Đề tài Du lịch Quảng Ninh, thực trạng và giải pháp

Xu thế phát triển du lịch cho thấy: bất kể nước nào muốn phát triển du lịch đều phải có môi trường du lịch lành manh, an ninh xã hội tốt, chế độ chính trị ổn định. Thường thì tại các khu vực, các nước mà thường xuyên xảy ra những xung đột tôn giáo, xung đột đảng phái, hay xảy ra chiến tranh, đình công, phản loạn thì du lịch không phát triển. Vì lo ngại cho sự an nguy của bản thân, nên du lịch của đất nước đó sẽ không tạo ra sức hút đối với du khách. Vì thế, du khách thường sẽ chỉ thích và tìm đến những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị ổn định hơn.

pdf112 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 6355 | Lượt tải: 42download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Du lịch Quảng Ninh, thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bản. Thị trường chính cần tiếp thị là những khách Hàn Quốc đã là cựu chiến binh ở Việt Nam. Sản phẩm du lịch tiếp thị bao gồm: du lịch tham quan vịnh, du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử,… - Thị trường khách Đài Loan: Thị trường này cũng sẽ chiếm một tỷ lệ cao về số lượng trong tương lai, nhưng khách Đài Loan thanh toán không nhiều. Cần nhiều dịch vụ vui chơi giải trí, ồn ào náo nhiệt. Có thể đáp ứng những sản phẩm du lịch sau: 82 + Du lịch nghỉ biển (vịnh Hạ Long-Tuần Châu- Quan Lạn). + Du lịch tham quan vịnh. + Du lịch vui chơi giải trí: Hạ Long, Móng Cái. - Thị trường khách Hồng Kong và các nước Đông Nam Á là những thị trường tiềm năng. Đối với các loại thị trường này cần phát triển các sản phẩm du lịch: tham quan, du lịch mạo hiểm, vui chơi giải trí, hội nghị, hội thảo,… - Về chiến lược thị trường: Tăng cường quảng cáo ra nước ngoài, thông tin du lịch đến các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á; mở rộng quan hệ hợp tác với các công ty lữ hành ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN,… tiếp cận và khai thác các thị trường du lịch tiềm năng như: - Thị trường khách Nhật Bản, khách đi nghỉ tuần trăng mật, người về hưu, và những người đã thành đạt. - Thị trường du lịch cựu chiến binh Hàn Quốc. - Thị trường đi du lịch bằng tàu biển của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hong Kong. - Thị trường khách tham dự hội nghị, nghiên cứu: bao gồm tất cả các nước trong Châu Á.  Châu Úc: - Thị trường Châu Úc: Phần lớn sẽ là các đối tượng khách du lịch là sinh viên, học sinh, công chức. Các sản phẩm du lịch đáp ứng thị trường này bao gồm: + Du lịch tham quan vịnh, đảo, các hang động: chiếm tỷ lệ cao nhất. + Du lịch sinh thái: vịnh Hạ Long- Vân Đồn. + Du lịch mạo hiểm: lặn biển, câu cá. + Du lịch văn hóa, lịch sử: chiếm tỷ lệ thấp. + Du lịch tàu biển…. + Du lịch lễ hội chủ yếu đối với Việt kiều quốc tịch ở Úc. - Thị trường Newzeland: Chiếm số đông là các loại khách thuộc lứa tuổi trung niên, thanh niên với các sản phẩm du lịch chính là: + Du lịch thể thao mạo hiểm: lặn biển, lướt ván (Hạ Long, Bái Tử Long); + Du lịch tham quan vịnh, đảo, hang động; + Du lịch sinh thái Hạ Long-Vân Đồn-Hoành Bồ. 83  Châu Mỹ: - Thị trường khách Mỹ: chú trọng việc khai thác các loại khách du lịch là cựu chiến binh, Việt Kiều, thanh niên với các sản phẩm du lịch là: + Du lịch sinh thái: vịnh Hạ Long- Vân Đồn- Hoành Bồ; + Du lịch tham quan vịnh; + Du lịch tàu biển có nhiều tiềm năng; + Du lịch lễ hội (chủ yếu đối với Việt kiều quốc tịch Mỹ). - Thị trường Canada: Chủ yếu là những khách du lịch thuộc các tầng lớp thanh niên, trung niên với các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch tham quan là chủ yếu.  Châu Âu: - Thị trường Pháp: Khách du lịch bao gồm nhiều thành phần khác nhau thuộc nhiều lứa tuổi từ thanh niên đến trung niên và những người nghỉ hưu. Các sản phẩm du lịch đáp ứng bao gồm: + Du lịch tham quan vịnh; + Du lịch sinh thái: Hạ Long, Vân Đồn, Hoàng Bồ… + Du lịch nghỉ dưỡng; + Du lịch mạo hiểm; + Du lịch văn hóa, lịch sử… + Du lịch lễ hội chủ yếu đối với Việt kiều quốc tịch Pháp. - Các thị trường khác là Đức, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch: tương tự như thị trường Pháp. Riêng thị trường Anh cần khai thác khách du lịch tàu biển. Thị trường khách du lịch Đông Âu thiên về tham quan vịnh và nghỉ dưỡng. Như vậy, chiến lược thị trường khách du lịch nói chung là tập trung vào loại khách thuộc các thị trường Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc. Trong đó những thị trường then chốt cần ưu tiên hàng đầu là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc và ASEAN. b) Khách du lịch nội địa. Trên nhiều phương tiện thông tin, người dân cả nước đều biết ở Quảng Ninh có nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng kỳ quan Vịnh Hạ Long vẫn có sức hấp dẫn nhất và là điều mong ước của nhiều người muốn đến tận nơi để chiêm ngưỡng, thưởng thức. 84 Với nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, thì nhu cầu du lịch của nhân dân ngày càng lớn. Khách du lịch nội địa đến Quảng Ninh chủ yếu là khách Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Một bộ phận không nhỏ khách các tỉnh miền Nam và TP HCM khi đến du lịch Thủ đô đã đến Hạ Long theo tour du lịch TP HCM-Hà Nội- Hạ Long. Phương tiện chủ yếu của khách du lịch đến Quảng Ninh là đi ô tô Hà Nội-Hạ Long theo quốc lộ 5, quốc lộ 1 và quốc lộ 18, một bộ phận đi ô tô, tàu hỏa Hà Nội- Hải Phòng và đi tàu thủy đến Hạ Long theo tour Hà Nội-Cát Bà-Hạ Long. Tuyến đường sắt Kép-Hạ Long được nâng cấp sẽ thu hút được nhiều khách du lịch nội địa ở các tỉnh Bắc Giang-Lạng Sơn-Cao Bằng… Khách du lịch nội địa đến Quảng Ninh năm 2008 đạt 2,402,964 lượt khách. Trong thời gian tới cần đầu tư đồng bộ cho ngành du lịch để thu hút khách nội địa đến Quảng Ninh ngày càng nhiều hơn, lượng khách lưu trú cũng nhiều ngày hơn con số đó vào năm 2015 có khả năng đạt được là 4,5 triệu lượt khách. Khách du lịch nội địa đến Quảng Ninh bao gồm nhiều lứa tuổi, nhiều thành phần khác nhau. Các đối tượng chính là: - Khách nghỉ cuối tuần: chủ yếu là khách từ Hải Phòng, Quảng Ninh và khu vực lân cận. - Khách tham quan, nghỉ dưỡng biển ở Hạ Long, Trà Cổ: từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. - Khách đi tour trọn gói Hà Nội- Hạ Long- Bái Tử Long- Trà Cổ- Móng Cái, chủ yếu là khách từ Hà Nội, các tỉnh phía Nam và TP HCM. - Khách đi nghỉ tuần trăng mật: các cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội, các tỉnh phía Bắc. - Thanh niên, học sinh ở địa phương, Hà Nội và phụ cận. Cần chú trọng phát triển đồng bộ các sản phẩm du lịch để thu hút khách du lịch đến quanh năm nhất là vào mùa thu và mùa xuân, giảm bớt lượng khách có thu nhập thấp đến mùa hè, đảm bảo biểu đồ khách du lịch đồng đều quanh năm. 2.3.2. Định hướng doanh thu du lịch và cơ cấu chỉ tiêu của khách du lịch a) Doanh thu từ du lịch Doanh thu từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu mà do khách du lịch chi trả như: Doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm hàng hóa và các dịch 85 vụ bổ sung khác như bưu điện, y tế, bảo hiểm, dịch vụ vui chơi giải trí. Hiện nay ở Quảng Ninh mỗi ngày khách du lịch quốc tế chi tiêu 90 - 100 USD, du lịch nội địa chi tiêu khoảng 15 -20 USD. Những năm tới khi các sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng, chất lượng được nâng cao thì mức độ chi tiêu của khách du lịch cũng được tăng lên. Dự kiến mức độ chi tiêu của khách du lịch và tổng doanh thu xã hội từ du lịch của Quảng Ninh trong từng thời gian phục vụ được dự tính như sau: b) Cơ cấu doanh thu du lịch. Quảng Ninh có lợi thế về thắng cảnh vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, du lịch biển- đảo, nên thời gian qua doanh thu từ lữ hành chiếm tỷ trọng lớn. Trong tương lai doanh thu từ lữ hành vẫn là thế mạnh, có ưu thế nổi trội, bởi khách đến Quảng Ninh ngoài lượng khách có lưu trú, thì khách đến trong ngày chủ yếu là khách du lịch lữ hành. Để khuyến khích khách du lịch thì tỷ trọng doanh thu từ khách sạn ngày càng giảm (giá phòng khách sạn được xếp hạng có thể tăng đối với khách có thu nhập cao, trong khi giá phòng khách sạn mini, nhà nghỉ không tăng để thu hút du lịch có thu nhập thấp, mà lượng khách có thu nhập thấp lại chiếm tỷ trọng lớn). Tỷ trọng doanh thu từ ăn uống có thể duy trì ở mức 13,3% là phù hợp. Ngược lại nên tăng doanh thu từ dịch vụ khác như mua sắm, vui chơi giải trí, casino,… 2.3.3. Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch a) Căn cứ để xác định sản phẩm du lịch. - Các ưu thế về cảnh quan vùng Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, các hang động, bãi biển, các đảo, các di tích lịch sử, văn hóa,… - Các nhu cầu du lịch của khách. Kinh tế càng phát triển, thu nhập và đời sống của người dân ngày càng cao và nhu cầu đi du lịch để tìm cái mới lạ ngày càng tăng. Trong quá trình làm việc căng thẳng trong thời gian nghỉ mong muốn tìm đến nơi yên tĩnh có cảnh đẹp để nghỉ ngơi thư giãn. Đời sống càng cao, giao thông đi lại thuận tiện, người dân có nhu cầu tìm lại cội nguồn. 86 - Khác với các sản phẩm hàng hóa khác giữa cung và cầu thường mâu thuẫn nhau. Trái lại đối với sản phẩm du lịch thì giữa cung và cầu có mối quan hệ với nhau, đòi hỏi các cấp quản lý du lịch phải nắm được nhu cầu, chọn đúng thời cơ để tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu của khách du lịch. b) Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch Quảng Ninh.  Các sản phẩm du lịch đặc trưng. - Du lịch gắn liền với cảnh quan thiên nhiên: nghỉ mát, tắm biển, vui chơi ở công viên, tham quan các hang động. - Du lịch sinh thái: Tham quan các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên các mô hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản, các miệt vườn, vườn đồi, vườn rừng. - Du lịch thể thao, mạo hiểm: Bơi thuyền, lướt ván, lặn biển, nhảy dù, các hoạt động thể thao trên biển, mô tô nước, leo núi. - Du lịch văn hóa: Tham quan bảo tang, kiến trúc đô thị, di tích lịch sử, di tích văn hóa, lễ hội nghệ thuật múa hát. - Du lịch tham quan khai thác mỏ than: Khách du lịch được đến tận hiện trường tham quan quy trình, công nghệ khai thác than và thăm Bảo tàng truyền thống ngành than. - Du lịch quá cảnh, mua sắm ở Móng Cái và qua cửa khẩu sang thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc).  Các sản phẩm du lịch hỗ trợ. - Nghỉ cuối tuần. - Hội nghị, hội thảo kết hợp du lịch. - Nghiên cứu văn hóa, khoa học kết hợp du lịch. - Các hội chợ thương mại kết hợp du lịch. - Casino. 2.3.4. Định hướng phát triển nguồn lao động phục vụ du lịch Định hướng đến năm 2015, ngành du lịch Quảng Ninh thu hút khoảng 23 ngàn lao động trực tiếp. Trong đó số lao động có trình độ Đại học và trên Đại học chiếm 40%, trình độ Trung cấp chiếm khoảng 25%. Ngoài lao động chuyên ngành du lịch 87 thì ngành du lịch còn tạo việc làm thu hút lao động xã hội vào làm dịch vụ du lịch năm 2015 khoảng 28 nghìn lao động, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập, nâng cao mức sống của dân cư, xóa đói giảm nghèo. 2.3.5. Định hướng phát triển cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch Dự báo đến năm 2010 Quảng Ninh cần có 12,800 phòng khách sạn, đến năm 2015 cần có 18.300 phòng khách sạn. Hoàn thiện và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí và dịch vụ du lịch tại các trung tâm, các khu du lịch trọng điểm của tỉnh. 3. Những giải pháp nhằm phát triển du lịch tại tỉnh Quảng Ninh 3.1. Về phía nhà nước, chính quyền tỉnh Quảng Ninh Trong những năm qua, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong công tác quản lí, song, việc tổ chức quản lí du lịch vẫn còn gặp không ít khó khăn do tình trạng lộn xộn của một thời bung ra người người làm du lịch, nhà nhà làm du lịch, các cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đều có hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh, xây cất khách sạn, nhà nghỉ tùy tiện, cảnh quan, vệ sinh môi trường du lịch ít được quan tâm, hoạt động kinh doanh du lịch không đuộc quản lí chặt chẽ. Công tác quản lí Nhà nước về du lịch không cần được quan tâm tập trung vào việc lập và thực hiện quy hoạch phát triển du lịch, huy động vốn, ban hành các chế độ quy định quản lí du lịch kịp thời, có hiệu quả, tôn tạo và giữ gìn tài nguyên, chính sách đầu tư, liên doanh, liên kết quốc tế và môi trường du lịch, an ninh quốc phòng, an toàn cho khách du lịch. Để đổi mới tổ chức quản lí du lịch trong tình hình mới, nhất thiết bộ máy quản lí Nhà nước trong lĩnh vực du lịch cần phải tổ chức gọn, nhẹ, năng động có hiệu lực cao theo cơ cấu ngành dọc và theo lãnh thổ. Bộ máy quản lí Nhà nước về du lịch phải thực hiện tốt chức năng làm tham mưu cho lãnh đạo các cấp hoạch định chiến lược, lập các chương trình phát triển, các kế hoạch và dự án phát triển du lịch; phải là người phối hợp với các ngành các cấp triển khai các hoạt động du lịch đạt hiệu quả cao, phải thường xuyên tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch, giáo dục và nâng cao nhận thức của nhân dân về lợi ích của du lịch và trách nhiệm đóng góp công sức vào sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh. 88 3.1.1. Tạo môi trường thuận lợi cho việc cạnh tranh, phát triển bền vững hoạt động du lịch Quảng Ninh Chính phủ Việt Nam cần phải thường xuyên kết hợp với Chính phủ các nước thống nhất tổ chức diễn đàn đầu tư du lịch hàng năm, nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch, khai thác hiệu quả và bền vững tiềm năng du lịch. Tạo điều kiện cho nhau tham dự các sự kiện du lịch quốc tế gắn với các hoạt động văn hóa, thể thao ở mỗi nước; tổ chức các tour du lịch gắn với chương trình nghệ thuật và di sản văn hóa; nghiên cứu khả năng kết nối tour, phối hợp tổ chức chương trình du lịch đường bộ (caravan), mở đường bay trực tiếp giữa các di sản văn hóa. Tăng cường hợp tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; tăng cường hợp tác giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân. Cần tạo môi trường thuận lợi, nhằm khuyến khích áp dụng các biện pháp tạo thuận lợi cho khách du lịch; tăng cường phối hợp tổ chức giao lưu giữa thanh niên, giữa các thành phố kết nghĩa và các di sản văn hóa, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, đơn vị tăng cường hợp tác phát triển du lịch. Cần phải đánh giá cao nỗ lực trong việc hình thành cơ chế hợp tác chung trong ngành du lịch của các Chính phủ. Cơ quan du lịch các nước cần thường xuyên trao đổi, thống nhất các chương trình và sớm đưa vào thực hiện. Việc triển khai liên kết hợp tác giữa các nước trong khu vực thành một điểm đến chung, hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao trong khu vực, góp phần quan trọng vào việc tăng cường củng cố mối quan hệ hợp tác toàn diện, thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân các nước. Nhà nước thực hiện chế độ bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Thực hiện mọi doanh nghiệp đều tiến hành hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Bình đẳng thể hiện ở chỗ: bình đẳng cơ hội, về điều kiện đầu tư, về quyền và nghĩa vụ, bình đẳng về khả năng cạnh tranh. Tránh tình trạng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quá được ưu đãi, chẳng hạn như chính sách vay vốn thủ tục đăng ký kinh doanh… còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện siết chặt theo một cơ chế chính sách không ổn định. 89 Thực hiện ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có vai trò lớn tong việc thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển mạnh và theo quy hoạch. Các hình thức ưu đãi có thể làm giảm lãi xuất vay vốn, miễn giảm thuế. Các doanh nghiệp cần có chính sách ưu đãi là:  Các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh doanh còn thiếu vắng, song lại mang tính hấp dẫn và tạo ra được thế mạnh cạnh tranh cao cho ngành trên thị trường cạnh tranh hiện tại và tương lai.  Các doanh nghiệp đầu tư vào các khu du lịch còn chưa phát triển, xa trung tâm, có ý nghĩa quan trọng chiến lược phát triển ngành, hiện tại hiệu quả mang lại thấp, khả năng thu hồi vốn lâu.  Các doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ trong cạnh tranh quốc tế. Đối với các loại doanh nghiệp này đòi hỏi quy mô, và vốn lớn, do vậy nhà nước tạo điều kiện mua bán cổ phần để tạo vốn và chia sẻ rủi ro, tạo điều kiện trong quá trình liên doanh, liên kết, tham gia các hiệp hội…  Bên cạnh việc ưu tiên các dự án đầu tư vào khu vui chơi giải trí để giảm dần tính mùa vụ thì nhà nước cũng cần có chế độ ưu đãi về thuế cho các cơ sở các doanh nghiệp kinh doanh phụ thuộc vào mùa vụ. Bởi lẽ trong một năm hầu như các cơ sở đó chỉ kinh doanh hai đến ba tháng trong khi các cơ sở vật chất kỹ thuật, tiền lương, điện nước,… vẫn phải duy trì quanh năm nên hiệu quả rất thấp. 3.1.2. Tập trung ưu tiên đầu tư vốn, công nghệ, xây dựng kết cấu hạ tầng Thời gian tới, Quảng Ninh nên đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư các dự án lớn phát triển những khu du lịch cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế, có khả năng cung ứng nhiều dịch vụ du lịch cùng lúc. Tỉnh cũng nên thu hút các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đặc biệt là các điểm, khu du lịch trọng điểm, đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút khách du lịch. Tập trung phát triển hệ thống cơ sở lưu trú, công trình dịch vụ du lịch một cách đồng bộ, đa dạng các loại hình dịch vụ trong một số cơ sở lưu trú. Nên ưu tiên hướng các dự án đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú vào những khu vực phát triển đô thị hoặc những khu du lịch trong tương lai. Đồng thời, phát triển các nhà hàng ăn uống, nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách, đặc biệt chú ý nâng cấp chất lượng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch quốc tế. Phát triển hệ thống các công trình vui chơi giải trí nhằm đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm 90 du lịch, tạo ra sức hấp dẫn của du lịch. Tập trung đầu tư để hình thành các khu vui chơi giải trí ở thành phố Hạ Long và các địa phương khác, cải tạo nâng cấp công viên, vườn hoa hiện có; đẩy nhanh tiến độ thi công các khu du lịch trên toàn tỉnh. Tôn tạo, nâng cấp, khai thác có hiệu quả các điểm di tích lịch sử văn hóa; tổ chức các lễ hội văn hóa dân tộc, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống văn hóa để phát triển du lịch. Bên cạnh đó, cần phải tập trung đầu tư vốn xây dựng kết cấu hạ tầng toàn tỉnh, liên tỉnh nhất là các vùng phụ cận xây cất đường xá, giao thông đường hàng không, đường bộ, đường thủy, đường sắt nhằm tạo thuận tiện cho sự di chuyển của các du khách đến du lịch tỉnh Quảng Ninh. Các địa phương và các ngành liên kết, phối hợp với nhau khẩn trương lập các chương trình và kế hoạch phục vụ phát triển du lịch, cụ thể hóa và điều chỉnh các kế hoạch, dự án phục vụ thiết thưc cho việc phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch đã đề ra. - Ngành giao thông công chính: Tập trung ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng, nhanh chóng nâng cấp hệ thống được 18 và đường 10, xây dựng các cầu lớn như cầu Tài Xá, cầu Bãi Cháy, các bến cảng trên đất liền và trên các đảo, nâng cấp phương tiện vận chuyển phục vụ du lịch, đảm bảo cung cấp đủ điện, nước, thông tin liên lạc cho sinh hoạt và du lịch. - Ngành công nghiệp và xây dựng: Ưu tiên thực hiện quy hoạch các khu du lịch, các điểm du lịch, các cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí phục vụ du lịch . - Ngành văn hóa: Tôn tạo các tài nguyên du lịch, phát triển các loại hình văn hóa, nghệ thuật phục vụ du lịch . - Ngành nông nghiệp: đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm phục vụ du lịch, chú trọng các đặc sản của địa phương, rau xanh, hoa quả. Trồng rừng, bảo tồn và tôn tạo các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các hệ sinh thái đặc biệt. - Ngành nội chính: đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất cho khách du lịch. Đảm bảo an ninh và an toàn tuyệt đối cho khách du lịch và các hoạt động du lịch . - Ngành du lịch: tăng cường công tác quản lí Nhà nước về du lịch. Phối hợp chặt chẽ với các ngành để đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ du lịch, chú trọng đội ngũ cán bộ quản lý và hướng dẫn viên du lịch, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng và có chất lượng. 91 3.1.3. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực Muốn phát triển nguồn nhân lực du lịch, về quản lý nhà nước, không chỉ cần sự tham gia của một số Bộ, Ngành liên quan trực tiếp như Giáo dụ & Đào tạo, Lao động - Thương binh & Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà cần có sự quan tâm, phối hợp hành động của rất nhiều Bộ, Ngành, địa phương, cơ sở. Do đó, để giải bài toán phát triển nguồn nhân lực du lịch, ngoài sự cố gắng nỗ lực chủ quan của ngành Du lịch, Nhà nước cần quan tâm, thực hiện những giải pháp chung đồng bộ từ cơ chế, chính sách, đầu tư, tài chính đến chương trình, nội dung giảng dạy, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên... Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực du lịch, ai cũng biết một điều giản dị rằng học cần phải đi đôi với hành, tức là yếu tố rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp đóng vai trò rất quan trọng. Các doanh nghiệp, người sử dụng lao động cần học sinh, sinh viên ra trường phải làm được việc ngay, có kỹ năng nghề nghiệp thực sự chứ không phải chỉ biết một mớ lý thuyết chung chung để rồi nhận người vào làm việc lại phải mất một thời gian để đào tạo lại. Nhưng với cơ chế, chính sách về giáo dục đào tạo như hiện nay thì cơ sở đào tạo khó có thể tạo ra được học sinh, sinh viên có kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Một số bất cập đã tồn tại từ nhiều năm nay là: Nhà nước quy định mức thu học phí cứng nhắc, không phù hợp, cơ sở đào tạo chỉ có thể cố gắng để đào tạo cho học sinh về lý thuyết là chủ yếu, không có kinh phí để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; quy định chương trình khung bắt buộc cho các chương trình đào tạo chuyên nghiệp chỉ phù hợp để trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức chung chung, tản mạn, không tập trung cho rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp; cơ chế xã hội hóa trong giáo dục đào tạo không phù hợp, hiệu quả thấp; hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo còn nhiều bất cập; chính sách, chế độ đối với cán bộ, giảng viên chưa khuyến khích, huy động được những người thực sự có trình độ khả năng nghề nghiệp, những chuyên gia lành nghề cống hiến cho sự nghiệp giáo dục đào tạo. Giải pháp liên kết giữa doanh nghiệp, người sử dụng lao động với cơ sở đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu là rất cần thiết, quan trọng, không còn 92 là vấn đề mới, nhiều cơ sở trong ngành Du lịch đã làm từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, kết quả không được như mong muốn. Lý do chính của những hạn chế trong hoạt động giáo dục đào tạo chủ yếu xuất phát từ cơ chế, chính sách và hoạt động quản lý về giáo dục đào tạo còn nhiều hạn chế, bất cập. Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cần có sự quan tâm giải quyết cụ thể, khoa học, đồng bộ, tích cực hơn từ Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương, của cả hệ thống giáo dục đào tạo; có sự phối hợp thực sự chặt chẽ, nghiêm túc với các doanh nghiệp, người sử dụng lao động mới hy vọng tìm được lời giải cho bài toán về nguồn nhân lực nói chung và nhân lực ngành Du lịch nói riêng. 3.1.4. Hỗ trợ xây dựng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, bảo tồn các khu di tích văn hoá và có những biện pháp bảo vệ môi trường du lịch Tăng cường mối quan hệ phối hợp và hợp tác giữa các ngành để giải quyết, tháo gỡ những khó khăn mà bản thân ngành du lịch Quảng Ninh chưa thể một mình giải quyết được. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa phát triển du lịch, tranh thủ khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng du lịch và tôn tạo di tích văn hóa lịch sử truyền thống. Phát triển cả du lịch văn hóa và du lịch sinh thái theo định hướng chung của ngành du lịch, trong đó chú trọng đến các loại hình du lịch văn hóa hướng về cội nguồn và du lịch sinh thái biển đảo. Phát triển du lịch góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc, nâng cao vị thế của Yên Hưng đối với tỉnh Quảng Ninh và cả nước; cải tạo cảnh quan môi trường; nâng cao trình độ dân trí; thúc đẩy tiêu dùng và phát triển nhiều dịch vụ; trở thành “đầu tàu” lôi kéo nhiều ngành kinh tế khác phát triển. Cùng với các cấp các ngành đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường du lịch. Trước mắt cần có kế hoạch nhanh chóng di chuyển các công trình và doanh nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi khu vực trung tâm các thành phố, thị xã như Hạ Long, Uông Bí. Đầu tư cải tạo và xây dựng các công trình xử lí chất thải cho tất cả các doanh nghiệp công nghiệp, bệnh viện, các khu dân cư trọng điểm trong thành phố. 93 Sớm nghiên cứu và ban hành các chính sách cụ thể về môi trường như chính sách thuế môi trường, các quy định xử phạt, bồi thường… đối với trường hợp làm giảm sút tài nguyên và ô nhiểm môi trường biển, ven biển và các hải đảo. Ban hành các quy định chặt chẽ bảo vệ môi trường biển đối với tàu thuyền nước ngoài ra vào hoạt động trên biển. Có quy định chặt chẽ về thẩm định luận chứng các phương án bảo vệ môi trường trong quá trình xét duyệt các dự án phát triển, nhất là đối với các công trình có thể gây ô nhiễm lớn như hóa chất, cảng biển, vật liệu xây dựng.. hạn chế việc đưa các công trình gây ô nhiễm nặng và khó xử lí vào các khu vực có mức độ nhạy cảm môi trường cao và gần các trung tâm du lịch biển lớn như Hạ Long, Trà Cổ, Vân Đồn.. Đối với khu vực Hạ Long là khu vực nổi tiếng về cảnh quan thiên nhiên, nhưng đồng thời cũng là khu vực tập trung phát triển của nhiều nghành kinh tế quan trọng như cảng biển, công nghiệp khai thác than, sản xuất vật liệu xây dựng… Vì vậy cần có những chính sách và quy chế đặc biệt để bảo vệ tài nguyên, môi trường của khu vực, nhất là môi trường vịnh Hạ Long. Việc phát triển cảng Cái Lân và cảng chuyên dùng cho than, dầu, xi măng …phải được tính toán về quy mô và công nghệ phù hợp trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển của công nghiệp, du lịch và dịch vụ ở dải ven biển Hạ Long – Bãi Cháy cũng như toàn khu vực. Nghiên cứu thiết lập một hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên và ven biển với các kiểu loại phù hợp nhăm bảo vệ và phát triển hệ sinh thái đặc thù và đa dạng sinh học biển, ven biển và hải đảo. Trước hết xem xét xây dựng vườn quốc gia Bái Tử Long với những quy định chặt chẽ về bảo vệ và cớ chế quản lí thích hợp, trên cơ sở gắn kết chặt chẽ các hoạt động bảo vệ các mục tiêu kinh tế - xã hội. Chú trọng công tác phòng chống xói lở bờ biển nhất là các đoạn biển xung yếu, đảm bảo các công trình kinh tế, quốc phòng, cũng như cho sản xuất và đời sống của cư dân ven biển. Đẩy mạnh và phát triển rộng rãi phong trào giáo dục môi trường trong toàn thể nhân dân, kể cả thành thị và nông thôn. Các cấp chính quyền cần quan tâm tuyên truyền giáo dục và hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan doanh nghiệp cùng toàn thể nhân dân có nhận thức đúng đắn về môi trường biển, khuyến khích các doanh nghiệp đóng thuế và mua bảo hiểm môi trường. 94 3.1.5. Tổ chức các cuộc hội thảo lớn, các cuộc thi mang tầm vóc quốc tế nhằm quảng bá, giới thiệu các danh lam thắng cảnh trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và trên toàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Sở Du lịch Quảng Ninh cần phải phối hợp mạnh mẽ hơn nữa với Tổng Cục du lịch, Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Thể dục Thể thao Quốc gia, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam cùng các Bộ, Ngành khác tổ chức các hoạt động mang tính chất toàn ngành, toàn quốc gia. Như tổ chức thực hiện du lịch MICE tại Hạ Long. Tích cực hưởng ứng “Chương trình hành động quốc gia về du lịch”. Thực hiện chiến dịch quảng bá mạnh mẽ cho Chương trình khuyến mại của Ngành Du lịch Việt Nam. Thực hiện đồng bộ một chiến dịch xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ cho Chương trình khuyến mại của ngành Du lịch ở cả trong và ngoài nước, bao gồm cả ở cấp quốc gia, địa phương và doanh nghiệp, nhằm thu hút một cách mạnh mẽ khách du lịch vào Việt Nam và thúc đẩy du lịch nội địa phát triển. Các hoạt động cụ thể bao gồm:  Khởi động chiến dịch quảng bá mạnh mẽ về Du lịch của tỉnh trên mạng internet. Thiết kế trang web chính thức để giới thiệu Chương trình khuyến mại của ngành Du lịch tỉnh. Trang web này sẽ công bố đường link tới các trang web của các doanh nghiệp lữ hành tham gia vào Chương trình khuyến mại này. Củng cố, đào tạo cấp tốc lực lượng, thu thập, cập nhật thông tin ở các doanh nghiệp và tổ chức thiết kế hệ thống cung cấp thông tin lên mạng internet. Đây là giải pháp đột phá quan trọng trong điều kiện hạn chế về kinh phí quảng bá.  Tổ chức quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các phương tiện thông tin đại chúng của các quốc gia là thị trường trọng điểm của Du lịch Việt Nam, như trên kênh truyền hình Châu Âu, Châu Mỹ, Ôtxtrâylia, Đông Bắc Á, Đông Nam Á. Trước tiên tập trung giới thiệu chi tiết chương trình khuyến mại, giảm giá của Du lịch Quảng Ninh.  Tổ chức quảng bá về các điểm du lịch mới ở Quảng Ninh trên truyền hình trung ương và địa phương trong nước nhằm thúc đẩy thu hút khách du lịch nội địa. Tổ chức FAMTRIP cho các doanh nghiệp lữ hành và các nhà báo trong nước chuyên viết về du lịch tới các điểm du lịch của tỉnh, đặc biệt là các điểm du lịch mới. 95  Tổ chức tốt các sự kiện du lịch trong nước nhằm thu hút khách du lịch. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương tổ chức tốt các sự kiện văn hóa, du lịch, trong đó chú trọng các sự kiện bao gồm: Diễn đàn Du lịch ASEAN và Hội chợ TRAVEX tại Hà Nội. Nhân tổ chức Diễn đàn Du lịch ATF và Hội chợ TRAVEX, triển khai rầm rộ việc giới thiệu quảng bá Chương trình khuyến mại toàn quốc của Ngành Du lịchQuảng Ninh. Phân phát tài liệu, ấn phẩm về Chương trình này cho các buyer, seller, các nhà báo đến tham dự. Để thu hút các dự án đầu tư du lịch nhằm nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, cần thiết phải xây dựng cho được nội dung các chương trình xúc tiến đầu tư thương mại du lịch của tỉnh trong thời gian đến. Chương trình hỗ trợ xúc tiến phát triển các ngành dịch vụ tập trung vào việc hỗ trợ xây dựng, phát triển một số ngành, lĩnh vực; chương trình hỗ trợ nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm, dịch vụ du lịch. Tổ chức các hoạt động kêu gọi đầu tư tập trung theo ngành, nhất là đối với ngành dịch vụ du lịch. Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế: Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo trong nước, quốc tế nhằm giới thiệu các chính sách, pháp luật; quảng bá tiềm năng, cơ hội đầu tư mới của Quảng Ninh. Qua đó đối thoại trực tiếp với các nhà đầu tư để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhà đầu tư, đánh giá tình hình đầu tư được chính xác, đề ra các biện pháp, giải pháp kịp thời làm lành mạnh môi trường đầu tư. Công tác truyền thông, thông tin, quảng bá cần xây dựng cổng thông tin đầu tư thương mại, du lịch bằng hai thứ tiếng Anh – Việt, qua đó cung cấp thông tin cập nhật về tình hình phát triển kinh tế – xã hội, cơ hội đầu tư tại Quảng Ninh cho các nhà đầu tư; đồng thời tạo mối quan hệ, liên kết thông tin chặt chẽ với các cơ quan chức năng khác. 3.1.6. Đơn giản hoá các thủ tục hành chính Cải cách hành chính được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội và đổi mới từng bước hệ thống chính trị. Trong lĩnh vực du lịch cũng vậy. Các cơ quan nhà nước cần tạo mọi điều kiện cho ngành du lịch phát triển bền vững. Đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với những doanh nghiệp mới, mong muốn bước vào ngành để kinh doanh, bước đầu tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho 96 các doanh nghiệp. Không được đưa ra các chính sách, các thủ tục hành chính nhằm nhiễu khách, gây bất lợi cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, thông thoáng tạo thuận lợi cho việc di chuyển, đi lại của khách du lịch. Qua đó mới có thể thu hút được lực lượng đông đảo khách du lịch tới Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng. Ngành du lịch của tỉnh cần phối hợp với các cơ quan hữu quan (Cục quản lý Xuất nhập cảnh, Tổng cục Hải quan) xây dựng đề án “Đơn giản hóa thủ tục hành chính”, nghiên cứu khả năng cấp visa hoặc miễn visa song phương và đơn phương tại cửa khẩu. Nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm túc và có kết quả chính sách đơn giản hóa thủ tục hành, tổ công tác chuyên trách CCTTHC của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và tổng hợp tình hình thực hiện Đề án 30 tại các Bộ, địa phương và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xử lý những trường hợp chậm trễ, gây cản trở, thiếu hợp tác, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện yêu cầu, hướng dẫn của Tổ và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đồng thời đăng tải những trường hợp này trên trang tin điện tử của Tổ công tác và Cổng thông tin điện tử Chính phủ. 3.2. Về phía các doanh nghiệp Hình ảnh của các doanh nghiệp du lịch là bức tranh tổng thể của doanh nghiệp, tạo nên ấn tượng đối với khách hàng ngay từ lần đầu tiếp xúc. Vì vậy, những nhà quản trị nhìn xa trông rộng bao giờ cũng quan tâm xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp bắt đầu từ những chi tiết nhỏ nhất như: trang phục nhân viên, nội – ngoại thất văn phòng, phong cách ứng xử, giao tiếp…Cần nhận thấy rằng, bí quyết thành công hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng những quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà vấn đề là ở chỗ biết phát triển đúng hướng các mối quan hệ xã hội. Dù cho phản ứng của dư luận xã hội thế nào đi nữa thì doanh nghiệp phải luôn đảm bảo đúng định hướng phục vụ và làm vừa lòng khách hàng. 97 3.2.1. Không ngừng đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phục vụ phù hợp với nhu cầu của du khách Nâng cao chất lượng phục vụ là một yêu cầu cấp thiết cũng như lâu dài của du lịch Quảng Ninh. Các cơ sở lưu trú du lịch phải cam kết đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp đúng hạng sao đã được quy định. Đặc biệt cần chú ý chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân viên phục vụ. Nhiều cơ sở du lịch thời gian qua thường xảy ra trộm cắp, làm phiền hà du khách. Do vậy tự mỗi cơ sở phải có biện pháp tăng cường công tác an ninh trật tự, phòng chống trộm cắp tài sản của khách tại cơ sở của mình. Thay đổi vị trí để hiểu nhu cầu cơ bản của từng đối tượng cụ thể cũng là một biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ phù hợp với nhu cầu của du khách. Nhân viên phục vụ khách hàng có thể suy nghĩ vấn đề trên góc độ của khách hàng khi đang vạch ra kế hoạch làm việc, kế hoạch phục vụ hoặc khi phát hiện ra yêu cầu, nhu cầu của khách hàng. Phương pháp cụ thể có thể thông qua thay đổi vị trí của nhân viên tiến hành suy nghĩ đổi vị trí, ví dụ như nhân viên phục vụ khách hàng thử làm khách hàng bán lẻ một hôm. Giám đốc thị trường làm nhân viên phục vụ khách hàng một hôm, chủ nhiệm trung tâm khách hàng làm giám đốc thị trường một hôm v.v… Thay đổi vị trí trên yêu cầu của doanh nghiệp đối với khách hàng. Cùng với việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp còn cần chú ý đến yêu cầu của họ đối với khách hàng đã hợp lí hay chưa, cần làm việc của doanh nghiệp đã được làm đến nơi đến chốn hay chưa, ngoại việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách hàng, doanh nghiệp có cung cấp giá trị bổ sung khác hay không. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, cung ứng nguồn hàng và quản lý các chính sách v.v… doanh nghiệp đều phải tiến hành phân loại khách hàng và tiêu chuẩn đánh giá tương ứng, đưa ra một loạt yêu cầu cho khách hàng, ví dụ tuân thủ các yêu cầu như chính sách tiêu thụ của doanh nghiệp, trình độ kinh doanh và lượng tiêu thụ nhất định. Đối với những yêu cầu này, khách hàng ít nhiều đều không thể hoàn hảo. Nếu như quá trình đi phỏng vấn, nhân viên phục vụ khách hàng có thể cung cấp dịch vụ mang tính cá nhân, giúp đỡ khách hàng chỉnh sửa lại quầy hàng, cung cấp 98 tình hình thị trường và kĩ năng tiêu thụ, giúp đỡ tiền bạc v.v… thì mức độ hài lòng của khách hàng nhất định sẽ được nâng cao, khách hàng nhất định sẽ phối hợp nhiệt tình với các yêu cầu mà chúng ta đưa ra, từ đó hai bên đáp ứng nhu cầu lẫn nhau. Thông qua suy nghĩ trao đổi vị trí để kiểm nghiệm chất lượng dịch vụ khách hàng và hiệu suất của doanh nghiệp đã đạt đến yêu cầu nhất định hay chưa. Nhân viên phục vụ khách hàng thông thường đều có thể thăm hỏi khách hàng theo yêu cầu, chờ đợi khách hàng một cách lịch sự v.v…, làm việc chăm chỉ theo tiêu chuẩn phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. Dù vậy doanh nghiệp vẫn sẽ thường xuyên nhận được sự chỉ trích của khách hàng, mức độ hài lòng của khách hàng khồn cao. Nguyên nhân chính là do tuy doanh nghiệp đã làm rất nhiều việc, nhưng vẫn chưa làm đến nơi đến chốn, có thể nhanh, mà không tốt, cũng có thể sự cố gắng sai phương hướng. Vì vậy, doanh nghiệp phải thông qua trao đổi vị trí để suy nghĩ tìm hiểu giá trị mong muốn phục vụ của khách hàng khác nhau trong những tình huống khác nhau, cố gắng cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng, làm cho trình độ phục vụ của doanh nghiệp đáp ứng mong muốn thỏa đáng của khách hàng và mong muốn phục vụ lý tưởng, từ đó bảo đảm sự hài lòng của khách hàng Việc nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động phục vụ du lịch là vấn đề rất đáng quan tâm vì nó sẽ quyết định chất lượng phục vụ, chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả của hoạt động du lịch. Trình độ quản lí, trình độ nghiệp vụ, tinh thần phục vụ, khả năng giao tiếp và ngoại ngữ là những điều cần được thường xuyên bồi dưỡng cho mỗi cán bộ, nhân viên trong nghành du lịch để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch ngày càng nâng cao trong thời gian tới ở Quảng Ninh. 3.2.2. Thực hiện chiến lược thu hút khách du lịch thông qua việc đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, đưa ra các chương trình đặc biệt nhằm thu hút khách du lịch Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên cơ sở khai thác được tiềm năng giàu có, phong phú của tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, tổ chức nghiên cứu để cho ra đời những hoạt động, loại hình du lịch đa đạng và độc đáo (như hoạt động du lịch mạo hiểm, du lịch chợ đêm…vô cùng hấp dẫn và thú vị). 99 Biện pháp tác động trực tiếp nhất, có thể nói đó là thực hiện các chương trình khuyến mãi, giảm giá buồng phòng, giá các dịch vụ liên quan như vận chuyển, dịch vụ ăn uống…Các doanh nghiệp du lịch phải xem việc giảm giá phòng, giảm giá vận chuyển khách, kinh doanh ăn uống, các hoạt động thể thao vui chơi giải trí là trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Tùy theo điều kiện mức độ kinh doanh để các doanh nghiệp đăng ký giảm giá cho phù hợp, với mức giảm khoảng 20-30% các loại hình dịch vụ trong thời điểm hiện nay là cần thiết để thu hút khách. Chương trình giảm giá cần được công bố chính thức bằng thông cáo báo chí và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng thời thông báo đến các công ty lữ hành đưa khách đến Quảng Ninh để bán tour theo chương trình giảm giá chung. Gắn chương trình khuyến mãi giảm giá của các doanh nghiệp với công tác giới thiệu quảng bá và xúc tiến du lịch, thông qua việc tham gia các hội chợ triển lãm và trên các phương tiện truyền thông. 3.2.3. Chú trọng tới việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp, quảng bá cho toàn ngành bằng việc ứng dụng thương mại điện tử và chiến lược Marketing Du lịch đang được đánh giá là ngành công nghiệp không khói đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Để phát triển ngành này không những chỉ đầu tư cho công tác quảng bá mà chúng ta cần chú trọng đến nâng cao năng lực quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Việc các doanh nghiệp tham gia tích cực vào cổng thương mại điện tử, xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp mình thông qua việc ứng dụng thương mại điện tử là một giải pháp đồng thời cũng là công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Thương mại điện tử là sự kết hợp tinh tế giữa thương mại và công nghệ thông tin, để phát triển thương mại điện tử điều kiện cần là sự phát triển các công nghệ thông tin và truyền thông. Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại tuyền thống, các doanh nghiệp du lịch có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận khách hàng và đối tác trên khắp thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện. Do đó các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ninh cần phải tự xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp mình trong mắt du khách trong và ngoài nước. Tích cực tham gia cổng thương mại điện tử. Doanh nghiệp nên thiết kế webside thân thiện với người dùng 100 bình thường; giao diện bên ngoài dành cho khách du lịch được hỗ trợ đa ngôn ngữ với khả năng mở rộng về ngôn ngữ là không giới hạn. Doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật thông tin cho webside của mình. Cùng phối kết hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ doanh nghiệp du lịch tăng hiệu quả kinh doanh bằng tiếp thị điện tử. Hỗ trợ những doanh nghiệp này tăng cường năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước. Một lý do quan trọng có thể lý giải sự làm ăn có hiệu quả hay không là do công tác Marketing đã được coi trọng chưa và các doanh nghiệp đã có kiến thức đầy đủ trong lĩnh vực này như thế nào. Các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc cạnh tranh bằng sức mạnh của bản thân, bằng việc nghiên cứu tìm ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn khách, mở rộng thị trường. Vì thế bên cạnh những nỗ lực ở tầm vĩ mô thuộc về trách nhiệm của ngành du lịch, các doanh nghiệp du lịch cần phải giải quyết các vấn đề sau để có thể quảng bá được các dịch vụ của mình:  Cần phải hình thành trong mỗi doanh nghiệp một bộ phận Marketing chuyên nghiên cứu về thị trường. Quy mô và mức độ phụ thuộc vào doanh nghiệp, điều mấu chốt bộ phận này sau khi nghiên cứu được thị trường thì cần phải đưa ra được các chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình theo yêu cầu của thị trường và các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh du lịch của doanh nghiệp.  Các doanh nghiệp phải đưa ra nội dung nghiên cứu của công tác Marketing vào thực hiện một cách bài bản, có kế hoạch để chống lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp, sử dụng Marketing hỗn hợp chung cho các loại thi trường mục tiêu. 3.2.4. Đầu tư hiệu quả vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Hiện nay, nhu cầu đào tạo lao động cho ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh là rất lớn. Tuy nhiên số lượng các cơ sở đào tạo chuyên ngành về du lịch trên cả nước nói riêng và trong tỉnh nói chung là không nhiều. Do thiếu cơ sở đào tạo nên sự thiếu hụt đội ngũ nhân viên nghiệp vụ và công nhân kỹ thuật càng trầm trọng. Để có thể đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho việc phát triển ngành du lịch của tỉnh nói chung và của vịnh Hạ Long nói riêng, góp phần giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống và xóa đói giảm nghèo, cần có những giải pháp Đầu tư hiệu quả vào công tác đào tạo nguồn nhân lực như sau: 101 Tăng cường cơ sở vật chất của các đơn vị đào tạo nghề. Tập trung đầu tư, nâng cấp các cơ sở đào tạo trung cấp, sơ cấp về du lịch của tỉnh thành Trường Cao đẳng du lịch nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho lao động của ngành du lịch.  Khuyến khích các Trung tâm dạy nghề lồng ghép các chương trình, dự án tài trợ theo hướng xã hội hóa phát triển dạy nghề để mở các khóa dạy nghề ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức về du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngành du lịch. Tiếp tục tăng mức đầu tư trang thiết bị phù hợp với tiến bộ của công nghệ nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và phục vụ nhu cầu ngày càng cao của du lịch.  Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Đào tạo đa cấp, đa ngành, đào tạo theo địa chỉ... nhằm cung ứng nhu cầu đa dạng của các loại hình dịch vụ du lịch. Hoàn thiện các chương trình đào tạo nghề của ngành du lịch theo hướng gắn đào tạo nghề với việc làm, đặc biệt là giải quyết việc làm tại chỗ nhằm tạo việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động địa phương.  Khẩn trương xây dựng Trung tâm dạy nghề huyện theo Đề án “Quy hoạch công tác đào tạo nghề thời kỳ 2001-2010 và kế hoạch đào tạo nghề giai đoạn 2001- 2005” đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt nhằm góp phần tăng nhanh số lao động qua đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động địa phương, phục vụ hiệu quả cho việc giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương.  Tiếp tục đẩy mạnh các khóa đào tạo nghề lưu động, đặc biệt các khóa đào tạo nghề cho lao động nông thôn bằng các nguồn kinh phí từ CTMTQG và các chương trình, dự án do nước ngoài tài trợ nhằm tạo thuận lợi cho người lao động ở vùng khó khăn được tham gia các khóa học với những ngành nghề phù hợp; tạo cơ hội cho người lao động tại các địa phương có ngành du lịch phát triển có thể tìm được việc làm phù hợp và ổn định.  Lồng ghép các Chương trình mục tiêu, chương trình dự án, chương trình tài trợ nước ngoài nhằm tiếp tục hỗ trợ đầu tư về hạ tầng cơ sở, đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm dạy nghề các huyện nhằm nâng cao chất lượng và số lượng lao động qua đào tạo nghề; tăng nhanh tốc độ giải ngân vốn vay tạo việc làm nhằm giúp người lao động tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo. Làm cho 102 đời sống của người dân được nâng cao, mức thu nhập của người lao động, đời sống vật chất của người lao động không ngừng cải thiện, văn hóa tinh thần cũng có nhiều biến đổi. 3.2.5. Tăng cường hợp tác cùng phát triển giữa các doanh nghiệp, mở rộng mạng lưới liên kết toàn ngành trên khắp lãnh thổ Việt Nam Dưới sự trợ giúp của Ủy ban nhân dân tỉnh, các doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh cần phải kết hợp cùng với nhau và cùng với các doanh nghiệp tỉnh lân cận, các tỉnh thành trên khắp đất nước nhằm mở rộng mạng lưới kinh doanh, cùng xây dựng, triển khai nhiều kế hoạch hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực trong đó có du lịch. Để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, tạo sức mạnh tổng hợp trong phát triển kinh tế xã hội và đưa hoạt động du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của mỗi địa phương trên nguyên tắc hợp tác tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi, kết hợp hài hòa cả liên kết đa phương và song phương, các doanh nghiệp du lịch cần thống nhất tăng cường hợp tác trên một số mặt sau: Thứ nhất, công tác quản trị doanh nghiệp. Các bên thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, phối hợp trong công tác quản trị doanh nghiệp, cách thức điều hành, tổ chức hiệu quả của các doanh nghiệp mình. Thứ hai, phối hợp hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch: Thường xuyên trao đổi thông tin, tham gia các hoạt động xúc tiến trong nước và nước ngoài, phối hợp xây dựng các tuyến du lịch, xây dựng chương trình du lịch Caravan liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch tại địa phương và tại các tỉnh phụ cận trong nước và nước bạn. Tổ chức các cuộc giao lưu giữa các doanh nghiệp du lịch, cùng tham gia các sự kiện du lịch do địa phương khác tổ chức. Thứ ba, hợp tác, đạo điều kiện và hỗ trợ nhau trong đào tạo nguồn nhân lực trong từng doanh nghiệp du lịch. 103 KẾT LUẬN Quảng Ninh là một thành phố biển, nơi có những cảnh quan nổi tiếng như: vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long; nhiều bãi biển đẹp: Trà Cổ, Cô Tô, bãi Dài (huyện Vân Đồn) ..., cùng các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tạo khả năng mở các tuyến du lịch trên đất liền, trên biển đảo. Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn có vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển và đường bộ, về lịch sử, văn hoá nên trở thành trung tâm giao lưu để đưa du khách đến các vùng Bắc Việt Nam và các khu vực Đông Nam Á. Vì vậy đầu tư phát triển du lịch Quảng Ninh là một hướng đi đúng đắn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên nhiều lĩnh vực đối với tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung. Với con mắt ''nhìn xa, trông rộng'', từ đầu năm 2000, chiến lược ''đánh thức'' các tiềm năng, thế mạnh du lịch Quảng Ninh đã được các cấp lãnh đạo tỉnh và nhà nước hoạch định với những quyết sách cụ thể, sát thực. Từ đó đến nay, du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển vững mạnh, đạt được những kết quả đáng tự hào trên các mặt như lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch, đóng góp vào ngân sách của tỉnh, giải quyết công ăn việc làm và góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh… Tuy nhiên, những kết quả đạt được của du lịch Quảng Ninh trong những năm qua vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng phong phú về du lịch của tỉnh. Ngoài những lợi thế đem lại cho ngành những cơ hội phát triển thì vẫn còn tồn tại một số yếu kém mà ngành cần nhanh chóng khắc phục. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, du lịch Quảng Ninh cũng như du lịch cả nước còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong nước và quốc tế. Do đó để du lịch Quảng Ninh tiếp tục phát triển bền vững trong thời gian tới và có thể trở thành một trung tâm du lịch có đẳng cấp ở châu lục vào năm 104 2015, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh cần phải đề ra được những chiến lược, giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển thị trường như: tăng cường, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch trên cơ sở giá thành hợp lý; thực hiện các chiến dịch quảng bá mạnh mẽ về du lịch Quảng Ninh trên mạng Internet, trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức, mở các lớp đào tại lại nguồn nhân lực trong ngành du lịch; đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khách sạn, doanh nghiệp vận chuyển khách, kinh doanh dịch vụ du lịch có các chương trình khuyến mãi bằng hình thức giảm giá; xây dựng các chương trình du lịch ngoài chương trình truyền thống, đưa ra các sản phẩm du lịch mới... 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Quảng Ninh. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 2001 -> 2008. 2. Luật Doanh nghiệp, NXB Chính trị quốc gia 2005. 3. Luật du lịch, NXB Chính trị quốc gia 2005. 4. Nguyễn Văn Lưu, Giáo trình thị trường du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 5. Nguyễn Hồng Giáp (2002), Kinh tế du lịch, NXB Trẻ, Hà Nội. 6. Nguyễn Văn Đính (2006), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Lao động xã hội. 7. PTS. Trần Nhạn (1996), Du lịch và kinh doanh du lịch, NXB Văn hoá thông tin. 8. Tổng cục Du lịch, Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin năm 2000. 9. Trần Đức Thanh (1999), Nhập môn khoa học du lịch, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội. 10. TS. Nguyễn Văn Mạnh, TS. Phạm Hồng Chương (2006), Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB ĐH Kinh tế quốc dân. 11. “Báo cáo thành tích 45 năm phát triển ngành du lịch” (2005), Tổng cục Du lịch Việt Nam. 12. “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010”, Tổng cục Du lịch Việt Nam. 13. Nguyễn Văn Thành, “Du lịch Việt Nam trong thế kỷ mới”, Báo Du lịch (Số 11 ngày 23/4/2007). 14. “Phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010”, Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 97/2002/QĐ. 15. “Văn kiện Đại hội Đảng X” (2006), NXB Chính trị quốc gia. 106 16. Báo điện tử Quảng Ninh 17. Cẩm nang du lịch Việt Nam 18. Công ty du lịch Sài Gòn 19. Công ty du lịch Việt Nam 20. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh 21. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh 22. Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Ninh 23. Tổng cục Du lịch Việt Nam 24. Tổng cục Thống kê

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4345_1889.pdf