Đề tài Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp cơ sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; cùng với cả nước tỉnh Ninh Bình đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Những thành tựu đó đã củng cố thêm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng gắn bó mật thiết hơn. Quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng cùng với quá trình cải cách, cải cách bộ máy Nhà nước và cải cách nền hành chính quốc gia, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được tăng cường, uy tín và quyền lực chính trị của Đảng ngày càng được nâng cao. Tổ chức cơ sở Đảng đã phát huy được trí tuệ tập thể các cấp uỷ, dân chủ, bàn bạc đề ra được các chủ trương sát, đúng, mang lại hiệu quả thiết thực được nhân dân tin tưởng và thừa nhận.

doc59 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/04/2015 | Lượt xem: 12979 | Lượt tải: 132download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp cơ sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lý Nhà nước Trong phạm vi các khóa ĐTBD về quản lý Nhà nước cho CBCC, tiêu chí đầu tiên để đánh giá chất lượng đào tạo sau khóa học, công chức phải có được những kiến thức cơ bản về Nhà nước và quản lý Nhà nước, xác định đúng chức năng của Nhà nước nói chung, của mỗi hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước nói riêng; xác định được cơ quan, đơn vị mình nằm ở đâu trong hệ thống chính trị, thực hiện chức năng nhiệm vụ gì, và xác định đúng chức trách của công chức trong thực thi công vụ. Hai là, có khả năng đặt vấn đề và kỹ năng giải quyết vấn đề Công việc thực tế của CBCC trong thực thi công vụ luôn phải đối mặt và giải quyết các vấn đề trong hệ thống và ngoài xã hội. Trong đó, có những vấn đề biểu hiện bên ngoài là giống nhau nhưng đòi hỏi cách giải quyết khác nhau, có những vấn đề đòi hỏi không chỉ một mà nhiều biện pháp giải quyết đồng bộ...Chính vì vậy, người CBCC hoàn thành nhiệm vụ là người có khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, kỹ năng là sự kết hợp chín muồi giữa lý thuyết với kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy khó lòng đòi hỏi một công chức dự bị sau khi trải qua một khóa đào tạo tiền công vụ phải có khả năng phát hiện và kỹ năng giải quyết vấn đề như một chuyên viên chính. Thêm nữa, kỹ năng cần có đối với mỗi công chức ở mỗi vị trí công việc, mỗi lĩnh vực công tác khác nhau là khác nhau. Mặc dù có những khác biệt nhất định như vậy, song tiêu chí chung để đánh giá chất lượng của một khóa đào tạo CBCC là sau khóa học, người học biết chủ động liên hệ giữa kiến thức đã được tiếp nhận để có những đề xuất cụ thể, sát thực tế trong lĩnh vực công tác, từ đó tìm kiếm được cách thức giải quyết công việc khoa học. Ba là, có thái độ tích cực trong thực thi công vụ Tiêu chí thái độ rất quan trọng, nhưng cũng không dễ dàng định lượng. Ở đây, mục tiêu hướng tới của đào tạo CBCC không phải là đào tạo ra những con người làm việc trong bộ máy phục vụ nhân dân có trình độ, năng lực song lại không muốn phục vụ nhân dân. Việc đào tạo công chức có chất lượng đòi hỏi sau quá trình đào tạo, công chức không chỉ có kiến thức, kỹ năng, mà còn phải có mong muốn đem kiến thức, kỹ năng đó áp dụng vào thực thi công vụ nhằm nâng cao hiệu quả công việc. Hay nói cách khác là có mong muốn cống hiến cho nền công vụ nước nhà. Tiêu chí này được cụ thể hóa bằng những yêu cầu như sau: + Có phẩm chất chính trị Quản lý Nhà nước luôn phải hướng tới mục tiêu chính trị, vì thế CBCC trong bộ máy Nhà nước rất cần được rèn luyện và củng cố về phẩm chất chính trị. Sau mỗi khóa học, học viên phải thấm nhuần hơn những lý tưởng cao đẹp mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang theo đuổi, từ đó xây dựng vững chắc hơn niềm tin vào lý tưởng đó và trung thành với lợi ích mà mục tiêu chính trị đã xác định. Đồng thời xác lập quyết tâm thực hiện mục tiêu chính trị của mỗi tổ chức và toàn hệ thống. Đo lường tiêu chí này có thể là sự thống nhất cao độ hay không của mỗi học viên trong toàn khóa học + Có đạo đức xã hội Các khóa đào tạo công chức thường thiết kế các nội dung về đạo đức công vụ, về công vụ, công chức,... Sau khi kết thúc khóa học, CBCC phải ý thức được rằng mình là người làm việc trong bộ máy Nhà nước, người dân nhìn vào mình để đánh giá thương hiệu của từng cơ quan hay cả bộ máy Nhà nước. Do đó, phải luôn có ý thức giữ gìn hình ảnh, đạo đức, tác phong chuẩn mực trong con mắt quần chúng nhân dân. + Có đạo đức nghề nghiệp Một tiêu chí đánh giá khóa đào tạo, bồi dưỡng CBCC có chất lượng cao là khi kết thúc khóa học, công chức ý thức được rằng mình là một người lao động làm công việc đặc biệt như: làm việc trong bộ máy Nhà nước, sử dụng công sản vào thực thi công vụ, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, phục vụ lợi ích công. Từ đó, họ ý thức được mình là công bộc của dân, cần phải có thái độ tôn trọng nhân dân, có nghĩa phục phục nhân dân. Đồng thời, sau khóa ĐTBD công chức giao tiếp có văn hóa hơn với công dân, làm cho họ hài lòng hơn về thái độ và chuyên môn nghiệp vụ trong giải quyết các mối quan hệ hay sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực công... + Có “tầm nhìn” chung “Tầm nhìn” (vision) với ý nghĩa: công chức trải qua đào tạo phải nhận thức được đầy đủ mục tiêu mà nền hành chính Nhà nước đang hướng tới là gì, từ đó nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra. Kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng CBCC phải biết xác định tầm nhìn mà họ và các đồng sự đang hướng tới phù hợp với định hướng chính trị mà cả ngành hay đơn vị họ đang theo đuổi. Cụ thể hóa của tầm nhìn ở mỗi CBCC là dự kiến đúng mục tiêu giải quyết vấn đề và các phương án khả thi cho việc giải quyết vấn đề đó. Được như vậy, họ mới tự giác và đồng tâm thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất. Trong công cuộc cải cách hành chính hiện nay, việc đào tạo CBCC được coi là có chất lượng khi làm cho công chức có tầm nhìn chung: xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại hóa theo hướng phục vụ dân, từ đó họ tự hào vì mình được góp phần vào việc thực hiện hóa tầm nhìn chung. 4. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở Sự quan tâm của cấp ủy, thủ trưởng đơn vị Sự quan tâm thể hiện bằng chương trình, kế hoạch hành động, nghị quyết chuyên đề về công tác ĐTBD, tổ chức triển khai thực hiện, trong đó có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra đồng thời có những sự điều chỉnh nếu cần. Thể hiện ở việc phân bố kinh phí hoạt động cho công tác ĐTBD, đầu tư cải thiện cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập,... Trong phạm vi cơ quan, vai trò của cấp ủy, thủ trưởng đơn vị thể hiện từ công tác quy hoạch CBCC, xem xét nhu cầu cử CBCC đi ĐTBD các khóa học, đến việc tạo thuận lợi cho CBCC cấp xã dành thời gian cần thiết cho quá trình học tập. Tính khoa học của quy hoạch kế hoạch ĐTBD Bất kì một hoạt động nào muốn đạt kết quả cao nhất trước khi thực hiện phải lên kế hoạch cụ thể. Kế hoạch phải được xây dựng, căn cứ trước hết vào chủ trương, nghị quyết của cấp ủy Đảng liên quan đến công tác ĐTBD, tiếp theo phải căn cứ vào việc xác định nhu cầu ĐTBD, nguồn lực hiện có ( tài chính, thời gian,...) Kết thúc giai đoạn kế hoạch cần tiến hành công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện, phân tích rõ nguyên nhân những mục tiêu đã thực hiện được, mục tiêu chưa thực hiện được, xác định trách nhiệm rõ ràng và rút ra những bài học cần thiết cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch ĐTBD tiếp theo. Tính khoa học, hợp lý trong việc lựa chọn chương trình, cơ sở ĐTBD để cử công chức tham gia ĐTBD + Chương trình đào tạo, bồi dưỡng: chương trình có vai trò quan trọng trong ĐTBD CBCC đạt chất lượng và hiệu quả. Sự phù hợp của chương trình đào tạo gắn với sứ mạng và mục tiêu của ĐTBD. ĐTBD CBCC hành chính và quản lý Nhà nước một cách khái quát nhất chính là đào tạo nghề, mà cụ thể là nghề công chức, do vậy, chương trình ĐTBD phải hướng vào đào tạo nghề công chức. Vì thế, chương trình ĐTBD phải được xây dựng trên nền tảng cách tiếp cận khả năng thực thi công vụ cho CBCC với mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ của hoạt động công vụ đã được quy định rõ ràng cho từng chức danh và ngạch CBCC trong các văn bản có liên quan của Nhà nước. Chương trình phải đạt được yêu cầu thiết thực, phù hợp với đối tượng theo các vùng, miền khác nhau. Giáo trình, tài liệu không những là tài liệu học tập mà còn là cẩm nang để CBCC tra cứu khi cần thiết. Hiện nay, theo quy định các chương trình, giáo trình, tài liệu ĐTBD kiến thức hành chính và quản lý Nhà nước cho CBCC do Bộ Nội vụ tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành, do vậy cần phân biệt chương trình tổng thể với chương trình cụ thể khóa ĐTBD do cơ sở ĐTBD trực tiếp tổ chức thực hiện. Như vậy, các cơ sở ĐTBD của các bộ, ngành, địa phương tổ chức các khóa ĐTBD theo nội dung,chương trình đã được phê duyệt có sự vận dụng đặc điểm về chức năng và thực tế công tác quản lý Nhà nước của từng bộ phận, ngành địa phương như sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng , của cơ sở ĐTBD. Điều này sẽ có tác dụng thiết thực để nâng cao công tác ĐTBD. Chương trình ĐTBD CBCC cần phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người học là CBCC, nội dung phải sát thực tế đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc, nhất là chú trọng bồi dưỡng những kỹ năng cụ thể cho mỗi loại CBCC; thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng phải hợp lý, không quá dài gây ảnh hưởng đến thời gian cho công việc của CBCC. + Cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy và học: Diện tích, mặt bằng cơ sở ĐTBD được quy hoạch hợp lý, có đủ hội trường, phòng học, thư viện, kí túc xá, phòng làm việc và các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động dạy và học, đảm bảo việc sử dụng vệ sinh, anh toàn, đủ ánh sáng, thông gió. Hệ thống trang thiết bị cần thiết phục vụ cho giảng dạy theo phương pháp mới là những yếu tố tác động ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD, vì đây là những điều kiện ban đầu đảm bảo để cơ sở chủ động chiêu sinh, nhưng cũng là điều kiện cần thiết cho cả quá trình tổ chức hoạt động ĐTBD. Trong xu thế đổi mới, nâng cao chất lượng công tác ĐTBD người ta quan tâm nhiều hơn đến việc trang bị các phương tiện giảng dạy hiện đại như các phương tiện nghe, nhìn, trang thiết bị phục vụ như máy chiếu, máy quay video, bàn ghế, các thiết bị âm thanh phục vụ việc thực hành giáo án điện tử cũng như áp dụng các phương pháp sư phạm hành chính khác. + Đội ngũ giảng viên hành chính và quản lý hành chính Nhà nước: “Không thầy đố mày làm nên” câu tục ngữ này đã nói lên vai trò của người thày trong cơ sở giáo dục nói chung và cơ sở ĐTBD CBCC nói riêng. Ở đây phải có nhận thức rõ vai trò của người “thầy” và “học viên” trong ĐTBD, những khác biệt với quá trình giảng dạy nói chung trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vai trò của người thầy và học viên trong hoạt động ĐTBD là hướng dẫn, trao đổi thông tin quản lý, người thầy không chỉ truyền đạt tri thức mà chủ yếu là tổ chức quá trình trao đổi thông tin một cách hiệu quả nhất và nhiệm vụ của học viên là trao đổi kinh nghiệm quản lý, công tác, cùng nhau bàn bạc, thảo luận tìm phương pháp giải quyết vấn đề một cách tối ưu. Do vậy, đạo đức, trình độ, kinh nghiệm công tác, xử lý tình huống và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên quản lý Nhà nước có vai trò quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến chất lượng ĐTBD CBCC. Bên cạnh đội ngũ giảng viên, đội ngũ cán bộ quản lý cũng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng ĐTBD. Họ là những người trực tiếp quản lý đội ngũ học viên theo quy trình quản lý đào tạo, nắm vững những khó khăn, thuận lợi của từng học viên trong quá trình ĐTBD, là nơi để học viên trao đổi, phản ánh, đóng góp ý kiến về chương trình, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quá trình học tập. Chính vì vậy cán bộ quản lý phải trở thành cầu nối giữa học viên với giảng viên, với cơ sở ĐTBD. Chế độ, chính sách ĐTBD + Hỗ trợ về thời gian: Các chương trình ĐTBD hiện nay được thiết kế đa dạng về thời gian, hình thức tổ chức. Có chương trình học tập trung trong khoảng thời gian từ 2-3 tháng, học tập trung như chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước cho chuyên viên, chuyên viên chính. Có chương trình lại kéo dài tới 2 năm, mỗi tháng học 1 tuần như chương trình lý luận chính trị cao cấp. Vì vậy, bố trí sắp xếp công việc để CBCC có đủ thời gian để theo học các khóa bồi dưỡng là một yêu cầu quan trọng. Điều này phụ thuộc rất lớn vào lãnh đạo cơ quan, thủ trưởng đơn vị trong việc phân công công việc, bố trí sắp xếp cán bộ làm thay công việc của những người đi học. + Hỗ trợ về tài chính: Kinh phí cho công tác ĐTBD CBCC do Nhà nước cấp, được phân bổ từ ngân sách Nhà nước cho các cấp chính quyền , các bộ, ngành địa phương và tiếp tục được phân bổ đến các cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính Nhà nước. CBCC được cử đi ĐTBD được hưởng nguyên lương. Như vậy, Nhà nước bao cấp toàn bộ kinh phí cho công tác ĐTBD CBCC. Đây là sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với công tác ĐTBD, xây dựng đội ngũ CBCC. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều CBCC vẫn ngại khi được cử đi ĐTBD, nhất là đối với những người được cử đi ĐTBD tập trung, xa cơ quan, gia đình. Vì vậy để động viên CBCC tích cực tham gia và toàn tâm, toàn ý vào nhiệm vụ ĐTBD, bên cạnh chế độ, chính sách chung của Nhà nước, mỗi địa phương, cơ quan đơn vị cần quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi cho CBCC tham gia khóa ĐTBD. + Sử dụng sau khi ĐTBD: Mục tiêu của ĐTBD là để nâng cao năng lực làm việc cho CBCC, phát huy năng lực làm việc của mỗi CBCC. Bên cạnh các yếu tố chủ quan, còn phụ thuộc rất lợn vào việc bố trí, sử dụng. Rõ ràng, nếu CBCC được ĐTBD về một nghiệp vụ này lại được giao công việc có yêu cầu những nghiệp vụ khác theo kiểu “học một đằng, làm một nẻo” hay ĐTBD theo chuẩn chức trách, ngạch bậc cao nhưng lại được giao một vị trí công việc thấp hơn...thì CBCC rất khó có thể phát huy năng lực của mình. Hơn nữa, điều này còn gây tác động tâm lý không tốt đến những CBCC khác trong cơ quan, họ sẽ coi đó là tấm gương và sẽ không có động lực tham gia các khóa ĐTBD tiếp theo. Như thế có thể nói công tác bố trí, sử dụng CBCC sau khi ĐTBD của cấp ủy, thủ trưởng cơ quan đơn vị có tác động quan trọng đến công tác ĐTBD. 5.Quy trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC ( gồm 4 bước ) 1.Xác định nhu cầu ĐTBD 3.Tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD 2.Lập kế hoạch ĐTBD 4.Đánh giá ĐTBD Bước 1: Xác định nhu cầu ĐTBD Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câu hỏi chính như: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà CBCC hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của CBCC đối với vị trí công việc? Làm cách nào để xác định đúng những thiếu hụt đó? Những khóa học nào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho CBCC? Để nắm bắt nhu cầu đào tạo cần sử dụng các phương pháp sau: Phân tích tổ chức, các kế hoạch hoạt động và kế hoạch nguồn nhân lực. Phân tích công việc, Phân tích đánh giá thực hiện công việc. Điều tra khảo sát đào tạo (Phiếu khảo sát, Thảo luận, lấy ý kiến chuyên gia). Thông thường, người ta thực hiện các hoạt động xác định nhu cầu đào tạo như sau: 1. Làm rõ các yêu cầu. Xác định vấn đề đào tạo, quyết định đưa ra những nhiệm vụ mới, làm rõ những mong muốn, nguyện vọng đối với đào tạo, bồi dưỡng. 2. Lập kế hoạch thực hiện xác định nhu cầu đào tạo. Phân tích nhu cầu đào tạo. 3.Đánh giá thực trạng về thực hiện công việc. 4.Xác định những sai sót, thiếu hụt trong thực hiện nhiệm vụ và những hành vi sai lệch. 5. Xác định nhu cầu đào tạo từ các bước 2, 3 so sánh với bước 4. 6.Xác định các mục tiêu và nội dung đào tạo. Bước 2: Lập kế hoạch ĐTBD Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: Mục tiêu kế hoạch? Nội dung là gì? Ai thực hiện? thời gian và địa điểm tiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí? Kiểm tra đánh giá như thế nào? Để dễ nhớ, người ta dùng kỹ thuật 5W, 2H, 2C: Why, what, who, when, where, how, how much, control, check. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phải xác định được nội dung các khóa học, tài liệu đào tạo, giảng viên, học viên, thời gian, địa điểm, cơ sở vật chất, kinh phí, đánh giá và công tác tổ chức quản lý khóa học. Để giúp cho việc thực hiện công tác tổ chức ĐTBD, người ta đưa ra các công việc cần thực hiện trong thiết kế chương trình đào tạo, như sau: 1.     Liệt kê những mục tiêu đối với chương trình đào tạo. 2.     Xem xét về số lượng học viên, nghiên cứu lấy ý kiến của họ về chương trình. 3.     Liệt kê những cách thức, hoạt động để đạt được mục tiêu. 4.     Quyết định loại hình thức đào tạo nào: tại cơ quan (đào tạo trong công việc) hay tập trung ngoài cơ quan. 5.     Quyết định hình thức phương pháp đào tạo – như huấn luyện, kèm cặp hướng dẫn … 6.     Thảo luận về Chương trình, kế hoạch với những người liên quan, với chuyên gia, học viên và những người lãnh đạo quản lý họ. 7.     Hoàn thiện Chương trình. Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo theo công thức PRACTICE: Practical - Tính thực tế, Relevant - Liên quan, Applicable - Tính áp dụng, Current - Hiện hành, mới đây, Time limit - Thời gian giới hạn, Important - Quan trọng, Challenging - Thách thức, khác trước, Elective - Tuyển chọn, tổng hợp. Bước 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD Tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD cần trả lời các câu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao? Do đó, để thực hiện kế hoạch ĐTBD, cần phân tích kế hoạch ĐTBD thành các công việc cụ thể: từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán. Bước 4: Đánh giá ĐTBD Đánh giá ĐTBD cần trả lời các câu hỏi chính như: ĐTBD có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình có phù hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình ĐTBD không? Học viên có tham gia vào quá trình ĐTBD không? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ áp dụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của chương trình ĐTBD? Theo các nhà nghiên cứu, có 4 cấp độ đánh giá chương trình đào tạo như sau: 1.     Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về ĐTBD vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá đào tạo và vào những thời điểm sau đào tạo. 2.     Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học. Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra. 3.     Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đã học vào công việc như thế nào. Những thay đổi đối với việc thực hiện công việc. 4.     Đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức: Việc đào tạo có tác động, ảnh hưởng tới kết quả của tổ chức, hiệu quả của ĐTBD như thế nào. CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CBCC CẤP CƠ SỞ (XÃ, THỊ TRẤN) CỦA HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH 1.Sự cần thiết của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan Trong điều kiện hội nhập kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, công tác đào tạo, bồi dưỡng cập nhật thông tin, kiến thức có vị trí và vai trò rất quan trọng. Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quyết định số: 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính Phủ Phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2015 với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng: Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại. Chính Phủ ban hành nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020: đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Chương trình đề ra 06 nhiệm vụ cơ bản trong đó nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức công chức có 9 giải pháp, cụ thể về giải pháp về đào tạo bồi dưỡng: Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm Vị trí, vai trò của công tác đào tạo đối với CBCC cấp xã quan trọng như vậy, do đó chủ trương của huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình tại Nghị quyết Đại hội Huyện Đảng bộ lần thứ XXV đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành TW lần thứ 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên cơ sở quy hoạch, đào tạo cán bộ đã được các cấp, các ngành xây dựng, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quy hoạch cán bộ cho phù hợp với thực tiễn…”. Mục tiêu đến năm 2015, cán bộ, công chức cấp xã bản cơ bản được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, có đủ năng lực trình độ để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu… Thực tiễn trong nhiều năm qua ở huyện Nho Quan- tỉnh Ninh Bình cho thấy, ở đâu cấp uỷ, chính quyền địa phương quan tâm, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC để có đội ngũ CBCC vững mạnh, ở đó tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế - văn hóa phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, cán bộ được dân tin. Dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước và của địa phương đều được triển khai có kết quả tốt, tạo được các phong trào cách mạng sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Ngược lại, ở đâu cán bộ không được quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng, hạn chế về năng lực, phẩm chất đạo đức, uy tín thấp, có những biểu hiện tiêu cực tham ô, lãng phí quan liêu ra rời dân, suy thoái về đạo đức, lối sống… thì ở nơi đó gặp khó khăn, có nơi còn bị kẻ xấu kích động, gây rối, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp trở thành “điểm nóng” phức tạp ảnh hưởng tới sự ổn định, phát triển của địa phương, tới tư tưởng, đời sống của nhân dân. Như vậy, công tác cán bộ là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng. Muốn có cán bộ tốt thì vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng càng quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết. 2.Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở (xã, thị trấn) trên địa bàn huyện Nho Quan 2.1.Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp cơ sở của huyện Nho Quan Nhu cầu đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước cho lực lượng CBCC cấp xã còn cao. Nhu cầu đào tạo cán bộ STT Nhu cầu đào tạo Cán bộ Số CB đã được đào tạo Số CB đang học các lớp Số CB chưa qua đào tạo Cán bộ Công chức Cán bộ Công chức Cán bộ Công chức 1 Chuyên môn 184 270 52 15 80 22 2 Chính trị 257 162 20 56 15 66 3 Quản lý 108 34 20 13 54 72 (Nguồn: Phòng Nội vụ UBND huyện Nho Quan) Từ những số liệu trên cho thấy: Tuy trình độ của cán bộ, công chức cấp xã đã được nâng lên, nhưng số người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý Nhà nước từ trung cấp trở lên còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Cụ thể: * Cán bộ chuyên trách cấp xã: - Về trình độ văn hóa: Vẫn còn 49 cán bộ có trình độ THCS= 23,4%( trong đó có 6 bí thư đảng ủy, 4 phó bí thư đảng ủy, 2 chủ tịch UBND, 6 phó chủ tịch UBND, 4 phó chủ tịch HĐND và 27 trưởng các đoàn thể) - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ trung cấp có 98 đ/c = 33,56%; sơ cấp 22đ/c = 7,5%, còn 80đ/c = 27,97% chưa qua đào tạo. - Trình độ lý luận chính trị và quản lý Nhà nước: Đến nay cán bộ chuyên trách xã còn 15,5% có trình độ sơ cấp, 5,14% chưa được đào tạo trung cấp chính trị. Về quản lý nhà nước còn 18,2% cán bộ chưa được đào tạo. * Trình độ công chức cấp xã Qua số liệu tổng hợp của 27 xã, thị trấn cho thấy: - Về trình độ văn hóa: Trong số 100% công chức cấp xã có trình độ tốt nghiệp từ trung học cơ sở trở lên, trong đó: + Trung học cơ sở: 18 người = 6,3% + Trung học phổ thông: 268 người = 93,7% - Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ + Đại học và cao đẳng: 139/ 286 = 48,6 % + Trung cấp: 117/286 = 40,9% + Sơ cấp: 7/286 = 2,5% Chưa qua đào tạo chuyên môn 22/286 = 7,69% -Trình độ lý luận chính trị: Trung cấp chính trị + Trung cấp: 116/286 = 40,6% + Sơ cấp: 43/286 = 15,03% Hiện nay còn 23,07% công chức xã chưa qua đào tạo trung cấp chính trị. - Trình độ quản lý Nhà nước: Trung cấp hành chính. Công chức xã có 13 người đang theo học (4,54%) và còn 72 người ( 25,17%) chưa được đào tạo trung cấp hành chính. Qua số liệu trên cho thấy: Về trình độ văn hóa nói chung là đạt yêu cầu, nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý Nhà nước còn thấp. Công chức cấp xã còn tới 23,07% chưa được đào tạo trung cấp chính trị; ( 25,17%) chưa được đào tạo trung cấp hành chính. Nhu cầu bồi dưỡng CBCC Theo quy định của Luật CBCC, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, ngoài việc hướng dẫn tập sự, các cơ quan quản lý, sử dụng CB, CC phải thực hiện 3 chế độ đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm: Tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch cho cán bộ,công chức; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo các chức danh lãnh đạo, quản lý; Tổ chức bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ chuyên ngành hằng năm (tối thiểu 05ngày/năm). Để triển khai thực hiện các chế độ đào tạo, bồi dưỡng nêu trên, đến năm 2015, phải tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức cho khoảng 700 lượt CB, CC; bồi dưỡng theo các chức danh lãnh đạo, quản lý cho 3000 lượt cán bộ cấp xã.Hằng năm, tổ chức bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho 1500 cán bộ, công chức cơ sở. 2.2. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp cơ sở của huyện Nho Quan Trước tình hình thực tế đội ngũ CBCC cơ sở (xã, thị trấn) của địa phương, qua việc xác định nhu cầu ĐTBD CBCC cấp cơ sở, ban lãnh đạo huyện Nho Quan đã xây dựng chương trình, kế hoạch ĐTBD CBCC cấp cơ sở, dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác ĐTBD CBCC. Mục tiêu cụ thể đến năm 2015, về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: - 90% cán bộ cấp xã có trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định; + 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc; + 95% công chức cấp xã vùng đô thị, vùng đồng bằng; 90% công chức cấp xã vùng núi có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên; + 70 đến 80% công chức cấp xã thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm. - 100% người hoạt động không chuyên trách được bồi dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. - 100% đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động trong năm 2011 và nửa đầu năm 2012. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng : - Lý luận chính trị: Trang bị trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho các chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý. Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật, nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. - Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước: Trang bị kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo chương trình quy định cho công chức các ngạch và theo chức vụ lãnh đạo, quản lý. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý chuyên ngành và vị trí việc làm theo chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm. Bồi dưỡng văn hóa công sở. - Kiến thức hội nhập. - Tin học, ngoại ngữ chuyên ngành; tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức công tác tại các vùng có dân tộc thiểu số sinh sống. Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện phối hợp với trung tâm chính trị tỉnh Ninh Bình mở các lớp trung cấp chính trị tại chức, liên kết với các trường mở các lớp ĐTBD chuyên môn nghiệp vụ. Quy hoạch lại đội ngũ CBCC cơ sở, những CBCC chưa đạt tiêu chuẩn hoặc còn thiếu các kiến thức về quản lý Nhà nước, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ sẽ được cử đi học các lớp ĐTBD. Cụ thể hóa, thể chế hóa vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ; hoàn thiện chế độ bầu cử, cơ chế tuyển chọn cán bộ, công chức; cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm và từ chức của cán bộ; cơ chế sàng lọc, thay thế những người kém phẩm chất và năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ; cơ chế đảng viên và nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Mở rộng quyền đề cử, tự ứng cử và giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn. Tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm sự đồng bộ, kế thừa và phát triển. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo chức danh, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ giai đoạn mới. Củng cố, nâng cao chất lượng các học viện, trường, trung tâm chính trị - hành chính. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học trong cả nước và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị. Huy động mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ. Các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên lãnh đạo, chăm lo kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ; chống quan liêu, thiếu trung thực, khách quan và các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. Kinh phí cho hoạt động ĐTBD CBCC được lấy từ ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật, bên cạnh đó chính quyền địa phương cũng có sự hỗ trợ về tài chính nhất định cho các đối tượng CBCC được cử đi học. 2.3. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở của huyện Nho Quan Công tác bồi dưỡng cán bộ: Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, Thực hiện kế hoạch của tỉnh, huyện đã cử 569 lượt cán bộ, công chức xã đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội chuyên sâu, đào tạo tin học, kế toán, quân sự, bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và công tác tôn giáo…. Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện đã mở trên 135 lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, kỹ năng nghiệp vụ cho 5987 lượt cán bộ, công chức xã: Bồi dưỡng công tác tuyên giáo cơ sở và dư luận xã hội; công tác xây dựng đảng, kiểm tra, dân vận, công tác mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh; Bồi dưỡng thanh tra nhân dân; Chương trình xoá đói giảm nghèo. Ngoài ra còn mở lớp theo kế hoạch Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Bình: bồi dưỡng giáo dục Chủ nghĩa yêu nước, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc; bồi dưỡng tôn giáo và công tác tôn giáo ở cơ sở; giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh; bồi dưỡng Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới; bồi dưỡng giáo dục đạo đức lối sống… Như vậy, tính đến cuối năm 2012, huyện Nho Quan đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cho cán bộ, công chức xã, thị trấn trong huyện. Kết quả khoá học bồi dưỡng cho các cán bộ, công chức đạt được những thành tích đáng kể của những nhà tổ chức, điều đó chứng tỏ phương pháp giảng dạy, nội dung, đối tượng học phù hợp với thực tiễn của cấp chính quyền cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ chính quyền cơ sở hoạt động có hiệu quả cao; từ đó nhằm chuyên môn hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở từ chính những cán bộ, công chức hiện đang năm giữ những vai trò chủ chốt. Công tác đào tạo cán bộ, công chức: Nhận thức được vị trí vai trò của cán bộ, công chức cấp xã, huyện Nho Quan đặc biệt chú trọng đến vấn đề đào tạo lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý hành chính cho đối tượng là cán bộ, công chức cấp xã. Trong những năm qua, huyện đã cử cán bộ, công chức đi học tập trung, tổ chức các lớp trung cấp chuyên môn nghiệp vụ hệ tại chức. Cụ thể như sau: Từ năm 2007 đến năm 2012 huyện đã cử trên 500 lượt cán bộ, công chức cấp xã đi học nâng cao trình độ. Trung tâm bồi dưỡng chính trị Huyện Nho Quan đã đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ về chính trị cho cán bộ, đảng viên và đặc biệt quan tâm đến cán bộ, công chức xã: - Đào tạo 5 lớp sơ cấp chính trị tổng số 365 học viên trong đó có 165 cán bộ, công chức xã. Đào tạo 17 lớp đối tượng phát triển đảng, 15 lớp đảng viên mới và cấp giấy chứng nhận 2896 học viên trong đó có 1125 cán bộ, công chức xã. - Phối hợp với Trung tâm Chính trị Tỉnh Ninh Bình mở 3 lớp trung cấp chính trị tại chức đào tạo 348 học viên trong đó có 129 cán bộ, công chức xã. Qua các số liệu trên cho chúng ta thấy, huyện Nho Quan rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã. Đây cũng là một công việc thực hiện nghiêm túc, trong chiến lược của Đảng và Nhà nước về việc xác định tầm quan trọng của chính quyền cơ sở tại các địa phương và yếu tố nòng cốt là đổi mới con người, đầu tư cho con người để từ đó bộ máy hành chính nhà nước vận hành hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung. Thực trạng việc sử dụng các cán bộ, công chức sau đào tạo Qua điều tra, khảo sát thực tế, cán bộ, công chức cấp xã của huyện Nho Quan đã học xong trung cấp hành chính, trung cấp chính trị của từ năm 2007 đến 2012 như sau: STT Thực trạng Đơn vị Tổng số HV đã học Bố trí công tác Đề bạt cao hơn Chuyển công tác khác Nghỉ công tác Chưa sử dụng SL % SL % SL % SL % SL % 1 Xã Đồng Phong 18 12 66,7 4 22,2 1 5,6 1 5,6 0 0 2 Xã Yên Quang 14 8 57,1 2 14,3 3 21,4 0 0,0 1 7,1 3 Xã Văn Phương 11 8 72,7 2 18,2 1 9,1 0 0,0 0 0,0 4 Xã Phú Sơn 13 9 69,2 1 7,7 2 15,4 1 7,7 0 0,0 5 Xã Gia Lâm 15 11 73,3 2 13,3 1 6,7 1 6,7 0 0,0 6 Xã Gia Sơn 18 12 66,7 3 16,7 1 5,6 1 5,6 1 5,6 7 Xã Thạch Bình 20 14 70,0 3 15,0 1 5,0 1 5,0 1 5,0 8 Xã Kỳ Phú 16 12 75,0 1 6,3 1 6,3 1 6,3 1 6,3 9 Xã Quỳnh Lưu 15 11 73,3 2 13,3 1 6,7 0,0 1 6,7 10 Xã Sơn Lai 14 12 85,7 1 7,1 1 7,1 0,0 0 0,0 Tổng 154 109 70,8 21 13,6 13 8,4 6 3,9 5 3,2 (Số liệu tổng hợp của phòng Nội vụ tháng 12/2012 về việc sử dụng CBCC cơ sở sau đào tạo trên địa bàn huyện) Từ số liệu cho thấy: Do các cấp uỷ, chính quyền địa phương làm khá tốt công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ nên số học viên học xong, hầu hết được bố trí công tác (70,8%) đây là tỷ lệ cao so với một số tỉnh khác. Trong đó, số được đề bạt chức vụ cao hơn (21 đồng chí chiếm tỷ lệ 13,6 %). Số cán bộ, công chức được đào tạo đại đa số đều phát huy tác dụng tốt, được cấp uỷ chính quyền địa phương tin tưởng, nhiều đồng chí được đề bạt chức vụ cao hơn. Bên cạnh đó, một số đồng chí nghỉ công tác, phần lớn là do khách quan, một số ít đồng chí do vi phạm kỷ luật. Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở của huyện Nho Quan 3.1.Những mặt đạt được Hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; cùng với cả nước tỉnh Ninh Bình đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Những thành tựu đó đã củng cố thêm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng gắn bó mật thiết hơn. Quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng cùng với quá trình cải cách, cải cách bộ máy Nhà nước và cải cách nền hành chính quốc gia, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được tăng cường, uy tín và quyền lực chính trị của Đảng ngày càng được nâng cao. Tổ chức cơ sở Đảng đã phát huy được trí tuệ tập thể các cấp uỷ, dân chủ, bàn bạc đề ra được các chủ trương sát, đúng, mang lại hiệu quả thiết thực được nhân dân tin tưởng và thừa nhận. Các Đảng bộ cơ sở đã làm tốt công tác lãnh đạo xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền cơ sở và chính quyền cơ sở đã chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, giữ vững ổn định chính trị, giữ vững bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa. - Những thành tựu công cuộc đổi mới trong những năm qua, có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở. Đồng thời những chuyển biến tích cực của đời sống xã hội ở cơ sở, thúc đẩy chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ này. Nhìn lại đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, thị trấn trong huyện cho thấy: - Phần lớn cán bộ cơ sở có phẩm chất đạo đức tốt, nhiều đồng chí là bộ đội, đảng viên xuất ngũ về địa phương. Tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, không dao động trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, không mơ hồ về chính trị. Nhiều đồng chí đã được rèn luyện trong quân đội, còn lại là trưởng thành trong phong trào ở địa phương. Mặc dù còn có khó khăn về nhiều mặt, nhưng đa số cán bộ cơ sở vẫn rất nhiệt huyết tận tụy với công việc, khắc phục khó khăn, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật và có uy tín với nhân dân. - Trong cơ chế mới, đội ngũ cán bộ cơ sở từng bước đổi mới và trẻ hóa. Một bộ phận cán bộ có bước trưởng thành nhanh chóng, chủ động, năng động tháo gỡ khó khăn đưa sản xuất ở cơ sở phát triển, tạo điều kiện cho tình hình kinh tế - xã hội có bước chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước ở cơ sở. - Qua thực tế công tác, qua đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, trình độ và năng lực công tác ngày càng được nâng cao. Trong đó, 100% có trình độ văn hóa từ phổ thông cơ sở trở lên, số đông có trình độ văn hóa phổ thông trung học. Ngày càng nhiều cán bộ được đào tạo cơ bản về trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý Nhà nước, nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng nhanh, nhạy nắm bắt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, làm việc năng động và có hiệu quả hơn. Một bộ phận cán bộ cơ sở biết làm kinh tế đi đầu trong phong trào xóa đói, giảm nghèo, có nhiều đóng góp trong quá trình đổi mới. 3.2.Những tồn tại, hạn chế Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, yêu cầu lãnh đạo quản lý nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ cơ sở cũng bộc lộ nhiều điều bất cập. - Chất lượng, hiệu quả hoạt động năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ Đảng, hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền cơ sở còn chưa cao, có cán bộ sa sút ý chí, thoái hóa biến chất, mất uy tín, vi phạm kỷ luật bị quần chúng chê trách. - Trình độ văn hóa, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý Nhà nước tuy đã được nâng lên nhưng vẫn chưa cao. Năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Việc quản lý điều hành của chính quyền ở một số địa phương còn mang nặng tính hành chính, còn có biểu hiện thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo của cấp trên. Một bộ phận cán bộ được đào tạo trong cơ chế cũ, khi chuyển sang cơ chế mới không còn phù hợp nữa, được đào tạo lại và bổ sung. - Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong những năm gần đây dù đã được tỉnh quan tâm nhưng số được đào tạo cơ bản chưa được nhiều, chưa đồng bộ và chưa gắn chặt giữa đào tạo với quy hoạch, kế hoạch sử dụng cán bộ. Vì vậy, một số cán bộ còn thiếu những kiến thức cư bản, lúng túng trong xử lý các vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở, một số cán bộ còn có biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng. 3.3.Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế - Do lịch sử để lại, đội ngũ cán bộ cơ sở được hình thành qua bầu cử thiếu những tiêu chuẩn cụ thể về trình độ, năng lực. Qua các kỳ bầu cử đại hội biến động nhiều, thiếu ổn định, chưa được chuyên môn hoá, thiếu yên tâm trong công tác. Sự phân công, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương ở một số nơi chưa thật rõ ràng, cụ thể. Việc hướng dẫn của cơ quan cấp trên có việc còn chưa thật thống nhất, chưa sát thực tế, gây lúng túng cho địa phương khi triển khai thực hiện chưa cụ thể hóa cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. - Quy mô, đặc điểm của các xã, thị trấn khác nhau, đặc điểm dân cư, ngành nghề khác nhau…nhưng mô hình tổ chức bộ máy, công tác chỉ đạo lại giống nhau, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trong giai đoạn cách mạng mới. - Trong thực tiễn hiện nay công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa trở thành quy chế bắt buộc đối với từng loại cán bộ. Chưa có quy hoạch và kế hoạch dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Nội dung, chương trình đào tạo còn mang nặng tính lý luận chung, chưa thật chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho từng chức danh cụ thể. Chính sách cho người dạy, người học chưa đồng bộ và chưa khuyến khích được người dạy giỏi, học giỏi. - Do tác động mặt trái của kinh tế thị trường cộng với sự yếu kém trong việc tu dưỡng của một số cán bộ cơ sở, công tác quản lý cán bộ có nơi còn chưa chặt chẽ, việc thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm chưa kịp thời, có trường hợp chưa nghiêm. Tệ quan liêu, cửa quyền, thiếu dân chủ, tình trạng tham ô, lãng phí đã xuất hiện ở một số cán bộ cơ sở… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐTBD CBCC CẤP CƠ SỞ (XÃ, THỊ TRẤN) TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH 1. Xây dựng quy hoạch cán bộ Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là công tác phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước. Với vai trò quan trọng như vậy, công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn được coi là khâu quan trọng, then chốt nhằm tạo sự chủ động, khoa học trong công tác cán bộ. Công tác quy hoạch cán bộ phải từ nhiệm vụ chính trị của xã, nhiệm vụ tổ chức đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ hiện có, dự kiến nhu cầu và khả năng phát triển của đội ngũ cán bộ để chủ động có phương hướng đào tạo, bồi dưỡng. Đặc biệt chú trọng tạo được nguồn cán bộ dồi dào, đủ tiêu chuẩn để kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. 2.Xác định nhu cầu đào tạo, gắn kết đào tạo với sử dụng CBCC Một vấn đề quan trọng để cải tiến công tác đào tạo, bồi dưỡng là phải đổi mới tư duy, quan điểm cũng như cách tiếp cận. Đào tạo, bồi dưỡng không thể tách rời mà phải gắn với việc sử dụng CBCC, tức là đào tạo, bồi dưỡng CBCC theo vị trí việc làm, tránh đào tạo, bồi dưỡng sai địa chỉ, không đúng mục đích, đào tạo tràn lan, thiếu định hướng rõ ràng mà hậu quả ai cũng thấy là "số lượng đào tạo, bồi dưỡng khá lớn mà vẫn chưa khắc phục được tình trạng hụt hẫng cán bộ". Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là một khâu quan trọng trong cả quá trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC. Để tránh lãng phí trong đào tạo, cần tiến hành điều tra tổng thể trình độ và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng. Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC là "khoảng trống" giữa cái "thực trạng" và cái "yêu cầu". Vấn đề đặt ra cho khoá đào tạo, bồi dưỡng là "lấp" được "khoảng trống" đó. Để xác định được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng thì phải  đánh giá được thực trạng đội ngũ CBCC. Bởi vì đánh giá đúng "thực trạng", mới xác định đúng "nhu cầu" đào tạo, bồi dưỡng CBCC. 3.Xây dựng kế hoạch ĐTBD CBCC cấp cơ sở theo nhu cầu đã được xác định UBND huyện cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tào bồi dưỡng CBCC cấp cơ sở. Kết hợp với các cơ sở đào tạo bồi dưỡng xây dựng chương trình, nội dung giảng dạy phù hợp với thình hình thực tế tại địa phương. Chú ý nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học bên cạnh những kiến thức chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cơ sở để đáp ứng nhu cầu trong tình hình đất nước đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Sau khi đã xác định được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng CBCC theo vị trí việc làm, cần tiến hành xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC hàng năm và dài hạn cả trong nước và nước ngoài, đảm bảo tính cụ thể và thiết thực, đào tạo để nâng cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ, chứ không đào tạo từ đầu, xây dựng kế hoạch đào tạo đến từng loại công chức. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần phải rõ ràng về mục tiêu, phải cụ thể, đo lường được, đảm bảo tính khả thi và có thời hạn cụ thể. Việc đào tạo, bồi dưỡng phải có trọng tâm, trọng điểm, đúng yêu cầu, đúng đối tượng, tránh lãng phí trong đào tạo, phải gắn với việc bố trí, sử dụng CBCC. 4.Đổi mới nội dung ĐTBD theo vị trí việc làm Công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay nặng về lý thuyết cơ bản, chưa quan tâm đến kỹ năng tác nghiệp của công chức; còn hiện tượng trùng lặp nội dung ở một số môn học đối với từng ngạch, bậc. Vì thế, cần phải lựa chọn kỹ lưỡng các nhóm kiến thức, mức độ, phạm vi cho thật phù hợp với từng loại đối tượng. Ngoài những nội dung chung quy định đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức HCNN được quy định, xuất phát từ những yếu kém của đào tạo trong thời gian qua, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mà CBCC đang bị hẫng hụt hoặc không cập nhật khi chuyển sang kinh tế thị trường: quản lý kinh tế, kiến thức Nhà nước và pháp luật, về khoa học tổ chức và quản lý, quản lý nguồn nhân lực…; Kỹ năng thực hành công vụ, nhất là cách xử lý tình huống, thủ pháp điều chỉnh chiến lược và tổ chức phối hợp hoạt động quản lý. 5.Đổi mới phương pháp ĐTBD Đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng là vấn đề cốt lõi của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của đội ngũ CBCC cơ sở. Phương pháp đào tạo hiện đang sử dụng theo phương pháp truyền thống là "lên lớp" "thuyết trình": giảng viên giảng bài - học viên nghe và ghi chép, tức là thông tin một chiều. Để tổ chức được khoá học có hiệu quả, giảng viên phải lựa chọn được phương pháp truyền thụ kiến thức hai chiều giảng viên ↔ học viên để đạt được mục đích của đào tạo, bồi dưỡng. Một phương pháp mà hiện nay được các nước phương tây áp dụng rất hiệu quả: Đó là Phương pháp cùng tham gia (trao đổi) thực hiện cả bốn loại mục đích cơ bản gần như đồng thời là kiến thức nghiệp vụ, phương pháp, đạo đức công vụ và kỹ năng giao tiếp. Phương pháp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo phương pháp cùng tham gia có ưu điểm nổi trội so với phương pháp giảng dạy truyền thống là CBCC nhận thức tích cực nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Qua các bài tập tình huống, học viên sẽ trau dồi phương pháp và kỹ năng tổ chức, thực hiện công vụ được giao, học hỏi được cách thiết lập quan hệ với mọi người (một nội dung rất quan trọng trong thực tế hoạt động công vụ của người công chức). Thông qua việc được trực tiếp thảo luận, được tự làm và được tự đánh giá kết quả làm việc của mình, học viên sẽ nhận thức một cách sâu sắc hơn vấn đề đặt ra và kinh nghiệm hoạt động công vụ… 6.Thường xuyên đánh giá sau ĐTBD Đánh giá đào tạo, bồi dưỡng là bước đi vô cùng quan trọng trong chuỗi quá trình đào tạo khép kín. Đánh giá đào tạo, bồi dưỡng là để xem có đạt mục tiêu đề ra không, nội dung, chương trình có phù hợp, học viên áp dụng được gì sau đào tạo, bồi dưỡng. Việc đánh giá đào tạo, bồi dưỡng cũng nhằm phát hiện những lỗ hổng, sự bất hợp lý, phi thực tế của quá trình đào tạo, để từ đó nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho CBCC. Hầu hết các khóa học đào tạo, bồi dưỡng đều có đánh giá chương trình đào tạo, bồi dưỡng như: đánh giá phản ứng của người học về nội dung, chương trình, giảng viên, cách tổ chức…; đánh giá kết quả học tập thông qua những bài kiểm tra để biết học viên tiếp thu được gì từ khóa học. Tuy nhiên, nội dung đánh giá vô cùng quan trọng để biết được mục tiêu khóa học có đạt được không để có hướng điều chỉnh cho phù hợp hiện đang bị bỏ ngỏ, đó là việc đánh giá những thay đổi trong công việc, xem người học đã áp dụng được những điều đã học vào công việc, những thay đổi đối với việc thực hiện công việc như thế nào. Từ đó, đánh giá tác động, hiệu quả của tổ chức xem việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC có tác động, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức hay không. KẾT LUẬN Công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã đạt được những thành tựu to lớn. Trong thành tựu chung đó, có sự đóng góp đáng kể của hệ thống chính trị cơ sở, của đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn. Những thành tựu đạt được đã tạo tiền đề nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thực tiễn chứng minh rằng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ cấp xã là kết quả của sự phối hợp giữa công tác tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, và bồi dưỡng cán bộ phải là một quá trình phối hợp chặt chẽ, nhất quán. Nếu tách riêng công tác đào tạo, bồi dưỡng thì không thể đánh giá hết được hiệu quả đào tạo. Thực hiện phương châm “Trình độ tương xứng với chức danh, bầu cử theo nhiệm kỳ, bổ nhiệm có thời hạn, giao việc phù hợp với năng lực, trình độ, đúng tầm và thay thế kịp thời khi cần thiết”. Xã, thị trấn là nơi sát dân nhất, nơi tiếp nhận và chuyển tải mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với từng người từng nhà, từng dòng họ… đồng thời là nơi báo cáo, phản ánh kết quả và phản hồi lên cấp trên những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để cấp trên kịp thời bổ sung, hoàn thiện các chủ trương chính sách. Phong trào của nhân dân phải có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, do vậy đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới hiện nay là tất yếu và cấp thiết. Để thực hiện tốt hơn chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, cần chú ý đồng bộ các khâu: Tuyển chọn, quy hoạch, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo bồi dưỡng. Có thêm chính sách cần thiết để khuyến khích những người dạy và người học. Cán bộ là cốt lõi của công việc, muốn nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã đáp ứng yêu cầu Nghị quyết TW 5 thì cần thiết phải có đội ngũ cán bộ xã có lòng trung thành với đất nước, với nhân dân, có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ sâu sắc, có khả năng và kinh nghiệm công tác vững vàng, sáng tạo, năng động, dám nghĩ, dám làm, có hiệu quả công tác cao. Hay nói một cách khác có trí thức, có năng lực tư duy, có đức, có tài… DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Luật Cán bộ công chức năm 2008 2.Nghị định số 18/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức. 3.Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 20/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn. 4.Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với CBCC xã, phường, thị trấn. 5.Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về chế độ chính sách đối với CBCC xã, phường, thị trấn. 6.Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ về chương trình Tổng thể Cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020. 7.Quyết định 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2011-2015 8.Giáo trình “ Nhân sự Hành chính Nhà nước ” của Học viện Hành chính 9.Một số tài liệu, văn bản do phòng Nội vụ huyện Nho Quan cung cấp.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbao_cao_thuc_tap_nguyen_thi_hong_hiep_5577.doc
Luận văn liên quan