Đề tài Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Lời Mở Đầu Trong quá trình phát triển kinh tế của bất kì một quốc gia nào thì vấn đề nâng cao thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư luôn là vấn đề cấp bách và có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng của các quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển , Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó . Ở Việt Nam sau hơn 20 năm đổi toàn diện nền kinh tế đã thu được rất nhiều kết quả đáng mừng như : tăng trưởng kinh tế luôn ở tốc độ cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới, đời sống của nhân dân được nâng cao , xuất khẩu tăng mạnh Đóng góp không nhỏ trong đó là nhờ hoạt động đầu tư . Trong các chiến lược phát triển của đảng của nhà nước thì hoạt động đầu tư luôn là một hoạt động rất được coi trọng , trong đó các cơ quan quản lý nhà nước luôn giữ vững quan điểm cho rằng vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn có vai trò quyết định tới tạo lập và duy trì một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao . Các chính sách sử dụng và thu hút và sử dụng các nguồn vốn trong nước đạt được nhiều những kết quả quan trọng , nhờ đó mà cơ sở hạng tầng không ngừng được cải thiện , tiết kiệm từ các nguồn trong nước được sử dụng có hiệu quả và một trong những ý nghĩa của việc sử dụng vốn trong nước thời gian qua đó là việc tạo sức hút và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài . Ngoài việc xác định vốn trong nước có vai trò quyết định tới tăng trưởng kinh tế thì đảng và nhà nước cũng xác định rằng việc sử dụng vốn đầu tư từ nước ngoài cũng có vai trò quan trọng . Vốn đầu tư nước ngoài được đưa vào nước ta không những góp phần bổ sung cho sự thiếu hụt vốn đầu tư trong nước mà còn giúp nguồn vốn trong nước sử dụng hiệu quả hơn . Vì vậy ta có thể thấy rằng nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài có mối quan hệ khăng khít trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Nhưng vấn đề đặt ra mà nhiều mà quản lý cũng đang gặp khó khăn trong thực tế là làm sao có thể tạo được một cơ cấu hai nguồn vốn này một cách hợp lý và tăng cường vai trò của mối quan hệ giữa hai nguồn vốn . Vì những lý do trên chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài : “ Mối quan hệ giữa luồng vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam “ nhằm đánh giá thực trạng thu hút , sử dụng , vai trò và mối quan hệ trên thực tế của hai nguồn vốn để có thể đưa ra những cái nhìn khách quan , thực tế về mối quan hệ giữa hai luồng vốn nói riêng và hoạt động đầu tư ở Việt Nam nói chung . Từ đó có những kiến nghị về giải pháp cần thiết. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Từ Quang Phương và TS.Phạm Văn Hùng vì sự giúp đỡ nhiệt tình để chúng tôi có thể hoàn thành đề tài này. Nhóm 5 Chương 1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Lý luận chung về đầu tư Khái niệm về đầu tư : Theo giáo trình kinh tế đầu tư thì đầu tư được đinh nghĩa như sau : Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Khái niệm về nguồn vốn đầu tư : Phần tích lũy của toàn bộ nền kinh tế được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Phân loại về nguồn vốn đầu tư : Nguồn vốn trong nướcNguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn trong nước Khái niệm và phân loại nguồn vốn trong nước 1.2.1.1Khái niệm: Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế. Bao gồm tiết kiệm của khu vực tư dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình sản xuất của xã hội. Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước, nguồn vốn của khu vực tư nhân, và thị trường vốn . 1.2.1.2.Phân loại: Nguồn vốn trong nước được phân chia thành: -Nguồn vốn nhà nước gồm: + Vốn từ ngân sách nhà nước + Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước + Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước - Nguồn vốn của dân cư và tư nhân - Thị trường vốn 1.2.2. Đặc điểm của vốn đầu tư trong nước 1.2.2.1. Nguồn vốn nhà nước : Nguồn vốn nhà nước là nguồn vốn thuộc sở hữu của khu vực nhà nước, cụ thể là các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, các khoản tín dụng đầu tư phát triển và vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước. 1.4.2.1.1. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau như thuế, phí tài nguyên, bán hay cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước . Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Nguồn vốn này giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nó thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước. Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước sẽ chi cho các khoản trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp, thất nghiệp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào lũ lụt. Đối với các hoạt động quốc phòng và an ninh quốc gia thì ngân sách nhà nước là nguồn cung chủ yếu không thể thiếu. Chương 2 Thực trạng mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 2.1 thực trạng thu hút và sử dụng vốn trong nước : 2.1.1 Thực trạng đầu tư của khu vực trong nước Trong nhiều năm qua tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực trong nước luôn tăng cao và chiếm tỉ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội . Ta có thể thấy qua bảng số liệu sau : Tổng số Chia ra Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Giá thực tế Tỷ đồng 1995 72447 30447 20000 22000 1996 87394 42894 21800 22700 1997 108370 53570 24500 30300 1998 117134 65034 27800 24300 1999 131171 76958 31542 22671 2000 151183 89417 34594 27172 2001 170496 101973 38512 30011 2002 200145 114738 50612 34795 2003 239246 126558 74388 38300 2004 290927 139831 109754 41342 2005 343135 161635 130398 51102 2006 404712 185102 154006 65604 2007 521700 208100 184300 129300 2008 673300 184400 263000 189900 2009 704200 245000 278000 181200 Tổng số 4215560 1825657 1443206 910697 Trong đó đầu tư của khu vực Nhà nước là : Năm 2008, Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch năm. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 2881,4 tỷ đồng, bằng 172,9%; Bộ Giao thông Vận tải đạt 6612,6 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 451,1 tỷ đồng, bằng 102,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1132,5 tỷ đồng, bằng 101,1%; Bộ Công Thương đạt 237,7 tỷ đồng, bằng 100,3%; Bộ Y tế đạt 932 tỷ đồng, bằng 100%; riêng Bộ Xây dựng chỉ đạt 219,9 tỷ đồng, bằng 62,6%. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 66,7 nghìn tỷ đồng, bằng 102,7% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có số vốn thực hiện lớn là: thành phố Hồ Chí Minh đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 112,1% kế hoạch; Hà Nội đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 73,4%; Đà Nẵng đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, bằng 108,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, bằng 104,9%; Nghệ An đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1%; Hải Phòng đạt 1458,5 tỷ đồng, bằng 103,5%; Bình Dương đạt 1291,8 tỷ đồng, bằng 104,6%; Lâm Đồng đạt 1200,9 tỷ đồng, bằng 152,3%. Mặc dù bị ảnh hưởng trong những tháng đầu năm 2009 do thực hiện miễn, giảm, giãn thuế và giá dầu thô trên thế giới giảm, nhưng những tháng cuối năm sản xuất kinh doanh trong nước phát triển nên tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt xấp xỉ dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 93,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chi trả nợ và viện trợ đạt 102,7%. Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính bằng 7% GDP, thực hiện được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp bằng nguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.2.1.1.2 Nguồn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước . Tín dụng phát triển , Năm 2007 nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước ước đạt 40 nghìn tỷ đồng. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) dự kiến sẽ nâng tổng vốn tín dụng nhà nước trong giai đoạn 2006-2010 lên 200 tỷ đồng, tăng 60% so với giai đoạn 2000-2004 nhằm đạt được mức tăng trưởng cao, phấn đấu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ước cả năm 2009 đạt kế hoạch, khoảng 50 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với thực hiện năm 2008, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước : Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước năm 2002 ước thực hiện khoảng 32.800 tỷ đồng, bằng 105,8% kế hoạch; tập trung đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Năm 2004, đầu tư từ nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện trên 47 nghìn tỉ đồng, bằng 103% kế hoạch năm và tăng trên 22%. Đến năm 2005, trong tổng giá trị vốn đầu của cả nước thì vốn đầu tư của DNNN vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn khoảng 17.2%. Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước ước cả năm 2009 đạt 60 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 75,9% kế hoạch, giảm 7,7% so với thực hiện năm 2008, chiếm 8,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Chương 3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 3.1 Giải pháp chung cho cả hai nguồn vốn 3.1.1 Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế - Một là, cải thiện mạnh mẽ môi trường sản xuất, kinh doanh và đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ là yếu tố chủ đạo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hành tiết kiệm cả trong sản xuất và tiêu dùng của toàn xã hội nhằm tăng tỷ lệ tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Đây vừa là mục tiêu,vừa là điều kiện để phát triển và là cơ sở đảm bảo việc gia tăng khả năng huy động các nguồn vốn. - Hai là, thực hiện các biện pháp đẩy mạnh huy động vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đối với tất cả các nguồn vốn đầu tư phải xác định yếu tố hiệu quả là yêu cầu về mặt chất lượng của việc huy động vốn trong lâu dài dựa trên nguyên tắc mang tính chủ đạo trong việc thu thu hút đầu tư: Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. - Các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả nợ vững chắc,xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh năng nợ nần không trả được. Góp phần tăng uy tín của quốc gia trên thị trường tài chính quốc tế và thu hút nguồn vốn bên ngoài chảy vào trong nước. - Tạo môi trường hoạt động bình đẳng cho tất cả các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài . Cần xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật thống nhất và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ,tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Xóa bỏ tư tưởng bao cấp trong quản lý hoạt động đầu tư . 3.1.2. Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. - Ổn định giá trị tiền tệ , trong đó cần chú ý đặc biệt tới kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra với nền kinh tế để đảm bảo tâm lý các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước . - Cần đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước , trành thâm hụt trong thời gian dài và mức thâm hụt lớn , cùng với đó là chính sách thuế cần linh hoạt để khuyến khích đầu tư - Lãi suất và tỷ giá hối đoái : trong chính sách lãi suất cần lưu ý tới vấn đề là lãi suất ảnh hưởng tới chi phí vốn vay và hiệu quả sử dụng vốn của các nhà đầu tư nên cần có chính sách lãi suất ổn định và cần hỗ trợ khi nền kinh tế gặp khó khăn . Với chính sách tỷ giá hối đoái ngoài ảnh hưởng tới luồng vốn đầu tư nước ngoài còn ảnh hưởng tới việc xuất nhập máy móc cho dự án và hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp nên ngân hàng nhà nước cần duy trì chính sách tỷ giá ổn định và hợp lý. 3.1.3. Xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn hiệu quả. - Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện được các nhiệm vụ của chính sách tài chính quốc gia. - Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần quán triệt nguyên tắc: Vốn trong nước là quyết định và vốn nước ngoài là quan trọng. - Cần đa dạng hóa và hiện đại hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn. Trong đó đặc biệt lưu ý tới việc đa dạng hóa các công cụ tài chính cũng như các kênh huy động vốn của nền kinh tế . Cần có chính sách thông thoáng giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể dễ dàng tham gia vào các thị trường vốn , nhất là thị trường chứng khoán. - Các chính sách huy động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện. 3.2 Các giải pháp với vốn trong nước Vốn đầu tư trong nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó được huy động từ chính nội lực của đất nước, có sẵn trong dân và không phải chịu áp lực ràng buộc về chính trị như nguồn vốn huy động từ nước ngoài. Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân. 3.2.1 Giải pháp với các nguồn vốn của nhà nước Trong các nguồn vốn trong nước thì nguồn vốn của nhà nước nguồn vốn có vai trò chủ đạo vì nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và hỗ trợ các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, các dự án quy hoạch tổng thể để phát triển vùng kinh tế. Nó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội đơn thuần mà còn mang lại hiệu quả xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục,an sinh xã hội. Vì vậy việc thu hút và sử dụng ngân sách nhà nước là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Một là, Tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một luận điểm phát triển quan trọng và đúng đắn của Đảng ta. Điều này không phải là sản phẩm tư duy chủ quan của một số người, mà có tính tất yếu khách quan, xuất phát từ lý luận về tính giai cấp của Nhà nước. Kinh tế nhà nước tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới – xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy khu vực kinh tế nhà nước phải ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế. Mặt khác phải nâng vai trò định hướng của khinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế còn lại vì kinh tế nhà nước hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thứ hai , Phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, kỷ luật chi ngân sách Nhà nước.Ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung hướng dẫn triển khai dự toán chi ngân sách Nhà nước năm đã được Quốc hội quyết định theo đúng quy định; tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ và điều hành và thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước, qua đó nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương đối với việc phân bổ, quản lý, sử dụng dự toán ngân sách Nhà nước của mình. Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với các chương trình/dự án ODA; tập trung rà soát, sắp xếp lại các quỹ tài chính ngoài ngân sách hiện có, đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu cam kết hội nhập.

doc78 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/04/2013 | Lượt xem: 1984 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rất hạn chế. Đối với các DNNN lớn cũng ít quan tâm đến đổi mới công nghệ vì thường có vị thế độc quyền nên không chịu sức ép cạnh tranh và có tâm lý dựa dẫm vào sự bảo hộ của Nhà nước. Ngay cả các DN ngành công nghiệp, ngành được coi là chủ lực hoàn toàn cũng tương tự. Theo Bộ Công nghiệp, phần lớn giá trị máy móc thiết bị sản xuất chỉ còn 30% so với giá trị ban đầu và đã lạc hậu hơn 30 năm như dệt may có đến 45% thiết bị máy móc của các DN cần phải đầu tư nâng cấp và 30-40% cần thay thế; mũi nhọn công nghiệp là cơ khí thì đã lạc hậu hơn 40 năm so với khu vực và 50 năm so với các nước phát triển về công nghệ và thiết bị sản xuất. Đầu tàu kinh tế của cả nước là TP Hồ Chí Minh cũng chỉ có 25% DN có công nghệ sản xuất tiên tiến, 32% ở mức trung bình, còn lại là dưới trung bình và lạc hậu, trong đó DN có công nghệ lạc hậu chiếm 20%. Các chuyên gia cho rằng, có 2 luồng chuyển giao công nghệ chính vào nước ta hiện nay: hoặc là qua hình thức liên doanh với nước ngoài và DN 100% vốn nước ngoài, hoặc mang tính thương mại thuần túy thông qua việc mua bán công nghệ trên thị trường. Song luồng thứ hai chiếm tỷ lệ rất ít; còn luồng thứ nhất tuy chiếm tới 90% số hợp đồng chuyển giao, nhưng trong đó cũng có không ít những hợp đồng có trình độ công nghệ không cao, mà chủ yếu là khai thác nhân công giá rẻ và trốn tránh các tiêu chuẩn về môi trường ở chính quốc. . Thông qua vốn đầu tư nước ngoài trong đó chủ yếu là FDI, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất tại nước ta thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh. Các doanh nghiệp trong nước nhờ đó mà có thể sao chép và học hỏi những kinh nghiệm quản lý cũng như công nghệ tiên tiến của họ để áp dụng vào trong doanh nghiệp mình góp phần làm tăng năng suất lao động, tăng trình độ về quản lý để sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả. Điển hình trong thời gian qua, ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy... Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v) Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ. Thứ tư, Thông qua kênh cạnh tranh: thực tiễn ở việt nam cho thấy sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thẻ tạo áp lực cạnh tranh lớn cho các doanh nghiệp trong nước, trước hết là đối với doanh nghiệp trong cùng nhóm ngành. Để thu được biểu hiện của kênh tác động này , theo điều tra doanh nghiệp của CIEM đã thu thập thông tin về sức ép cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp do doanh nghiệp tự đánh giá. Kết quả cho thấy, trong khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất giữa các doanh nghiệp này với nhau thì các doanh nghiệp trong nước lại cho rằng họ đang chịu sức ép cạnh tranh mạnh ngang nhau từ dianh nghiệp FDI và chính các doanh nghiệp trong nước. Trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu áp lực mạnh nhất về sản phẩm , chủng loại mẫu mã mới thì doanh nghiệp việt nam lại đánh giá cao nhất sức ép về công nghệ có trình độ cao từ phía các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này cũng phản ánh phần nào việc các doanh nghiệp nước ngoài liên tục tung các sản phẩm mới ra thị trường trong khi các doanh nghiệp trong nước dường như vẫn đang phải dồn sức lực vào dây chuyền và công nghệ sản xuất hiện có. Rõ ràng khi áp lực cạnh tranh ngày càng tăng thì việc nâng cao trình độ công nghệ đối với mỗi DN là vô cùng cần thiết. Để làm được điều đó các chuyên gia cho rằng, trước hết các cấp lãnh đạo DN phải đổi mới nhận thức về tầm quan trọng đặc biệt của công nghệ trong sản xuất và cạnh tranh, không vì cái lợi trước mắt mà đánh mất lợi ích lâu dài. Sự thay đổi về nhận thức sẽ thúc đẩy các DN vượt qua được những trở ngại khác trong việc nghiên cứu, đổi mới và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các DN trong hoạt động này, như ưu đãi thuế, mở ra các cơ hội tiếp cận vốn, hình thành các trung tâm nghiên cứu, lựa chọn, phát triển và chuyển giao công nghệ phù hợp với DN, cập nhật và phổ biến thông tin công nghệ, thiết lập các hoạt động dịch vụ khoa học-công nghệ. 2.3.5 Tác động trái chiều của vốn đầu tư nước ngoài với vốn đầu tư trong nước ở Việt Nam Một là : Lượng nợ ODA của VN càng ngày càng gia tăng và sự phụ thuộc vào FDI ngày càng lớn làm cho kinh tế Việt Nam dễ rơi vào khủng hoảng . Theo con số thống kê thì trong năm 2009 tích lũy nợ gốc và lãi từ 1992 đến 1998 mà Việt Nam đã trả cho nhật là 210 triệu đô . "Với các khoản tích lũy năm, số nợ phải trả sẽ ngày càng tăng", ông Tsuno Motonori, Trưởng đại diện của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho biết. Hồi 2007, số tiền Việt Nam trả nợ cho Nhật là 127 triệu USD. Theo tính toán sơ bộ của JICA, trong những năm tới, số nợ Việt Nam phải trả hàng năm khoảng từ 20 đến 25 tỷ yen, tương đương từ 200 đến 250 triệu USD , theo con số thống kê không chính thức thì số nợ ODA hiện nay của Việt Nam chiếm 38% GNI , đây là con số không quá lớn nhưng chúng ta không nên chủ quan. Một minh chứng nữa cho khi phụ thuộc nhiều vào dòng vốn nước ngoài sẽ gây ra những hậu quả nguy hại đó là khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 , trước khủng hoảng thì chúng ta liên tục đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao , thường là trên 9 % nhưng khi khủng hoảng sảy ra thì tốc độ tăng trưởng kinh tế đã giảm mạnh xuống còn trên 5 % do rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam làm cho kinh tế trong nước bị ảnh hưởng nặng nề. Thứ hai : Quá trình cạnh tranh khốc liệt làm cho doanh nghiệp Việt Nam bị mất thị trường và giảm sức cạnh tranh. Hiện nay ở Việt Nam do công nghệ chưa phát triển và vốn đầu tư trong nước nhỏ giọt nên nhiều ngành kinh tế công nghệ cao chưa phát triển hoặc phát triển nhỏ giọt như ngành công nghiệp ô tô , các ngành công nghiệp điện tử… Do vậy mà thị trường trong nước đã bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh , các doanh nghiệp nước ngoài nhờ công nghệ sản xuất tốt , vốn lớn và quản lý tốt đã làm cho các doanh nghiệp trong nước bị mất thị trường và không có khả năng cạnh tranh , hiện nay các sản phẩm lắp ráp của các tập đoàn xuyên quốc gia về hàng điện tử chiếm trên 70% thị phần hàng điện tử Việt Nam. Trong khi đó các sản phẩm thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 6% thị phần nghe nhìn, 48% sản phẩm có thương hiệu Nhật Bản, 35% thị phần dành cho các thương hiệu Hàn Quốc... Đối với hàng điện tử gia dụng, thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 3% thị phần, thương hiệu Nhật Bản chiếm 53%, thương hiệu Hàn Quốc là 35%,...và kết quả của cạnh tranh đó là nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bị phá sản và bị các doanh nghiệp nước ngoài sát nhập hoặc mua lại trong các thương vụ M&A. Thứ ba , Công nghệ mà các doanh nghiệp nước ngoài mang vào Việt Nam hiện nay hầu hết là các công nghệ lạc hậu . Một trong những nguyên nhân xuất hiện đầu tư quốc tế là quá trình kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và công nghệ , trong khi đó ở Việt Nam lợi thế mà các doanh nghiệp nước ngoài chú ý tới đó là tài nguyên và nhân công giá rẻ , điều này làm cho công nghệ mà các doanh nghiệp nước ngoài mang vào Việt Nam thường là các công nghệ lạc hậu so với các nước hàng thập kỉ . Chính những công nghệ lạc hậu này khi mang vào đã làm cho thị trường công nghệ và các doanh nghiệp trong nước khó có cơ hội tiếp cận với các công nghệ tiên tiến , vô hình chung làm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong các liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài thường phải nhập khẩu các công nghệ lạc hậu và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn trong nước. Chương 3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 3.1 Giải pháp chung cho cả hai nguồn vốn 3.1.1 Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế - Một là, cải thiện mạnh mẽ môi trường sản xuất, kinh doanh và đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ là yếu tố chủ đạo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hành tiết kiệm cả trong sản xuất và tiêu dùng của toàn xã hội nhằm tăng tỷ lệ tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Đây vừa là mục tiêu,vừa là điều kiện để phát triển và là cơ sở đảm bảo việc gia tăng khả năng huy động các nguồn vốn. - Hai là, thực hiện các biện pháp đẩy mạnh huy động vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đối với tất cả các nguồn vốn đầu tư phải xác định yếu tố hiệu quả là yêu cầu về mặt chất lượng của việc huy động vốn trong lâu dài dựa trên nguyên tắc mang tính chủ đạo trong việc thu thu hút đầu tư: Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. - Các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả nợ vững chắc,xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh năng nợ nần không trả được. Góp phần tăng uy tín của quốc gia trên thị trường tài chính quốc tế và thu hút nguồn vốn bên ngoài chảy vào trong nước. - Tạo môi trường hoạt động bình đẳng cho tất cả các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài . Cần xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật thống nhất và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ,tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Xóa bỏ tư tưởng bao cấp trong quản lý hoạt động đầu tư . 3.1.2. Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. - Ổn định giá trị tiền tệ , trong đó cần chú ý đặc biệt tới kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra với nền kinh tế để đảm bảo tâm lý các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước . - Cần đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước , trành thâm hụt trong thời gian dài và mức thâm hụt lớn , cùng với đó là chính sách thuế cần linh hoạt để khuyến khích đầu tư - Lãi suất và tỷ giá hối đoái : trong chính sách lãi suất cần lưu ý tới vấn đề là lãi suất ảnh hưởng tới chi phí vốn vay và hiệu quả sử dụng vốn của các nhà đầu tư nên cần có chính sách lãi suất ổn định và cần hỗ trợ khi nền kinh tế gặp khó khăn . Với chính sách tỷ giá hối đoái ngoài ảnh hưởng tới luồng vốn đầu tư nước ngoài còn ảnh hưởng tới việc xuất nhập máy móc cho dự án và hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp nên ngân hàng nhà nước cần duy trì chính sách tỷ giá ổn định và hợp lý. 3.1.3. Xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn hiệu quả. - Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện được các nhiệm vụ của chính sách tài chính quốc gia. - Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần quán triệt nguyên tắc: Vốn trong nước là quyết định và vốn nước ngoài là quan trọng. - Cần đa dạng hóa và hiện đại hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn. Trong đó đặc biệt lưu ý tới việc đa dạng hóa các công cụ tài chính cũng như các kênh huy động vốn của nền kinh tế . Cần có chính sách thông thoáng giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể dễ dàng tham gia vào các thị trường vốn , nhất là thị trường chứng khoán. - Các chính sách huy động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện. 3.2 Các giải pháp với vốn trong nước Vốn đầu tư trong nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó được huy động từ chính nội lực của đất nước, có sẵn trong dân và không phải chịu áp lực ràng buộc về chính trị như nguồn vốn huy động từ nước ngoài. Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân. 3.2.1 Giải pháp với các nguồn vốn của nhà nước Trong các nguồn vốn trong nước thì nguồn vốn của nhà nước nguồn vốn có vai trò chủ đạo vì nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và hỗ trợ các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, các dự án quy hoạch tổng thể để phát triển vùng kinh tế. Nó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội đơn thuần mà còn mang lại hiệu quả xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục,an sinh xã hội. Vì vậy việc thu hút và sử dụng ngân sách nhà nước là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Một là, Tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một luận điểm phát triển quan trọng và đúng đắn của Đảng ta. Điều này không phải là sản phẩm tư duy chủ quan của một số người, mà có tính tất yếu khách quan, xuất phát từ lý luận về tính giai cấp của Nhà nước. Kinh tế nhà nước tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới – xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy khu vực kinh tế nhà nước phải ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế. Mặt khác phải nâng vai trò định hướng của khinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế còn lại vì kinh tế nhà nước hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thứ hai , Phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, kỷ luật chi ngân sách Nhà nước.Ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung hướng dẫn triển khai dự toán chi ngân sách Nhà nước năm đã được Quốc hội quyết định theo đúng quy định; tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ và điều hành và thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước, qua đó nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương đối với việc phân bổ, quản lý, sử dụng dự toán ngân sách Nhà nước của mình. Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với các chương trình/dự án ODA; tập trung rà soát, sắp xếp lại các quỹ tài chính ngoài ngân sách hiện có, đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu cam kết hội nhập. Đẩy mạnh thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định. Trong năm Bộ Tài chính tổ chức triển khai có hiệu quả luật quản lý thuế; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thuế..., phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức thu dứt điểm các khoản nợ đọng thuế có khả năng thu hồi của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Để thực hiện có hiệu quả thu NSNN thì cần thiết phải tổ chức thực hiện tốt một số giải pháp sau đây: Hoàn thiện hệ thống chính sách về thu NSNN theo hướng các chính sách cần tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Triển khai thực hiện tốt các Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi), Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi), Luật thuế thu nhập cá nhân với nhiều ưu đãi hơn nhằm khuyến khích, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Tổ chức tốt công tác quản lý thuế. Triển khai thực hiện có hiệu quả luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Bộ Tài chính. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Đẩy mạnh xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế. Chấn chỉnh công tác hoàn thuế, đẩy mạnh kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật về thu NSNN. Giám sát chặt chẽ việc rà soát, bãi bỏ một số quy định về phí, lệ phí, huy động đóng góp của nhân dân không đúng quy định ở các cấp, các ngành và các địa phương. Tích cực huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong đó tập trung ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển các công trình về cơ sở hạ tầng, tập trung nguồn lực để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các thị trường, đẩy mạnh việc thực hiện quản lý giá cả theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý điều tiết của Nhà nước, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tượng thụ hưởng; góp phần xóa bao cấp tràn lan, chống buôn lậu, khuyến khích thực hành tiết kiệm. Đẩy mạnh việc sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đồng thời, mở rộng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Có cơ chế giám sát tài chính chặt chẽ đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, nhất là định hướng đầu tư và các chương trình, dự án sử dụng vốn lớn. Áp dụng linh hoạt chính sách tiền tệ, tỷ giá nhằm khuyến khích tối đa tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường để tăng sản xuất trong nước nhất là đối với một số mặt hàng có thế mạnh như lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, tăng nguồn thu cho NSNN. Ngoài ra, các giải pháp tài chính cần được phối hợp chặt chẽ với việc thực hiện những giải pháp, chính sách trong các lĩnh vực khác đã được nêu trong Nghị quyết 10/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 14/4/2008 về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững để đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu thu NSNN Đảm bảo tính cân đối, hợp lý trong chi ngân sách nhà nước để quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước. Chi tiêu ngân sách trong dài hạn cần tiếp tục hướng tới mục đích nâng cao các tiêu chuẩn xã hội, chất lượng đời sống dân chúng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nội địa, trong đó cần chú trọng: + Chi cho các vấn đề xã hội như trợ cấp xã hội, giáo dục , y tế… + Chi cho đầu tư phát triển công nghệ mới, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả của nghàh công nghiệp quốc nội. + Hiện đại hóa hệ thống đường sắt, đường bộ, đường biển… + Phát triển hạ tầng cơ sở thông tin, hiện đại hóa công nghệ thông tin liên lạc… Xây dựng hệ thống đánh giá tiêu chí phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn chi từ ngân sách trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở đó đảm bảo đánh giá thận trọng và xác định các hạng mục cần tiếp tục duy trì sự trợ giúp của ngân sách nhà nước, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của nguồn vốn + Xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ quá trình đầu tư từ nguồn ngân sách, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí, quy trách nhiệm rõ ràng cho tất cả các bên liên quan sử dụng ngân sách trung ương và địa phương. + Hạn chế cấp tín dụng trực tiếp cũng như bảo lãnhcho các doanh nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước. Chuyển các chức năng này sang cho các tổ chức tài chính và ngân hàng có sự tham gia góp vốn của nhà nước và phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc thị trường. Phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, kỷ luật chi ngân sách Nhà nước.Ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung hướng dẫn triển khai dự toán chi ngân sách Nhà nước năm đã được Quốc hội quyết định theo đúng quy định; tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ và điều hành và thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước, qua đó nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương đối với việc phân bổ, quản lý, sử dụng dự toán ngân sách Nhà nước của mình. Bộ Tài chính phối hợp cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với các chương trình/dự án ODA; tập trung rà soát, sắp xếp lại các quỹ tài chính ngoài ngân sách hiện có, đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu cam kết hội nhập. Thứ ba, Tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa các giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển. Trong kênh huy động vốn của ngân sách nhà nước, cần tính toán chi tiết hiệu quả sử dụng vốn. Đánh giá về hiệu quả kinh tế của đợt phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ đợt cuối năm 2005 và việc phát hành và sử dụng vốn phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ để có biện pháp điều chỉnh trong huy động vốn trong thời gian tới. Kho bạc Nhà nước không trực tiếp bán lẻ tín phiếu hay trái phiếu Chính phủ, hay công trái quốc gia mà để tổ chức đấu thầu từng đợt qua Ngân hàng Nhà nước hay trên thị trường chứng khoán dựa trên nhu cầu vốn. Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ nên được ưu tiên phát hành trong nước để thu hút mọi nguồn ngoại tệ trong dân cho đầu tư phát triển, lãi suất hấp dẫn trước hết phải để chính người dân được hưởng mà chưa cần phải phát hành trên thị trường quốc tế. Thứ tư, Đẩy mạnh việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các công ty cổ phần niêm yết cổ phiếu và huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Đối với các ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nên xem xét cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua với tỷ lệ không quá 49% vốn cổ phần của ngân hàng đó và một nhà đầu tư mua không quá 30% vốn cổ phần của một ngân hàng Việt Nam. Việc nâng tỷ lệ này, vẫn đảm bảo tỷ lệ chi phối của phía Việt Nam trong ngân hàng, mặt khác cho phép thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. Hơn thế nữa, gắn liền với huy động vốn, chúng ta còn thu hút công nghệ ngân hàng hiện đại, trình độ quản trị điều hành ngân hàng tiên tiến, thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong nước. Thứ năm , đẩy mạnh và nâng cao hoạt động cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước . Hiện nay vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu bức bách , từ thực tế cho thấy hoạt động này hiện đang diễn ra chậm và không hiệu quả do các doanh nghiệp này chậm lên kế hoạch cổ phần hóa và việc xúc tiến , giới thiệu tới các nhà đầu tư trong và ngoài nước còn chậm nên các cơ quan quản lý cần đẩy nhanh hoạt động cổ phần hóa các doanh nghiệp và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý phần vốn góp của nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa . Với các doanh nghiệp và tập đoàn lớn nắm giữ các đầu mối kinh tế quan trọng như tập đoàn điện lực Việt nam , Tổng công ty lắp máy cùng với các tập đoàn và tổng công ty 90 , tổng công ty 91 thì cần đổi mới hoạt động phù hợp với yêu cầu hiện tại , đa dạng hóa hoạt động đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động . Thứ sáu, Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước. Việc tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thông thoáng và lành mạnh cho các NHTM và tổ chức tín dụng hoạt động sẽ cho phép huy động khối lượng vốn rất lớn và nâng cao hiệu quả cho vay đầu tư. Đặc biệt là các NHTM cổ phần cũng nâng cao khả năng quản trị kinh doanh vốn, nên thị trường liên ngân hàng, đầu tư vốn trên thị trường tiền gửi của các tổ chức tín dụng phát triển mạnh mẽ hơn. Nhiều NHTM đa dạng hóa danh mục tài sản có, không chỉ cho vay trực tiếp, mà còn phân tán rủi ro bằng cách đầu tư trên thị trường tiền gửi, bán buôn vốn ngắn hạn cho các NHTM khác có điều kiện mở rộng cho vay an toàn, đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, công trái và tín phiếu Kho bạc nhà nước, trái phiếu đô thị, trái phiếu doanh nghiệp... Khi cần vốn khả dụng, các ngân hàng có thể giao dịch các loại giấy tờ có giá trên thị trường mở với Ngân hàng Nhà nước, thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Với hoạt động tín dụng nhà nước thì cần cho phép ngân hàng phát triển việt nam có thể huy động từ nhiều nguồn tín dụng khác nhau . Cùng với đó phải chú ý bỏ tâm lý cấp phát của nguồn vốn này đang còn tồn tại , ngoài hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước thì cần có sử dụng nguồn vốn này hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác. Thứ bảy, đẩy mạnh cải cách hành chính nâng cao năng lực quản lý nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cộng đồng. Bộ Tài chính tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu ngân sách Nhà nước, thực hiện phí và phòng, chống tham nhũng; thực hiện chế độ công khai tài chính đối với các cấp ngân sách Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách. Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý kinh tế ở cả trung ương và địa phương , đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động đầu tư . 3.2.2Nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình Thứ nhất , Đối với cộng đồng doanh nghiệp, bên cạnh việc sử dụng vốn tự có, vốn vay ngân hàng, cần xác định các phương thức thu hút vốn trong và ngoài nước một cách phù hợp. Cụ thể: các doanh nghiệp nên áp dụng hình thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty; doanh nghiệp cổ phần có thể lựa chọn khả năng phát hành thêm cổ phiếu và niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước. Thứ hai ,đối với các doanh nghiệp lớn có nhu cầu vay vốn nước ngoài, cần chấp nhận kiểm toán quốc tế, thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp để giúp phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường quốc tế; xác định Chiến lược kinh doanh 5 năm, 10 năm của doanh nghiệp; chủ động nâng cao tính minh bạch về tài chính, có định hướng kinh doanh rõ nét để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (FII), từ các quỹ đầu tư...Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn; đổi mới công nghệ để tăng hiệu quả đầu tư là mục tiêu rất quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng tái tạo vốn cho chính doanh nghiệp Thứ ba , cần xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay . Trong hoạt động doanh nghiệp Việt nam hiện nay thì hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp tư nhân còn khá thấp , cơ cấu vốn không hợp lý , khả năng sử dụng vốn không hiệu quả nên làm hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác . Thứ tư , Phát triển một cách có hợp lý hoạt động mua bán và sát nhập doanh nghiệp ( M&A) . Hoạt động M&A là một hoạt động tất yếu của kinh tế thị trường giúp loại bỏ các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và giúp các doanh nghiệp có năng lực có thêm cơ hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp . Nhưng hoạt động này cần có sự quản lý của các cơ quan nhà nước để tránh hoạt động thâu tóm các doanh nghiệp lớn . Thứ năm , Các doanh nghiệp cần có những chính sách để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ của doanh nghiệp mình . Vấn đề nguồn nhân lực và khoa học công nghệ là hai trong những yếu tố quyết định tới vấn đề sử dụng vốn đầu tư của của doanh nghiệp , cũng như sản xuất kinh doanh của doanh của doanh nghiệp nên các doanh nghiệp cần có chính sách đầu tư và sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp một cách hợp lý và khoa học. Thứ sáu , các doanh nghiệp trong nước cần đẩy mạnh việc hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài để có thể tìm thêm nhiều cơ hội hợp tác và đầu tư mới , ngoài ra nó còn giúp các doanh nghiệp có thể có thêm kênh huy động vốn mới với chi phí huy động vốn từ các tổ chức tín dụng. *Nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân Do xuất phát từ đặc điểm, nguồn hình thành, hướng sử dụng, việc huy động vốn trong dân cũng thường xuyên có sự biến động do phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ môvà chính sách vĩ mô; sự phát triển ổn định và uy tín của ngân hàng thương mại (các tiện ích, tính thống nhất, nghiệp vụ, sự phong phú);các hình thức huy động (hình thức huy động, kỳ hạn huy động …);thông tin (lôi cuốn người gửi tiền, giáo dục …) và các nhân tố khác (khuyến mại, maketting…). Chính vì các lý do trên để có thể huy động được nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân cần tập trung vào một số biện pháp sau: Đối với các cơ quan quản lý của nhà nước, cần phải có các chính sách khuyến kích người dân đưa các khoản tiền nhàn rỗi vào tái đầu tư như: tiết kịêm, lãi suất, lạm phát và tỷ giá, thu hút vốn .Tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, an toàn, phát triển; nâng c nâng cao niềm tin của các tầng lớp dân cư vào các ngân hàng thương mại, thay đổi thói quen tiết kiệm, thói quen tiêu dùng. Đối với các ngân hàng thương mại, để nâng cao sức cạnh tranh và thu hút nhiều hơn nguồn vốn trong dân cần: Thứ nhất, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, cụ thể : đa dạng hoá đối tượng gửi tiền (mở rộng đến tầng lớp đan cư), mở rộng hình thức huy động vốn(áp dụng các phương pháp huy động mới như lãi suất bậc thang, tiết kiệm an sinh , tiết kiệm bao hiểm , tiết kiệm đảm bảo bằng vàng và ngoại tệ ). Phát triển các dịch vụ trọn gói như: thu ,chi tại nhà, dịch vụ qua Internet… Thứ hai, thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, cần nâng cao lãi suất đối với các loại tiền gửi; từng bước giảm lãi suất với tiền gửi giao dịch, đồng thời tăng lãi suất với tiêng gửi trung và dài hạn. Thứ ba, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, từng bước ứng dụng công nghệ hiện đại , nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên. Thứ tư, thực hiện quảng cáo và tiếp thị để người dân hiểu được những lợi ích khi gửi tiền vào ngân hàng. Tư vấn hỗ trợ người dân (đặc biệt ở vùng nông thôn ) làm các thủ tục liên quan đến tiền gửi, hướng dẫn sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi một cách hợp lý, đồng thời giúp người dân hiểu rõ về vai trò và những dịch vụ tiện ích của ngân hàng.. 3.3 Các giải pháp với vốn nước ngoài 3.3.1 Giải pháp với vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) - Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá và xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA. Hoàn thiện kế hoạch hóa vốn ODA là tạo điều kiện để liên tục hóa các bộ phận của kế hoạch đầu tư xây dựng: Kế hoạch chuẩn bị đầu tư, kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án và kế hoạch thực hiện dự án. Ngoài ra, phải xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn theo từng ngành và lĩnh vực cụ thể. Các ngành, các địa phương và các đơn vị sử dụng nguồn vốn ODA cần tính toán chính xác hiệu quả để tránh sử dụng lãng phí các nguồn vốn và xác định đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, chịu trách nhiệm chính trong quá trình sử dụng vốn và phải đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. -Chuẩn bị vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA. Tất cả các chương trình, dự án ODA khi chuẩn bị phê duyệt ở các cấp phải chỉ rõ nguồn vốn trong nước và phải được bố trí trong các kế hoạch ở các cấp tương ứng. Cần có biện pháp thiết thực kêu gọi vốn ODA song phương từ các nước có nhiều dự án FDI ở Việt Nam. Khi Việt Nam thoát khỏi nhóm các nước nghèo và kém phát triển, vốn ODA đa phương do các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ sẽ giảm đi nhanh chóng. Do đó, cần có định hướng vận động ODA song phương ngay từ bây giờ, và nên hướng vào các nước có nhiều dự án FDI hiện đang hoạt động tại Việt Nam. -Các dự án phải tập trung phát huy nguồn lực hiện có của địa phương. Các chương trình, dự án ODA phải nghiên cứu để phát huy được những lợi thế sẵn có và phải xuất phát từ thực tế của địa phương để tài trợ hiệu quả hơn, phải tạo điều kiện để người dân của địa phương có thể trực tiếp tham gia và quản lý chương trình, dự án. -Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá dự án. Điều này sẽ góp phần khắc phục được những yếu kém trong quá trình thực hiện dự án và quản lý nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả, đạt được những mục tiêu ưu tiên của đất nước. Tất cả các dự án sử dụng ODA đều phải thực hiện tốt các khâu của của quy trình dự án đầu tư, thực hiện đúng các quy trình về đầu tư xây dựng trong nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là khâu lựa chọn dự án, đấu thầu xây lắp và mua sắm vật tư thiết bị tư vấn… Đơn giản hóa và nâng cao chất lượng khâu thẩm định dự án, tổ chức đấu thầu, xét chọn thầu, đàm phán các hợp đồng vay bảo đảm tuân thủ pháp luật trong nước và thông lệ quốc tế, công khai hóa các quy trình ,thủ tục,thời hạn, trách nhiệm xử lý trong quá trình triển khai dự án. -Phát huy tối đa năng lực của các nhà tài trợ. Để sử dụng nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả nhất, chúng ta cần kiên trì và kiên quyết loại bỏ các ràng buộc chính trị ra khỏi quan hệ của hỗ trợ phát triển chính thức. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến những lợi ích của các nhà tài trợ khi họ mở rộng quan hệ hỗ trợ cũng như đầu tư, thương mại với nước ta. Từ đó, mới có thể huy động một cách có hiệu quả nguồn vốn này phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. -Hài hoà thủ tục giữa các nhà tài trợ. Hiện nay, các nhà tài trợ cũng như các quốc gia đối tác đều mong muốn có các quy chế và hệ thống đơn giản hoá để cùng nhau thực hiện, tiến tới các điểm chung về mẫu, nội dung và tính thường xuyên cho một báo cáo định kỳ ở mỗi chương trình, dự án phù hợp yêu cầu của tất cả các nhà tài trợ. Hơn nữa, những điểm chung là cần thiết để loại bỏ sự trùng lặp trong việc chuẩn bị tài liệu, đánh giá các tác động về môi trường và xã hội đối với các chương trình, dự án đồng tài trợ. Vì thế nhu cầu hài hoà thủ tục theo các quy chế và các hệ thống phù hợp với những tiêu chuẩn, nguyên tắc quốc tế là khách quan và cần thiết. -Cần mở rộng thêm đối tượng của nguồn vốn ODA. Nguồn vốn ODA hiện nay chủ yếu chỉ dành cho khu vực quốc doanh, những gì thuộc sở hữu nhà nước; còn khu vực tư nhân thì mới chỉ được tiếp cận nguồn vốn này với tư cách là nhà thầu (chủ yếu là xây dựng và mua sắm trang thiết bị) - một mắt xích nhỏ trong toàn bộ chuỗi xích của việc sử dụng nguồn vốn ODA. Thực tế đã cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân đã sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước, vì vậy trong thời gian tới cần chú ý hơn tới đối tượng này., -Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ. Thời gian qua trong khuôn khổ các chương trình, dự án ODA, một đội ngũ khá đông đảo cán bộ đã được đào tạo và huấn luyện về công tác quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần có một chương trình huấn luyện rộng rãi để tạo ra những thay đổi về nhận thức, thái độ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp Trước mắt cần chú trọng đến công tác đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ, bồi dưỡng cho thong thạo chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ để nâng cao chất lượng đàm phán nhằm đạt được yêu cầu tối thiểu về lãi suất, thời hạn vay, thẩm định giá, định mức chi tiêu, phí tư vấn, chính sách đối với chuyên gia trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi -Phân tích cụ thể các điều kiện vay, các điều kiện ràng buộc để bố trí sử dụng vốn có hiệu quả , chấm dứt tình trạng sắp xếp nhà tài trợ mới xây dựng dự án, kiên quyết loại bỏ dự án không có luận chứng kinh tế kỹ thuật khả thi, chủ động lựa chọn các danh mục dự án đã định trước khi huy động vốn, khắc phục tình trạng bố trí sử dụng vốn dàn trải. - Nghiên cứu đồng bộ và có khoa học các biện pháp chuyển đổi nợ thành đầu tư trong nước, xin hóa nợ , mua bán nợ tăng khả năng trả nợ hoặc làm giảm nghĩa vụ trả nợ trong tương lai - Tiếp tục ưu tiên sử dụng vốn ODA cho các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, đào tạo và y tế. Tăng cường kiểm soát quá trình sử dụng vốn, tránh thất thoát và thường xuyên đánh giá tính hiệu quả xét cả về mặt kinh tế và xã hội của các dự án khi hiệu quả sử dụng vốn ODA cao hơn so với các nguồn tài trợ khác. Trong khâu đàm phán nên xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm quản lý vốn vay và nguồn trả nợ. Các nghành, các địa phương và đơn vị xin sử dụng ODA cần tính toán hiệu quả và xác định đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, chịu trách nhiệm chính trong quá trình sử dụng vốn và đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Đối với một số lĩnh vực ODA lớn cần phải nghiên cứu chính sách huy động và hoàn trả nợ trong từng giai đoạn, phải đảm bảo đầu tư sinh lời và có phương án thu hồi phí trong từng giai đoạn để hoàn trả nợ nước ngoài. -Công tác vân động ODA cần được đổi mới về nội dung và phương thức thực hiện, chú trọng khâu soạn thảo đề cương nghiên cứu khả thi, giao việc cho tư vấn, cần mạnh dạn chối bỏ nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu. -Luật hóa các hoạt động tư vấn gián tiếp nước ngoài, trong đó có việc quản lý và sử dụng hiệu quả vốn ODA, bởi lẽ hiện tai chúng ta có quá nhiều văn bản pháp lý dưới luật về lĩnh vực này, nhưng thực tế quản lý không hiệu quả vùa gây nên tình trạng quản lý chồng chéo vừa chưa tạo được hành lang pháp lý thống nhất đẻ điều tiết có hiệu quả. 3.3.2 Các giải pháp với vốn đầu tư trực tiệp nước ngoài FDI - Đẩy mạnh việc triển khai phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chú trọng vào công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật của các địa phương tránh tình trạng ban hành chính sách ưu đãi vượt khung; giảm dần sự tham gia trực tiếp của cơ quan quản lý trung ương vào xử lý các vấn đề cụ thể, trong đó nhiệm vụ giám định đầu tư và hậu kiểm được tăng cường; đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý từ trung ương đến địa phương thông qua tổ chức tập huấn, đào tạo ngắn hạn. - Cần có chiến lược thu hút và sử dụng FDI trong từng giai đoạn một cách đồng bộ, hợplý, gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của thời kỳ đó. Các chiến lược phát triển cụ thể là các bước đi cần thiết để đạt được mục tiêu tổng thể mà kế hoạch dài hạn đã vạch ra. Chiến lược phát triển có thể được thiết kế trong khoảng thời gian 5, 10 hay 20 năm phù hợp với từng ngành, vùng. Trong đó, chiến lược thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI nên theo hướng: + Đề xuất được định hướng thu hút vốn từ các đối tác quốc tế, trong đó có xác định rõ đối tác chiến lược. +Đưa ra được các chính sách và giải pháp ưu tiên và khuyến khích thu hút và sử dụng vốn tương đối ổn định trên nhiều giác độ như miễn giảm thuế, ưu đãi giá thuê đất... + Nêu rõ các biện pháp về quản lý và thực hiện trả nợ nước ngoài. - Cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng. Tập trung các nguồn lực để đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng , Đặc biệt là giao thông , cảng biển , viễn thông, các nhà máy điện… nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh tại Việt nam. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãng phí không đáng có - Cần tăng cương công tác quy hoạch và xúc tiến đầu tư . Các cơ quan nhà nhà nước quản lý cần tiếp tục rà soát , cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch của từng địa phương ; tiếp tục việc thành lập và nâng cao hoạt động của các bộ phận xúc tiến đầu tư của các địa phương ; trong quá trình xúc tiến đầu tư cần chú ý tới việc kết hợp xúc tiến đầu tư , xúc tiến du lịch và hoạt động của các cơ quan đại sứ ở nước ngoài. - Rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần xoá bỏ những giấy phép không cần thiết, đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết. Xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nước ngoài bằng cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi trong lập qũy, vay vốn đầu tư ; đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc cấp phép, mở rộng chế độ đăng ký cấp phép. - Đẩy mạnh việc đa dạng hóa hình thức đầu tư để khai thác thêm các kênh đầu tư mới như cho phép thành lập công ty hợp danh, ĐTNN theo hình thức mua lại và sáp nhập (M&A)... Sớm ban hành Quy chế công ty quản lý vốn để điều hành chung các dự án. Tổng kết việc thực hiện thí điểm cổ phần hoá các doanh nghiệp ĐTNN để nhân rộng. - Từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu. Cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực cụ thể, trong đó cần lưu ý tới phát triển các nguồn nhân lực có trình độ cao . Trong nhiều dự án hiện nay nhu cầu về lao động , đặc biệt là lao động chất lượng cao là rất quan trọng , nhưng trên thực tế cũng cho thấy ở Việt nam lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ chuyên môn thấp nên nhiều dự án đầu tư nước ngoài triển khai rất chậm hoặc là các nhà đầu tư nước ngoài xin rút vốn nên các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Để xây dựng được đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao cần tập trung thực hiện các giải pháp sau: Thứ nhất: đổi mới tổ chức đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tập trung cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn sử dụng và ưu tiên tập trung bồi dưỡng nhân tài Cải cách căn bản và sâu sắc hệ thống giáo dục quốc gia hiện hành. Xây dựng hệ thống giáo dục quốc gia mới tiên tiến, hiện đại (về tổ chức, cơ sở vật chất-kỹ thuật, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình và phương pháp dạy, học), phù hợp với tiêu chí và chuẩn mực quốc tế. Xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạo trong nước và quốc tế. Nhanh chóng hình thành và phát triển xã hội học tập để đảm bảo tất cả người dân có cơ hội học tập suốt đời. Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, đặc biệt là hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quản lý hành chính, ngoại giao và kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh, giáo dục-đào tạo, hoạt động khoa học-công nghệ, tư vấn hoạch định chính sách, pháp lý… Thứ hai tăng cường thể lực và nâng cao tầm vóc của người Việt Nam Cải thiện thể trạng người Việt Nam để đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa chiều cao đứng và trọng lượng cơ thể, tăng cường thể lực, đặc biệt là sự phát triển hài hoà về các tố chất thể lực cần thiết (sức bền, sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo...) đảm bảo thực hiện lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động bình thường khác của mỗi người. Coi trọng và đổi mới việc tổ chức giáo dục thể chất trong hà trường và đẩy mạnh phong trào toàn dân tập thể dục, rèn luyện thân thể trong xã hội. Thứ ba, đổi mới chính sách sử dụng nguồn nhân lực để tạo động lực kích thích và giải phóng sức sáng tạo của con người Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực căn cứ vào những nguyên tắc hiệu quả của nền kinh tế thị trường, phù hợp với tiến trình hình thành và phát triển thị trường lao động. Phát triển thị trường lao động, xây dựng những cơ chế và công cụ thích hợp để sử dụng nhân lực có hiệu quả. Thứ tư, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Khuyến khích mở rộng và tăng cường các quan hệ giao lưu và hợp tác song phương và đa phương giữa các tổ chức và người dân Việt Nam với các tổ chức quốc tế và công dân nước ngoài. Tăng cường thu hút chuyên gia quốc tế giỏi và Việt Kiều giỏi vào làm việc ở Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, hoạt động khoa học-công nghệ, tư vấn thiết kế, quản lý và kinh doanh... để nâng cao chất lượng phát triển con người và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. - Cần xây dựng và phát triển một nền khoa học chất lượng cao trong nước để thu hút các dự án nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghệ cao . Và cần lưu ý tới vấn đề chuyển giao công nghệ các dự án nước ngoài , khi tiến hành cấp phép đầu tư cần lưu ý tới dây chuyền công nghệ mà các nhà đầu tư nước ngoài mang vào tránh việc cấp phép đầu tư tràn lan gây ảnh hưởng xấu tới môi trường do sử dụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu -Các cơ quan nhà nước về ngoại giao cần lưu ý tới việc tích cực đàm phám tham gia các tổ chức quốc tế , các hoạt động “ tiếp thị “ quốc tế nhằm nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong các tổ chức , doanh nghiệp và các nhà đầu tư quốc tế . Bổ sung cơ chế, chính sách xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến việc thực hiện các cam kết của nước ta trong lộ trình AFTA và WTO , cũng như các cam kết đa phương và song phương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong mở cửa lĩnh vực dịch vụ (bưu chính viễn thông, vận chuyển hàng hóa, y tế, giáo dục và đào tạo.v.v). - Cần đề ra chính sách ưu đãi cụ thể và thiết thực hơn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp FDI thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu nhằm tạo cơ sở vững chắc cho công tác trả nợ. Nhưng không nên quy định cứng nhắc khiến cho các biện pháp ưu đãi có tác động ngược chiều trở thành các rào cản đầu tư. Cần có những giải pháp ưu đãi cho các dự án FDI của các nước tài trợ nhiều vốn ODA cho Việt Nam. Các chính sách này phải được sử dụng thật khéo léo, không để xảy ra hiện tượng các nhà đầu tư quốc tế so bì về tính không công bằng trong chính sách đối Chính phủ Việt Nam. - Cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO. - Cần có chính sách quản lý và cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào hoạt động trên thị trường chứng khoán để giúp các doanh nghiệp nước ngoài có thêm kênh huy động vốn nhanh và hiệu quả. 3.4 Giải pháp tăng cường mối quan hệ của vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn từ nội bộ nền kinh tế và bên ngoài. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, đó là tiền đề là điều kiện để có thể tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn bên ngoài đạt hiệu quả đồng thời để tăng thêm tính độc lập tự chủ của nền kinh tế. Để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong và ngoài nước có thể thực hiên một số giải pháp sau Thứ nhất, cần sớm có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đất nước dài hạn. Việc thiếu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đất nước một cách đồng bộ và dài hạn (khoảng 50 năm) trong thời gian gần đây đã được cấp, các ngành tổng kết báo cáo là một trong những nguyên nhân rất lớn gây khó khăn, cản trở trong phát triển nói chung, tạo ra những lãng phí trong sử dụng các nguồn vốn bao gồm cả nguồn vốn trong và ngoài nước. Quy hoạch phát triển kinh tế góp phần định hướng để có sự kết hợp có hiệu quả hơn giữa vốn đầu tư trong nước và ngoài nước trong tương lai. Thứ hai ,củng cố và nâng cao kể cả về mặt chất và mặt lượng nguồn vốn trong nước Thông qua bồi dưỡng và mở rộng các nguồn thu của ngân sách; đa dạng hóa các công cụ và các hình thức tổ chức tài chính, tiền tệ…để động viên phát huy tiềm năng tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư trong nước Phát triển lành mạnh , bền vững ba kênh huy động vốn lớn cho nền kinh tế trong nước : thị trường chứng khoán , thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ. Khi nguồn vốn trong nước ổn định , dồi dào đó là điều kiện rất quan trọng để hấp thụ hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước , tạo lòng tin cho nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba ,nâng cao sự gắn kết giữa kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với kinh tế trong nước thông qua mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, có trách nhiệm rõ ràng trong vấn đề san sẻ rủi ro… Có sự phối hợp đồng bộ giữa khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế đầu tư nước ngoài để tạo ra sự phát triển cho cả hai bên Đa dạng hóa, phát triển các công nghiệp phụ trợ để cung ứng đủ nguyên vật liệu đảm bảo các dự án của chủ đầu tư trong nước và nước ngoài được thực hiện đúng tiến độ. Thứ tư, phải sử dụng thật hiệu quả và tránh thất thoát lãng phí nguồn vốn trong nước đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vì đây là yếu tố quan trọng nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút và đón nhận vón đầu tư nước ngoàivào trong nước. Nguồn vốn trong nước cần phải được đầu tư cân đối để tạo sự phát triển toàn diện giữa các vùng , miền kinh tế nhằm tận dụng và phát huy thế mạnh của vùng đó là thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài. Thứ năm, tăng cường sử dụng vốn trong nước đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo nguồn lao động đáp ứng được yêu cầu của các dự án nước ngoài. Nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ dự án như trang bị về nghiệp vị đặc thù , ngoại ngữ… để thực hiện nhanh chóng chính xác yêu cầu công việc của dự án. Thứ sáu ,tận dụng mối quan hệ hợp tác trong quá trình liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế. Mở rộng và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt nam góp phần bổ sung vào nguồn vốn trong nước. Thứ bảy , tăng cường học hỏi, lĩnh hội công nghệ tiên tiến hiện đai mà các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đem lại để nâng cao kinh nghiêm quản lý và nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước . Đây cũng là yếu tố quan trọng để phát triển những nghành kinh tế then chốt của quốc gia như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí… Thứ tám , thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đẻ nâng cao hiệu quả hoạt động của hai nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đem lại tác động tích cực cho sự phát triển kinh tế quốc dân. Lời Kết Từ những phân tích trên mặt lý thuyết cũng như từ số liệu và các phân tích trên thực tế đã được thực hiên trong đề tài chúng ta có thể rút ra một số kết luận . Thứ nhất là hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt nam trong suốt thời kì vừa qua thể hiện qua những con số tăng trưởng rất cao . Thứ hai là trong hoạt động đầu tư thì mỗi nguồn vốn có những vai trò và đóng góp nhất định vao tăng trưởng kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng vì vậy cần có những chính sách riêng cho tưng nhóm để nó có thể phát huy hiệu quả cao nhất . Và vấn đề thứ ba mà chúng ta có thể kết luận được đó là ngoài nhưng tác động riêng biệt thì nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài cũng thể hiện nhưng tương tác qua lại trong thực tế vì vậy nhà nước cần có những giải pháp để hai nguồn vốn này có thể tạo ra những hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Danh mục tài liệu tham khảo 1.Giáo trình kinh tế Đầu Tư 2.Bài giảng Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ 3.Báo Đầu Tư 4.Giáo trình quản trị doanh nghiệp FDI 5.Một số trang web : 1.Thời báo kinh tế Việt Nam: Vneconomy.vn 2.Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương : www.ciem.org.vn 3.Tổng cục thống kê : www.gso.gov.vn 4.Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư : www.mpi.gov.vn 5.Bộ Tài Chính : www.mof.gov.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCD217.doc
Luận văn liên quan