Đề tài Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần tiên phong chi nhánh Hoàn Kiếm

Qua quá trình học tập trên ghế nhà trường và thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, em nhận thức rằng đi đôi với việc học tập nghiên cứu, lý luận thì việc tìm hiểu thực tế cũng là một giai đoạn hết sức quan trọng không thể thiếu. Đó chính là thời gian sinh viên vận dụng, thử nghiệm những kiến thức đã học được trên ghế nhà trường vào thực tế. Mặt khác nó còn tạo điều kiện cho sinh viên hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn những kiến thức mà mình đã có, bổ sung thêm những kiến thức mà chỉ qua công tác thực tế mới có được. Nhận thấy rằng các DNNVV đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam tuy nhiên DNNVV thường gặp nhiều khó khăn về tài chính, thiếu hụt nguồn vốn để sản xuất kinh doanh. Vì vậy, sự giúp đỡ của ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho DNVVN là hết sức cần thiết bởi nguồn vốn của ngân hàng là nguồn vốn an toàn và ổn định nhất đối với các doanh nghiệp này. Vì thế, việc tìm ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV tại ngân hàng là một vấn đề vô cùng cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm khóa luận đã tiến hành hệ thống hóa những lý luận cơ bản về DNNVV cũng như cho vay DNNVV của các NHTM và qua đó phân tích đánh giá hoạt động cho vay DNNVV tại Chi nhánh Hoàn Kiếm, những mặt đạt được và chưa đạt được, những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV tại Chi nhánh. Qua đó, khóa luận đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các DNNVV tại Chi nhánh này

pdf91 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 08/08/2017 | Lượt xem: 711 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần tiên phong chi nhánh Hoàn Kiếm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DNVVN còn 62 tồn tại những yếu kém, các doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho việc thu nợ không đạt hiệu quả. Để tiếp có thể tăng vòng quay vốn tín dụng trong thời gian tới, Chi nhánh cần áp dụng các biện pháp linh hoạt hơn đối với từng khoản nợ quá hạn, nợ xấu như đôn đốc, nhắc nhở các DNVVN trả nợ, nhờ cơ quan chức năng địa phương can thiệp cưỡng chế đòi nợ hoặcnghiêm trọng hơn có thể kiện ra tòa. Từ đó Chi nhánh có thể sử dụng vốn thu hồi được để tăng doanh thu, nâng cao chỉ tiêu lợi nhuận của mình. Nợ quá hạn cho vay DNVVN Nợ quá hạn cho vay DNVVN là chỉ tiêu biểu thị quan hệ tín dụng của ngân hàng không hoàn hảo, khi các DNVVN vay vốn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn. Nợ quá hạn gia tăng sẽ làm phát sinh thêm nhiều loại chi phí gây ra tổn thất cho ngân hàng. Nợ quá hạn bao gồm các nhóm nợ 2,3,4 và 5. Bảng 2.10. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của TPBank – Hoàn Kiếm trong cho vay DNVVN giai đoạn 2011 - 2013 Đơn vị:Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 NQH cho vay DNVVN 13,41 33,52 22,65 Nợ xấu cho vay DNVVN 6,03 16,19 11,30 Dư nợ cho vay DNVVN 376,75 710,36 1.198,37 NQH cho vay DNVVN/Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN(%) 3,56 4,72 1,89 Nợ xấu cho vay DNVVN/Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN(%) 1,6 2,28 0,95 Nợ xấu cho vay DNVVN/NQH cho vay DNVVN(%) 44,96 48,29 49,88 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm) Từ bảng số liệu 2.10, có thể thấy tỷ lệ NQH cho vay DNVVN của Chi nhánh tăng giảm không đồng đều trong những năm gần đây. Năm 2011 nợ quá hạn là 13,41 tỷ đồng. Năm 2012 nợ quá hạn là 33,52 tỷ đồng tăng 21,11 tỷ đồng so với năm 2011. Nền kinh tế năm 2011 và 2012 gặp nhiều khó khăn kéo theo các doanh nghiệp sản xuất cũng như xây dựng, bất động sản đều yếu kém, trì trệ trọng hoạt động, sản lượng hàng tồn kho cao, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến nguồn trả nợ không được đảm bảo. Các hoạt động đầu tư công trong năm qua đã hạn chế trong bối cảnh thắt chặt chi tiêu đã ảnh hưởng trực tiếp đến các DNVVN thuộc ngành công nghiệp – xây dựng. Ngoài ra, do chủ quan nên các CBTD của Chi nhánh đã lơ là trong công tác thẩm định, dẫn đến việc thu thập thông tin của khách hàng không được đầy đủ, hoạt động kiểm Thang Long University Library 63 soát quá trình sử dụng vốn vay chưa thực sự tốt, khiến cho tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao. NQH cho vay DNVVN tăng cao khiến cho tỷ lệ NQH cho vay DNVVN trên dư nợ cho vay DNVVN của TPBank – Hoàn Kiếm tăng từ 3,56% trong năm 2011 cũng lên 4,72% trong năm 2012. Nợ xấu của cho vay DNVVN cũng có xu hướng tăng mạnh, từ 6,03 tỷ đồng trong năm 2011 tăng lên đến 16,19 tỷ đồng vào năm 2012. Trong năm 2012, khi một số DNVVN không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, hàng tiến hành xử lý tài sản đảm bảo là bất động sản, nhưng tại thời điểm ngân hàng cho các DNVVN này vay, thị trường bất động sản đang rất “nóng”, khiến cho giá của tài sản đảm bảo khi ngân hàng tiến hành thẩm định là rất cao. Đến nay, thị trường bất động sản bị “đóng băng”, giá nhà đất sụt giảm mạnh, thì có trường hợp giá bất động sản mà khách hàng thế chấp giảm giá trị từ 50 tỷ xuống chỉ còn 5 tỷ, ngân hàng thiệt hại nặng nề, mà nhu cầu mua lại bất động sản đó cũng không nhiều. Cũng có nhiều trường hợp CBTD của Chi nhánh thân quen với DNVVN nên khi tiến hành thẩm định tài sản đảm bảo lơ là, chủ quan dẫn đến khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo thì giấy tờ của TSĐB đó không minh bạch, chính xác khiến cho việc phát mãi TSĐB không thể thực hiện được. Đó chính là nguyên nhân khiến cho nợ xấu của Chi nhánh tăng cao. Tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ cho vay DNVVN cũng vì thế mà tăng theo, năm 2011 chiếm 1,6%, năm 2012 chiếm đến 2,28% trong tổng dư nợ cho vay DNVVN. Sang đến năm 2013, dư nợ cho vay DNVVN có tốc độ tăng trưởng khá tốt và bên cạnh đó NQH cho vay DNVVN cũng giảm đáng kể. Để đạt được kết quả khả quan trên, ngân hàng đã chú trọng hơn vào công tác thẩm định cũng như giám sát khoản vay, thành lập khối pháp chế để hạn chế rủi ro trong hoạt động, đưa ra các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa và tìm mọi biện pháp xử lý và thu hồi nợ quá hạn, như xử lý TSĐB, yêu cầu người đứng ra đảm bảo cho vay trả nợ, nếu cần thiết có thể xử lý bằng pháp luật cũng như đưa ra các biện pháp thắt chặt cho vay, kiểm soát cho vay chặt chẽ hơn với những lĩnh vực có nhiều rủi ro như: bất động sản, xây dựng, chứng khoán Chính vì vậy, NQH cho vay DNVVN năm 2013 giảm xuống còn 22, 65 tỷ đồng, tỷ lệ NQH cho vay DNVVN trong tổng dư nợ cho vay DNVVN chỉ còn là 1,89%. Nợ xấu cũng giảm xuống chỉ còn 11,30 tỷ đồng trong năm 2013, giảm 4,89 tỷ đồng so với năm 2012, chiếm 0,95% trong tổng dư nợ cho vay DNVVN. Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn của Chi nhánh tăng trong giai đoạn 2011-2013 lần lượt là 44,96% (năm 2011), 48,29% (năm 2012) và 49,88% (năm 2013). Năm 2012 tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn tăng cao do tốc độ tăng trưởng của nợ xấu (168,49%) tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng của nợ quá hạn (149,96%) và công tác thu hồi nợ, phát mãi TSĐB gặp nhiều khó khăn. Các khoản nợ từ nhóm 3-5 tăng cao là tín hiệu đáng lo 64 ngại đối với Chi nhánh. Nếu tỷ lệ nợ xấu chiếm phần lớn nợ quá hạn sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài những nguyên nhân khách quan và tình hình khó khăn của nền kinh tế, còn tồn tại những nguyên nhân chủ quan đáng lo ngại còn tồn tại ở Chi nhánh, đặc biệt là vấn đề đạo đức, nguyên tắc nghề nghiệp của cán bộ nhân viên. Trong hai năm 2012 và 2013, ngân hàng đã sử dụng mọi biện pháp để thu hồi nợ quá hạn. Ban đầu là đôn đốc nhắc nhở khách hàng trong việc trả nợ, tiếp theo là sử dụng các biện pháp cứng rắn hơn như phối hợp với với các cơ quan chức năng địa phương can thiệp và cưỡng chế và cuối cùng nếu doanh nghiệp vẫn cố tình không trả nợ Chi nhánh buộc phải tiến hành khởi kiện các khách hàng đó. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa như nâng cao hiệu quả thẩm định vốn, phân tích đánh giá phương án SXKD một cách sát sao hơn nữa, kiểm tra giám sát các khoản vay để đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay DNVVN. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN Bảng 2.11. Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 DPRR cho vay DNVVN được trích 6,38 23,88 24,57 Dư nợ cho vay DNVVN 376,75 710,36 1.198,37 Tỷ lệ trích DPRR cho vay DNVVN(%) 1,69 3,36 2,06 (Nguồn: Báo cáo kết quả cho vay DNVVN tại TPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm) Tỷ lệ trích lập DPRR cho vay DNVVN cho biết dự phòng RRTD trong cho vay DNVVN được trích lập bao nhiêu so với tổng dư nợ cho vay DNVVN. Tỷ lệ này cao chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN chưa thực sự tốt, ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng nhiều. Năm 2011, mặc dù nền kinh tế khó khăn nhưng ít biến động, cùng với chính sách và biện pháp tín dụng hợp lý, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Chi nhánh chỉ là 1,69% và khoản DPRR được trích là 6,38 tỷ đồng. Sang đến năm 2012, tỷ lệ trích lập là 3,36% và khoản DPRR được trích là 23,88 tỷ đồng, tăng 17,5 tỷ đồng so với năm 2011, tương ứng 274,29%. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh này là do việc trích lập DPRR luôn song song với sự tăng trưởng của dư nợ cho vay DNVVN. Hơn nữa trong năm 2012, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn khiến cho rủi ro trong công tác cho vay DNVVN nhiều hơn, nợ xấu tăng cao khiến Chi nhánh càng chú trọng hơn đến công tác đảm bảo an toàn nguồn vốn vay, khả năng bù đắp khi xảy ra rủi ro cho vay DNVVN cũng vì thế cần được nâng cao hơn. DPRR cho vay DNVVN được trích lập Thang Long University Library 65 trong năm 2012 khá tương xứng với mức tăng của dư nợ cho vay DNVVN và NQH cho vay DNVVN, nợ xấu cho vay DNVVN. Đây cũng chính là nguyên nhân lý giải DPRR năm 2013 tăng 0,69 tỷ đồng tương ứng 2,88% so với năm 2012. Mặc dù vậy, tỷ lệ trích lập DPRR trên dư nợ cho vay DNVVN trong năm 2013 giảm xuống còn 2,06%, do Chi nhánh đã nỗ lực hoàn thiện công tác thẩm định cho vay, giúp khoản vay được đảm bảo an toàn hơn ngay từ ban đầu, rủi ro gặp phải sẽ ít hơn, tỷ lệ dự phòng giảm xuống so với năm 2012. Mặc dù vậy, khoản trích lập dự phòng cho vay DNVVN năm 2013 vẫn còn khá cao là 24,57 tỷ đồng, trong khi nợ quá hạn và nợ xấu trong cho vay DNVVN của Chi nhánh giảm mạnh trong năm 2013. Sự gia tăng của DPRR sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay chưa tốt; vì vậy Chi nhánh cần chú ý hơn đến chỉ tiêu này làm sao để giảm tỷ lệ trích lập DPRR xuống mức thấp nhất có thể. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho nợ vay DNVVN Khi các khoản vay đã được xử lý, tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng thì hệ số khả năng bù đắp rủi ro này sẽ cho biết ngân hàng có đủ khả năng bù đắp cho số dư nợ đã mất đi bằng dự phòng rủi ro tín dụng hay không. Nợ đã xử lý rủi ro trong năm 2011 là 3,42 tỷ đồng. Đến năm 2012 con số này tăng mạnh lên 9,17 tỷ đồng, tăng 168,12% so với năm 2011. Năm 2013 con số này là 9,16 tỷ đồng, giảm nhẹ so với năm 2012. Trong hai năm 2012 nợ quá hạn và nợ xấu của Chi nhánh tăng cao, ngân hàng đã xem xét và xử lý lại một số khoản nợ quá hạn, phần lớn là các DNVVN có quan hệ tín dụng tốt với Chi nhánh trong các năm trước, do khủng hoảng kinh tế nên hoạt động chưa thực sự đạt được hiệu quả, dẫn đến chưa có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra còn là một số khoản cho vay DNVVN đã quá lâu, ngân hàng đã xử dụng nhiều biện pháp đòi nợ xong do doanh nghiệp đã phá sản, TSĐB được mang đi thế chấp tại nhiều ngân hàng nên rất khó khăn trong việc phát mãi tài sản, khả năng thu hồi nợ gần như là không thể, ngân hàng buộc phải lấy khoản DPRR để bù đắp. Ngân hàng đã đưa ra các biện pháp xử lý các khoản nợ cho các doanh nghiệp như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, gia hạn nợ hoặc xóa nợ cho doanh nghiệp từ đó mà các khoản nợ đã xử lý tăng cao. Việc xử lý các khoản nợ có thể giúp ngân hàng giảm được các khoản nợ xấu, nợ quá hạn tuy nhiên ngân hàng cần phải thận trọng, xem xét kỹ càng trước khi ra quyết định vì nợ đã xử lý tăng quá cao tức là đã xảy ra thất thoát trong ngân hàng, hiệu quả của hoạt động cho vay không được đảm bảo. Nhìn vào bảng 2.12 có thể thấy hệ số bù đắp rủi ro của Chi nhánh năm 2012 là 2,60 lần, tăng 0,74 lần so với năm 2011. Tức là khi 1 đồng cho vay bị thất thoát thì có 2,60 đồng dự trữ để bù đắp 1 đồng thất thoát đó. Mặc có hệ số khả năng bù đắp có tăng trong năm 2012 xong so với các ngân hàng thương mại khác thì hệ số khả năng bù đắp 66 rủi ro của Chi nhánh vẫn còn khá thấp. Năm 2013 hệ số này là 2,68 lần, tăng 0,08 lần so với năm 2012. Nguyên nhân là do trong năm 2013, nhằm đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của chi nhánh, DPRR cho vay DNVVN vẫn tăng so với năm 2012 tuy nhiên chỉ tăng nhẹ và nợ xử lý rủi ro của Chi nhánh lại giảm nhẹ. Bảng 2.12. Hệ số khả năng bù đắp rủi ro cho nợ vay DNVVN đã xử lý Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch năm 2011-2012 Chênh lệch năm 2012- 2013 Số tiền Tƣơng đối (%) Số tiền Tƣơng đối (%) DPRR cho vay DNVVN được trích 6,38 23,88 24,57 17,5 272,29 0,69 2,88 Nợ đã xử lý 3,42 9,17 9,16 5,75 168,12 (0,1) (1,09) Hệ số khả năng bù đắp rủi ro (lần) 1,86 2,60 2,68 0,74 39,78 0,08 3,07 (Nguồn:Báo cáo kết quả cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm) Chỉ tiêu này Chi nhánh cần hết sức lưu ý vì nó phản ánh trực tiếp sự an toàn, ổn định về vốn cũng như chất lượng tín dụng của chi nhánh. Tuy nhiên, DPRR cũng là một khoản chi phí, DPRR được trích nhiều thì đồng vốn được đảm bảo nhưng cũng khiến cho nguồn vốn của Chi nhánh giảm, từ đó giảm hiệu quả cho vay. Chi nhánh cần trích lập DPRR một cách hợp lý sao cho vừa an toàn mà vẫn đảm bảo được sự hiệu quả trong các hoạt động khác của mình. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN Bảng 2.13. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank – Hoàn Kiếm giai đoạn 2011-2013 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Lợi nhuận từ hoạt động cho vay 4,26 9,05 28,07 Lợi nhuận từ cho vay DNVVN 2,14 4,70 14,73 Chi phí DPRR cho vay DNVVN 6,38 23,88 24,57 Tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN / Chi phí DPRR cho vay DNVVN (%) 33,54 19,68 59,95 Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay DNVVN / Lợi nhuận hoạt động cho vay (%) 50,20 51,99 52,50 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm) Thang Long University Library 67 Kết quả từ bảng 2.13 trên cho thấy hoạt động cho vay luôn mang lại lợi nhuận cao cho Chi nhánh với tốc độ tăng trưởng qua các năm là trên 100%. Ta thấy được năm 2011, lợi nhuận từ hoạt động cho vay đạt 4,26 tỷ đồng, đến năm 2012 lợi nhuận tăng lên 9,05 tỷ đồng so với năm 2011, ứng với tỷ lệ tăng trưởng 112,44%. Sang năm 2013 tăng lên 28,07 tỷ đồng, tăng 19,02 tỷ đồng tương ứng 210,16 % so với năm 2012. Đây là kết quả của sự chỉ đạo tận tình của ban giám đốc, cùng sự phối hợp hoạt động của các CBNV nên việc tìm kiếm các khách hàng của Chi nhánh mới diễn ra suôn sẻ, doanh số cho vay tăng đều qua các năm, lợi nhuận từ cho vay cũng tăng lên, hiệu quả cho vay được cải thiện và nâng cao hơn. Trong hoạt động cho vay thì hoạt động cho vay DNVVN từ lâu đã là hoạt động cho vay chủ chốt và đang mang lại một nguồn thu nhập lớn cho Chi nhánh. Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNVVN trong lợi nhuận đạt được từ hoạt động cho vay của Chi nhánh cũng không ngừng tăng qua các năm. Năm 2011, lợi nhuận từ cho vay DNVVN là 2,14 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 50,20% trong tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay của Chi nhánh; sang năm 2012, lợi nhuận từ cho vay DNVVN tăng lên 4,70 tỷ đồng, chiếm 51,99% tỷ trọng trong tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay. Đến năm 2013 con số này là 14,73 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 52,50% trong tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay. So sánh với tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng thì tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này mang lại là khá tương xứng. Chứng tỏ hầu hết các khoản vay DNVVN của chi nhánh trong giai đoạn 2011 – 2013 đều mang lại lợi nhuận, chỉ có một số ít các khoản vay có vấn đề do vấn đề thẩm định chưa thực sự tốt hoặc do các yếu tố khách quan mà khách hàng chưa trả được nợ vay cho ngân hàng. Các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành đối tượng mục tiêu của Chi nhánh, số lượng khách hàng đến với Chi nhánh ngày càng tăng. Công tác tìm kiếm khách hàng, thẩm định, marketing, tư vấn cho khách hàng vay là các DNVVN ngày càng tốt và hiệu quả hơn. Mặc dù vậy, nhìn vào bảng 2.13, xem xét tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên chi phí DPRR cho vay DNVVN của chi nhánh nhận thấy rằng chi phí DPRR trong cho vay DNVVN của chi nhánh là rất lớn. Năm 2011, tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên chi phí DPRR cho vay DNVVN là 33,54%, tức là ngân hàng bỏ ra một khoản gần gấp 3 lợi nhuận để DPRR. Năm 2012 do nợ xấu và nợ quá hạn cho vay DNVVN tăng cao khiến chi phí DPRR cũng tăng cao, tỷ lệ lợi nhuận cho vay DNVVN trên chi phí DPRR cho vay DNVVN chỉ đạt 19,68%, ngân hàng bỏ ra một khoản chi phí gấp hơn 5 lần lợi nhuận để DPRR. Chi phí DPRR quá lớn chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN của chi nhánh vẫn còn nhiều yếu kém, khiến cho thu nhập của Chi nhánh giảm sút trong năm 2012. Sang đến năm 2013, tỷ lệ này tăng lên 59,95%, là do DPRR của chi nhánh tăng rất ít so với năm 2012, lợi nhuận của ngân hàng đạt được nhiều hơn. Mặc 68 dù DPRR là cần thiết xong ngân hàng vẫn cần phải xem xét mức dự phòng hợp lý sao vẫn đảm bảo an toàn mà nguồn vốn của ngân hàng được sử dụng với hiệu quả cao nhất, tăng nguồn thu nhập cho Chi nhánh. 2.6. Đánh giá hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011- 2013 2.6.1. Những kết quả đạt được 2.6.1.1. Trên phương diện định tính Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã thực hiện khá nghiêm chỉnh các chính sách, quy định của Nhà nước, NHNN và tuân thủ các quy chế, quy định, mục tiêu định hướng phát triển của TPBank. Qua đó, các hoạt động tại Chi nhánh đều đạt được những kết quả tăng trưởng khá tốt, nhất là trong hoạt động cho vay DNVVN. Khách hàng ngày càng cảm thấy thoả mãn hơn khi đến giao dịch với Ngân hàng, uy tín của Ngân hàng không ngừng được nâng cao; duy trì được các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong cho vay. Ngân hàng cũng đã đưa ra các chính sách hỗ trợ là các gói tín dụng ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cho vay, quy trình cho vay DNVVN qua đó giúp cho các DNVVN có thể tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng hơn. Chi nhánh cũng ngày càng chú trọng hơn đến việc thu hút thêm các khách hàng mới là cá nhân và doanh nghiệp đến vay vốn. Các sản phẩm dịch vụ được đa dạng hóa kết hợp với công nghệ cao tạo sự thuận tiện cho khách hàng cũng vì thế nâng cao khả năng cạnh tranh của Chi nhánh. Chất lượng phục vu ngày càng được cải thiện, phong cách phục vụ tận tình, chu đáo, nhanh chóng đã từng bước tạo niềm tin cho khách hàng. Hoạt động cho vay DNVVN đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như gia tăng thêm lợi nhuận cho Chi nhánh. Chiến lược Marketing đã được chi nhánh quan tâm trong giai đoạn 2011-2013, ngân hàng đã xây dựng được một bộ phận chuyên đảm nhiệm công tác Marketing. Việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm của Ngân hàng, nhằm tăng uy tín cũng như thị phần của Ngân hàng thực hiện khá tốt, khá triệt để. Bộ nhận diện thương hiệu của Chi nhánh được thay đổi với màu sắc bắt mắt và logo đơn giản, ý nghĩa tạo dấu ấn trong lòng khách hàng. Doanh số cho vay và dư nợ cho vay đối với DNNVV ở Chi nhánh vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá đều đặn trong cả ba năm từ 2011 đến 2012. Doanh số cho vay DNVVN tăng 457,51 tỷ đồng, dư nợ cho vay DNVVN tăng 821,62 tỷ đồng trong ba năm 2011 – 2013, với tốc độ tăng trưởng từ 40,72% đến 88,54%. Với phương châm lấy hiệu quả kinh tế lên hàng đầu, Chi nhánh đã hướng đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có tiềm năng, có khả năng sinh lời và ưu tiên cho những dự án đầu tư có Thang Long University Library 69 chiều sâu của DNVVN, tránh hiện tượng đầu tư tràn lan, không hiệu quả. Chi nhánh đã tăng khả năng cạnh tranh với NHTM khác trên địa bàn, tạo tiền đề quan trọng trong đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp này. Công tác thẩm định dự án và khách hàng được thực hiện ngày càng tốt, áp dụng nhiều phương pháp mang tính khoa học, kỹ thuật thẩm định hoàn chỉnh hơn. Việc kiểm tra, giám sát quy trình cho vay, công tác thu hồi nợ ngoại bảng cũng được tiến hành một cách sát sao, nhịp nhàng giữa các phòng ban có liên quan. Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt, nhanh chóng từ Ban Giám đốc, các phòng ban nên trong năm 2012 và năm 2013 doanh số thu nợ cho vay DNVVN của Chi nhánh đạt được những kết quả khả quan. Năm 2012 doanh số thu nợ cho vay DNVVN tăng trưởng 56,31% so với năm 2011, năm 2013 con số này tăng lên 93,22% so với năm 2012. Thu nhập từ hoạt động cho vay với DNNVV ngày càng tăng lên, đóng góp thêm tỷ trọng cho thu từ hoạt động cho vay trong tổng lợi nhuận của Chi nhánh. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, khi các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp lớn gặp phải nhiều vướng mắc trong sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn bị giảm sút, không tương xứng với các nguồn lực được đầu tư thì các DNNVV lại phát huy được ưu thế của mình về quy mô nhỏ gọn và tính chất linh hoạt, dễ thích nghi. Thu nhập từ cho vay với các DNNVV khá ổn định và có nhiều tiềm năng phát triển. Các mục tiêu về lợi nhuận và chất lượng luôn được đảm bảo. Với những đổi mới không ngừng trong chất lượng quản lý và phục vụ khách hàng theo hướng thuận tiện, văn minh, hiện đại, Chi nhánh đã tạo lập và duy trì mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với nhiều khách hàng. Gia tăng tỉ lệ số khách hàng thường xuyên và tỉ lệ số khách hàng quay trở lại giao dịch. Chi nhánh đã áp dụng nhiều biện pháp đảm bảo tiền vay linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng. Khách hàng có thể áp dụng nhiều biện pháp đảm bảo cũng một lúc, từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo cho món vay của mình. Chi nhánh cũng cho phép khách hàng đảm bảo tiền vay bằng một phần tài sản thế chấp, phần còn lại có thể dùng bão lãnh của bên thứ ba. Đối với những khách hàng truyền thống, uy tín cao, Chi nhánh cũng xem xét cho vay không cần TSĐB. Tỷ trọng Nợ quá hạn cho vay DNVVN so với Nợ quá hạn của cả Chi nhánh đã có chiều hướng giảm đáng kể, năm 2012 là 4,72% trên dư nợ cho vay giảm xuống còn 1,89% trong năm 2013, cho thấy công tác giám sát, thu hồi nợ của Chi nhánh đạt hiệu quả cao. Nợ xấu cũng giảm mạnh, năm 2012 là 2,28% nhưng đến năm 2013 đã giảm xuống 0,95%. Điều đó cho thấy hoạt động cho vay DNVVN của Chi nhánh khá tốt, tuy nhiên, chi nhánh vẫn cần chú ý hơn trong quá trình cho vay DNVVN vẫn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. 2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 70 Hoạt động cho vay của Chi nhánh đã đạt được kết quả khả quan trong giai đoạn 2011-2013, mặc dù vậy vẫn còn có một số những hạn chế nhất định trong công tác cho vay DNVVN cần phải khắc phục, cụ thể: Mặc dù Ngân hàng đã quan tâm hơn tới đối tượng cho vay là các DNVVN, nhưng với nhu cầu về tín dụng của các doanh nghiệp ngày càng tăng như hiện nay, đặc biệt là DNVVN thì hoạt động cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này vẫn chưa thực sự tương xứng với khả năng của Ngân hàng. Trong quá trình cho vay vốn, do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan mà việc xác minh thông tin cũng như thẩm định khách hàng chưa thực sự hiệu quả. Nhất là trong thẩm định TSĐB, một số CBTD đã vì mối quan hệ với Doanh nghiệp mà lơ là trong công tác thẩm đinh, khiến cho các khoản nợ khó đòi và việc xử lý tài sản đảm bảo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn khi khó phát mại tài sản hoặc chi phí phát mại lớn, giá trị thu về thường nhỏ hơn giá trị khoản vay. Quy trình cho vay vẫn còn khá phức tạp, điều kiện cho vay DNVVN mặc dù đã linh hoạt hơn xong vẫn ngặt nghèo nên làm chậm quá trình vay vốn và làm cho nhiều DNVVN không thể tiếp cận vốn kịp thời nên làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ NQH cho vay DNVVN và nợ xấu tăng cao trong giai đoạn 2011-2013, điều này chứng tỏ hiệu quả hoạt động cho vay giảm sút, chi nhánh có khả năng mất vốn rất cao. Nợ quá hạn và nợ xấu cho vay DNVVN vẫn ở mức cao trong năm 2012 (tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay DNVVN trên dư nợ cho vay DNVVN là 4,72%, tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DNVVN trên dư nợ cho vay DNVVN là 2,28%). Mặc dù trong năm 2013 tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu đã giảm xuống giới hạn cho phép (tỷ lệ NQH cho vay DNVVN là 1,89% và tỷ lệ nợ xấu cho vay DNVVN là 0,95%) xong nhiều khoản cho vay DNVVN phải xử lý gia hạn, cơ cấu lại nợ, thậm chí có những khoản vay phải gia hạn nhiều lần. Điều này làm ảnh hưởng đến an toàn nguồn vốn vay cũng như làm giảm vòng quay vốn của Chi nhánh. Do đó, chi nhánh cần có các biện pháp kiên quyết hơn nữa để hạn chế tối đa các khoản nợ quá hạn và nợ xấu phát sinh. 2.6.3. Nguyên nhân hạn chế 2.6.3.1. Từ phía Ngân hàng Chính sách cho vay của Chi nhánh mặc dù đã được bổ sung, sửa chữa cho phù hợp với đặc điểm của DNVVN hiện nay nhưng so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong nước cũng như khu vực, trên thế giới thì đòi hỏi Chi nhánh cần phải có sự hoàn thiện hơn nữa về cơ chế, thủ tục pháp lý và cải cách thủ tục hành chính linh hoạt, nhanh chóng hơn nữa. Hệ thống chấm điểm tín dụng của Ngân hàng xây dựng chưa rõ ràng, vẫn còn đang trong quá trình cải thiện nên trong thời gian qua vẫn còn những Thang Long University Library 71 khó khăn, vướng mắc, chưa đánh giá đúng, thực chất được năng lực của khách hàng và hiệu quả của khoản vay. Mặc dù chính sách cho vay của Chi nhánh đã chú trọng hơn vào đẩy mạnh phát triển cho vay DNVVN xong các hình thức cho vay cũng như sản phẩm cho vay còn khá ít, chưa thực sự đáp ứng được hết nhu cầu của các DNVVN. Các chính sách lãi suất ưu đãi đưa ra chỉ áp dụng với một số các DNVVN là khách hàng cũ có uy tín với ngân hàng, đối với những khách hàng mới thì do phần lớn họ chưa có các phương án SXKD hiệu quả, chưa chứng minh được năng lực của doanh nghiệp hoặc không có tài sản đảm bảo nên lãi suất cho vay vẫn còn khá cao. Chi nhánh vẫn còn đặt nặng vấn đề tài sản bảo đảm khi thẩm định và đưa ra các quyết định cho vay đối với DNNVV. Trong khi có rất nhiều DNNVV dù có những phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có tiềm năng phát triển và thu lợi nhuận lớn, nhưng do quy mô hoạt động nhỏ, khả năng tài chính cũng như tiềm lực tài chính thấp đã làm cho họ không đáp ứng đủ điều kiện này. Các cán bộ tín dụng của Ngân hàng hầu hết đã được đào tạo các kỹ năng cần thiết. Tuy nhiện một số cán bộ lâu năm lại chưa nắm bắt được những yêu cầu mới, đặc biệt là việc triển khai các nghiệp vụ mới như: Nghiệp vụ bảo lãnh, tín dụng có yếu tố nước ngoài đang còn nhiều hạn chế hay việc áp dụng nhiều công nghệ ngân hàng mới vào làm việc với họ là một việc khó khăn. Bên cạnh đó một số cán bộ mới vào làm còn rất trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề do vậy còn thiếu nhiều kinh nghiệm chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác tín dụng hiện nay như: Khả năng thẩm định cho vay các dự án, nhất là trong tín dụng cho vay DNNVV, kiểm tra nắm bắt thông tin từ DN, theo dõi cập nhật các kỳ hạn nợ gốc, lãi; kiểm soát dòng tiền ra, vào của khách hàng vay vốn còn hạn chế. 2.6.3.2. Từ phía khách hàng (DNVVN) Các DNVVN thường có quy mô nguồn vốn thấp, công nghệ thiết bị lạc hậu do đó không có sức cạnh tranh trên thị trường dẫn đến làm ăn không hiệu quả. Tình hình tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định cũng như đánh giá, xem xét, giải quyết cho vay. Với nguồn tài chính hạn hẹp, khả năng xây dựng dự án khả thi yếu nên không ít doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chạy theo thương vụ, không có chiến lược hoạt động, phát triển cụ thể nên mức độ rủi ro là rất cao. Các DNVVN thường chưa thực sự năng động để tìm ra các phương án sản xất kinh doanh khả thi để ngân hàng đầu tư vốn hiệu quả. Do hiệu quả của việc sử dụng vốn luôn là quan tâm hàng đầu của các ngân hàng nên việc cho vay đối với DNVVN phải gắn với những điều kiện nhất định trong đó phải có những phương án kinh doanh hiệu quả và khả thi. Đây là một điều kiện quan trọng vì chỉ có phương án sản xuất kinh 72 doanh tốt thì doanh nghiệp mới có thể có lãi và từ đó mới có khả năng trả nợ cho ngân hàng Trình độ kỹ thuật, khả năng làm việc của đội ngũ lao động tại các DNVVN còn chưa cao, năng lực lãnh đạo, điều hành, quản lý còn đôi chút bất cập. Bên cạnh đó tình hình sản xuất kinh doanh của DNVVN thường không ổn định, khả năng cạnh tranh chưa cao, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay từ bên ngoài, để có thể tối đa hóa cơ cấu tài chính trong doanh nghiệp mình. Có nhiều các DNNVV thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng cũng không đủ tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, thậm chí có những doanh nghiệp không đủ tự tin vào phương án sản xuất kinh doanh nhưng muốn vay vốn ngân hàng mà không thế chấp tài sản để khi xảy ra rủi ro ngân hàng sẽ là người chịu. Hoặc có thế chấp thì hầu hết là các tài sản lạc hậu, khó xử lý, tính thị trường không cao. Các DNNVV chưa có khả năng liên kết, hợp tác với nhau, với hiệp hội, với phòng thương mại, với ngân hàng. Thêm vào đó là các DNNVV còn thiếu điều kiện tiếp cận với công nghệ mới, các sản phẩm thị trường chưa có tính cạnh tranh cao, dẫn đến năng lực cạnh tranh của các DNNVV còn hạn chế. 2.6.3.3 Từ phía nền kinh tế Nền kinh tế trong những năm vừa qua có nhiều biến động như: tốc độ lạm phát cao (ở mức 2 con số), chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng, cùng với sự biến động liên tục của tỷ giá trên thị trường ngoại hối và lãi suất trên thị trường tiền gửi đã gây ra những khó khăn cho cả Ngân hàng và khách hàng muốn tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng. Ngoài ra, còn do một số nguyên nhân khác như: thiên tai, bão lụt, hệ thống pháp luật còn thiếu những chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nên số doanh nghiệp có thể vay vốn của Ngân hàng vẫn còn thấp. Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ, vẫn còn những vướng mắc trong việc cưỡng chế thi hành theo pháp luật gây trở ngại cho các hoạt động giao dịch tín dụng. Sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động của các DNVVN chưa thường xuyên và bộc lộ nhiều thiếu sót. Bên cạnh đó hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được yêu cầu về giải quyết tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản cầm cố, thế chấp chưa bảo vệ chính đáng quyền lợi của người cho vay. Quá trình xử lý sai phạm của các doanh nghiệp còn chưa triệt để, mới chỉ mang tính răn đe nên các tranh chấp vẫn thường xuyên xảy ra. Thang Long University Library 73 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Chương 2 đã giới thiệu sơ qua về lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của TPBank nói chung và của TPBank - Hoàn Kiếm nói riêng. Bên cạnh đó, chương nêu lên những số liệu, thông tin tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của TPBank - Hoàn Kiếm trong năm 2011 - 2013. Chương 2 cũng đã đưa ra những phân tích, đánh giá về đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN, từ đó đưa ra được những ưu điểm và hạn chế để cần khắc phục trong thời gian tới. Đó cũng là cơ sở để có thể đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay DNVVN tại TPBank - Hoàn Kiếm trong chương 3. 74 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 3.1. Định hƣớng phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong vài năm tới 3.1.1. Định hướng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm trong những năm tới Việt Nam đã chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 11 - 1- 2007, đánh dấu mốc quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế thế giới. Đây là cơ hội tốt để các DNNVV của Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới. Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan giảm, việc giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ chi phí đầu vào giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường thế giới. Việt Nam được hưởng qui chế tối huệ quốc tại 164 nước trên thế giới nên nhiều ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xoá bỏ hạn ngạch. Đây là nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV; cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo điều kiện thúc đẩy các DNNVV đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh Bên cạnh những cơ hội đó, các DNNVV của Việt nam cũng không tránh khỏi những khó khăn, thách thức. Nguồn vốn đầu tư trong nước tại các DNNVV còn hạn chế, điều kiện nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở vật chất rất thấp, khó có khả năng hội nhập sâu rộng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Như vậy, để các DNNVV có thể nắm bắt những cơ hội khi đất nước ta đã gia nhập WTO cần phải có sự hỗ trợ từ nhiều phía, đặc biệt là nguồn cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Vì vậy, các ngân hàng thương mại cần có những định hướng để phát triển hoạt động tín dụng đối với các DNNVV. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, trên cơ sở phân tích đánh giá thực tế tình hình cho vay bộ phận doanh nghiệp này, để nâng cao hiệu quả kinh doanh và an toàn vốn vay, Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã đề ra định hướng trong hoạt động cho vay đối với DNNVV trong năm 2014 như sau: Chi nhánh tập trung cho vay đối với DNNVV, gắn tăng trưởng với kiểm soát chất lượng và đảm bảo tỷ trọng cho vay hợp lý, nâng cao tỷ trọng cho vay đối với các DNNVV ngoài quốc doanh. Trong điều kiện hiện nay, khi nhiều doanh nghiệp nhà nước đã và đang cổ phần hoá cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện đại, Chi nhánh cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đó vay vốn để góp phần nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh của họ. Như vậy, hoạt động cho vay của Chi nhánh cũng được đẩy Thang Long University Library 75 mạnh do đa dạng hoá đối tượng cho vay. Chi nhánh cũng cần xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với hoạt động cho vay DNNVV. Chi nhánh cần có chính sách ưu đãi về lãi suất với khách hàng. Trong thời buổi cạnh tranh, các ngân hàng thương mại cổ phần không ngừng lôi kéo khách hàng với những ưu đãi về lãi suất, nếu Chi nhánh không đổi mới cho phù hợp sẽ không thể đứng vững trên thị trường. Duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp (dưới 0,5%) để nâng cao chất lượng tín dụng. Chi nhánh cần cải thiện những quy định thủ tục rườm rà, phiền toái cho các doanh nghiệp khi tiến hành vay vốn. Chi nhánh cũng cần quan tâm nhiều hơn tới việc đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên của Chi nhánh. Khi công nghệ ngân hàng ngày một hiện đại hơn, việc cập nhật cho cán bộ những kỹ năng mới là rất quan trọng. Có như vậy Chi nhánh mới hoạt động hiệu quả, bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các ngân hàng. Chi nhánh luôn đẩy mạnh công tác tiếp cận các DNNVV. Không chỉ quan tâm đến các khách hàng truyền thống mà Chi nhánh sẽ luôn quan tâm tìm kiếm cho vay các khách hàng là DNNVV mới đi vào hoạt động nhưng có khả năng kinh doanh hiệu quả. Đẩy mạnh phát triển công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giảm thiểu rủi ro đồng thời tạo ra mạng lưới hoạt động rộng lớn, tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng DNNVV. 3.2. Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm 3.2.1. Xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt Trong tổng dư nợ tín dụng tại chi nhánh TPBank - Hoàn Kiếm cũng như các ngân hàng thương mại khác thì các khoản cho vay đổi với các DNNN luôn chiếm tỷ trọng cao. Tuy nhiên cùng với việc phát triển mạnh mẽ, sự làm ăn có hiệu quả thì khối doanh nghiệp tư nhân (trong đó chủ yếu là các DNVVN) đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Do đó các ngân hàng thương mại cần có một chính sách khách hàng hợp lý và linh hoạt hơn nữa nhằm phù hợp với những biến đổi mạnh mẽ đó, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế. Chi nhánh TPBank - Hoàn Kiếm mặc dù đã có được một chính sách khách hàng tương đối hợp lý, tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại chưa giải quyết được như: vấn đề về lãi suất, thời hạn cho vay để đẩy mạnh được hoạt động cho vay DNVVN hơn nữa thì chi nhánh cần chú trọng đến những vấn đề cụ thể sau: Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu nhu cầu khách hàng là việc trả lời chính xác và thoả đáng các câu hỏi: khối lượng khách cần vay là bao nhiêu, phương thức vay, loại tiền, thời hạn vay, lãi suất món vay, những ưu đãi mà khách hàng được hưởng tuy nhiên một thực tế là 76 có sự mâu thuẫn giữa lợi nhuận của khách hàng và ngân hàng (lãi suất). Do đó ngân hàng cần giải quyết hài hoà, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận cho cả ngân hàng và khách hàng, giải quyết được vấn để đó hay tìm hiểu và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng là một bước quan trọng trong việc xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt nhằm thu hút ngày càng đông khách hàng làm ăn tốt. Củng cố mối quan hệ với các khách hàng cũ và tìm kiếm thêm những khách hàng mới Ngân hàng cần có chiến lược tìm kiếm, thu hút các khách hàng mới cũng như củng cố mối quan hệ bền vững với các khách hàng truyền thống thông qua những chiến lược xây dựng sản phẩm hấp dẫn nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh và đảm bảo tăng trưởng tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ hiện nay thì thị trường chứng khoán và các tổ chức tín dụng cho vay ngoài ngân hàng chiếm một số lượng động đảo, là những kênh cung cấp vốn tương đối lớn trên thị trường tài chính. Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp còn rất hạn chế trong việc tiếp cận các thông tin về ngân hàng, e ngại trong việc vay vốn ngân hàng. Từ những lý do đó cho thấy việc chủ động tìm kiếm khách hàng là hết sức cần thiết đối với chi nhánh TPBank - Hoàn Kiếm. Xây dựng chiến lƣợc sản phẩm hấp dẫn Các sản phẩm dịch vụ giữa các ngân hàng thường mang tính chất tương đối giống nhau và dễ bị sao chép, do đó để thu hút khách hàng cần phải tạo được sự khác biệt trong việc thực hiện các sản phẩm truyền thống, xây đựng được một chiến lược sản phẩm hấp dẫn giúp cho khách hàng thấy được những lợi ích từ các đổi mới của ngân hàng. Xây dựng được một chiến lược sản phẩm hấp dẫn cho ngân hàng là rất khó khăn và cần sự cố găng lớn, nó giúp hoàn thiện chính sách khách hàng linh hoạt của chi nhánh. 3.2.2. Xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Xây dựng chính sách lãi suất phù hợp với từng khách hàng: Lãi suất của mỗi khoản vay là nguồn thu đối với ngân hàng nhưng lại là chi phí đối với khách hàng. Từ thực tế cho thấy có sự trái ngược về lợi ích và mong muốn về vấn đề lãi suất giữa ngân hàng và khách hàng. Khách hàng luôn mong muốn được vay ở mức lãi suất thấp nhất có thể làm giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong đó ngân hàng cần một mức lãi suất thoả đáng để bù đắp chi phí huy động vốn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó xây dựng một chính sách lãi suất phù hợp, giải quyết hài hoà lợi ích, mặt khác phù hợp với quy chế pháp luật là hết sức cần thiết. Nhất là cho Thang Long University Library 77 vay đối với DNVVN chứa đựng nhiều rủi ro, các món vay nhỏ dẫn đến chi phí cho vay cao hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn. Để làm tốt công tác này đòi hỏi một khâu quan trọng của hoạt động cho vay là định giá tiền vay, làm sao lãi suất đặt ra ở một mức giá hợp lý và phù hợp với thị trường, thu hút được khách hàng và đảm bảo lợi nhuẫn hợp lý cho ngân hàng. Ngân hàng có thể xây dựng nhiều mức lãi suất khác nhau cho những khoản vay cùng khối lượng, cùng thời hạn tuỳ thuộc vào đối tượng khách hàng sao cho phù hợp nhất. Ví dụ như đối với các khách hàng truyền thống, có uy tín tốt với ngân hàng trong vấn đề trả nợ thì lãi suất cho vay mà ngân hàng đưa ra sẽ ưu đãi hơn các khách hàng mới. 3.2.3. Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng Con người là yếu tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay trong thời gian qua là do trình độ bất cập của đội ngũ cán bộ cho vay không theo kịp yêu cầu của nền kinh tế thị trường, ý thức chấp hành thể lệ, chế độ nghiệp vụ của một số cán bộ chưa nghiêm túc, thậm chí còn có biểu hiện vi phạm về đạo đức. Vì vậy, việc tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ điều hành và cán bộ trực tiếp cho vay là nhiệm vụ hàng đầu của ngân hàng sao cho mỗi cán bộ cho vay đều đạt tiêu chuẩn về bằng cấp, năng lực, sở trường, kinh nghiệm công tác, khả năng giao tiếp, nắm vững kiến thức về kinh tế thị trường, về quản lý vĩ mô của nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, những lợi thế cạnh tranh còn bao gồm cả kỹ năng và kiến thức về kinh tế thị trường của cán bộ phụ trách khoản vay. Việc thẩm định dự án và ra quyết định cho vay đều chứa đựng những nhận định mang tính chủ quan của cán bộ tín dụng. Vì vậy, TPBanh - Hoàn Kiếm cần có các biện pháp nhằm đảm bảo tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng, tránh tình trạng cán bộ tín dụng cấu kết với kẻ gian nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho ngân hàng. Do vậy, Chi nhánh cần phải xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, có chính sách lương bổng, thưởng phạt hợp lý nhằm thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân viên. Đồng thời phải biết nhận biết người tài, trọng dụng người tài để khuyến khích những nhân viên có tâm huyết với ngân hàng. 3.2.4. Nâng cao chất lượng thẩm định Chất lượng thẩm định cho vay luôn là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng khoản vay, nó là yếu tố sống còn không những chỉ với ngân hàng mà còn cả đối với khách hàng. Bởi vì khoản vay được thẩm định tốt sẽ đem lại an toàn vốn vay cũng như hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, bên cạnh đó nó còn đảm bảo phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng là đúng đắn và đem lại hiệu quả cho DNVVN. Để công tác thẩm định đạt được hiệu quả cao và đảm bảo đáp ứng được kịp thời cơ hội kinh doanh của các DNVVN, kết hợp với công tác Marketing yêu cầu cán bộ 78 ngân hàng phải tiếp cận với phương án, dự án sản xuất kinh doanh của khách hàng ngay từ khi DNVVN có nhu cầu vay vốn. Qua đó giúp cho cán bộ ngân hàng có nhiều thời gian hơn trong việc tham khảo, nghiên cứu phương án, dự án sản xuất kinh doanh của DNVVN để từ đó có được quyết định đầu tư đúng đắn, cũng như qua đó hướng dẫn DNVVN tạo lập hồ sơ vay vốn một cách đầy đủ và thuận lợi hơn. Về thẩm định khách hàng Mục đích của việc thẩm định là xác định xem khách hàng có đủ khả năng thanh toán nợ vay và lãi vay hay không. Các cán bộ tín dụng cần chú ý các điểm sau khi thẩm định khách hàng: Kiểm tra hồ sơ khách hàng: ngân hàng cần kiểm tra về tư cách pháp lý của khách hàng, các ngành nghề lĩnh vực sản suất kinh doanh mà khách hàng được phép hoạt động; Kiểm tra mục đích vay vốn của khách hàng: xem xét mục đích vay vốn của khách hàng có phù hợp với ngành nghề mà doanh nghiệp được phép hoạt động không, và nếu khách hàng vay vốn ngoại tệ thì cần xem xét khoản vay đó để đảm bảo việc cho vay phù hợp với quy định quản lý về ngoại hối; Phân tích đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính của khách hàng: thông qua báo cáo thường niên của đơn vị đi vay kết hợp với các tiêu chí đánh giá của ngân hàng, cán bộ tín dụng tiến hành đồng thời để xác định phương thức cho vay cũng như hạn mức tín dụng có thế chấp. Về thẩm định dự án đầu tƣ Đây được xem là nội dung thẩm định mang tính quyết định đến khả năng được vay vốn của khách hàng. Thẩm định dự án đầu tư cần thẩm định về nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào và thị trường đầu ra của dự án, phải xem xét xem nguồn nguyên vật liệu đầu vào có đảm bảo đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu của dự án hay không, bởi nếu không có nguyên vật liệu thì không thể tiến hành sản xuất được hoặc có nguyên vật liệu nhưng không đáp ứng kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sản xuất, đến thời gian và khối lượng sản phẩm dự kiến tung ra thị trường làm giảm tính cạnh tranh và gây tổn thất cho doanh nghiệp. Do đó đáp ứng đầy đủ kịp thời cho sản xuất là điều kiện cần cho thành công của dự án. Bên cạnh đó đầu ra cũng là yếu tố không kém phần quan trọng, nếu sản phẩm của dự án không được thị trường chấp nhận: về chất lượng, giá cả hay hình thức thì doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ được sản phẩm và do đó không thể trả nợ cho ngân hàng. Với tất cả những yêu tố quan trọng trên đây ngân hàng cần quan tâm tìm hiểu cả đầu vào và đầu ra của dự án hay còn gọi là đánh giá tính khả thi của dự án. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế mà dự án trực tiếp mang lại cho ngân hàng, bán bộ tín dụng cũng cần quan tâm đến lợi ích về kinh tế mà dự án đem lại cho xã hội , khuyến khích những dự án có tính chất xã hội hóa cao. 3.2.5. Đơn giản hoá các thủ tục cho vay Thang Long University Library 79 Hiện này TPBank đang áp dụng quy trình cho vay bao gồm 6 bước được coi là khá chặt chẽ và đã có nhiều sửa đổi trong những năm gần đây nhằm ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ khách hàng. Tuy nhiên trong quy trình tín dụng đó vẫn còn nhiều điểm nên rút ngọn nhằm tiết kiệm thời gian và tiền của, của cả ngân hàng và khách hàng. Như đối với các DNVVN thường vay các khoản vay nhỏ, việc ngân hàng tái thẩm định, phân tích khả năng tài chính đối với các khách hàng truyền thống và có uy tín đôi khi là không cần thiết, làm tăng chi phí trong thẩm định của ngân hàng, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch thực hiện dự án của khách hàng. Thủ tục đơn giản rõ ràng sẽ là động lực thúc đẩy các khách hàng mở rộng giao dịch với ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng cũng nên thường xuyên hướng dẫn các doanh nhiệp, cung cấp thông tin cần thiết để khách hàng có thể hoàn thiện hổ sơ một cách nhanh nhất, tiết kiệm thời gian chi phí. 3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát Công tác kiểm tra, kiểm soát là công tác quan trọng để xác định xem khách hàn có đủ khả năng trả nợ đúng hạn, có sử dụng tiền vay đúng mục đích. Chi nhánh đã có những công tác kiểm tra theo đúng quy trình nhưng chất lượng của các cuộc kiểm tra còn thấp, do các CBTD chỉ nhận thông tin từ các khách hàng mà chưa có những cuộc kiểm tra thực tế tới các xưởng, công ty của khách hàng. Vì vậy, Chi nhánh cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hơn nữa. Bởi vì hiện nay, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, các phân tích tài chính doanh nghiệp cho thấy một bộ phận lớn các DNVVN đều ở mức thấp hơn tiêu chuẩn cho vay. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi quá trình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp để hạn chế rủi ro mất vốn. Đồng thời, việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ giúp cán bộ ngân hàng nắm được nguồn thu của khách hàng, nắm được biến động bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng để từ đó có biện pháp xử lý khách quan và chính xác. Ngân hàng cũng phải thường xuyên đánh giá lại các khoản cho vay, phát hiện kịp thời các khoản cho vay cần xử lý để đưa ra những biện pháp đối phó thích hợp. KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Toàn bộ chương 3 đã nêu lên định hướng hoạt động kinh doanh cũng như mục tiêu cụ thể của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng trong những năm tới. Từ đó, chương 3 nêu lên sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng và nêu lên các giải pháp cụ thể giúp cho ngân hàng cải thiện được những khó khăn, hạn chế và từ đó hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ được đẩy mạnh. KẾT LUẬN Qua quá trình học tập trên ghế nhà trường và thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, em nhận thức rằng đi đôi với việc học tập nghiên cứu, lý luận thì việc tìm hiểu thực tế cũng là một giai đoạn hết sức quan trọng không thể thiếu. Đó chính là thời gian sinh viên vận dụng, thử nghiệm những kiến thức đã học được trên ghế nhà trường vào thực tế. Mặt khác nó còn tạo điều kiện cho sinh viên hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn những kiến thức mà mình đã có, bổ sung thêm những kiến thức mà chỉ qua công tác thực tế mới có được. Nhận thấy rằng các DNNVV đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam tuy nhiên DNNVV thường gặp nhiều khó khăn về tài chính, thiếu hụt nguồn vốn để sản xuất kinh doanh. Vì vậy, sự giúp đỡ của ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho DNVVN là hết sức cần thiết bởi nguồn vốn của ngân hàng là nguồn vốn an toàn và ổn định nhất đối với các doanh nghiệp này. Vì thế, việc tìm ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV tại ngân hàng là một vấn đề vô cùng cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm khóa luận đã tiến hành hệ thống hóa những lý luận cơ bản về DNNVV cũng như cho vay DNNVV của các NHTM và qua đó phân tích đánh giá hoạt động cho vay DNNVV tại Chi nhánh Hoàn Kiếm, những mặt đạt được và chưa đạt được, những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động cho vay DNNVV tại Chi nhánh. Qua đó, khóa luận đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các DNNVV tại Chi nhánh này. Do trình độ và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên trong bài khóa luận này em không thể tránh khỏi những thiếu sót và nhầm lẫn nhất định. Em rất mong được nhận thêm nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô, các anh chị và bạn bè để em nhận thêm được nhiều tiến bộ. Một lần nữa, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.S Lê Thị Hà Thu cùng toàn thể các cô chú, anh chị tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm đã giúp em hoàn thành bài khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014 Sinh viên Nguyễn Thị Nhung Thang Long University Library DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS Mai Văn Bạn (2009), Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài chính. 2. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Giáo trình Ngiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê. 3. Học viện ngân hàng (2010), Giáo trình tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê 4. Sinh viên Đại học Thăng Long, (2013), Luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay DNNVV tại Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Trần Duy Hưng” 5. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 6. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. 7. Ngân hàng Nhà nước (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. 8. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, Báo cáo kết quả hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2011,2012,2013. 9. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Hoàn Kiếm, Báo cáo tài chính năm 2011,2012,2013. 10. Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong, Bản cáo bạch năm 2013. 11. Các website: www..vn www.cafef.vn www.vneconomy.vn www.vietstock.vn www.vcci.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa16357_5391.pdf
Luận văn liên quan