Đề tài Du lịch Việt Nam thực trạng và thách thức

Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Điều kiện tự nhiên cùng với nền văn hóa phong phú đa dạng đã tạo cho Việt Nam một nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng như: Địa hình: là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.Địa hình miền núi vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Ngoài ra còn có địa hình karst với những hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ như Phong Nha, Tam Cốc - Bích Động, động Hương Tích, Khí hậu: Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cây cối quanh năm xanh tốt. Ở miền Bắc Việt Nam có bốn mùa khác nhau rõ rệt là: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ở miền Nam Việt Nam chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa. Điều kiện khí hậu ôn hoà là yếu tố mà du khách quan tâm khi di du lịch, vì thế nó đã tạo điều kiện thuận lợi để cho du lịch ngày càng phát triển. Nguồn nước: tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước . Bờ biểnViệt Nam trải dài với 3260 km bờ biển, và nhiều cảnh quan phong phú đa dạng, nhiều bãi tắm chưa bị ô nhiễm, là một tiềm năng lớn cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Ngoài ra còn có hệ thống suối nước nóng và nước khoáng cũng rất phong phú và phân bố khá đều trong cả nước đáp ứng nhu cầu an dưỡng, chữa bệnh cho du khách. DU LỊCH VIỆT NAM MỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG 1.Nguồn lực phát triển du lịch Việt Nam 4 1.1 Tài nguyên du lịch 4 1.2 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước. 6 2. Các loại hình du lịch ở Việt Nam 8 2.1 Du lịch homestay 8 2.2 Du lịch tàu biển 11 2.3 Du lịch MICE 14 2.4 Du lịch sinh thái 17 3.Các vùng du lịch 19 3.1 Vùng du lịch Bắc Bộ 19 3.2 Vùng du lịch Bắc Trung Bộ 20 3.3 Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ 21 4.Thành tựu và thách thức của du lịch Việt Nam 23 4.1 Thành tựu 23 4.2 Thách thức 25 PHẦN KẾT LUẬN PHỤ LỤC

docx30 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/04/2013 | Lượt xem: 2270 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Du lịch Việt Nam thực trạng và thách thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề tài: DU LỊCH VIỆT NAM MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN KẾT LUẬN PHỤ LỤC PHẦN NỘI DUNG 1.Nguồn lực phát triển du lịch Việt Nam 1.1 Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Điều kiện tự nhiên cùng với nền văn hóa phong phú đa dạng đã tạo cho Việt Nam một nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng như: Địa hình: là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.Địa hình miền núi vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Ngoài ra còn có địa hình karst với những hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ như Phong Nha, Tam Cốc - Bích Động, động Hương Tích,… Khí hậu: Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cây cối quanh năm xanh tốt. Ở miền Bắc Việt Nam có bốn mùa khác nhau rõ rệt là: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Ở miền Nam Việt Nam chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa. Điều kiện khí hậu ôn hoà là yếu tố mà du khách quan tâm khi di du lịch, vì thế nó đã tạo điều kiện thuận lợi để cho du lịch ngày càng phát triển. Nguồn nước: tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước... Bờ biểnViệt Nam trải dài với 3260 km bờ biển, và nhiều cảnh quan phong phú đa dạng, nhiều bãi tắm chưa bị ô nhiễm, là một tiềm năng lớn cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Ngoài ra còn có hệ thống suối nước nóng và nước khoáng cũng rất phong phú và phân bố khá đều trong cả nước đáp ứng nhu cầu an dưỡng, chữa bệnh cho du khách. Sinh vật: Cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khoẻ con người và là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình Du lịch sinh thái. Rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái, mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng. Với đặc điểm khí hậu của Việt Nam đã làm cho hệ sinh thái phong phú và đa dạng với nhiều danh lam thắng ảnh và các khu bảo tồn quốc gia. Văn hóa – xã hội: Việt Nam có 4000 năm lịch sử, có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đó sinh sống trên những lãnh thổ khác nhau, có tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán khác nhau… Chính vì thế đã tạo cho Việt Nam một nền văn hoá đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc cùng bề dày lịch sử văn hóa phong phú và đa dạng góp phần tạo nên những di tích lịch sử, những di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Các yếu tố hỗ trợ du lịch: Sau những chuyến tham quan, vui chơi,… du khách cần có một nơi để nghỉ ngơi cũng như thưởng thức ẩm thực thì khách sạn là nơi đáp ứng nhu cầu đó cho du khách và nhà hàng - nơi mà du khách đến để khám phá tinh hoa ẩm thực của Việt Nam cũng như các món ăn khác trên thế giới. Chính vì thế đòi hỏi ở người phục vụ phải có một phong cách phục vụ chu đáo, lịch sự để làm hài lòng, tạo sự thoải mái cho du khách. Ngoài ra còn có resort là loại hình khách sạn được xây dựng độc lập thành khối hoặc thành quần thể gồm các biệt thự, căn hộ du lịch; băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch. Resort là một nơi nghỉ dưỡng và tham quan lý tưởng cho khách du lịch. Cuộc sống hiện đại ngày càng làm con người bị căng thẳng hơn người ta nhận thức tốt về sức khỏe, sự cân đối, lựa chọn cách điều trị, ăn uống và thể dục… do đó nhu cầu đến spa để được thư giãn, cân bằng sức khỏe với cuộc sống ngày càng tăng cao. Spa là một liệu pháp dùng nước để điều trị cơ thể. Khi nói đến spa ta có thể hình dung Spa như một dưỡng đường thoáng mát, giàu chất thiên nhiên, đem lại sức khỏe thể chất và tinh thần thư thái cho con người. Spa hướng đến mục tiêu cuối cùng là “khôi phục nguồn năng lượng sống”. Nhờ có các dịch vụ trên mà du lịch phát triển từng ngày, ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch đến với Việt Nam. 1.2 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Ngày nay Việt Nam đã và đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Việt Nam có nhiều điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi cho việc phát triển du lịch phong phú đa dạng. Chính vì thế mà nhà nước đã có một số chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch như: Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch: Để tạo thuận lợi cho du khách quốc tế đi đến Việt Nam, Tổng cục du lịch Việt Nam đề xuất: tiếp tục xem xét mở rộng diện miễn visa nhập cảnh cho công dân một số nước là thị trường du lịch trọng điểm của du lịch Việt Nam gồm Pháp, Đức, Bỉ, Newzealand và Australia). Đơn giản hóa thủ tục cấp visa tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch: Ưu tiên, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch mới bao gồm du lịch tầu biển, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch chữa bệnh, du lịch sinh thái và du lịch MICE. Ưu tiên các dự án phát triển du lịch gắn với liền với bảo tồn môi trường và đa dạng sinh học. Chính sách tài chính: Áp dụng thuế suất GTGT 0% đối với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam. Hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế khi mua hàng tại Việt Nam. Có chính sách miễn, giảm, chậm nộp thuế trong các trường hợp nhất định. Sử dụng tiền ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành gửi ngân hàng thương mại, dùng lãi suất để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch và xúc tiến quảng bá du lịch. Chính sách thúc tiến và quảng bá du lịch: Thu hút đầu tư và xã hội hóa hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Việt Nam. Huy động cộng đồng Việt Nam tham gia vào quảng bá về du lịch Việt Nam. Thành lập văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại nước ngoài Chính sách phát triển cơ sở lưu trú du lịch: Giảm thuế nhập khẩu đối với các trang thiết bị hiện đại phục vụ chuyên ngành cho các cơ sở lưu trú du lịch cao cấp mà trong nước không đủ điều kiện sản xuất. Điều chỉnh giá điện, nước đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch ngang bằng với các loại hình kinh doanh thông thường khác. Điều chỉnh mức tiền thuê đất đối với diện tích khuôn viên không xây dựng trong khách sạn, resort. Chính sách phát triển hoạt động nữ hành: Ưu đãi đầu tư xây dựng các điểm dừng chân đạt chuẩn trên các tuyến đường du lịch chính. Xây dựng các cảng biển du lịch chuyên dụng tại các cảng biển trọng điểm của Việt Nam. Tạo điều kiện cho khách du lịch quốc tế mang phương tiện giao thông vào Việt Nam du lịch. Chính sách phát triển nguồn nhân lực: khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển các trường đào tạo nghề du lịch đạt chuẩn. Chính sách kích cầu: Có các chính sách kích cầu du lịch cụ thể trong từng giai đoạn. Chính sách kích cầu du lịch nội địa thông qua việc điều chỉnh chế độ làm việc, đặc biệt là kết hợp các ngày lễ, tết để có các đợt nghỉ dài ngày. Chính sách sử dụng năng lượng sạch: Ưu tiên các dự án phát triển du lịch gắn liền với sử dụng năng lượng thay thế, tiết kiệm năng lượng Các văn bản pháp quy: Rà soát, sửa đổi Luật du lịch và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm về du lịch, trách chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. 2. Các loại hình du lịch ở Việt Nam 2.1 Du lịch homestay Homestay là loại hình du lịch mà du khách sẽ được ở và sinh hoạt chung nhà với người dân bản xứ như thành viên trong gia đình, để khám phá phong cách sống của người dân, trải nghiệm cuộc sống thường ngày của họ để biết được văn hóa của người dân nơi đó. Homestay ở Việt Nam không phải xuất phát từ ý tưởng của các công ty lữ hành, mà từ nhu cầu của các vị khách nước ngoài, để thâm nhập, tìm hiểu đời sống người dân Việt. Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, có phong cảnh đẹp và nhiều giá trị lịch sử nên hoàn toàn có thể phát triển loại hình du lịch homestay. Những năm gần đây, dịch vụ du lịch homestay đã phát triển nhanh ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, TP Cần Thơ... Dịch vụ du lịch này đã và đang thu hút khá mạnh du khách nước ngoài. Đây là loại hình du lịch dành cho những người thích khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu phong tục tập quán, nền văn hóa... của người bản địa. Thường một tour homestay kéo dài một ngày một đêm, giá khoảng 10 USD/ khách, với nhiều chương trình đặc sắc. Du khách được ở nhà của người dân, ăn một bữa ăn sáng và một bữa chiều với những món ăn thuần túy của người Việt Nam, kết hợp với một chương trình tham quan. Tùy từng thời điểm, có những chương trình tham quan như: đi xe đạp trong vòng bán kính 5-10 km xung quanh khu vực homestay, tham quan chợ nổi, giao lưu, sinh hoạt với người bản địa, làm những công việc của người nông dân như: trồng rau màu, chăm sóc vườn cây, chèo xuồng giăng lưới, tát ao bắt cá... Đối với du khách, tham gia những công việc hằng ngày rất đỗi bình thường của người dân địa phương là một điều rất thú vị. Vợ chồng Maika và Gian – du khách người Thụy Sĩ - đang nghỉ ở một điểm homestay thuộc phường An Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, cho biết: “Chúng tôi đã có thời gian thoải mái ở đây. Bữa ăn tối rất ngon, được đi du thuyền tham quan chợ nổi ngắm cảnh rất đẹp! Còn đi xe đạp ở vùng quê thì thật tuyệt vời!... Chủ homestay đã tạo điều kiện cho chúng tôi có cảm giác như đang ở quê nhà”. Ông Jean Cabane, du khách người Pháp, lần thứ 2 đưa gia đình trở lại điểm homestay ở phường An Bình, cho biết: “Gia đình tôi lại về đây, như người thân trở lại mái nhà xưa. Xin cảm ơn tình thân ấp áp của chủ gia đình homestay đã dành cho chúng tôi! Mong rằng nơi này cũng là mái ấm cho lữ khách”. “Homestay là cách tốt nhất để tôi có những hiểu biết sâu về đất nước các bạn. Nếu ở khách sạn tôi sẽ không thể hiểu rõ về cuộc sống của người dân Việt Nam... Khi tôi ở Bản Lác, Mai Châu (Hoà Bình), tôi đã được sinh hoạt cùng người dân địa phương, xem họ dệt vải chứng kiến cách họ sinh hoạt, đối xử với nhau. Qua quan sát, nói chuyện tôi cũng hiểu được nhiều điều về bản sắc của người dân tộc Thái...”. Nhiều vị khách nước ngoài cũng cho rằng nếu Việt Nam tổ chức tốt loại hình homestay thì vào những dịp đặc biệt, cảnh “sốt” phòng khách sạn, nhà nghỉ sẽ được giải quyết đáng kể... Không chỉ người nước ngoài đến Việt Nam homestay mà cũng đã có những du khách trong nước tích cực tham gia loại hình này. Qua hai lần diễn ra Festival Huế thì cả hai lần đều có hình thức homestay. Chỉ những gia đình giữ được nếp sống mang bản sắc Huế, nhà cửa tương đối cổ kính, có vườn rộng rãi mới được chọn làm điểm tiếp nhận khách. Cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt tại những gia đình Huế như thế là cách hiệu quả nhất để du khách tiếp nhận chiều sâu tinh thần, văn hoá Huế. Đến nay một số công ty lữ hành đã bắt tay kinh doanh loại hình du lịch homestay. Công ty Handspan Adventure Travel ở số 36 Lê Văn Hưu, Hà Nội chuyên tổ chức cho khách nước ngoài đi du lịch kết hợp hình thức ở cùng tại những địa điểm như Mai Châu (Hoà Bình), vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn)... Công ty Thương mại và du lịch quốc tế Việt Nam (Study tours) tại Hà Nội đã tổ chức cho khách hàng học sinh, sinh viên những chuyến homestay ở nước ngoài để vừa du lịch vừa học ngoại ngữ. Trong dịp hè này, Study tours bắt đầu tiến hành chương trình homestay xuyên Việt cho các em tiếp cận, khám phá các địa điểm du lịch như Thác Đa, Quan Lạn - Vân Đồn, hồ Núi Cốc, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Tết Quý Mùi vừa qua, Saigon Tourist đã tổ chức cho khách nước ngoài đến ăn tết tại một số nhà dân; dù chưa nhiều nhưng được đánh giá khá thành công. Dù là điểm đến của nhiều du khách quốc tế, nhưng các điểm homestay ở Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế. Đa số các điểm homestay đều phát triển một cách tự phát, nằm rải rác ở các quận, huyện, thiếu thông tin hướng dẫn, năng lực phục vụ kém, chưa khai thác được những thế mạnh của địa phương trong việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ du lịch... Mặt khác, các điểm homestay ở khá xa nhau, nên khó chia sẻ, liên kết với nhau trong việc tiếp nhận du khách, dẫn đến nhiều điểm hoạt động chưa hiệu quả. 2.2 Du lịch tàu biển Du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân cũng như tăng nguồn ngân sách Trung ương và địa phương. Trong cuộc hội thảo mới đây về quản lý và phát triển du lịch biển, đảo Việt Nam, các chuyên gia du lịch khẳng định du lịch biển và kinh tế đảo là một trong năm đột phá về kinh tế biển, ven biển. Với bờ biển dài trên 3.000 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển. Những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang hay bãi biển Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… đều nói lên sức hút của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước. Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Trong đó, các khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long - Hải Phòng - Cát Bà; Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam; Vân Phong - Đại Lãnh - Nha Trang; Vũng Tàu - Long Hải - Côn Đảo; Hà Tiên - Phú Quốc; Phan Thiết - Mũi Né. Hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển không ngừng tăng lên, đặc biệt số lượng những cơ sở lưu trú từ 3 sao trở lên phần lớn tập trung ở các địa phương ven biển. Theo thống kê, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với trên 45.000 buồng. Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp của cả nước. Du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Năm 2006, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển chiếm khoảng trên 6% trong tổng lượt khách quốc tế. Thời gian neo đậu của tàu du lịch ở các cảng chỉ từ 8 đến 24 giờ, do đó, khách không có nhiều cơ hội tham quan, giải trí mua sắm. Nguyên nhân được các chuyên gia đưa ra là hiện nay ở Việt Nam hầu hết các cảng biển là cảng hàng hóa, chưa có cảng chuyên biệt cho tàu du lịch. Nhiều cảng có trọng tải lớn không thể cập bờ và phải di chuyển khách bằng canô hoặc tàu du lịch mất nhiều thời gian, giảm hứng thú cho du khách. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển VN lâu nay chưa được quan tâm đúng mức. Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới. Để ngành du lịch Việt Nam phát triển bền vững, Tổng cục Du lịch đề xuất Đề án phát triển du lịch biển, đảo mục tiêu năm 2010 và tầm nhìn 2020. Theo đó, đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển là khâu đột phá thứ 4 sẽ có mức đóng góp khoảng 14-15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia. Đưa Việt Nam trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn và thân thiện hàng đầu của khu vực trong giai đoạn phát triển mới tới năm 2020. Các loại hình phát triển du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, sinh thái cộng đồng được ưu tiên phát triển trong thời gian tới, trong đó du lịch biển được coi là loại hình du lịch chủ đạo. Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng cục trưởng TCDL cho biết: “Việt Nam nằm trong số những nước có nhiều bãi biển và vịnh biển, đảo đẹp nhất thế giới. Các sản phẩm du lịch biển, đảo cũng thu hút lượng khách du lịch đông nhất ở Việt Nam và mang lại doanh thu du lịch cao nhất. Tuy nhiên, những gì chúng ta đang khai thác nguồn tài nguyên biển, đảo quý giá để làm du lịch hiện nay vẫn còn quá tự phát, nghèo nàn và lãng phí tài nguyên. Vì thế, cần phải có chiến lược và quy hoạch lâu dài về chủ đề này để phát triển du lịch giai đoạn tới”. Phát triển du lịch biển với các dòng sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới về du lịch nghỉ dưỡng biển, tham quan thắng cảnh biển. Hình thành các dòng sản phẩm du lịch thể thao biển và sinh thái biển. Xây dựng mô hình làng du lịch nghỉ dưỡng biển theo tiêu chí đẳng cấp, sang trọng nhằm thu hút khách cao cấp, phát triển song song với các khu du lịch biển, ven biển khác. 2.3 Du lịch MICE MICE là cụm từ viết tắt theo các chữ cái đầu tiếng Anh của các từ: Meeting (gặp gỡ, hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention/ Conference (hội nghị/ hội thảo) và Exhibition/ Event (triển lãm, sự kiện). Như vậy, MICE tour là sự kết hợp của Meeting tour, Incentive tour, Convention tour và Exhibiton tour, hay nói cách khác, MICE tour là một loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội họp, khen thưởng, triển lãm, sự kiện được kinh doanh bởi các công ty, các doanh nghiệp du lịch có tiếng tăm, uy tín và năng lực chuyên môn cao cũng như bởi các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị có chức năng và thẩm quyền. MICE đã xuất hiện và phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng du lịch MICE với Việt Nam lại là loại hình tương đối mới. Tuy vậy, Việt Nam được đánh giá là một “Ngôi sao đang lên”, một điểm đến mới hấp dẫn khách du lịch MICE từ khắp nơi trên thế giới. Các đặc trưng của du lịch MICE: Đối tượng khách du lịch MICE thường giữ những cương vị, địa vị quan trọng trong xã hội cũng như có tầm ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, như các nguyên thủ quốc gia, các vị lãnh đạo nhà nước, các quan chức cấp cao của chính phủ, các nhà hoạt động xã hội, thương gia....và thường gồm nhiều quốc tịch hoặc đến từ nhiều tổ chức khác nhau. Không những thế, khách du lịch MICE thường được tổ chức với số lượng đông, được đài thọ kinh phí bởi một số tổ chức, chính phủ cùng với khả năng thu nhập và chi trả cao nên họ có nhu cầu về các dịch vụ cung ứng hoàn hảo, sáng tạo, chất lượng cao. Việc tổ chức các hoạt động du lịch MICE luôn đòi hỏi tính chuyên nghiệp, khoa học và sáng tạo. Đối với bất cứ một chương trình du lịch MICE nào, các hội nghị, hội thảo, meeting, triển lãm...luôn là nội dung chủ yếu, có tầm quan trọng bậc nhất và thường có những chủ đề cụ thể, riêng biệt cũng như mục đích cần đạt tới. Bên cạnh đó, các chương trình này còn bao gồm các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, thư giãn, ăn, nghỉ, thưởng thức văn nghệ...từ đó thỏa mãn các nhu cầu phong phú, đa dạng của các đối tượng khách. Một nét đặc trưng đáng chú ý khác là du lịch MICE thường không có mùa vụ rõ rệt. Vì thế, bên cạnh lợi nhuận khổng lồ, việc kinh doanh và phát triển du lịch MICE còn là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tính mùa vụ trong hoạt động du lịch. Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để phát triển du lich MICE: Thứ nhất, trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn ra phức tạp, mất ổn định tại nhiều quốc gia và khu vực dẫn đến tâm lý không an toàn cho du khách thì Việt Nam nổi lên như một điểm đến an toàn, thân thiện trong mắt du khách quốc tế. Thứ hai, với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và các giá trị văn hóa đặc sắc mang tính truyền thống lịch sử lâu đời, cùng với các di sản thế giới đã thu hút khách du lịch thế giới đến Việt Nam ngày càng tăng trong đó có khách du lịch MICE. Thứ ba, với sự nhộn nhịp của thị trường MICE trong thời gian gần đây, các công ty kinh doanh trong ngành du lịch như các hãng lữ hành, hàng không, khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, trung tâm tổ chức hội chợ và triển lãm… đã có những bước liên kết dịch vụ để tạo ra sản phẩm du lịch trọn gói nhằm thúc đẩy lọai hình du lịch MICE. Thứ tư, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch từng bước được cải thiện và không ngừng phát triển. Hiện Việt Nam có trên 200 khách sạn từ ba đến năm sao, đáp ứng được yêu cầu lưu trú của khách và có nhiều khả năng tổ chức được các hội nghị, hội thảo và các sự kiện văn hóa, thể thao tầm cỡ quốc tế. Tất cả những yếu tố trên chính là điều kiện và lợi thế để Việt Nam phát triển du lịch nói chung và du lịch MICE nói riêng. Do được xây dựng kế hoạch trước, trong thời gian dài, có thể diễn ra quanh năm nên phát triển MICE sẽ góp phần quan trọng nhằm khắc phục tính thời vụ trong du lịch. Thực trạng khai thác du lịch MICE ở Việt Nam trong những năm qua: Việt Nam đang là một điểm đến hấp dẫn mới đối với khách du lịch MICE. Sự “bùng nổ” của lượng du khách MICE đến Việt Nam trong thời gian qua là một tín hiệu vui với ngành du lịch Việt Nam. MICE được các công ty trong ngành du lịch Việt Nam khai thác từ nhiều năm nay. Qua một số tìm hiểu về hoạt động du lịch MICE ở trong nước cũng như quốc tế trong thời gian qua, có thể khẳng định MICE là một cơ hội tốt với ngành du lịch Việt Nam về hướng phát triển du lịch trong tương lai. Phát triển MICE là cơ hội để mở rộng thị trường du lịch, tăng lượng khách quốc tế và nâng cao uy tín cho du lịch Việt nam. Thời gian qua, các khách sạn có doanh thu từ thị phần du khách du lịch MICE năm 2008 tăng 10% so với năm 2007 và công suất phòng đạt trên 80%. Hiện nay Việt Nam chính là một trong mười điếm đến hàng đầu của du lịch MICE trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Với những đặc trưng và hiệu quả mà loại hình du lịch MICE mang lại, do đó cần đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch và các dịch vụ hỗ trợ; tăng cường công tác quảng bá tiếp thị du lịch; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng cho đơn vị tổ chức và đội ngũ phục vụ đối tượng khách du lịch MICE. 2.4 Du lịch sinh thái Bên cạnh các loại hình du lịch khác, loại hình du lịch sinh thái đang từng bước phát triển mạnh mẽ, rộng khắp tại Việt Nam và được nhiều người lựa chọn. Loại hình du lịch này được đánh giá là tạo nên một sức hấp dẫn mới cho du lịch nước ta trong vài năm trở lại đây trong mắt du khách nội địa và quốc tế. Với ưu thế là một nước nông nghiệp, diện tích đất đai, sông ngòi lớn nên loại hình du lịch sinh thái rất được chú trọng phát triển tại Việt Nam với nhiều loại sản phẩm khác nhau. Ngoài ra, Việt Nam còn có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, đó là những di sản thiên nhiên đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như vịnh Hạ Long, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, sản phẩm du lịch sinh thái ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Tây Bắc Việt Nam… Đặc biệt, đã có tới 6 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền, sắp tới sẽ có 2 khu sẽ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới là điều kiện tốt cho nước ta phát triển du lịch sinh thái. Nắm bắt được thế mạnh này, hầu hết các công ty du lịch lữ hành trên cả nước cũng như tại TP.HCM như Saigontourist, Bến Thành Tourist, Fiditour, Vietravel… đã xây dựng nhiều tour du lịch sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của du khách trong và ngoài nước. Ông Nguyễn Minh Mẫn - Đại diện Công ty du lịch Vietravel cho biết, hiện loại hình du lịch sinh thái chiếm khoảng 30% các sản phẩm du lịch của Vietravel. Theo đó, lượng khách Việt Nam đăng ký tham gia loại hình du lịch này chiếm khoảng 30% khách trong nước, và khách quốc tế chiếm đến 50% trên tổng số lượng khách nước ngoài. Được biết Vietravel đã và đang triển khai bộ sản phẩm du lịch sinh thái đến đồng bằng sông Cửu Long do nơi đây sở hữu lợi thế về địa hình sông nước, những cồn cát tự nhiên, nơi phát triển rất mạnh của những vườn cây ăn trái và đậm nét đặc trưng văn hóa Nam bộ ở vùng đồng bằng châu thổ. Bên cạnh đó, những dấu ấn văn hóa bản địa như khám phá điểm đến bằng đò máy, xuồng ba lá, nghe đờn ca tài tử, khám phá văn hóa chợ nổi, tham quan và thưởng thức trái cây tại vườn, tát ao bắt cá hay tham quan làng nghề địa phương… chính là sự hấp dẫn mà du khách có thể dễ dàng cảm nhận được ở những địa danh du lịch như Cồn Phụng, Cồn Thới Sơn, chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Cái Răng, ngã bảy Phụng Hiệp, trang trại Vinh Sang… Tuy nhiên, theo ông Mẫn, loại hình du lịch sinh thái được đưa vào phát triển từ lâu song vẫn còn có nhiều hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu của du khách do vậy vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Cụ thể, du lịch sinh thái trước hết hướng đến vấn đề bảo vệ môi trường nhưng vấn đề vệ sinh tại các điểm tham quan chưa được quan tâm đúng mức, việc phát huy yếu tố văn hóa địa phương vẫn chưa đúng tầm, còn mang tính tự phát, thiếu bài bản. Việc quảng bá hình ảnh du lịch sinh thái vẫn chưa tạo được ấn tượng, tính liên kết sản phẩm du lịch địa phương thiếu chặt chẽ, không thể hiện rõ nét đặc trưng sản phẩm ở từng địa phương do vậy tính hấp dẫn còn khá hạn chế. Do đó, để góp phần phát triển mạnh loại hình du lịch sinh thái giàu tiềm năng và sức hút này thì các công ty du lịch cũng như các địa phương nên đa dạng sản phẩm bằng cách mở rộng phát triển thêm một số tỉnh thành ở phía Nam như: Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng… Cần triển khai và quảng bá các loại hình sinh thái đặc trưng như sinh thái biển, rừng… nhằm khai thác hết lợi thế và tiềm năng sẵn có. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn cần được đầu tư đúng mức theo hướng đa dạng nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của du khách, vừa có khách sạn cao cấp vừa có nhà nghỉ dạng homestay, ngủ tại nhà dân (có chọn lọc), nhà cổ,… sáng tạo nhiều sản phẩm du lịch độc đáo mang đậm dấu ấn Việt Nam như: một ngày làm nông dân (Vĩnh Long, Cần thơ), học nghề làm chiếu Định Yên (Đồng Tháp), khám phá văn hóa đám cưới Việt…Bên cạnh những dịch vụ hướng đến sinh thái và văn hóa bản địa, các địa phương cũng cần quan tâm đến nhu cầu mua sắm của du khách, vì mỗi nguồn thu dù nhỏ đều có khả năng góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch địa phương đưa loại hình du lịch sinh thái ngày càng phát triển. 3.Các vùng du lịch Ở Việt Nam có nhiều vùng du lịch nhưng trọng điểm là ba vùng du lịch sau: 3.1 Vùng du lịch Bắc Bộ Ngày nay, Việt Nam ngày càng trở nên nổi bật trên trường quốc tế về khả năng phát triển mạnh về mọi mặt, trong đó du lịch là một lĩnh vực được dành nhiều ưu ái. Với lợi thế thiên nhiên cùng những cảnh quang độc đáo và các di tích khảo cổ đặc sắc vùng du lịch Bắc Bộ đã và đang thu hút du khách ngày càng đông. Hiện nay song song với việc phát triển nền công nghiệp thì du lịch cũng được xem là nghành kinh tế mũi nhọn ở vùng du lịch này. Vùng này có rất nhiều cảnh đẹp. Cảnh thiên nhiên ở đây có những nét hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng, khung cảnh tĩnh mịch trong ánh rừng giả nguyên sinh như ở các vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) với hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới rất điển hình, hoàn toàn làm thỏa mản trí tò mò các du khách và lòng say mê nghiên cứu của các nhà khoa học. Gắn với rừng là vùng hang động Karstơ, cũng là một đặc trưng của vùng du lịch Bắc Bộ. Hang động có rất nhiều ở các vùng núi đá vôi rất nổi tiếng và có ở nhiều tỉnh như vùng hang động tỉnh Ninh Bình (Bích Động, Địch Lộng..) Hà Tây (Hương Sơn), Phú Thọ (Xuân Sơn), Lạng Sơn (Nhất, Nhị, Tam Thanh) vùng hang động trên các đảo đá vôi vùng Vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà (Hải Phòng) cũng nổi tiếng. Cùng với cảnh đẹp núi rừng, hang động, khí hậu vùng du lịch Bắc Bộ cũng rất đặc biệt, quanh năm ánh nắng chan hoà, với ba mùa (Xuân, Hè và Thu) là một điều kiện thuận lợi để du lịch phát triển quanh năm. 3.2 Vùng du lịch Bắc Trung Bộ Vùng du lịch Bắc Trung Bộ (VDLBTB) nằm ở vị trí trung gian của đất nước,là cầu nối giữa hai trung tâm du lịch lớn nhất cả nước (Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh). Vùng du lịch này gồm có 6 tỉnh thành phố trực thuộctrung ương : Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Namvà Quảng Ngãi. Trong đó có hai trung tâm du lịch là Huế - Đà nẵng. Vùng du lịch này chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai như lũ lụt,bão và gió Lào khô nóng. Điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt ở đâybuộc các nhà quản lí phải có sự nghiên cứu thấu đáo để xác định thờigian du lịch tối ưu cho khách và cả guồng máy hoạt động của mình.Do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, địa hình mà sông ngòi ở vùng nàythường ngắn và dốc; lớp phủ thực vật rừng phong phú, nhiều lâm sản, chim thú quí hiếm. Biển ở vùng này có nhiều bãi cát phẳng, đẹp vào loại nhấtcả nước. Trong lòng biển là nguồn tài nguyên hải sản phong phú, nguồn thực phẩm dồi dào. Đảo Cồn Cỏ, cù lao Chàm đã là những địa danh nổi tiếng. Đồng thời có rất nhiều cửa khẩu biên giới giữa Việt - Lào: Nậm Cắn, Cầu Treo, Cha Lo, Lao Bảo tạo điều các tàu chở khách du lịch nước ngoài vào nước ta làm cho số lượng khách du lịch đang tăng lên mỗi ngày. Vùng du lịch Bắc Trung Bộ có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, trong đó có nhiềudi sản thế giới nhất so với các vùng du lịch trong cả nước: cố đô Huế,phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, nhã nhạc cung đình Huế. Bắc Trung Bộ là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của Việt Nam, là nơi có 3 di sản thế giới: Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế. Bắc Trung Bộ là nơi có nhiều bãi biển đẹp như: Bãi biển Sầm Sơn, Bãi biển Cửa Lò, Bãi biển Thiên Cầm, Bãi biển Nhật Lệ, Bãi biển Cửa Tùng, Bãi biển Thuận An, Lăng Cô. Khu vực này có các vườn quốc gia: Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vườn quốc gia Bạch Mã. Bắc Trung Bộ tuy có khó khăn về khí hậu và địa hình, nhưng với bề dày lịch sử văn hóa, bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp, nhiều điểm tham quan lý tưởng đã góp phần làm cho du lịch ở đây ngày càng phát triển và thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. 3.3 Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi, nằm trên trục các đường giao thông bộ, sắt, hàng không và biển. Bên cạnh đó vùng được thiên nhiên ban tặng những cảnh quan tuyệt đẹp đó là những núi đá xen những cồn cát trắng chạy dọc ven biển xanh biếc. Nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp như Vũng Tàu, cát Tiên, Côn Đảo, Hà Tiên,....Cùng với đó là các loại hình lễ hội dân gian truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, âm nhạc, nghệ thuật diễn xướng, kiến trúc, ca - múa -nhạc dân gian… vô cùng đặc sắc. Điều đó tạo điều kiện cho du lịch ở vùng này phát triển. Tiểu vùng du lịch quan trọng của vùng này là Tây Nguyên. Nét văn hóa đặc trưng đối với đồng bào ở đây là không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên. Giá trị của cồng chiêng được thể hiện qua tiếng ngân vang của nó, những tiếng cồng vượt xa năm, bảy ngọn núi… Thường những chiếc cồng đồng có pha vàng hoặc bạc vì vậy âm thanh của nó rất hay và được xem là vật quí của người Tây Nguyên. Thông qua các lễ hội, tập tục, sinh hoạt hằng ngày, cồng chiêng đã trở thành một phương tiện chuyển tải thông điệp của cộng đồng. Nét văn hóa độc đáo này đã góp phần thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan và khám phá. Với những điều kiện thuận lợi trên vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã và đang ngày càng thu hút lượng du khách đông đảo. Ngành du lịch của vùng ngày càng phát triển mạnh góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong vùng nói riêng và cả nước nói chung. 4.Thành tựu và thách thức của du lịch Việt Nam 4.1 Thành tựu Tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng lớn Về khách du lịch: số lượng du khách đến Việt Nam ngày càng tăng, đây là tín hiệu đáng mừng cho ngành du lịch. Về thu nhập du lịch: Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội. Tốc độ tăng trưởng nhanh về thu nhập: năm 1990 thu nhập du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2009, con số đó ước đạt 70.000 tỷ đồng, gấp trên 50 lần. Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch ngày càng rõ nét, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho xã hội. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành Du lịch trong khu vực dịch vụ. Ở đâu Du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt như Sa Pa (Lào Cai), Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên-Huế), Hội An (Quảng Nam), Nha Trang (Khánh Hòa), Mũi Né (Phan Thiết), Bình Châu (Xuyên Mộc - Bà Rịa Vũng Tàu), một số địa phương đồng bằng sông Cửu Long…); tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển; khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ công truyền thống; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và với nước ngoài. Thông qua du lịch các ngành kinh tế xã hội khác phát triển; mở thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác, thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. Hoạt động du lịch phát triển đã kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư. Việt Nam đứng thứ 12/181 quốc gia tăng trưởng du lịch dài hạn. Theo đó, đóng góp trực tiếp của du lịch Việt Nam năm 2010 vào GDP là 73.800 tỷ đồng (tương đương gần 4 tỷ USD), chiếm 3,9% GDP; lao động trực tiếp tham gia vào lĩnh vực du lịch là 1.397.000 người, khoảng 3% tổng số lao động toàn quốc. Tuy nhiên, các con số gián tiếp (khá chính xác vì tính theo tài khoản vệ tinh) cao hơn rất nhiều. Ngành du lịch đóng góp gián tiếp tới hơn 231.200 tỷ đồng vào GDP (tương đương 12,5 tỷ USD), khoảng 12,4% GDP; có 4.539.000 người hoạt động gián tiếp trong lĩnh vực du lịch, chiếm 9,9% tổng lao động toàn quốc. Năm 2020, dự kiến đóng góp gián tiếp của ngành Du lịch sẽ là 738.600 tỷ đồng (tương đương 32,658 tỷ USD), khoảng 13,1% GDP; có 5.651.000 công ăn việc làm gián tiếp trong du lịch, chiếm 10,4% tổng số việc làm. Giá trị tăng trưởng của du lịch là 3,4% năm 2010 và sẽ tăng lên 7,3%/năm trong 10 năm tới. Thu nhập du lịch nhờ xuất khẩu tại chỗ từ khách quốc tế và hàng hóa du lịch dự kiến tạo ra 84.700 tỷ đồng (tương đương 4,58 tỷ USD), chiếm 6,7% tổng xuất khẩu cả nước trong năm 2010. Năm 2020 sẽ đạt 285.300 tỷ đồng (tương đương 12,6 tỷ USD), chiếm 7,3% tổng xuất khẩu cả nước. Từ những thành tưụ trên cho thấy du lich ở Việt Nam ngày cáng phát triển. Du lịch đã và đang ngày càng cải thiện mức sống của người dân ở những nơi du lịch phát triển mạnh, đồng thời nó cũng tác động, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác như xuất khẩu tại chỗ, dịch vụ,… 4.2 Thách thức Vấn đề bảo vệ môi trường và vấn đề vệ sinh tại các điểm tham quan chưa được quan tâm đúng mức, việc phát huy yếu tố văn hóa địa phương vẫn chưa đúng tầm, còn mang tính tự phát, thiếu bài bản. Việc quảng bá hình ảnh du lịch chưa tạo được ấn tượng, tính liên kết sản phẩm du lịch địa phương thiếu chặt chẽ, không thể hiện rõ nét đặc trưng sản phẩm ở từng địa phương do vậy tính hấp dẫn còn khá hạn chế. Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn thấp. Vai trò của trung tâm du lịch với sự phát triển du lịch của vùng, các địa phương trong lãnh thổ chưa được phát huy đầy đủ. Hoạt động du lịch gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa lịch sử còn hạn chế. Việc quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch chưa được thực hiện triệt để dẫn đến đầu tư không đồng bộ, dàn trải, không tạo nên hiệu quả tổng thể. Một số giải pháp để khắc phục những khó khăn trên: Để góp phần phát triển mạnh loại hình du lịch thì các công ty du lịch cũng như các địa phương nên đa dạng sản phẩm bằng cách mở rộng phát triển them, cần triển khai và quảng bá các loại hình du lịch rộng khắp. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn cần được đầu tư đúng mức theo hướng đa dạng nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của du khách, vừa có khách sạn cao cấp vừa có nhà nghỉ dạng homestay, ngủ tại nhà dân (có chọn lọc), nhà cổ,… sáng tạo nhiều sản phẩm du lịch độc đáo mang đậm dấu ấn Việt Nam. Cần quan tâm đến nhu cầu mua sắm của du khách, vì mỗi nguồn thu dù nhỏ đều có khả năng góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch địa phương đưa loại hình du lịch sinh thái ngày càng phát triển. Để ngành du lịch phát triển trong thời gian tới rất cần một quy hoạch du lịch tổng thể bám sát thực tế Chú trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ; Hạn chế đến mức thấp nhất những can thiệp mang tính hành chính vào hoạt động kinh doanh du lịch. Tăng cường hợp tác đa phương và song phương từ đó sử dụng có hiệu quả hỗ trợ quốc tế về nguồn lực vật chất, kinh nghiệm và công nghệ quản lý. PHẦN KẾT LUẬN Được sự ưu đãi từ thiên nhiên, bờ biển trải dài suốt dọc chiều dài đất nước với nhiều cảnh quan phong phú đa dạng, nhiều khu sinh thái, nhiều cảnh non nước trữ tình, điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi cộng với một nền văn hóa ngàn năm văn hiến đậm đà bản sắc dân tộc đã tạo nên một Việt Nam – một điểm đến lý tưởng của những ai ưa thích sự mới lạ và sự khám phá. Tận dụng những lợi thế sẵn có Việt Nam đang dần trở thành một điển du lịch được yêu thích của nhiều du khách trong và ngoài nước. Chính vì vậy ngành du lịch Việt Nam ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong sự phát triển nền kinh tế của cả nước. Số người đi du lịch nhiều cũng thể hiện đời sống của người dân ngày càng được nâng cao hơn. Vai trò của du lịch đã được khẳng định là quan trọng trong nền kinh tế. Vì vậy cần có những quan tâm đúng mực để du lịch phát huy tối đa sức mạnh vốn có của nó. Song song với phát huy là khắc phục những mặt hạn chế, cần có những quy hoạch rõ ràng về loại hình du lịch, vùng du lịch, cần có sự liên hệ gắn bó giữa kế hoạch và thực tiễn, đặc biệt chú trọng nâng cao ý thức trong việc tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, để Việt Nam là một trong những điểm đến đáng tin cậy của tất cả mọi người, để người Việt Nam luôn tự tin nói với du khách rằng: “Khám phá, vui chơi, thư giãn hãy đến với chúng tôi – đến với Việt Nam”. PHỤ LỤC Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2009) Khu vực Tổng số Nhà nước Cổ phần Liên doanh TNHH Tư nhân Miền Bắc 402 32 170 3 196 1 Miền Trung 73 10 20 2 40 1 Miền Nam 283 27 51 7 196 2 Tổng số 758 69 241 12 432 4 Bảng 2. Vốn ngân sách TW hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch 2001-2009 Tổng số 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Số vốn hỗ trợ (tỷ đồng) 4.836 266 380 450 500 550 620 750 620 700 Số tỉnh, thành phố được cấp vốn hỗ trợ - 13 37 43 53 58 59 59 56 55 Bảng 3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 1995 – 2009 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2007 2008 6 tháng đầu năm 2009 Số dự án 24 02 04 25 13 15 48 26 145 Vốn (triệu USD) 1.381,2 22,8 10,3 174,2 239 111,17 2.012 9.126 2.483 Bảng 4. Khách sạn xếp hạng (tính đến tháng 6/2009) Stt Hạng Số lượng Số buồng 1 5 sao 33 8.564 2 4 sao 90 10.950 3 3 sao 176 12.674 4 2 sao 850 31.450 5 1 sao 990 20.790 6 Đạt tiêu chuẩn tối thiểu (*) 3.100 46.724 Tổng cộng 5.239 131.152 Bảng 5. Dự báo sự phát triển của cơ sở lưu trú du lịch đến năm 2015 Stt Hạng Số lượng Số buồng 1 5 sao 70 22.000 2 4 sao 180 30.000 3 3 sao 500 40.000 4 2 sao 2.500 92.000 5 1 sao 5.000 110.000 6 Đạt tiêu chuẩn KDLTL 6.000 90.000 Tổng cộng 14.250 384.000 Bảng 6. Số lượng khách du lịch hàng năm (nội địa, quốc tế)                                                                                  Đơn vị: lượt người Năm Khách quốc tế Khách nội địa 1990 250.000 1.000.000 1991 300.000 1.500.000 1992 400.000 2.000.000 1993 670.000 5.100.000 1994 1.020.000 6.200.000 1995 1.351.300 6.900.000 1996 1.607.200 7.300.000 1997 1.715.600 8.500.000 1998 1.520.100 9.600.000 1999 1.781.800 10.000.000 2000 2.140.100 11.200.000 2001 2.330.050 11.700.000 2002 2.627.988 13.000.000 2003 2.428.735 13.500.000 2004 2.927.873 14.500.000 2005 3.477.500 16.100.000 2006 3.583.486 17.500.000 2007 4.229.349 19.200.000 2008 4.253.740 20.500.000 6 tháng 2009 (ước) 1.893.605 11.700.000 Bảng 9. Thu nhập du lịch Đơn vị: ngàn tỷ đồng Năm Thu nhập 1990 1,34 1991 1,68 1992 2,83 1993 5,25 1994 8,00 1995 8,73 1996 9,50 1997 10,06 1998 14,00 1999 15,60 2000 17,4 2001 20,50 2002 23,00 2003 22,00 2004 26,00 2005 30,00 2006 51,00 2007 56,00 2008 64,00  6 tháng 2009 (ước) 32,40

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxDu lịch Việt Nam thực trạng và thách thức.docx
Luận văn liên quan