàng để dần hướng tới sự phát triển toàn diện dịch vụ logistics là giải pháp hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ mà tổ chức tốt các dịch vụ của mình sẽ giúp cho các nhà sản xuất kinh doanh tiết kiệm được kho bãi, nhân sự , phương tiện vận chuyển, trong các công đoạn của dòng lưu chuyển hàng hoá (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm). Các giai đoạn sản xuất được rút ngắn, sản phẩm nhanh chóng có mặt trên thị trường, đáp ứng được ý tưởng kinh doanh hiện đại “đúng thời điểm”. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam cung ứng dịch vụ vận chuyển là chủ yếu còn các dịch vụ logistics khác mặc dù cũng có nhưng hoạt động đều rất nhỏ lẻ, manh mún và không được chú trọng như dịch vụ vận chuyển. Nhưng nếu biết khai thác các dịch vụ này có hiệu quả thì lợi nhuận mang lại từ chúng cũng không nhỏ. Xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics mở rộng ra ở các lĩnh vực sau: Đảm nhận việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu đầu vào phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khách hàng và cung ứng cho các doanh nghiệp đó đúng thời gian và địa điểm ngay khi khách hàng có nhu cầu. Đảm nhận việc đóng gói bao bì, phân loại hàng hóa và bảo quản hàng hoá cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Xu thế hợp tác và chuyên môn hoá cao, ngày nay nhiều doanh nghiệp sản xuất thuê ngoài các dịch vụ tương ứng mà bản thân doanh nghiệp có thể tự cung cấp như: đóng gói, bao bì, ký mã hiệu, nhãn mác cho hàng hoá, phân loại hàng hoá, bảo quản hàng hoá trong khi chờ phân phối…Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics có thể cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất các dịch vụ này một cách hiệu quả: thực hiện các dịch vụ đóng gói phù hợp với trọng lượng, kích thước, giá trị hàng hoá, đánh ký mã hiệu, nhãn hiệu chính xác, phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xếp dỡ , giao nhận và vận chuyển hàng hoá. Dịch vụ này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên. Với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì sẽ đảm bảo an toàn hơn trong chuyên chở và giao nhận hàng, vì họ là người trực tiếp đóng gói, giao nhận và vận chuyển nên hiểu hơn ai hết cần phải bao bì đóng gói hàng hoá như thế nào cho phù hợp, tạo công ăn việc làm cho lao động cũng như lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đối với nhà sản xuất kinh doanh sẽ giải quyết được khó khăn về kho bãi, khắc phục được việc thiếu kinh nghiệm trong điều phối hàng hoá , giảm được chi phí trong việc thực hiện các dịch vụ trước khi hàng hoá được phân phối tới người tiêu dung hoặc xuất khẩu và được hưởng dịch vụ cung cấp có chất lượng cao. Cung cấp dịch vụ kiểm kê, phân phối hàng hoá đến đúng địa chỉ tiếp nhận. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện kiểm kê, phân phối hàng hoá sẽ giúp khách hàng tính đúng lượng dự trữ cần thiết, đảm bảo tiến độ sản xuất kinh doanh, tránh được tình trạng thiếu hụt hay tồn đọng nguyên vật liệu, hàng hoá quá định mức dự trữ. Để thu hút các hàng hoá qua kho, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nên tiến hành các giải pháp sau: Áp dụng phí lưu kho hấp dẫn, không áp dụng phí luỹ tiến để có thể tồn trữ số lượng hàng nhiều thời gian lâu, nhất là hàng có khối lượng lớn như hàng nông sản, phân bón, vật liệu xây dựng, hoá chất phục vụ nông nghiệp. Có chính sách ưu đãi đối với khách hàng thường xuyên thuê kho. Đảm bảo an toàn về số lượng cũng như chất lượng của hàng hóa trong thời gian lưu kho, tạo long tin cho khách hàng. Đầu tư tin học hoá hệ thống quản lý hàng trong kho phục vụ công tác kiểm đếm, chất xếp, di chuyển hàng hoá trong kho bảo đảm khoa học, nhanh chóng, kịp thời. Nắm chắc và cập nhật cho khách hàng tình trạng hàng hoá trong từng thời điểm từ lúc hàng xuất khỏi kho cho đến địa điểm nhận hàng cuối cùng. * Nâng cao chất lượng dịch vụ logistics cung ứng cho khách hàng. Cùng các giải pháp hỗ trợ phát triển của chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đáp ứng những yêu cầu mới của thị trường, bản thân các doanh nghiệp cũng phải có sự nỗ lực để đưa ra thị trường những sản phẩm đủ sức cạnh tranh. Hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt không có sự bảo hộ của Nhà nước, muốn đứng vững thì không có giải pháp nào hữu hiệu hơn là các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng dịch vụ mà mình cung ứng cho khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng mới đồng thời giữ chân được những khách hàng hiện có. Để nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng thì các doanh nghiệp cần tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng đã có, hiện đại hoá các trang thiết bị phục vụ , mua sắm các trang thiết bị mới, đào tạo được đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp…để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dịch vụ logistics. * Đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Hiện nay nguồn nhân lực đào tạo cho ngành dịch vụ logistics của Nhà nước còn thiếu rất nhiều và chất lượng thì chưa đảm bảo. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cần có các chính sách nhân lực cho riêng mình, quan trọng nhất là đào tạo và đào tạo lại đội ngũ nhân viên của mình để có một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Muốn vậy các doanh nghiệp có thể cử nhân viên theo học các khoá đào tạo chính quy, chuyên nghiệp về dịch vụ logistics ở trong nước hoặc ở nước ngoài, cho nhân viên tham gia các khoá khảo sát thực tế để có thêm kinh nghiệm và nâng cao nghiệp vụ của mình. * Ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics cần nhanh chóng thúc đẩy và áp dụng công nghệ thông tin và quá trình hoạt động kinh doanh của mình, trao đổi thông tin và các dữ liệu điện tử trong thương mại, khai quan điện tử để tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin nhằm mang lại năng suất lao động cao, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tình trạng tiêu cực, gian lận trong thương mại, xuất nhập khẩu và hải quan. Nhiều trường hợp người ta cho rằng luồng thông tin là tài sản quan trọng nhất trong kinh doanh chứ không phải là luồng hàng hoá hay nguyên vật liệu. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics là không giới hạn, từ việc tìm nguồn nguyên vật liệu, theo dõi luồng vận chuyển của hàng hoá, đến việc sử dụng các thiết bị vận hành tự động trong các kho hàng, trong vận chuyển và xếp dỡ hàng hoá. Áp dụng thành tựu của công nghệ thông tin, trao đổi dữ liệu bằng hệ thống máy vi tính với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng sống còn đối với việc quản lý cả quá trình hoạt động logistics, đặc biệt là quản lý sự di chuyển của hàng hoá và các chứng từ. Ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động logistics sẽ tiết kiệm được các chi phí, thông tin thông suốt đảm bảo cho quá trình hoạt động thuận lợi, nhanh chóng, đạt hiệu quả cao. *Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước. Thực tế ở Việt Nam chưa có một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nào hoạt động như một doanh nghiệp logistics thực thụ. Sở dĩ như vậy chủ yếu là do nguồn lực của các doanh nghiệp còn yếu. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam cần liên doanh, liên kết lại với nhau để có đủ năng lực và điều kiện cung ứng đầy đủ, trọn gói dây chuyền các dịch vụ logistics cho khách hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nên chọn các đối tác “đủ tầm”- năng lực, uy tín, kinh nghiệm, ưu tiên các công ty nước ngoài nổi tiếng. Qua liên doanh, liên kết dưới nhiều hình thức sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp thu, học hỏi được những kinh nghiệm của họ để phát triển ngành dịch vụ logistics nước ta một cách bền vững và hiệu quả, tạo điều kiện phát triển một cách độc lập, không chỉ ở thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới. * Tăng cường hoạt động marketing nhằm thu hút khách hàng. Thời gian qua, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics chưa được quan tâm và phát triển thích đáng. Các hình thức triển khai còn đơn giản, tên doanh nghiệp , nội dung nghiệp vụ kinh doanh mới chỉ được đăng tải trên một vài kỳ của tạp chí ngành, báo…Vì vậy, phần nào hạn chế thu hút khách hàng cho doanh nghiệp. Để thu hút được khách hàng nhiều hơn, các doanh nghiệp cần tăng cường hoạt động marketing và phải chú trọng ưu tiên hàng đầu. Một mặt nâng cao được nhận thức cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thấy được vai trò, tác dụng của việc sử dụng dịch vụ logistics, mặt khác thu hút được khách hàng nội địa tham gia tích cực vào lĩnh vực này, ngoài ra còn tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài. Muốn vậy, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics vần thực hiện những công việc sau: Thiết lập và mở rộng hơn nữa mối quan hệ với các văn phòng đại diện và các tổ chức kinh tế nước ngoài tại Việt Nam. Thường xuyên giữ mối liên hệ tốt với các cơ quan thương vụ và các tổ chức quốc tế của nước ngoài tại Việt Nam cũng như của Việt Nam tại nước ngoài để khai thác thông tin về các hợp đồng thương mại và đầu tư nhằm mục đích khai thác nhu cầu dịch vụ logistics. Có kế hoạch tham quan, khảo sát để tìm tòi và học hỏi các kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở các văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của doanh nghiệp ở nước ngoài để khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh. Xây dựng mạng lưới đại lý của doanh nghiệp tại các quốc gia có lượng hàng hoá lớn ra vào Việt Nam hay khu vực để thực hiện cung cấp khi cần thiết nhằm tạo điều kiện liên kết chặt chẽ luồng hàng hoá theo đúng yêu cầu mà khách hàng đặt ra. Như vậy để phát triển dịch vụ logistics thì cần phải có sự hỗ trợ các điều kiện của Nhà nước, sự nỗ lực của mỗi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này, sự ủng hộ và sử dụng dich vụ của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Kết hợp được các yếu tố này thì ngành dịch vụ logistics của Việt Nam sẽ nhanh chóng phát triển, không chỉ ở thị trường nội địa mà còn mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới. Phần kết luận Dịch vụ logistics là một trong 12 ngành dịch vụ mà Việt Nam mở cửa khi hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Tuy còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của Việt Nam nhưng trong thời gian qua các dịch vụ logistics cũng đã thể hiện vai trò và tác dụng quan trọng của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung khi nó đóng góp đến 15% vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Dịch vụ logistics không phải là dịch vụ đơn lẻ mà là một chuỗi các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp từ giai đoạn tiền sản xuất, trong quá trình sản xuất cho tới khi hàng hoá tới tay người tiêu dung. Dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên , nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hoá và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dung cuối cùng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì dịch vụ logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách hiệu quả. Dịch vụ logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu,hàng hoá , dịch vụ…dịch vụ logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế quốc dân, dịch vụ logistics không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. Không những thế dịch vụ logistics mà đặc biệt là dịch vụ vận tải quốc tế còn tạo cơ hội cho Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, tạo cơ hội cho Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới, từ đó nắm bắt được các cơ hội cũng như học hỏi các kinh nghiệm của các công ty, doanh nghiệp nổi tiếng thế giới, sau đó vận dụng hợp lý vào hoạt động kinh doanh của Việt Nam, góp phần phát triển nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã, hội của đất nước. Trong thời gian qua, dịch vụ logistics của Việt Nam tuy còn khá mới mẻ nhưng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần khắc phục ngay để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam. Đó là đồng vốn và nhân lực của doanh nghiệp còn khá ít ỏi nên việc xây dựng bộ máy doanh nghiệp còn đơn giản, qui mô nhỏ; nguồn nhân lực vừa thiếu vừa yếu, chưa có kinh nghiệm, nghiệp vụ chuyên sâu; các dịch vụ cung ứng thì mới nhỏ lẻ và chưa thực sự là cung ứng được chuỗi dịch vụ logistics theo đúng nghĩa của nó; điều kiện cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn; tổ chức quản lý chồng chéo… Từ thực trạng trên cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không bao lâu nữa Việt Nam sẽ mở cửa cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics 100% vốn nước ngoài vào kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Điều này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp kinh đoanh dịch vụ logistics của Việt Nam, hứa hẹn một sự cạnh tranh gay gắt trong ngành cung ứng dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam trong thời gian tới. Với những khó khăn và thách thức như trên đề ra nhu cấp cấp thiết cho các doanh nghiệp là phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứn cho khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn làm được điều đó ngoài những nỗ lực từ phía doanh nghiệp như đầu tư và phát triển hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật, mở rộng loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp thông qua đào tạo và đào tạo lại tại các trường, các trung tâm đào tạo dịch vụ logistics…; ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mai điện tử vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiêp; liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp logistics khác ưu tiên các doanh nghiệp nước ngoài; tăng cường hoạt động marketing...mà cần phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong việc: đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống cảng biển, sân bay, đường xá...; xây dựng và ban hành một khung pháp lý hoàn thiện hơn; có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics chuyên nghiệp; tăng cường nhận thức cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh về dịch vụ logistics, vai trò và tác dụng của nó đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện tốt các giải pháp đưa ra ở trên thị trong thời gian không xa nữa, ngành dịch vụ logistics của Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trên thế giới. Như vậy có thể thấy rằng dịch vụ logistics là ngành dịch vụ có vai trò quan trọng và tác dụng to lớn đối với các doanh nghiệp và cả nền kinh tế quốc dân. Đây đang là ngành rất có tiềm năng phát triển ở Việt Nam.Tận dụng tốt các cơ hội và khắc phục nhanh chóng các tồn tại cũng như các khó khăn và thách thức trong thời gian tới sẽ đưa ngành dịch vụ logistics của Việt Nam phát triển nhanh chóng, từ đó góp phần đưa nền kinh tế xã hội nước ta ngày càng phát triển. Bài đề án môn kinh tế thương mại của em hoàn thành được là nhờ có sự hướng dẫn tận tình của GS-TS Đặng Đình Đào. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy đã giúp em hoàn thành bản đề án này và có thêm được những kiến thức bổ ích. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy. Tài liệu tham khảo Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại-PGS.TS: Hoàng Minh Đường, PGS.TS:Nguyễn Thừa Lộc ( Đồng chủ biên), NXB Lao động xã hội,Hà Nội,2006. Giáo trình Kinh tế thương mại – GS-TS Đặng Đình Đào,GS-TS Hoàng Đức Thân, NXB Thống kê, 2003. Logistics- Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam; PGS-TS Nguyễn Như Tiến, NXB Giao thông vận tải,Hà Nội,2006 Quản trị Logistics- Đoàn Thị Hồng Vân, NXB Thống kê,2006. Tạp chí Kinh tế và phát triển số 121( tháng 7/2007); số 128 (tháng 2/2008). Tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 8/2006 Tạp chí Thương mại số 15/2007; số 18/2007. Tạp chí Kinh tế Việt Nam số tháng 7/2006. Luật Thương mại Việt Nam 2005. Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Một số trang web: của Cục Đường bộ Việt Nam của Cục Hàng hải Việt Nam của Tổng công ty đường sắt Việt Nam của Tổng công ty hàng hải Việt Nam của Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Bộ Thương mại của công ty Vinafco Logistics. của tổng cục thống kê Việt Nam Mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiện pháp phát triển ngành dịch vụ Logistics ở VN.DOC