Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Bắc Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập đã mang đến cho các doanh nghiệp rất nhiều thời cơ thuận lợi, đồng thời nó cũng đặt cho các doanh nghiệp vào thế phải cạnh tranh khốc liệt không chỉ với các doanh nghiệp cùng ngành, cùng quốc gia mà còn cả với các doanh nghiệp thuộc các ngành, các quốc gia, các khu vực khác trên toàn cầu. Tài chính – Ngân hàng cũng không nằm ngoài phạm vi đó. Đặc biệt trong những năm gần đây hoạt động của ngành này có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền tài chính quốc gia, kích thích, ổn định duy trì sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, để có nền kinh tế vững mạnh thì điều kiện cần là phải có một hệ thống Ngân hàng ổn định, hiện đại đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và điều tiết nền kinh tế. Thực chất hoạt động của Ngân hàng bao gồm rất nhiều nghiệp vụ, nhưng quan trọng nhất là nghiệp vụ tín dụng vì nó là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Do đó, thực hiện công tác tín dụng có hiệu quả, chất lượng tốt, giảm thiểu rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều này góp phần quảng bá, nâng cao hình ảnh thương hiệu, uy tín, tạo lợi thế cạnh trên thị trường liên ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính nói chung, giúp Ngân hàng thu hút được khách hàng về phía mình. Việt Nam là một đất nước đang phát triển, trong khi đó Ngành Ngân hàng còn rất yếu về chuyên môn, nghiệp vụ và công nghệ. Do đó, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng luôn là công tác được quan tâm hàng đầu, nhằm hạn chế tối thiểu những rủi ro tối thiểu có thể xảy ra, tác động xấu đến nền kinh tế. Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Bắc Hà Nội” là một hệ thống những lý luận khái niệm về chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Mặt khác, nó gắn liền với thực tiễn: đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng từ đó phân tích, tìm ra những yếu tố hợp lý, những tồn tại và các căn nguyên đưa ra các giải pháp khắc phục, đổi mới sao cho phù hợp hơn, hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của Chi nhánh. Bố cục của bài gồm 3 phần: Chương I: Lý luận chung về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội. Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng t íntại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội.

docx81 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 13/05/2013 | Lượt xem: 3749 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Bắc Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rủi ro mất khả năng thanh toán, mất vốn đối với ngân hàng do khách hàng không trả được nợ. Tỷ lệ mợ quá hạn của chi nhánh được thể hiện qua bảng: Bảng 12: Nợ quá hạn giai đoạn 2003 – 2006 Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Dư nợ 1028 1164 1491 Nợ quá hạn 1,028 1,868 34,844 Tỷ lệ nợ quá hạn % 0,1 0,16 2,3 ( Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch) Số liệu trên cho ta thấy tỉ lệ nợ quá hạn của Chi nhánh liên tục tăng qua các năm, song đây không phải điều đáng lo ngại vì nó vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chi nhánh. Trong năm 2002 Doanh số cho vay của Chi nhánh là 326 tỷ đồng, dư nợ là 200 tỷ đồng, chưa phát sinh nợ quá hạn, chưa có trường hợp nào phải gia hạn nợ hoặc phải định lại kì hạn nợ. Chất lượng trong năm này tương đối tốt vì Chi nhánh mới đi vào hoạt động mặt khác các khoản vay của Chi nhánh chủ yếu là trung hạn, dài hạn chiếm đến 86.1%. Sang năm 2004 tỷ lệ nợ quá hạn là 0.1%, năm 2005 tăng lên 0.16% và năm 2006 tỷ lệ nợ quá hạn cao nhất là 0.23%, nhưng tổng dư nợ của năm này đã tăng lên 1.491 tỷ đồng, doanh số cho vay tăng lên 1.780 tỷ đồng nhưng điều nói lên rằng hoạt động tín dụng của Chi nhánh là tương đối tốt. Tỷ lệ nợ quá hạn vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát, đạt yêu cầu của Ngân hàng nhà nước về tỉ lệ nợ quá hạn tối thiểu 3%. Nhưng bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng nợ quá hạn cũng tăng lên rất nhanh theo doanh số và dư nợ. Nếu như năm năm 2004 tỷ lệ nợ quá hạn 0,1% tức 1.028 triệu đồng nhưng sang năm 2005 là 0,16% tức 1.868 triệu đồng , năm 2006 tăng rất nhanh lên đến 2,3% tức 34.844 tỷ đồng. Nguyên nhân là do các khoản nợ trung và dài hạn những năm trước đến thời gian đáo hạn là năm 2006 mà doanh nghiệp chưa thu được nợ, nhiều khoản vay phải chuyển nơ, gia hạn nợ làm cho nợ qúa hạn tăng lên. Nếu trong thời gian tới cứ tốc độ tăng nhanh như thế này sẽ vượt qua tỷ lệ nợ quá hạn cho phép của Ngân hàng Nhà nước, rủi ro mất vốn sẽ xảy ra, chất lượng tín dụng của Chi nhánh chắc chắn giảm. * Nợ quá hạn phân theo ngành. Bảng 13: Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Tổng nợ quá hạn 1,028 Tỷ trọng % 1,868 Tỷ trọng % 34,844 Tỷ trọng % DNNN DNNQD Dân cư 1,011 0 0,017 98,3 0 1,7 1,551 0,115 0,202 83 6,2 10,8 27,51 4,124 3,21 78,9 11,8 9,3 ( Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch) Số liệu trên cho ta thấy các doanh nghiệp Nhà nước chiếm phần lớn tỷ lệ nợ quá hạn, năm 2004 là 98.3% tổng nợ quá hạn, năm 2005 giảm xuống còn 6.2% còn 78.9 trong năm 2006. Trong khi đó nợ quá hạn các DNNQD lại chiếm một tỷ lệ nhỏ, năm 2004 không phát sinh, năm 2005 là 6.2% và năm 2006 là 11.8% tổng dư nợ quá hạn. Đối với hộ kinh doanh cá thể tỷ lệ này lại tăng dần 1.7% năm 2004 tăng lên 10.8% năm 2005 và giảm xuống 9.3% năm 2006. Như vậy, ta thấy DNNN chiếm phân lớn tỷ lệ nợ quá hạn trong 3 năm. Nguyên nhân của tìn trạng này là do: NHNN ban hành quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ và trích lập dự phòng các khoản nợ, các khoản nợ được phân loại và có nhiều thay đổi so với các năm trước. Đến hạn khách hàng không trả được nợ và lãi ( có thể chậm) thì có thể chuyển sang nợ loại 2 từ đó làm tăng các khoản nợ quá hạn; DNNN thường ỷ nại, dựa vào tính chất sở hữu nhà nước nên không cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, hiệu quả sản xuất, kinh doanh lỗ hay lãi đều có nhà nước chụi dẫn đến sử dụng sai vốn, không đúng mục đích làm cho thành phần này luôn chiếm một tỷ trọng cao trong nợ quá hạn; Nhiều doanh nghiệp yếu kém về trình độ quản lý, kiến thức kinh doanh thua lỗ nên không muốn trả nợ ngân hàng dù có chụi phạt nếu các khoản vay chuyển thành nợ quá hạn. 4.1.4 Vòng quay vốn tín dụng Vòng quay vốn tín dụng cho biết tốc độ chu chuyển tín dụng trong một thời gian nhất định, cho biết tần suất sử dụng vốn của Ngân hàng. Vòng quay vốn tín dụng càng lớn, chứng tỏ hoạt động tín dụng càng hiệu quả. Vì vậy, nó được coi là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng. Bảng 14: Vòng quay vốn tín dụng Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Doanh số thu nợ 1.497 1.449 Dư nợ bình quân 1.164 1.491 Vòng quay vốn 1,29 0,97 ( Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch) Tốc độ chu chuyển vốn trong năm 2005 là khá tốt, vòng quay vốn tín dụng năm 2005 là 1.29. Chi nhánh có nhiều cơ hội hơn trong việc sử dụng vốn thực hiện đầu tư, cho vay nhiều khách hàng hơn, đa dạng hoá cơ cấu tín dụng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên sang năm 2006 vòng quay vốn giảm xuống còn 0.97 nhỏ hơn 1 tức là hiệu quả tín dụng không tốt bằng năm 2005, vốn không được sử dụng tốt, không được quay nhiều vòng. Vòng quay tăng tức là thu nợ tăng lớn hơn dư nợ và ngược lại. Năm 2006 vòng quay vốn tín dụng giảm là do doanh sô thu nợ giảm 3.2% trong khi đó tốc độ tăng dư nợ bình quân lại tăng 28.1% điều này là nguyên nhân trực tiếp làm giảm vòng quay vốn tín dụng. Để giải quyết tình hình này Chi nhánh cần tích cực giám sát các khoản nợ đến hạn phải thu, tăng điều kiện đảm bảo nếu thấy rủi ro cho vay là rất lớn. 4.2 Hoạt động bảo lãnh Năm 2006 Chi nhánh đã thẩm định và phát hành 362 món bảo lãnh ( tăng 72 món bằng 24.8% năm 2005) với giá trị bằng 110 tỷ đồng ( tăng 19.8% so với năm 2005) bao gồm các loại bảo lãnh: Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn thanh toán và bảo lãnh khác cho các khách hàng có quan hệ giao dịch với Chi nhánh. Đến ngày 31/12/2006 số dư bảo lãnh còn hiệu lực là 318 món với số tiền là 66 tỷ đồng. Giá trị L/C chưa thanh toán là 45 tỷ đồng. Toàn bộ các khoản bảo lãnh của Chi nhánh đều thuộc thẩm quyền không có món bảo lãnh nào vượt thẩm quyền. Nhìn chung các món bảo lãnh do Chi nhánh phát hành đều được khách hàng thực hiện đúng quy định, không có món bảo lãnh nào phải cho vay bắt buộc. Có thể nói hoạt động bảo lãnh của Chi nhánh là rất tốt, khả năng sinh lời cao, ít rủi ro điều này nâng cao vị thế hình ảnh, uy tín của Chi nhánh trên thị trường tài chính tạo niềm tin đối với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. 4.3 Hoạt động chiết khấu Năm 2006 Chi nhánh đã tiến hành chiết khấu 58 món tăng 16 món so với năm 2005 với tổng giá trị là 37.8 tỷ đồng tăng 12.% so với năm 2005. Hoạt động này mang lại lợi nhuận cao, ít rủi ro cho Chi nhánh, nhưng hiện nay lãi suất chiết khấu dựa trên thị trường liên ngân hàng nên đòi hỏi Chi nhánh phải cạnh tranh quyết liệt với các Ngân hàng, chi nhánh khác trên cùng địa bàn về lãi suất, cung như thời gian, chi phí thì mới có thể thu hút được khách hàng về phía mình. 4.4 Hoạt động cho thuê Hoạt động cho thuê là hình thức Chi nhánh kí hợp đồng cấp vốn với các doanh nghiệp, tổ chức bằng cách mua máy móc, thiết bị,.. rồi cho họ thuê lại theo thoả thuận. Đây là nghiệp vụ có khả năng sinh lời cao nhưng đòi hỏi công tác thẩm định tốt. Hiện nay, dịch vụ này mới đang được chi nhánh triển khai tiến hành trong thời gian tới. Thu nhập từ hoạt động tín dụng Lợi nhuận là mục đích lớn nhất của Ngân hàng, trong những năm gần đây hoạt động tín dụng đã đem lại một nguồn thu to lớn cho Chi nhánh. Điều đó được thể hiện qua bảng sau: Bảng 15: Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động tín dụng Đơn vi: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2003 2004 2005 2006 Dư nợ 630 1028 1164 1491 Lợi nhuận TT 18.5 23.6 44.2 49.5 Tỷ lệ lãi thu được % 2.9 2.3 3.8 3.3 ( Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch) Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đồng vốn cho vay thì Chi nhánh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Số liệu trên cho ta thấy hoạt động tín dụng của Chi nhánh luôn có lãi nhưng không ổn định trong 4 năm. Năm 2003 bỏ ra 100 đồng thu về được 2.9 đồng, sang năm 2004 giảm suống 2.3 đồng, năm 2005 tăng lên 3.8 đồng nguyên nhân là do doanh số cho vay ngắn hạn của năm 2004 tăng đột biến 63.2%, vòng quay tín dụng năm 2005 lại rất tốt đạt 1.27 lần. Sang năm 2006 lãi thu được trên 100 đồng lại giảm xuống 3.3 đồng. Nguyên nhân là năm 2006 doanh số cho vay tăng chậm so với các năm trước đó, trong khi đó các khoản vay những năm trước đó chưa đến kì trả nợ và lãi. So với các chi nhánh, Ngân hàng khác thì con số này là không lớn, đòi hỏi trong thời gian tới Chi nhánh phải tiến hành nghiên cứu, triển khai các biện pháp giảm chi phí giao dịch, thẩm định, nâng cao chất lượng thẩm định, chú trọng hơn đến các khoản vay trung và dài hạn vì các khoản này mang lại nhiều lợi nhuận hơn từ đó có thể cải thiện được chất lượng tín dụng của Chi nhánh. Tuy nhiên, với một Chi nhánh có 6 tuổi đời thì không thể đòi hỏi cao hơn được, trước mắt vấn đề lợi nhuận cao không phải là mục đích hàng đầu, mà vấn đề quan trọng hơn là phải xây dựng được mạng lưới, chi nhánh, phòng giao dịch trong khu vực, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ kinh nghiệm thẩm định làm cơ sở phục vụ tốt hoạt độn tín dụng, tiến tới nâng cao chất lượng tín dụng trong thời gian tới. 5. Đánh giá chất lượng tín dụng tại NHNN0 & PTNT VIỆT NAM Chi nhánh Bắc Hà Nội 5.1 Kết quả đạt được Mặc dù mới đi vào hoạt động hơn 6 năm nhưng những thành tựu mà Chi nhánh đạt được những thành công nhất định: - Doanh số cho vay và dư nợ trong toàn chi nhánh liên tục tăng từ năm 2002 đến nay. Tổng dư nợ tính đến thời điểm 30/6/2007 là 1720 cao hơn tổng dư nợ năm 2006. Thành công này có được được nhờ Chi nhánh đã định hướng đúng mục tiêu, chiến lược đã đề ra. Mở rộng mạng lưới trên địa bàn hoạt động. Cụ thể Chi nhánh đã mở thêm 3 phòng giao dịch tăng số phòng giao dịch lên toàn Chi nhánh lên con số 6, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng của toàn Chi nhánh. - Xây dựng cơ chế lãi suất linh hoạt, bám sát với lãi suất của Ngân hàng khác, nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định của NHNN0 & PTNT VIỆT NAM. Lãi suất này còn dựa trên cơ chế lãi suất thoả thuận lãi suất, tuỳ từng khách hàng là cá nhân, Doanh nghiệp Nhà nước hay Doanh Nghiệp Ngoài quốc doanh,... và lịch sử tín dụng của họ mà chi nhánh đưa ra các mức lãi suất phù hợp. Điều này nâng cao khả năng cho vay, củng cố, mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng của Chi nhánh . - Doanh số cho vay va dư nợ, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng liên tục tăng trong 6 năm, đây là cơ sở tạo nền tảng tài chính vững mạnh của chi nhánh. Điều đó cũng thể hiện hình ảnh,uy tín của Chi nhánh đã có chỗ đững vững chắc trên thị trường, tạo được niềm tin cho khách hàng, khi sử dụng dịch vụ của Chi nhánh. - Hoạt động tín dụng hiệu quả, tỉ lệ nợ quá hạn luôn duy trì ở mức thấp dưới 3% theo tiêu chuẩn quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Hoạt động tín dụng của Chi nhánh đã góp phần quan trọng vào việc tích luỹ, tập trung cung cấp vốn cho nền kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tượng mà doanh nghiệp rất quan tâm. Điều này đã thúc đẩy sự phát tăng trưởng và tăng trưởng kinh tế đất nước. - Công tác tín dụng đạt được kết quả như vậy trước hết là nhờ ban lãnh đạo của Chi nhánh đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy để thực hiện chiến lược kinh doanh đối với các khách hàng của mình. Những chính sách này vừa mang tính định lượng vừa mang tính định tính có tác động tích cực thúc đẩy, khuyến khích khách hàng đến vay vốn. Các khoản cho vay đều được thẩm định kiểm tra, giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi vay bảo đảm sử dụng vốn vay đúng mục đích, tăng tính an toàn cho Chi nhánh. 5.2 Hạn chế Mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng bên cạnh đó còn một số hạn chế nhất định: - Nguồn vốn chi nhánh huy động hàng năm tăng trưởng ở mức độ cao nhưng lượng vốn sử dụng cho hoạt động tín dụng vẫn còn chiếm một số lượng hạn chế. Năm 2006 tổng lượng vốn huy động được là 4558 trong khi đó doanh số cho vay là 1780 tỷ đồng chiếm 39%. Bên cạnh đó cơ cấu cho vay cũng chưa hợp lý. Cũng trong năm 2006 nguồn vốn trung và dài hạn huy động được 1821 tỷ đồng thì dư nợ là 568 tỷ đồng. Đây có thể nói là sự rất lãng phí vốn, đồng thời nó cũng có thể gây ra rủi ro biến động lãi suất, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, thu nhập của Chi nhánh. - Số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng còn chiếm một con số rất nhỏ so với tiềm năng của Chi nhánh. Tính đến thời điểm 31/12/2006 chỉ có 128 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với chi nhánh ( trong đó 20 DN Nhà nước, 35 Công ty cổ phần, 68 Công ty TNHH, 3 Doanh nghiệp tư nhân, 2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Điều đáng chú ý đây chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ vừa, qua đó ta cũng thấy các khách hàng là doanh nghiệp nước ngoài đến với chi nhánh còn rất ít. Hoạt động tín dụng chưa được mở rộng, mới chỉ tập trung vào tín dụng dân cư còn tín dụng doanh nghiêp, tổ chức chưa được mở rộng, đặc biệt là tại nơi mà Chi nhánh có phòng giao dịch. Do đó, trong thời gian tới cần phải đầy mạnh công tác tuyên truyền, marketing, quảng bá, tận dụng mọi cơ hội và điều kiện để có thể khuyếch trương hình ảnh, thương hiệu của Chi nhánh. - Hoạt động tín dụng chủ yếu tập trung vào tín dụng ngắn hạn, tỷ trọng tín dung trung và dài hạn chiểm rất thấp, trong khi đó nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu là vốn dài hạn để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất nhưng khả năng đáp ứng của Chi nhánh lại hạn chế. Thậm chí hình thức tín dụng trung và dài hạn lại được ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có cơ hội tiếp xúc với nguồn vốn này. Dịch vụ tín dụng chỉ bó hẹp trong một số phạm vi nhất định là cho vay, trong khi đó các nghiệp vụ khác như bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay đầu tư chứng khoán chưa được Chi nhánh khai thác triệt tể, đặc biệt là cho vay đầu tư chứng khoán. - Công tác kiểm soát trong và sau khi cho vay còn lỏng lẻo, mang tính hình thức, thông tin tín dụng không được cập nhật đầy đủ, dẫn đến việc thẩm định chất lượng không cao. 5.3 Nguyên nhân hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế về hoạt động tín dụng của NHNN0 & PTNT VIỆT NAM Chi nhánh Bắc Hà Nội, sau đây là những nguyên nhân chính: 5.3.1 Rủi ro từ phía khách hàng: Khách hàng cung cấp những thông tin không chính sác, sai sự thât liên quan đến họ. Khách hàng thiếu vốn nên tìm mọi cách để vay được vốn Ngân hàng, điều này dẫn đến họ gian dối trong quan hệ tín dụng như: cung cấp giấy tờ, tài sản, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,...sai sự thật điều này gây khó khăn, sai sót cho hoạt động thẩm định tín dụng, dẫn đến việc ra quyết định tín dụng sai. Vì vậy, khi khách hàng của Chi nhánh làm ăn thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả dẫn đến tình trạng không trả được nợ, khả năng mất vốn của Chi nhánh sảy ra. 5.3.2 Nguyên nhân từ phia Ngân hàng: Mạng lưới chi nhánh tương đối lớn song số lượng cán bộ cán bộ công nhân viên ít không đáp ứng được hết yêu cầu của công việc. Hệ thống thông tin về khách hàng không được cung cấp đầy đủ, không theo dõi sát sao hoạt động sử dụng vốn của họ, ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát. Cán bộ thẩm định Chi nhánh có trình độ chuyên môn cao, song còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết về khách hàng, trong khi đó môi trường kinh doanh đầy biến động phức tạp đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có khả năng phân tích và tổng hợp thông tin rất rộng điều nay dẫn đến xác định thời hạn, lãi suất tín dụng chưa chính sác, chưa phù hợp điều này làm giảm chất lượng tín dụng của Chi nhánh . 5.3.3 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh: Môi trường kinh doanh là vấn đề muôn thủa tại Việt Nam. Đó là sự can thiệp quá mức của các cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động kinh tế, đặc biệt các thức quản lý mang tính chất hành chính. Các văn bản luật ban hành chồng chéo, chưa cụ thể rõ ràng, gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp. Hoạt động huy động vốn khó khăn hơn trước nhiều do cuộc cạnh tranh tăng lãi suất giữa các Ngân hàng trong nước làm Lãi suất huy động liên tục tăng cao, trong khi đó lãi suất cho vay lãi không biến động nhiều làm cho lợi nhuận của toàn hệ thống Ngân hàng và Chi nhánh giảm. 5.3.4 Ảnh hưởng của tài chính quốc tế. Trong thời gian vừa qua, giá của một số mặt hàng liên tục tăng cao như: sắt thép, giá dầu; trong khi đó đồng USD mất giá, giá vàng tăng cao làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động tín dụng của hệ thống tài chính, tín dụng cả nước nói chung và hoạt động tín dụng của Chi nhánh nói riêng, đặc biệt là các khoản vay bằng USD. CHƯƠNG III GẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NHNN0 & PTNT VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN. 1. Định hướng chung Trong những năm qua so với cac Ngân hàng thương mại khác trong khu vực thị phần các dịch vụ của Chi nhánh liên tục tăng đều lên qua các năm. Cạnh tranh giữa các Ngân hàng trở nên quyết liệt hơn, nguồn vốn nhà rỗi trong các doanh nghiệp giảm dần, yêu cầu của khách hàng ngày càng cao hơn. Do đó, trong thời gian tới Chi nhánh có phương hướng hoạt động như sau: - Duy trì và thực hiện định hướng kinh doanh mà ban giám đốc Chi nhánh NHNN0 & PTNT VIỆT NAM Bắc Hà Nội đã lựa chọn: phải luôn đảm bảo tăng trưởng, phát triển bền vững như kế hoạch đã đề ra. Cơ cấu tài chính mạnh, linh hoạt đủ khả năng cung cấp vốn cho khách hàng. Phấn đấu trở thành một trong những Ngân hàng có thương hiệu, uy tín hàng đầu cả nước và trong khu vực - Tích cực tăng cường các hoạt động huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau, đi đôi với nó là công tác tuyên truyền quảng cáo, quảng bá, khuyến mại,...nhăm huy động tối đa các nguồn vốn dư thừa trong dân cư và các tổ chức kinh tê. - Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Phát triển và mở rộng thêm nhiều chi nhanh cấp 2 và văn phòng giao dịch trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh xung quanh. Cung cấp nhiều hơn nữa cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng trong tương lai như: thanh toán bằng thẻ, quản lý tài sản cho khách hàng,... - Mở rộng, đa dạng hoá, nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng, thực hiện cho vay có chọn lọc trong phạm vi có thể kiểm soát, ưu tiên cho vay tiêu dùng, cho vay hộ sản xuất, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong thời gian tới sẽ triển khai dịch vụ cho vay đầu tư chứng khoán. - Thực hiện các hoạt động đào tạo nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên cho toàn Chi nhánh cả về nghiệp vụ, chuyên môn và tác phong tạo ra ưu thế cạnh tranh bằng “ chất lượng nguồn nhân lực ”. 2. Mục tiêu Mục tiêu năm 3 tháng cuối năm 2007 của Chi nhánh là: - Tổng Nguồn vốn huy động phải đạt từ 1.700 - 2.300 tỷ đồng đạt tốc độ tăng trưởng từ 22% - 25% so với cùng kì năm ngoái. - Tổng dư nợ: 500 - 550 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng từ 18% - 27%. So với cùng kì năm ngoái. Trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 55%/ tổng dư nợ, dư nợ trung dài hạn 40% trên tổng dư nợ. - Nợ quá hạn: Dưới 4%/tổng dư nợ - Chênh lệch lãi suất phấn đấu đạt 0.4% - Thu từ dịch vụ: tăng từ 15% - 18% so với cùng kì năm ngoái để phấn đấu cả năm tăng từ 12% - 15% so với năm 2006 ( vì quý III giảm 1.7% so với quý III năm 2006) - Tài chính: chênh lệch thu – chi là 17 tỷ đồng tăng 5 tỷ đồng so với cùng kì năm ngoái. Phấn đấu cả năm đạt 75 tỷ vượt kế hoạch đề ra là 65 tỷ dồng - Nâng và mở rộng hoạt động tín dụng đặc biệt ưu tiên tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh ổn định có hiệu quả, có tài sản đảm bảo, chấp nhận mức lãi suất hợp lý; hạn chế cho vay đối với các khách hàng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay. Coi trọng yếu tố chất lượng tín dụng vì đó là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chi nhánh là tiêu chuẩn để đo trình độ cán bộ II . GIẢI PHÁP. 1. Giải pháp dịch vụ tín dụng 1.1 Tăng cường hoạt động Marketing Bất kì một doanh nghiệp nào muốn có sản phẩm, hình ảnh, uy tín thương hiệu của mình có chỗ đứng trên thị trường đều cần sự trợ giúp quan trọng của hoạt động Marketing. Sự thành công của NHNN0 & PTNT VIỆT NAM Chi nhánh Bắc Hà Nội như hôm nay không thể không kể đến vai trò của Marketing ngân hàng. Là một Chi nhánh mới ra đời đứng trước vô vàn khó khăn và thách thức Ngân hàng đã rất linh hoạt khi tiến hành kết hợp các hoạt đông Marketinh truyền thống và Marketinh hiện đại nhằm quảng bá, quảng cáo hình ảnh thương hiệu thu hút khách hàng về phía mình. Điều này đã mang đến những thành công nhất định nhưng trong thời gian tới công tác này cần phải đẩy mạnh hơn nữa mới có thể cạnh tranh được với các đối thủ trong và ngoài nước, đặc biệt khi Việt Nam ra nhập WTO có sự tham gia của các tổ chức tài chính nước ngoài. Để thực hiện được điều này cần phải triển khai một số hoạt động: - Tiến hành các hoạt động nghiên cứu, thăm dò tình hình hoạt động sản xuất của khách hàng, tìm hiểu cung - cầu về vốn vay trên thị trường tài chính để từ đó có thể biết được nhu cầu vay vốn của khách hàng. Điều này sẽ giúp Chi nhánh trả lời được câu hỏi: khi nào khách hàng cần vốn? số lượng vốn vay là bao nhiêu? họ vay trong thời gian bao lâu? từ đó ta có thể tiến hành phân loại khách hàng, xếp họ vào từng nhóm thích hợp là cơ sở xây dựng các chiến lược đưa ra hình thức tín dụng có thời gian và lãi suất phù hợp. - Thăm dò, tham khảo các hình thức cung cấp tín dụng, dịch vụ tín dụng của đối thủ cạnh tranh để biết được điểm mạnh, điểm yếu của họ. Trên cơ sở đó phát huy thế mạnh của mình, khắc phục các điểm yếu của đối thủ lấy điểm yếu của đối thủ để mình khai thác, trở thành thế mạnh của mình. - Xây dựng hình ảnh thương hiệu: Thưc hiện các hoạt động tuyên truyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như: + Thông qua các cơ quan báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh báo chí ( báo hình, báo ảnh, báo viết,...), Wed... hoặc qua đội ngũ cán bộ làm việc tại chi nhánh + Thông qua các hội nghị khách hàng + Thông qua các tờ rơi + Thông qua các bảng hiệu, biển hiệu, hướng dẫn tại trụ sở giao dịch + Thông qua các cuộc họp tổ vay vốn + Thông qua việc tuyên truyền, phố biến trực tiếp của cán bộ ngân hàng (Phòng tư vấn và hướng dẫn khách hàng) + Thông qua các thư thăm dò chọn mẫu Đi đôi với nó là xây dựng phong cách phục vụ ân cần nhiệt tình, chu đáo,... của đội ngũ cán bộ công nhân viên đối với khách hàng. Ưu tiên chăm sóc khách hàng truyền thống, khách hàng có chất lượng tín dụng tốt về lãi xuất, chi phí vận chuyển, thời gian. 1.2 Đa dạng hoá các hình thức tín dụng Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng đa số gồm 4 hoạt động chính là: cho vay, cho thuê ( 2 hình thức này chủ yếu là cung cấp cho hoạt động sản xuất), chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh đây là các hoạt động của các Ngân hàng truyền thống. Nhưng hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt mấy năm trở lại đây có sự tham gia của thị trường chứng khoán, các Ngân hàng cạch tranh quyết liệt nhau để giành thị phần, giành khách hàng. Do đó, để thu hút khách hàng trong thời gian tới Chi nhánh cần phải tiến hành đa dạng, mở rộng hoạt động tín dụng thì mới có thể cạnh tranh được: 1.21 Đa dạng hình thức cho vay - Hiện nay, đa số các hình thức cho vay của Chi nhánh là hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng từng lần, hình thức này giúp Ngân hàng kiểm soát được hoạt động kinh doanh của khách hàng, rủi ro được hạn chế, tạo thế chủ động cho Ngân hàng. Tuy nhiên nó có nhược điểm là thủ tục hành chính rườm rà, thời gian thẩm định, xét duyệt dự án lâu làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng. Hiện nay, hình thức này không còn phù hợp như thời gian trước, đặc biệt là khi kinh tế mở cửa nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, cơ chế thị trường đòi hỏi họ phải nhạy bén với thông tin nếu không sẽ mất lợi thế về cạnh tranh. Khắc phục tình trạng này Chi nhánh có thể áp dụng phương pháp cho vay luân chuyển. Đây là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa, dựa trên số vốn thiếu mà Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay vốn. Hình thức này có rất nhiều ưu điểm: cung cấp kịp thời vốn cho khách hàng, tiết kiệm chi phí giao dịch, không mất thời gian, thủ tục đơn giản khách hàng chỉ cần trình bày hoá đơn, hợp đồng cho Ngân hàng là có thể vay vốn. - Chức năng chính của NHNN0 & PTNT VIỆT NAM là hộ trợ vốn cho các ngành nghề thuộc nông lâm ngư nghiệp. Đây là phạm vi rất hẹp trong nền kinh tế, tổng thu nhập ngành này đóng góp vào GDP còn rất hạn chế, lợi nhuận mang lại chưa cao còn chứa đựng nhiều rủi ro. Tình hình này hiện nay đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn còn giới hạn trong phạm vi nhất định, do đó trong thời gian tới cần tiên hành cho vay mở rộng hơn nữa với tất cả các ngành ngề lĩnh vực trong nền kinh tế. Điều này giúp Chi nhánh tăng lợi nhuận và hạn chế được rủi ro. - Xây dựng và phát triển các dịch vụ tín dụng mới, các dịch vụ tín dụng mà Chi nhánh chưa cung cấp: Hiện nay hình thức tín dụng mà Chi nhánh cung cấp chỉ là tín dụng doanh nghiệp, tín dụng dân cư và đa số là các hình thức tín dụng tồn tại dưới hình thức ngắn hạn ( tín dụng dưới 12 tháng). Vì vậy, trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả cạnh tranh Chi nhánh nên triển khai một số hoạt động: + Phát triển các dịch vụ tín dụng mới, đặc biệt là các dịch vụ tín dụng mà Chi nhánh chưa cung cấp như: Tín dụng thuê mua, tín dụng bán lẻ, tín dụng hỗ trợ các dự án bất động sản. Đây là các hình thức trong thời gian tới chắc chắn sẽ rất phát triển đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, tiến trình mở cửa tài chính ngân hàng đang được nới rộng. Các hãng bán lẻ sẽ tràn ngập vào Việt Nam, cơ hội phát triển dịch vụ phục vụ nhu cầu mua sắm là hết sức sáng sủa. Nhưng bên cạnh đó cũng rất khó khăn vì Ngân hàng phải cạnh tanh quyết liệt với các Ngân hàng nước ngoài vốn đã có kinh nghiệm và thế mạnh. Hiện nay, thị trường Bất Động Sản đang nóng dần lên và được sự quan tâm, thu hút rất nhiều nhà đầu tư. Thị trường này rất nhiều tiềm năng, lợi nhuận lớn. Đã có đến 11 Ngân hàng: Eximbanhk Việt Nam, Techcombank, HSBC, HDBanhk, MHB, Sacombank, ABBank, AXN, Vietcombank Tân Thuận và IndochinaBanh tung ra thị trường sản phẩm hỗ trợ kách hàng mua nhà trả góp với rất nhiều ưu đãi. Ví dụ: Eximbank Việt Nam áp dụng mức lãi suất cho vay dưới 1%/tháng; TechcomBank đưa ra hình thức cho vay ưu đãi tối đa là 20 năm, tỷ lệ cho vay tối đa là 80% tổng nhu cầu về vốn vay. Ngoài ra khách hàng chỉ phải thanh toán 15% vốn gốc trong 1/4 thời gian đầu và 25%, 30% và 30% trong thời gian còn lại. Khách hàng có thể sử dụng chính ngôi nhà của mình làm tài sản đảm bảo. Hình thức này Chi nhánh nên triển khai nên trong thời gian tới, điều này làm tăng thu nhập, hình ảnh uy tín của Ngân hàng trong tương lai, tạo niềm tin cho khác hàng. + Cho vay đầu tư chứng khoán là dịch vụ mà Chi nhánh cũng chưa cung cấp, trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam đang tăng trưởng và phát triển rất ổn định, số lượng và chất lượng hàng hoá đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là nguồn vốn đổ vào thị trường này liên tục tăng trong thời gian qua, nhiều phiên giao dịch lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Nhiều Ngân hàng đã tiến hành cho vay dưới hình thức cầm cố chứng khoán đã thu được rất nhiều kết quả như mong muốn. Đây là thị trường chứa đựng nhiều rủi ro nhưng lợi nhuận mang lại là rất lớn, vì vậy Chi nhánh cần triển khai nếu không mất cơ hội, không chiếm được ưu thế cạnh tranh với các Ngân hàng khác. 1.22 Mở rộng hình thứ tín dụng trung hạn và dài hạn Đây là hai hình thức Chi nhánh đã triển khai song còn hạn chế, điều đó thể hiện dư nợ đối với tín dụng trung và dài hạn năm 2006 là 568 tỷ đồng chiếm 32%, 6 tháng đầu năm 2007 là 680 tỷ đồng chiếm 39.6%. Mặc dù 6 tháng đầu năm 2007 có tăng nhưng tỷ trọng chỉ chiếm dưới 40%. Trong khi đó đây là nguồn vốn vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp, các dự án đầu tư bên cạnh đó nó chắc chắn mang lại lãi suất cao cho chi nhánh. Vì vậy, để phát triển các hình thức này trong tương lai ta cần phải thực hiện các biện pháp sau: - Tài trợ dưới hình thức cho thuê: Đây là hình thức tài trợ dưới hình thức cho thuê các loại tài sản. Đây là hình thức rất phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam, bởi khả năng tích luỹ tập trung vốn của họ bị hạn chế, các doanh nghiệp luôn rơi vào tình trạng đói vôn. Trong khi đó, nhu cầu đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ luôn là vấn đề làm doanh nghiệp đau đầu vì tiềm lực tài chính không đảm bảo. Cung cấp dịch vụ này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp: họ có thể tăng năng lực sản xuất, công nghệ đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Còn đối với Ngân hàng: Đây là hình thức an toàn mà lợi nhuận mang lại rất cao, linh hoạt trong kinh doanh. Bên cạnh đó nó còn tạo ra những thế mạnh cạnh tranh, uy tín, trong lĩnh vực tài chính. - Cho vay theo dự án: Việt Nam là một đất nước có rất nhiều tiềm năng phát triển, trong thời gian qua nhiều dự án lớn liên tục được thực hiện bởi các nguồn vốn trong và ngoài nước. Trong tương lai để duy trì tốc độ tăng trưởng 7.5% Việt Nam phải cần khoảng trên 20 tỷ USD/năm. Trong khi đó, tình trạng thiếu vốn để thực hiện dự án là tình trạng thường xuyên sảy ra. Do đó, tiềm năng, cơ hôi tài trợ cho hoạt động này là rất lớn đặc biệt là các dự án xây dựng, đổi mới trang thiết bị máy móc. Tuy nhiên, muốn thực hiện hoạt động này tốt Chi nhánh phải tiên hành thẩm định các dự án xem chúng có tính khả thi không, có khả năng thu hồi nợ không. Lợi nhuận từ hoạt động này là rất lớn, nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn như: do khách hàng cung cấp thông tin không chính sác, do biến động của tài chính thế giới, sự thay đổi của các chính sách,...Bên cạnh đó, hoạt động này phải đòi hỏi độ đội ngũ cán bộ trình độ cao, có kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp luôn phải được đề cao. 1.23 Mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hệ thống Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc quốc gia, ngay cả đối với các quốc gia có trình độ phát triển cao hay quốc gia đang phát triển. Theo điều tra cho thấy, nguồn vốn huy động phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này chủ yếu là nguồn vốn Ngân hàng ( 74.9%). Điều này cho thấy rằng nguồn vốn tín dụng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ở phần trên ta cũng thấy khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Chi nhánh chủ yếu là khách hàng có quy mô nguồn vốn nhỏ và vừa, trong năm 2006 chỉ có tổng số 128 có quan hệ thường xuyên và là quan hệ tín dụng ngắn hạn. Nguồn tín dụng này chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất hàng ngày và tài trợ vốn lưu động, trong khi đó vốn phục vụ cho hoạt động mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư máy móc thiết bị lại được cung cấp rất hạn chế. Vì vậy, mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiêp này Chi nhánh cần tiến hành một số hoạt động sau: - Thanh lập tổ, nhóm hay phòng nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa để từ đó có thể đánh giá chính xác tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng phát triển, tiềm năng,... tiến hành phân loại, xác định mức tín dụng và hình thức cho vay phù hợp. - Khuyên khích cho vay đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vốn vay mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ ( thông thường đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn) - Giữu mối quan hệ thân thiết đối với các khách hàng có quan hệ lâu năm, thường xuyên và các khách hàng có quan hệ tín dụng tốt. Tích cực khai thác các khách hàng chiến lược, khách hàng mục tiêu đưa ra các hình thức khuyến khích thu hút họ đến với Ngân hàng như: tư vân tín dụng miễn phĩ, tư vân tài chính miễn phí,... 1.3 Xây dựng quy chế xác định mức lãi suất cho vay phù hợp Lãi suất tín dụng là thu nhập đối với tổ chức tín dụng và là chi phí vốn vay đối với người đi vay. Vì vậy đây là điều hết sức quan trọng đối với cả Ngân hàng và doanh nghiệp. Nếu Ngân hàng cho vay với lãi suất quá cao thì doanh nghiệp không vay vì điều này làm tăng chi phí của họ, nếu Ngân hàng cho vay với lãi suất thấp thì thu nhập của họ bị giảm suống, nếu thấp quá có thể phá sản vì không đủ bù đắp chi phi. Lợi ích từ tín dụng của hai bên là khách nhau, nên việc dung hoà cho cả người đi vay và người cho vay là hết sức quan trọng. Mặc dù hiện nay cơ chế lãi suất đã thông thoáng hơn, doanh nghiệp và Ngân hàng có thể thảo thuận với nhau về mức lãi suất, nhưng bên cạnh đó nó còn phụ thuộc của rất nhiều yếu tố như: ảnh hưởng của thị trường tài chính thế giới, tài chính trong nước, và NHNN0 & PTNT VIỆT NAM. Đo đó để đảm bảo cơ chế lãi suất linh hoạt, nhạy bén cần tiến hành các hoạt động: - Xây dựng khung lãi suất cho từng sản phẩm tín dụng: mỗi sản phẩm tín dụng khác nhau cần phải căn cứ vào mức độ rủi ro, chi phí, để xây dựng một khung lãi suất hợp lý dựa trên nguyên tắc rủi ro nhiều, lãi suất cao và ngược lại. - Phân loại nhóm khách hàng: khách hàng có lịch sử quan hệ tín dụng tốt, khách hàng có quan hệ lịch sử xấu, khách hàng có quan hệ tín dụng mới,... Để từ đó có thể làm căn cứ xây dựng khung lãi suất các nhóm cho hợp lý. - Căn cứ vào thời gian vay để xác định lãi suất cho vay: tín dụng có thời gian dài phải có mức lãi suất cao hơn tín dụng có thời gian ngắn. - Căn cứ xác định thời hạn cho vay: Ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản xuất – kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của phương án/dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của Ngân hàng cho vay. Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam. - Lãi suất cho vay phải được cấu thành bởi các yếu tố: Chi phí huy động vốn, Chi phí hoạt động, Chí phí dự phòng rủi ro tín dụng, Chi phí thanh khoản, Chi phí vốn chủ sở hữu. 1.4 Coi trọng điều kiện đảm bảo. Bảo đảm tiền vay là việc khách hàng vay vốn của Chi nhánh phải dùng các loại tài sản của mình hoặc bên thứ ba để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng. Tài sản đảm bảo là cơ sở để xác lập trách nhiệm người vay; giảm thấp rủi ro tín dụng, nhưng không được xác định đây là điều kiện duy nhất để quyết định cho vay; không xem là phương tiện duy nhất để đảm bảo an toàn vay vốn. Khi nhận tài sản cầm cố, thế chấp, cán bộ tín dụng cần phải tiến hành một số hoạt động: * Kiểm tra tình trạng thực tế của tài sản bảo đảm tiền vay Việc kiểm tra tình trạng thực tế của tài sản bảo đảm tiền vay được thực hiện chi tiết qua bảng: Loại tài sản đảm bảo Các yếu tố cần kiểm tra 1. Giấy tờ có giá ( trái phiế, tín phiếu, cổ phiếu,...) Quyền chủ sở hữu, nguồn gốc phát hành, ngày phát hanh, thời hạn và lãi suất,... 2. Vàng bạc , đá quý,... Nguồn gốc, tỷ trọng khối lượng, giá trị,.. 3. Bất động sản ( nhà cửa, vật kiến trúc,....) - Nội dung thẩm định: nguồn gốc, giấy tờ về quyền sỏ hữu, sử dụng, hình thức chuyển nhượng, giá trị theo khung giá nhà nước, giá trị theo thị trường, khả năng bán thanh lý,... - Hình thức thế chấp, chuyển nhượng: định giá, thủ tục đăng kí công chững, thủ tục bàn giao,... 4. Động sản ( Hàng hoá, phương tiện vận tải,...) - Nội dụng thẩm định: Nguồn gốc, giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng, số lượng chủng loại, tính năng kĩ thuật, giá trị, khả năng bán, cất giữ,... - Hình thức cầm cố, chuyển nhượng: định giá, thủ tục đăng kí công chứng, thủc tục bàn giao, chuyển nhượng,... 5. Các quyền ( quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận bảo hiểm,...) Xác định phạm vi quyền, đối tượng được hưởng quyền, đối tượng thực hiện nghĩa vụ, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ, giá trị của quyền khi thực hiện. 6. Bảo lãnh của bên thứ 3 Phạm vị, đối tượng bảo lãnh, nội dụng, mức độ, thời hạn bảo lãnh; năng lực, uy tín của bên bảo lãnh, năng lực tài chính; mối quan hệ giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh; điều kiện bảo lãnh; điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; bảo lãnh bằng tài sản,... 7.Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay Tính pháp lý và thủ tục bàn giao về việc có thể dùng tài sản loại này làm bảo đảm; tính toán và kiểm tra lại giá trị ước định trong tương lai của tài sản này; rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới giá trị của tài sản; 8. Kết hợp các loại đảm bảo khác Tính pháp lý về việc có thể dùng tài sản loại này làm bảo đảm; tính toán và kiểm tra lại giá trị thị trường tài sản này; rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới giá trị của tài sản; thủ tục bàn giao tài sản 1.5 Nâng cao chất lượng thẩm định. Thẩm định có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng, nó quyết định xem hồ sơ vay vốn của khách hàng có được phê duyệt không. Công tác thẩm định tốt giúp ngân hàng tránh được những rủi ro từ phía khách hàng. Để nâng cao chất lượng thẩm định đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhân viên, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiêm, đạo đức nghề nghiệp. Trong quá trình thẩm định cần phải chú ý đến các điểm sau: - Tìm hiểu phân tích khách hàng, tư cách và năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, năng lực điều hành quản lý, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động: - Phân tích đánh giá khả năng tài chính: + Kiểm tra tính chính xác của các báo cáo kết quả kinh doanh + Phân tích đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính. - Phân tích quan hệ với khách hàng: Tình hình quan hệ với ngân hàng bao gồm tình hình quan hệ tín dụng và quan hệ tiền gửi hiện tại và cả trong quá khứ: + Quan hệ tín dụng: Dư nợ ngắn, trung và dài hạn ( gồm cả nợ quá hạn); mục đích vay vốn của khách hàng; doanh số cho vay, thu nợ; số dư bảo lãnh; mức độ tín nhiệm. + Tiền gửi: doanh số tiền giử, tỷ trọng tiền gửi so với doanh thu. 2. Tăng cường công tác giám sát khách hàng Để giảm những rủi ro tối thiểu những có thể sẩy ra thì hoạt động giám sát khách hàng không phải là một trong những hoạt động không thể thiếu của Ngành ngân hàng cũng như của Chi nhánh nói riêng. Do đó, để làm tốt nhiệm vụ này nhân viên tín dụng cần phải tiến hành một số hoạt động sau: + Thu thập thông tin, chứng cứ liên quan đến việc sử dụng vốn vay của khách hàng. + Kiểm tra thực tế nơi sử dụng vốn. + Đối chiếu với mục đích vay ghi trong hợp đồng tín dụng - Kiểm tra, phân tích hiệu quả vốn vay, theo dõi, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình tài chính và đảm bảo tín dụng của khách hàng: + Đánh giá tiến độ thực hiện phương án. Đánh giá, phân tích hiệu quả tình hình tài chính + Theo dõi, phân tích tinh hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh + Theo dõi, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh + Theo dõi các hình thức, tài sản đảm bảo tín dụng - Kiểm tra mục đính sử dụng vốn vay, vật tư đảm bảo nợ: để làm nhiệm vụ này cẩn phải tiến hành các bước. + Thu thập thông tin, chứng cứ liên quan đến việc sử dụng vốn vay của khách hàng. + Kiểm tra thực tế nơi sử dụng vốn. + Đối chiếu với mục đích vay ghi trong hợp đồng tín dụng 3. Đào tạo, cải tiến thường xuyên trình độ nhân viên. Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong các hoạt động của Ngân hàng thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là nhân tố quyết định sự tồn tại, khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng . Tuỳ theo từng vị trí, nhu cầu mà Ngân hàng đưa ra các chính sách đào tạo phù hợp với thực tế. Để đáp ứng yêu cầu này thì công tác đào tạo cần phải tiến hành như sau: - Đa dạng hoá các loại hình đào tạo đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh doanh cho hệ thống: + Đào tạo cơ bản đối với cán bộ mới, bào gồm cán bộ mới được tuyển dụng, cán bộ từ nghiệp vụ khác chuyển sang. Nhiệm vụ của công tác đào tạo này là giúp cho đội ngũ cán bộ có những hiểu biết chung nhất về các dịch vụ, nghiệp vụ của Ngành ngân hàng. + Đào tạo chuyên sâu: Mỗi loại nghiệp vụ tín dụng có các tính chất, đặc trưng khác nhau vì vậy khi thực hiện đào tạo cần phải căn cứ vào nhiệm vụ, trách nhiệm của từng phòng, từng nghiệp vụ để có hình thức đào tạo cho phù phợp. + Bồi dưỡng đào tạo kiến thức: Thường xuyên mở các lớp tập huấn, các buổi thuyết trình, hội thảo bàn về kĩ năng, nghiệp vụ chuyên môn của người làm tín dụng. - Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tại nước ngoài: Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá là xu thế chung của thế giới. Công tác đào tạo không chỉ chú trọng đến hoạt động ở trong nước mà cần phải đưa những người ưu tú nhất đi đào tạo tại các nước có Ngành tài chính phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp,... điều này giúp chi nhánh có thể mở rộng phạm vị, thị trường hoạt động sang các nước trong khu vực và trên thế giới trong tương lai. - Chú trọng công tác tuyển dụng, tuyển chọn: Có chính sách thu hút nhân tài, đặc biệt là những người học thạc sĩ, tiễn sĩ ở các nước có trình độ phát triển, điều này sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh của Chi nhánh với các Ngân hàng khác về con người. Chính sách ưu đãi có thể là: lương, cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc,... 4. Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng. Hiện nay, Công nghệ Ngành ngân hàng Việt Nam nói chung là rất lạc hậu so với các nước trong khu vực thế giới. Việt Nam đã là thành viên chức thức của WTO, trong thời gian tới chúng ta không cải tiến áp dụng công nghệ mới chắc chắn sẽ không thể cạnh tranh được với các Ngân hàng nước ngoài. Ví dụ: Như ta đã biết, tất cả các Ngân hàng hiện nay đều xây dựng hệ thống thẻ ATM, nhưng có một điểm chung là các hệ thống nay không thể liên thông được với nhau. Người mở tài khoản tại ngân hàng này không thể rút tiền tại tại Ngân hàng khác được, điều này gây ra rất nhiều bất lợi cho người sử dụng. Bên cạnh đó đa số các thẻ này là thẻ từ, chưa cung cấp được thẻ chip nên tính bảo mật rất thấp. Vì vậy, để tạo ra ưu thế với đối thủ cạnh tranh, Chi nhánh nên hiện đại hoá và đổi mới vì: - Nó giúp Ngân hàng phát huy được ưu điểm: thực hiện hoạt động thanh toán nhanh gọn, an toàn, giảm chi phí giao dịch, chi phí hoạt động xuống mức thấp nhất có thể - Công tác bảo mật, quản lý, giám sát hoạt động của Chi nhánh có thể tiến hành từ xa mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả, chính xác. Tuy nhiên bên cạnh đó cần phải chú ý: đổi mới không có nghĩa là đổi mới tất cả mà phải dựa trên cãi cũ, phát huy ưu điểm của cái cũ; còn với công nghệ nhập khẩu phải thẩm định, đánh giá một cách chính xác nếu không gây ra lãng phí không hiệu quả. III- KIẾN NGHỊ 1. Kiến nghị chính phủ, bộ ngành liên quan. Bộ tài chính, chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước về ngành ngân hàng: chi phối, ban hành các chính sách phục vụ cho sự phát triển của Ngành ngân hàng. Vì vậy, để hệ thống ngân hàng của chúng ta phát triển ổn định, đạt chất lượng cao và thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả của nền kinh tế cần phải áp dụng một số biện pháp: - Hỗ trợ các ngân hàng xây dựng cơ sở vậy chất kĩ thuật hiện đại, đặc biệt là hỗ trợ họ tìm các đối tác, tư vấn các phần mền về giải pháp công nghệ thông tin vốn là một điểm còn rất nhiều hạn chế của Ngành Ngân hàng Việt Nam. - Xây dựng cơ chế thông thoáng thu hút nhân tài, chuyên gia về nước phục vụ như các ưu đãi: về lương, chế độ làm việc, chỗ ở,...tạo điều kiện cho họ phát huy hết khả năng của mình . - Chinh phủ, bộ tài chính cần phải ban hành các quy định,cơ chế định giá, để từ đó có thể đưa ra một khung gía chuẩn mực cho tất cả các hàng hoá, tài sản có trên thị trường đặc biệt là những tài sản hay được cầm cố như: nhà cửa, đất đai, máy móc thiết bị,... đồng thời khung giá này phải bám sát với khung gía trên thị trường chứ không phải giá nhà nước một khung, trong khi đó ngoài thị trường lại giao dịch với mức giá khác như hiện nay, điều này có thể gây thiệt hại cho người sở hữu nó khi định giá và nhà nước có thể thất thu về thuế khi họ bán. - Ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố quyết định đến thành công của ngành Ngân hàng. Lý thuyết và thực tế cho thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới Ngành tài chính – ngân hàng sẽ rơi vào khủng hoảng nếu nền kinh tế vĩ mô có nhiều bất ổn. Khi nền kinh tế rơi vào những bất ổn, tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cao hơn lãi suất thực điều này sẽ rất kho khăn cho hoạt động tín dụng. - Xây dựng môi trường cạnh tranh giữa các Ngân hàng. Hiện này, tình trạng quản lý tập trung trong ngành Ngân hàng có thể là nguyên nhân dẫn đến những thất bại trong tiến trình tự do hoá lãi suất và phát triển Ngành ngân hàng. Kinh nghiệm cho thấy ở Việt Nam v à các nước trên thế giới hầu hết những khoản nợ khó đòi của Ngân hàng đều xuất phát từ việc không minh bạch trong hoạt động cung cấp tín dụng của các Ngân hàng, can thiệp của Chính phủ vào các khoản vay, tính không hiệu quả của Ngành ngân hàng. Để giải quyết thực trạng này Chính phủ phải nhanh chóng cổ phần hoá các Ngân hàng quốc doanh, bỏ dõ rào càn thúc đẩy thành lập các Ngân hàng mới. - Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong thời gian tới, ban hành thống nhất các văn bản thông tư, nghị định hướng dẫn trãnh tình trạng chồng chéo đặc biệt cần chú ý ( luật tín dụng, luật phá san, luật đất đai,...). Xây dựng cơ quản lý và giám sát Ngân hàng và hoạt động tín dụng một cách hiệu quả. Cơ chế giảm sát chặt chẽ và những quy định đầy đủ về hoạt động của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính là một yếu tố rất cần thiết đặc biệt khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, các Ngân hàng nước ngoài sẽ tràn vào cạnh tranh quyết liệt với ngân hàng trong nước điều này sẽ hạn chế được những tiêu cực, giảm rủi ro hệ thống cho ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. 2. KIẾN NGHỊ VỚI NHNH VIỆT NAM Để ổn định và phát triển ngành ngân hàng trong thời gian tới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải tiến hàng một số biện pháp sau: - Xây dựng cơ chế, quy chế hoạt động nhăm xác định rõ ràng quan hệ giữa: Ngân hàng Trung ương và Chính phủ, Ngân hàng Trung ương và Bộ tài chính, Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng thương mại. Điều này sẽ làm rõ và tách biệt chức năng, vai trò của từng bộ phận, đơn vị khi thực hiện quản lý với việc thực hiện kinh doanh, tạo nên tính minh bạch của ngành Ngân hàng. - Xây dựng cơ chế điều tiết lưu thông tiền tệ, tỷ giá, hoạt động của các Ngân hàng thương mại, các tổ chức kinh doanh tiền tệ và thị trường tài chính nói chung. Các chính sách cơ chế này phải đảm bảo tính ổn định, linh hoạt trước những biến động của tài chính khu vực và quốc tế. Đó có thể là chính sách tiền tệ như: chính sách lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ giá,... - Phát triển và nâng cao hiệu quả các công cụ điều hành tiền tệ gián tiếp ( nghiệp vụ thị trường mở và chiết khấu) thông qua: + Tăng số lượng, chủng loại, chất lượng các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền tệ. + Đa dạng hoá phương thức giao dịch trên thị trường tiền tệ. + Mở rộng đối tượng tham gia thị trường mở + Phát triển các loại hình kinh doanh giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng - Hoàn thiện cơ chế chính sách tiền tệ thông qua nâng cao năng lực phân tích, dự báo những biến động NHNN0 & PTNT VIỆT NAM trước những biến động của thị trường tiền tệ khu vực và thế giới để các ngân hàng trong nước có những điều chỉnh thị trường trong nước một cách thích hợp. Cho phep các ngân hàng cung cấp một số dịch vụ mới như: hợp đồng quyền chọn ( quyền chọn mua, quyền chọn bán), hợp đồng tương lãi,... - Củng cố hoạt động thị trường nội tệ liên ngân hàng: + Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kiểm soát hữu hiệu thị trường liên ngân hàng, theo dõi kịp thời diễn biến lãi suất trị trường liên ngân hàng, làm cơ sở nghiên cứu và ban hành lãi suất tái cấp vốn. + Phát triển và nâng cao chất lượng thị trường tiền tệ để nâng cao khả năng truyền dẫn chính sách tiền tệ của NHNN như: nới lỏng các hạn chế nhận tiền gửi bằng nội tệ đối với các chi nhánh NHTM nước ngoài phù hợp với tiến trình hội nhập; hạn chế hình thức cho vay chủ đạo; đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại hệ thông NHTM, mở rộng danh mục hàng hoá trên thị trường tiền tệ. 3. Kiến nghị với NHNN0 & PTNT VIỆT NAM - Hiện nay thị trường tài chính Việt Nam đã và đang có rất nhiều những biến chuyển cả về chất và lượng. Số lượng các Ngân hàng trong nước được thành lập không ngừng tăng lên, chất lượng dịch vụ được cải thiện rõ ràng. Trong thời gian tới khi lộ trình hội nhập WTO được mở cửa, hàng loạt các ngân hàng và chi nhánh nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam, tạo nên cuộc cạnh tranh hết sức quyết liệt. NHNN0 & PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội với tuổi đời còn rất trẻ nên gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậym NHNN0 & PTNT VIỆT NAM cần phải có chính sách hỗ trợ Chi nhánh cả về vật chất lẫn con người: + Vật chất: tăng cường vốn cho Chi nhánh mua săm máy móc, thiết bị, phần mềm quản lý + Con người: Hỗ trợ Chi nhánh đào tào nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, đặc biệt là cán bộ tín dụng - Thành lập một bộ phận chuyên theo dõi, nghiên cứu và đề xuất những sáng kiến kịp thời lên giám đốc và tổng giám đốc phụ trách để họ ra những quyết định kịp thời. - NHNN0 & PTNT VIỆT NAM cần phải xác định lãi suất điều hoà vốn nội bộ, đồng thời giao cho giám đốc chi nhanh một phạm vi tự chủ nhất định trong biên độ cho phép. KẾT LUẬN Trong thời gian thực tập tại NHNN0&PTNT Việt Nam Chi nhánh Băc Hà Nội đã cho em hiểu biết nhiều hơn và có cái nhìn tổng thể về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tín dụng đối với các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Bên cạnh những thành quả mà hoạt động tín dụng của Chi nhánh đạt được cũng còn rất nhiểu vướng mắc khó khăn. Vì vậy, em hi vọng với đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hầng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Chi nhánh Bắc Hà Nội” của mình sẽ bổ xung cho những gì còn thiếu và yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho Chi nhánh. Đề tài của em được thực hiện dựa trên những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tấp tại Trường đại học: Kinh tế quốc dân Hà Nội, sách báo, tạp chí và đặc biệt là sự giúp đỡ của PGS.TS: Nguyễn Hữu Tài, cùng các cô, các chú, anh chị cán bộ tại &PTNT Việt Nam Chi nhánh Băc Hà Nội. Trong quá trình thực hiện đề tài do kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế nên chuyên đề có thiếu sót nên em rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Ngân hàng và PGS.TS Nguyễn Hữu Tài để bài chuyên đề này đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân thành cám ơn! Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2007 Sinh viên thực hiện: Phạm Thanh tuấn TÀI LIỆU THAM KHẢO TS. Phan Thị Thu Hà. Giáo Trình: Ngân hàng Thương mại – Trường đại học kinh tế quốc dân - NXB thống kê 2006 PGS.TS. Lưu Thị Hương. Giáo trình: Thẩm định tài chính dự án - Trường đại học kinh tế quốc dân – NXB tài chính năm 2005 TS. Nguyễn Văn Tiến . Tài chính hiện đại trong nền kinh tế mở -NXB thống kê năm 2000 PGS Mai Siêu. Giáo trình: Tài chính doanh nghiệp – Trường đại học kinh tế quốc dân – Nhà xuất bản thống kê năm 2000 Frederici S.Mishkin. Tiền tệ, Ngân hàng& thị trường tài chính – NXB khoa học kĩ thuật Hà Nội năm 2001 Tạp chí Ngân hàng: Số 7/2006; số 9/2007 Báo cáo tổng hợp của NHNN0&PTNT Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội các năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 6 tháng đầu năm 2007. Sổ tay tín dụng NHNN&PTNT Việt Nam www.sbv.gov.vn www.acb.com.vn WWW.Agribank.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxGiải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Bắc Hà Nội.docx
Luận văn liên quan