Đề tài Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương I: Một số vấn đề lý luận, bộ máy đảm nhận và công tác tuyển dụng xuất khẩu lao động ửo huyện Kinh Môn 3 1.1. Lý luận về xuất khẩu lao động 3 1.1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động 3 1.1.2. Việc làm và tạo việc làm 1.1.3. Lý thuyết di chuyển lao động quốc tế 10 1.1.4. Những nhận định về xuất khẩu lao động của Huyện Kinh Môn 1.2.Bộ máy đảm nhận xuất khẩu lao động 13 1.3. Công tác tuyển dụng XKLĐ, đối với lao động thông qua tỉnh, huyện hoặc các trung tâm dịch vu việc làm. 16 Chương II. Thực trạng xuất khẩu lao động ở huyện kinh môn 20 2.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN KINH MÔN ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. 2.1.1. Văn hoá thể thao 2.1.2. Về văn hoá xã hội 2.2. Các chính sách về xuất khẩu lao động của huyện kinh môn 20 2.2.1. Thời kỳ 1980-1990: 21 2.2.2. Thời kỳ từ 1991 đến nay 23 Trong đó 26 2.3 Cơ cấu xuất khẩu lao động theo thị trường. 26 2.4.Cơ cấu xuất khẩu lao động theo ngành nghề 30 2.5. Hiệu quả của các hoạt động xuất khẩu lao động CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. 40 3.1. Giải pháp về chính sách chính sách xuất khẩu lao động của huyện kinh môn 40 3.2 GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ LAO ĐÔNG XUẤT KHẨU CỦA HUYỆN KINH MÔN. 3.2.1. Chuẩn bị nguồn nhân lực cho xuất khẩu lao động. 42 3.2.2. Các giải pháp hỗ trợ, nâng cao năng lực và hiệu quả của các đơn vị làm xuất khẩu lao động. 43 Tăng cường năng lực của các đơn vị làm công tác xuất khẩu lao động 43 3.2.3. Giải pháp và nâng cao năng lực quản lý tại huyện Kinh Môn trong công tác xuất khẩu lao động. 44 Kết luận 46 Danh mục tài liệu tham khảo 47

doc52 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/05/2013 | Lượt xem: 1819 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ề xuất khẩu lao động, tạo tành một khối liên kết chặt chẽ. Với lực lượng lao động trong huyện là 91.514 lao động năm 2003 chiếm tỷ lệ 55,61% trong tổng số dân trong huyện là 164.569 người. Thêm vào đó, trong những năm vừa qua cũng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và của Huyện kinh Môn nói riêng. Lực lượng lao động của huyện cũng cũng có bước chuyển đổi rõ nét. Lao động công nghiệp chiếm 50,42%, lao động phổ thông chiếm 14,48%, còn lao động khác chiếm tỷ lệ 35,1%. Chính vì vậy, dựa vào tiềm năng về lao động cho nên Sở lao động TBXH tỉnh đã phân công cho các công ty xuất khẩu lao động về các huyện để tuyển chọn, từ đó giúp các công ty xuất khẩu lao động tuyển được lao động có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của bên nhận lao động xuất khẩu. Với những chức năng của BCĐ là tuyển chọn lao động, hướng dẫn lao động làm các thủ tục như vay vốn ngân hàng, khám sức khoẻ, làm hộ chiếu cũng như tuyên truyền sâu rộng đến người lao động, nhằm giúp người lao động hiểi rõ hơn lợi ích của việc xuất khẩu lao động như giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo... Đồng thời, qua việc tuyên truyền này giúp người lao động tránh được những rủi ro không đáng có gây thiệt hại đến người lao động như hiện tượng lừa đảo, hay việc lao động đi xuất khẩu thông qua môi giới. Để thực hiện được các chức năng nhiệm vụ đó BCĐ đã phân công rõ ràng các vị trí trong BCĐ gồm : Trưởng ban, Phó ban, Phó ban thường trực, Các uỷ viên. Trưởng Ban Phó Ban Phó Ban thường trực Các ủy viên Trưởng Ban: Phụ trách tất cả các mặt của vấn đề về xuất khẩu . Đây là một vị trí quan trọng, nó có tính quyết định đến sự thành bại của xuất khẩu lao động. Vị trí này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kinh nghiệm trong vấn đề quản lý, hay nói cách khác người lãnh đạo phải có trình độ chuyện môn cao mới đáp ứng được yêu cầu đề ra. Với trình độ Đại Học, chuyện ngành Kinh tế và chính trị, cộng với 4 năm kinh nghiệm. Hiện nay, trưởng BCĐ đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụcủa mình là thành lập kế hoạch cũng như việc triển khai kế hoạch trong những năm vừa qua. Phó Ban: Phụ trách công tác phối hợp với sở công an hướng dẫn thủ tục làm xuất nhập cảnh cho người lao động, chủ trì phối hợp với các ngành, xây dựng biện pháp ngăn chặn, xử lý các hiện tượng lừa đảo gây thiệt hại với người lao động tham gia xuất khẩu. Với chức vụ đảm nhận hiện nay là trưởng công an huyện, với trình độ Đại Học An ninh, cộng với 3 năm kinh nghiệm làm công tác xuất khẩu lao động. Cho nên việc hướng dẫn người lao đọng làm thủ tục xuất nhập cảnh cũng là chức năng nhiệm vụ của ngành công an, đông thời ngăn chặn, xử lý các hành vi, hiện tượng lừa đảo gây thiệt hại cho người lao động. Phó Ban thường trực: Với chức vụ là trưởng phòng tổ chức LĐXH cho nên có nhiệm vụ lập kế hoạch điều phối số lượng, vùng tuyển lao động xuất khẩu , tổng hợp chung tình hình để báo cáo thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện và báo cáo Sở LĐTBXH. Các Uỷ viên: Phụ trách công tác cụ thể của từng mảng nên rất rõ ràng và chính xác. Một uỷ viên thuộc phòng Kế hoạch - Tài chính – Thương mại và khoa học phụ trách công tác cân đối ngân sách, kinh phí cho hoạt động BCĐ và hoạt động triển khai công tác XKLĐ Một uỷ viên thuộc trung tâm ytế chủ trì việc phối hợp với sở ytế hướng dẫn khám sức khoẻ cho người lao động Một uỷ viên thuộc phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – phụ trách công tác triển khai đề án trong các HTX dịch vụ nông nghiệp và các vùng nông thôn Một uỷ viên là Bí thư Đoàn TNCSHCM phụ trách công tác triển khai đề án tổ chức Đoàn thanh niên từ huyện đến cơ sở Một uỷ viên là chủ tịch Hội cựu chiến binh huyện phụ trách công tác triển khai đề án đến các hội viên cựu chiến binh từ huyện đến cơ sở Có thể nói, với một mô hình quản lý chặt chẽ trừu trên xuống dưới và đặc biệt với sự phân công hợp lý từng công việc cho từng thành viên trong BCĐ, cộng với trình độ chuyên môn đảm bảo cho công tác xuất khẩu lao động đã tạo nên một khối vững chắc trong vấn đề về xuất khẩu lao động. 1.3. CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG XKLĐ, ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG THÔNG QUA TỈNH, HUYỆN HOẶC CÁC TRUNG TÂM DỊCH VU VIỆC LÀM. Đăng ký danh sách dự tuyển tại các trung tâm 1 Các trung tâm gửi danh sách dự tuyển cho công ty 2 Công ty tổ chức tuyển chọn và phổ biến các chế độ, thủ tục, nghĩa vụ quyền lợi cho người lao động 3 Các trung tâm tổ chức phát hồ sơ, kiển tra sức khỏe, làm hộ chiếu cho người lao động 4 Trước đây lao động đi xuất khẩu ở huyện đi theo con đường tự do, nghĩa là người lao động tự tìm hiểu hoặc qua báo chí, bạn bè người thận giới thiệu cho mình công ty xuất khẩu lao động. người lao động tự đến công ty rồi tham gia khoá học đào tạo nghề, giáo dục định hướng, song sau đó hoàn tất các thủ tục cần thiết để bay. Điều đó không tránh khỏi người lao động bị lừa rồi bị trả về nước. Với những thực trạng trên Đảng và Nhà nước ta đã ra quyết định cho các tỉnh thành phố thành lập BCĐ về xuất khẩu lao động, từ đó tạo cho người lao động một tâm lý ổn định khi tham gia xuất khẩu lao động. Thực hiện chỉ thị số 41/CT – TW ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị về xuất khẩu lao động và chuyện gia, nghị định số 152/1999/NĐ - CP ngày 20/9/1999 của chính phủ quy định người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Thực hiện nghị quyết số 20/NQ – TU ngày 11/6/2002 của Ban thường vụ Tỉnh Uỷ Hải Dương, chỉ thị số 14/2002/CP – UB ngày 24/6/2002 của UBND tỉnh Hải Dương. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của thường trực Huyện Uỷ Kinh Môn về công tác xuất khẩu lao động và quyết định số 326 ngày 1/7/2002 của UBND huyện Kinh Môn về việc thành lập BCĐ xuất khẩu lao động. BCĐ huyện Kinh Môn đã xây dựng kế hoạch và triển khai kế hoạch xuất khẩu lao động giai đoạn 2002 – 2005. * Trước tiên BCĐ đề ra mục tiêu xuất khẩu lao động từ năm 2002 – 2005 là xuất khẩu được từ 800 – 1000 lao động, trong đó chủ yếu là lao động khu vực nông thôn và những người có khó khăn về kinh tế. Mục tiêu năm 2002 xuất khẩu được 200 lao động, các năm tiếp theo mỗi năm 250 – 300 lao động. * Sau đó BCĐ xác định nội dung, giải pháp xuất khẩu lao động: Tuyên truyền sâu rộng, chỉ thị số 41/CT – TW ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị về xuất khẩu lao động và chuyện gia, nghị định số 152/1999/NĐ - CP ngày 20/9/1999 của chính phủ quy định người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tuyên truyền, nghị quyết số 20/NQ – TU ngày 11/6/2002 của Ban thường vụ Tỉnh Uỷ Hải Dương, chỉ thị số 14/2002/CP – UB ngày 24/6/2002 của UBND tỉnh Hải Dương. Thông báo công khai về thị trường lao động, số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện làm việc và mức lương được hưởng, các khoản người lao động phải đóng góp, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thủ tục hồ sơ... để ngăn chặn kịp thời các thông tin thất thiệt, các hành vi lừa đảo người lao động. Về thị trường xuất khẩu lao động : Thị trường xuất khẩu lao động ở nhiều nước, nhưng giai đoạn đầu tập chung cho thị trường ở Malaysia là nơi có nhu cầu lao động lớn, các chi phí cho trình độ tay nghề, chuyên môn phù hợp với người lao động Việt Nam, nhất là lao động nghèo ở nông thôn thuộc huyện. Về giải pháp hỗ trợ vốn cho người đi xuất khẩu lao động: Căn cứ đề án xuất khẩu lao động giai đoạn 2002 – 2005 của UBND Tỉnh Hải Dương thì giải pháp hỗ trợ vốn cho người lao động xuất khẩu là : Bản thân người lao động tự tìm nguồn vốn. Các ngân hàng chuyên doanh cho vay vốn xuất khẩu lao động theo quy định số 440/2001 ngày 17/4/2001 của ngân hàng nhà nước. UBND tỉnh dùng quỹ giải quyết ciệc làm của tỉnh để hỗ trợ những người thộc diện chính sách với mức vay vốn không quá 50% số tiền phải nộp. Các thủ tục cho người lao động xuất khẩu vay theo đúng các quy định hiện hành của nhà nước. UBND xã đứng ra tín chấp cho người lao động có nhu cầu vay vốn Về khoản kinh phí khi đào tạo giáo dục định hướng ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% người đi xuất khẩu phải nộp 50% kinh phí còn lại. * Ban chỉ đạo các xã triển khai trong các ban ngành, tuyên truyền các văn bản của nhà nước, của các cấp các ngành về xuất khẩu lao động. Tuyên truyền về điều kiện, tiêu chuẩn về người đi xuất khẩu lao động và chế độ quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động đi xuất khẩu để nhân dân và người lao động hiểu rõ. * Lập danh sách người lao động đăng ký đi xuất khẩu. * Báo cáo danh sách người lao động có nhu cầu đi xuất khẩu về BCĐ huyện * BCĐ huyện tổng hợp danh sách các xã, báo cáo danh sách đăng ký người lao động đi xuất khẩu của huyện về BCĐ tỉnh * BCĐ tỉnh thông báo cho công ty xuất khẩu lao động và thống nhất với công ty về thời gian sơ tuyển lao động đồng thời thông báo cho BCĐ huyện để BCĐ huyện thông báo cho các xã, các xã thông báo cho người lao động về thời gian sơ tuyển. * Tổ chức khám sức khoẻ, tổ chức đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động. * Người lao động làm các thủ tục xin cấp hộ chiếu, thủ tục vay vốn ( nếu có) và hoàn tất các giấy tờ ở xã, phường * BCĐ các xã, thị trấn, BCĐ huyện gửi danh sách xin cấp hộ chiếu về công an tỉnh và công an tỉnh làm hộ chiếu. CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN KINH MÔN 2.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN KINH MÔN ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. 2.1.1. Văn hoá thể thao Công tác văn hoá tập trung vào công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện theo luật pháp Nhà nước, thực hiện nếp sống văn hoá, xây dựng gia đình văn hoá. đặc biệt trong công tác tuyên truyền vận động, việc vận động người lao động tham gia tích cực vào quá trình xuất khẩu lao động. Chính vì vậy công tác tuyên truyền ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xuất khẩu lao động, nó thể hiện như là một yếu tố rất cần thiết không thể thiếu được trong bất kỳ mọi công tác nói chung và trong công tác xuất khẩu lao động nói riêng. 2.1.2. Về văn hoá xã hội Giáo dục : Quy mô giáo dục phát triển toàn diện. Hàng năm thu hút được 99.6% số trể đủ 6 tuổi vào lớp 1; 99,6% số học sinh tốt nghiệp vào lớp 6 và 63% số học sinh tốt nghiệp vào trung học phổ thông. Bên cạnh việc mở rộng quy mô, chất lượng giáo dục cũng được tăng lên. Hằng năm tỷ lệ học sinh học lực khá, giỏi toàn huyện là 62%, tăng bình quân 4,1% năm. đội ngũ giáo viên đạt trình độ tiêu chuẩn đạt tỷ lệ cao. Tuy vậy, cơ sở vật chất của ngành giáo dục vẫn chưa được đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, một số phòng học vẫn chưa được xây dựng kiên cố, nhất là hệ mầm non, trang thiết bị dạy và học còn thiếu, số trương chuẩn hoá còn ít, đội ngũ giáo viên có trình độ không đồng đều. Đây là một yếu tố phản ánh đến nhận thức của nhân dân lao động, đặc biệt nó ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người lao động tham gia đi xuất khẩu. 2.2. PHÂN TÍCH VIỆC THỰC HIỆN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN KINH MÔN 2.2.1. Thời kỳ 1980-1990: Thời kỳ này, các cơ chế, chính sách thực hiện theo quyết định số 46/CP ngày 11 tháng 2 năm 1980 của Hội đồng chính phủ về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là chính sách và cũng là văn bản pháp lý đầu tiên về xuất khẩu lao động ở nước ta. Quyết định ra đời trong bối cảnh chúng ta chưa có nhận thức và kinh nghiệm nào về vấn đề xuất khẩu lao động nhưng đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống. Quyết định cũng giao cho Bộ lao động thống nhất quản lý Nhà nước về việc hợp tác lao đọng với nước ngoài. Tiếp đó, ngày 29 tháng 11 năm 1980 của Hội đồng chính phủ ban hành Nghị quyết số 362/CP về hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là văn bản bổ sung những thiếu sót của quyết định 46/CP như quy định nguyên tắc hợp tác với nước ngoài trên cơ sở các bên cùng có lợi; quy định đối tượng, tiêu chuẩn tuyển chọn người đi lao động; quy định một số chính sách , chế độ đối với lao động như quy định về lương, phụ cấp, quy định về trách nhiệm trích nộp, quy định về thời gian công tác, lao động, học tập để tính chế độ bảo hiểm xã hội; quy định về việc gửi tiền, hàng hoá về nước. Nghị quyết 362 cũng quy định việc tổ chức thực hiện của các Bộ, Ngành có liên quan trong nước, trong đó: Bộ Lao động có trách nhiệm trong việc đàm phán, ký kết thoả thuận với phía nước ngoài; tổ chức thực hiện việc tuyển chọn, kiểm tra, quản lý người lao động ở nước ngoài và tiếp nhận người lao động về nước; uỷ ban kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư) phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan xây dựng kế hoạch đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, phân bổ chỉ tiêu lao động cho các Bộ, ngành, địa phương; quy định việc tham gia của một số đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác hợp tác lao động. Ngoài ra, chính sách đối với lao động đi học tập, lao động ở nước ngoài thời kỳ này mang nặng tính bao cấp ; người lao động chỉ được hưởng một phần lương thực tế hoặc phụ cấp học tập còn một phần Nhà nước thu để trả nợ nước ngoài hoặc thu về ngân sách Nhà nước. Người lao động trước khi đi không phải đóng góp các khoản về phí thủ tục đi làm việc ở nước ngoài, chi phí khám y tế, chi phí đi đến nước làm việc,…Tất cả các loại phí này do Nhà nước đài thọ (kể cả trang phục trước khi đi lao động). Chính vì vậy ở thời kỳ này huyện Kinh Môn tập trung cho lao động đi xuất khẩu ở các nước CHXHCN như Liên xô, Cộng hoà liên bang Đức, Tiệp. Thực hiện được chủ trương trên của Đảng và Nhà nước, huyện Kinh Môn đã cho lao động đi xuất khẩu được 786 người, trong đó có 353 lao động nữ chiếm tỷ lệ 44%. Trung Bình mỗi năm huyện cho lao động đi xuất khẩu được 78,6 người. Như vậy, cơ chế chính sách thời kỳ 1980 đến 1990 trong xuất khẩu lao động nằm trong cơ chế chính sách chung của nước ta về quản lý Nhà nước cũng như quản lý sản xuất kinh doanh, thể hiện một hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý mang nặng tính bao cấp. Đánh giá cơ chế quản lý thời kỳ này đối với xuất khẩu lao động ta thấy có những điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, trong thời kỳ này, mục tiêu giải quyết việc làm tuy có đặt ra nhưng việc xuất khẩu lao động nhằm mục đích thu ngoại tệ cho đất nước nhằm trang trải nợ và nhập các loại hàng hoá thiết yếu. Chỉ có thực hiện quản lý tập trung (cả về lực lượng lao động và thu nhập của người lao động ) thì mới có thể giải quyết được mục tiêu trên. Thứ hai, đây là thời kỳ hợp tác, phân công trong các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế. Hơn nữa, cơ chế quản lý của các nước bạn đều là cơ chế quản lý tập trung nên lao động ta cũng phải thực hiện cơ chế này. Việc áp dụng quản lý tập trung nhằm giải quyết một phần những khó khăn về thiéu hụt lao động của nước nhận lao động. Vì vậy, áp dụng cơ chế này là phù hợp với tình hình chung lúc đó. Thứ ba, về tồn tại, hình thức quản lý tập trung nặng về chính trị nên không tính đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động. Hơn nữa, chúng ta đã duy trì cơ chế tập trung trong xuất khẩu lao động quá lâu, không kịp thời nghiên cứu để đổi mới cơ chế xuất khẩu lao động. 2.2.2. Thời kỳ từ 1991 đến nay Trước tình hình thị trường các nước Đông âu, Liên xô và Trung Đông bị thu hẹp, lao động phải trở về nước nhiều; trước tình hình chuyển đổi của cơ chế quản lý mới trong nước và cơ chế mới trong quan hệ kinh tế đối ngoại, ngày 9 tháng 11 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 370/HĐBT quy định quy chế về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Đây là văn bản có tính chất "đột phá" về cơ chế trong việc xuất khẩu lao động ở nước ta, chuyển đổi một cách căn bản cơ chế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang thực hiện hạch toán kinh doanh trong xuất khẩu lao động. Theo cơ chế này, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bộ Lao động có trách nhiệm trong 6 nội dung sau: * Ký kết các Hiệp định chính phủ về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo uỷ quyền của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. * Trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chủ trương, chính sách có liên quan đến việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện. * Tìm hiểu thị trường lao động, hướng dẫn các bộ, ngành, các địa phương tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc; tổ chức việc hợp tác giữa các bộ, ngành, các địa phương thực hiện nếu nhu cầu thuê lao động của nước ngoài có quy mô lớn hoặc do yêu cầu kỹ thuật cần thiết. * Xét và cấp giấy phép cho các tổ chức kinh tế thuộc các bộ, ngành và địa phương có đủ điều kiện. * Thống nhất với Bộ tư pháp để hướng dẫn mẫu và các nguyên tắc về hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Theo dõi tình hình người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, định kỳ báo cáo với chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và cùng Bộ ngoại giao, các bộ, ngành có liên quan giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh. Nghị định cũng quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc tìm hiểu thị trường, định hướng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; ký kết các thoả thuận về nguyên tắc giữa các bộ, ngành, địa phương; quyết định thành lập các tổ chức kinh tế làm nhiệm vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, việc cấp giấy phép cho các tổ chức đó. Hướng dẫn nghị định 370/HĐBT có các văn bản đáng chú ý của các bộ, ngành sau: + Thông tư số 08/LĐTBXH-TT ngày 11 tháng 7 năm 1992 của Bộ Lao động - thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành quy chế về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, thủ tục cấp phép; việc tuyển chọn lao động; việc quản lý lao động. + Thông tư số 11/LĐTBXH -TT ngày 3 tháng 8 năm 1992 hướng dẫn việc cấp giấy phép cho các tổ chức kinh tế đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngaòi, trong đó quy định về các đối tượng được cấp giấy phép; các loại giấy phép,thủ tục xin giấy phép và việc tổ chức thực hiện. + Thông tư số 05/LB- TC- LĐTBXH ngày 7 tháng 3 năm 1992 của liên bộ; tài chính, Lao động - thương binh và xã hội quy định về tỉ lệ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước theo mức lương của người lao động tuỳ theo từng thị trường; tỉ lệ nộp phí cho các tổ chức kinh tế; quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong việc hu nộp các khoản phải thu cho nhà nước. Nghị định 370/HĐBT và các văn bản hướng dẫn bước đầu đã hình thành cơ chế mới trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Trong đó, đã cơ bản tách chức năng quản lý Nhà nước với chức năng kinh doanh dịch vụ trong hoạt động xuất khẩu lao động. Các cơ quan quản lý Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện các chức năng như: định hướng thị trường, xây dựng,ban hành chính sách, hướng dẫn thực hiện và kiêmtra; các tổ chức kinh tế chịu trách nhiệm thực hiện việc xuất khẩu lao động khi được Nhà nước cho phép, dựa trên các quy định của Nhà nước và phải tự chịu trách nhiệm về tài chính trong hoạt động kinh doanh- dịch vụ của mình. Nghị định 370 quy định được nghĩa vụ, quyền và lợi ích của Nhà nước , các tổ chức kinh tế thực hiện xuất khẩu lao động và người lao động ở nước ngoài được phân chia đảm bảo lợi ích các bên. Tuy nhiên, do trong quá trình chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, tư duy làm ăn mới và kinh nghiệm trong việc tiếp cận thị trường, cơ chế mới còn hạn chế nên nghị định 370 và các văn bản hướng dẫn còn có nhiều tồn tại như: chưa nêu rõ trách nhiệm cụ thể của các Bộ, ngành liên quan;còn có những quy định mang dấu ấn của cơ chế cũ, ví dụ quy định về trích nộp, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước của người lao động ; ngoài giấy phép hoạt động, tổ chức kinh tế còn phải xin giấy phép thực hiện hợp đồng (giấy phép con) gây những phiền hà không đáng có cho việc thực hiện của doanh nghiệp. Qua quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, và nắm bắt chủ trương của Đảng và Nhà nước cho nên thời kỳ này huyện Kinh Môn đã cho lao động đi xuất khẩu được 1330 người. Trong đó nữ có 595 người, chiếm tỷ lệ 44,74%. Bảng 1: Số lao động xuất khẩu qua các giai đoạn Đơn vị : Người Tổng số Trong đó Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Nam Nữ Nam Nữ 1980- 1990 786 433 353 100 55,10 44,9 1991- 2003 1330 735 595 100 55,26 44.74 Phòng TCLĐXH huyện Kinh Môn 2.3. PHÂN TÍCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG. Hiện nay, xuất khẩu lao động của huyện Kinh Môn có 2 thị trường chủ yếu sau đây: Bảng 2: Số lượng lao động xuất khẩu tại các nước Đơn vị : Người Số TT Chỉ tiêu 2002 2003 Tổng số Trong đó Tổng số Trong đó Nam Nữ Nam Nữ 1 Lao động tại MALAYSIA 181 173 8 219 207 12 2 Lao động tại ĐàI LOAN 103 16 87 241 14 227 3 Lao động Các nước khác 75 39 36 48 29 19 Phòng TCLĐXH huyện Kinh Môn a. Đài Loan Từ đầu những năm 1990, Đài Loan đã nhận lao động từ 4 nước là Thái Lan, Philippin, Malaysia và Indonesia. Đến cuối năm 1999 nhận thêm lao động Việt Nam. Nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài của Đài Loan rất cao nhưng chính quyền giới hạn cho nhập khoảng 300.000 lao động nước ngoài. Đài Loan có chính sách nhận lao động nước ngoài chính thức, có hệ thống luật lệ, quy chế tương đối rõ ràng và chặt chẽ đối với lao động nước ngoài và việc sử dụng lao động nước ngoài. Trong những năm vừa qua, huỵện Kinh Môn đã xuất khẩu lao động sang Đài Loan được 103 người năm 2002, trong đó có 87 nữ, chiếm tỷ lệ 77%. Năm 2003 xuất khẩu lao động được 241 người, trong đó có 227 nữ chiếm tỷ lệ 90,4%. Thuận lợi : 100% lao động đi xuất khẩu đều xuất phát từ nông thôn, cho nên họ có phẩm chất đạo đức tốt, thật thà thêm vào đó với công việc hàng ngày của người lao động chủ yếu là làm ruộng cho nên họ đã có một sức khẻo tốt. Chiếm phần lớn lao động đi xuất khẩu sang Đài Loan chủ yếu là giúp việc gia đình, mà những công việc này phù hợp với công việc hàng ngày mà họ phải làm. Khó khăn: Xuất phát điểm của người lao động là rất khó khăn : Khó khăn về kinh tế là khó khăn đầu tiên cũng là khó khăn trăn trở nhất của người lao động. Quanh năm ngày tháng với ruộng đồng, nên họ rất thạn trọng với đồng tiền mà mình bỏ ra. Chính vì vậy mà không ít người lao động đã không muốn tham gia đi xuất khẩu lao động. Nguồn kinh phí đi chủ yếu của người lao động họ phải đi vay vốn ngân hàng cho nên phải thế chấp nhà, ruộng, vườn. Một trong những khó khăn chủ yếu nữa của người lao động là khó khăn về học ngoại ngữ. Phần lớn người lao động xuất phát từ nông dân cho nên việc tiếp xúc với ngoại ngữ là điều quá mới mẻ đối họ. Bởi vậy xảy ra trường hợp bất đồng ngôn ngữ, nên việc giao tiếp hàng ngày rất khó khăn. b. Malaysia Tại Malaysia, kể từ đầu những năm 1970, Malaysia đã phải sử dụng rất nhiều lao động nước ngoài bất kể đó là lao động hợp pháp hay không. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Malaysia, vào cuối năm 1999, tại Malaysia có khoảng 1,6 triệu kiều dân nước ngoài, chiếm 7,6% số dân và 11,4% lực lượng lao động và 11,6% số người có việc làm. Trước đây, Malaysia có quy định (trong Luật) không nhập lao động từ các nước được gọi là "Cộng sản" . Tuy nhiên do chính sách mở cửa và đổi mới của Việt Nam , Malaysia đã mở cửa đối với lao động Việt Nam. Trong thời gian qua huyện Kinh Môn đã xuất khẩu sang Malaysia được 181 người năm 2002, trong đó có 8 lao động nữ, chiếm tỷ lệ 5%. Năm 2003 có 219 người, trong đó có 12 lao động nữ, chiếm tỷ lệ 6%. Thuận lợi : Nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của Malaysia hiện tại và trong nhiều năm tới còn rất lớn: Như ta đã biết, từ 10 năm đến 20 năm tới, Malaysia vẫn là một thi trường có nhu cầu rất lớn về sử dụng lao động nước ngoài trong nhiều lĩnh vực tại khu vực Đông Nam á. Nhu cầu này với số lượng không dưới một triệu lao động nước ngoài làm việc trong năm. Trước mắt, với một số điều chỉnh về chính sách tiếp nhận lao động ở nước ngoài nhằm hạn chế số lượng sử dụng lao động của một số nước vốn đã co quy mô lớn là một thuận lợi với Việt Nam. Khoảng cách gần, môi trường, khí hậu có sựu khác biệt với ta. Tương tự như Đài Loan với 3 giờ bay từ Việt Nam sang Malaysia là yếu tố thậu lợi trong tổ chức đưa lao động và chỉ đạo trong công tác quản lý lao động, nhanh chóng xử lý các phát sinh có liên quan tới lao động của ta làm việc tại Malaysia. Mặt khác, Malaysia với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam á có khí hậu, môi trường sống và làm việc gần như ta là điều kiện cơ bản để lao động Việt Nam nhanh chóng thích ứng, hoà nhập với công việc và sinh hoạt. Yêu cầu trình độ tay nghề, chuyên môn phù hợp với một bộ phận lớn lao động: Thị trường lao động Malaysia có nhiều lĩnh vực có nhu cầu trình độ tay nghề phù hợp và các chi phí thấp là cơ hôi tốt cho một bộ phận lao động nghèo tại địa bàn nông thôn của ta còn thiếu việc làm được làm việc tại Malaysia, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động, nhất là lao động khu vực nông thôn. Trong những năm đầu tiên triển khai với Malaysia, ta có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, nông lâm là một số ngành nghề trong du lịch, thương mại. Khó khăn: Malaysia là một quốc gia đa sắc tộc, đạo hồi là Quốc đạo và ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác tuân thủ pháp luật là tiêu chuẩn được xếp ưu tiên trong tổ chức, quản lý lao động tại Malaysia sẽ là thách thức không nhỏ đối với bộ phận lao động Việt Nam vốn sống trong môi trường làm việc thủ công, nhỏ lẻ,tự do... Tiền lương thấp từ 2 –4 triệu đồng/1 tháng, làm giảm động lực của người lao động và doanh nghiệp. Thị trường còn mới ta chưa có kinh nghiệm. Số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Malaysia chiếm ty trọng lớn hơn là lao động các nước trong khối ASEAN. việc gia tăng thị phần cũng là sự gia tăng yếu tố cạnh tranh và nhân tố phải tính tới trong quá trình tổ chức chỉ đạo đưa lao động dang làm việc tại Malaysia. Bảo đảm quan hệ hợp tác giữa các nước trong khối ASEAN. Tóm lại, Malaysia là một thị trường tiếp nhận lao động tiềm năng và đầy hứa hẹn đối với lao động Việt Nam. Những thuận lợi trên là rất cơ bản để khẳng định ta có đầy đủ khả năng về nguồn nhân lực không chỉ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường, những kinh nghiệm về tổ chức và quản lý trong những năm vừa qua để ta nhanh chóng đưa một số lượng lớn lao động vào thị trường Malaysia góp phần giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo cho bộ phận lớn lao động, đặc biệt là bộ phận lao động ở nông thôn. 2.4. PHÂN TÍCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU THEO NGÀNH NGHỀ Trong những năm vừa qua huyện Kinh Môn có đội ngũ lao động, với trình độ chuyên môn cao. Trong đó lao động công nghiệp chiếm tỷ lệ 50,42%, lao động giúp việc gia đình chiếm tỷ lệ 20.05%, khán hộ công chiếm 8.64%, lao động phổ thông chiếm 14,48%, ngoài ra lao động khác chiếm 1,78% trong tổng số lao động năm 2002. Có thể nói rằng lao động ở huyện Kinh Môn trong những năm vừa qua đã có bước phát triển vượt bậc. Thông qua bảng số liệu sau Bảng 3: Cơ cấu lao động xuất khẩu theo ngành nghề ở các nước Đơn vị : Người Số TT Chỉ tiêu 2002 2003 Tổng số % Trong đó Tổng số % Trong đó Nam Nữ Nam Nữ A Lao động Malaysia 181 100 173 8 219 100 207 12 1 Xây dựng(nề) 29 16,02 29 0 40 18,26 40 0 2 Mộc 15 8,33 15 0 16 7,31 16 0 3 Cơ khí 18 9,94 18 0 21 9,6 21 0 4 May công nghiệp 7 3,87 2 5 15 6,85 5 10 5 Lao động phổ thông 107 59,44 97 10 120 54,79 120 0 6 Diện tử 5 2,76 2 3 7 3,2 5 2 B Lao động Đài Loan 103 100 16 87 241 100 14 227 7 Giúp việc gia đình 72 69,90 0 72 217 90,04 0 217 8 Khán hộ công 31 30,1 16 15 24 9,96 14 10 C Lao động nước khác 75 100 39 36 48 100 29 19 9 Lao động phổ thông 52 69,33 24 28 31 64,58 15 16 10 Lao động nghề khác 23 30,67 15 08 17 35,42 14 3 Tổng lao động xuất khẩu 359 228 131 508 250 258 Phòng TCLĐXH huyện Kinh Môn Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy cơ cấu lao động theo ngành nghề cũng khác nhau một cách rõ rệt. Các lao động công nghiệp nặng như Xây dựng, Cơ khí, May công nghiệp, Mộc, Điện tử chiếm tỷ trọng xuất khẩu nhỏ trong tổng số lao động tham gia đi xuất khẩu, còn các lao động nhẹ như lao động phổ thông, Giúp việc gia đình, Khán hộ công thì lại chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu lao động. Năm 2002 lao động ở các ngành như Xây dựng, Cơ khí, May công nghiệp, Mộc, Điện tử lần lượt chiếm tỷ lệ là 8,07%, 5,01%, 1,95%, 4,18%, 1,39% trong tổng số lao động đi xuất khẩu năm 2002. Mặt khác, Lao động phổ thông, Giúp việc gia đình, Khán hộ công lần lượt chiếm tỷ lệ là 44,29%, 20,06%, 8,64% trong tổng số lao động năm 2002. Điều này cho ta thấy rằng trình độ chuyện môn của lao động đi xuất khẩu của huyện Kinh Môn vẫn còn thấp. Chính vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm sao nâng tỷ lệ lao động đi xuất khẩu ở các ngành công nghiệp nặng lên, và giảm tỷ lệ lao động đi xuất khẩu ở các ngành lao động giản đơn xuống. Do xác định yêu cầu đặt ra nên trong năm 2003 lao động Xây dựng tăng từ 29 lao động năm 2002 lên 40 lao động năm 2003 tăng được 37,93%, Cơ khí tăng được 16,67% năm 2003 so với năm 2002. Lao động ở các ngành khác cũng tăng lên như lao động Giúp việc gia đình tăng từ 72 lao động năm 2002 lên 217 năm 2003 tăng được 201,39%. Có thể nói rằng đây là một thành quả đáng khích lệ của BCĐ huyện Kinh Môn. Nó nói nên một điều không thể bác bỏ đó là trình độ quản lý cũng như trình độ chuyên môn của các thành viên trong BCĐ đáp ứng được yêu cầu đề ra và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 2.5. Hiệu quả của các hoạt động xuất khẩu lao động. Bảng 4: Nguồn lao động nông thôn Đơn vị : Người Năm Chỉ tiêu 2000 2002 2003 1. DSTB 161.127 162.178 163.236 164.569 2. LLLĐNT 86.048 88.024 90.045 91.514 - Có việc làm 62.656 63.124 63.595 64.548 - Thiếu việc làm 1.683 1.578 1.479 1.482 - Tình trạng khác 23.392 24.322 24.971 25.484 3. Tốc độ tăng LLLĐNT - 1,02 1,05 1,06 Nguồn Phòng TCLĐXH huyện Kinh Môn Dân số và nguồn lao động có mối liên hệ mật thiết với nhau, dân số càng cao thì nguồn lao động càng lớn. Qua các năm 2000 – 2003 dân số trung bình huyện không ngừng tăng nên, điều này cũng dẫn tới nguồn lao động trong huyện cũng tăng theo tỷ lệ thuận.Theo số liệu điều tra dân số năm 2000, huyện Kinh Môn có 86.048 người trong lực lượng lao động (LLLĐ) chiếm 53,40% dân số, đến năm 2003 con số này là 91.514 người, chiếm 55,61% dân số. Mặc dù, nguồn lao động của huyện tương đối lớn nhưng chỉ có khoảng 62.656 người có việc làm, chiếm 72,82% trong tổng số dân trong độ tuổi lao động năm 2000; 70,53% năm 2003. Trong 4 năm, số người có việc làm tăng nên với số lượng không đáng kể, cụ thể vẫn chỉ dao động ở mức 71%. Ngoài ra, vì các lý do khác mà họ không tham gia vào sản xuất như đi học, nôi trợ, bộ đội xuất ngũ chờ việc... Số lượng người thiếu việc làm là 1.683 người, chiếm 1,95% năm 2000 so với số dân trong độ tuổi lao động; 1482 người chiếm 1,62% năm 2003 so với số dân trong độ tuổi lao động. Sở dĩ có tình trạng này Kinh Môn là huyện có ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, quỹ ruộng đất chật hẹp, với mật độ dân số trung bình 993 người/Km2 năm 2003. Trong khi tốc độ gia tăng dân số ngày càng tăng lên. Chính vì thực trạng trên mà một vấn đề đặt ra cho toàn huyện là làm sao giải quyết số lao động thất nghiệp trên. Thật vậy, đi song song với vấn đề giải quyết việc làm huyện Kinh Môn chú trọng vào vấn đề xuất khẩu lao động trong những năm vừa qua. Bằng thực tế cho thấy năm 2002 toàn huyện đã xuất khẩu được 359 lao động sang Đài Loan, Malaysia và một số nước khác, năm 2003 toàn huyện xuất khẩu được 508 lao động sang Đài Loan, Malaysia và một số nước khác. Hàng năm số lượng lao động đi xuất khẩu ở năm thực hiện luôn lớn hơn năm kế hoạch. Vượt chỉ tiêu hàng năm trung bình 20%. Bảng 5: Số lượng và cơ cấu lao động đi XKLĐ so với các chỉ tiêu đề ra Đơn vị : Người Tiêu thức 2001 2002 2003 Kế hoạch Thực hiện TH/ KH Kế hoạch Thực hiện TH/ KH Kế hoạch Thực hiện TH/ KH Theo giới tính Nam Nữ 45 55 29 44 64,44 80 200 100 228 131 114 131 200 200 250 258 125 129 Theo trình độ CMKT + LĐ giản đơn + CMKT 70 30 55 18 78,57 60 150 150 262 97 175 64,67 250 150 381 127 152,4 84,67 Theo nghề tại nơi đến làm việc + Xây dựng + Nông nghiệp + Giúp việc gia đình + Khán hộ công + Khác 20 20 30 20 10 5 22 27 16 3 25 110 90 80 30 50 75 125 35 15 67 98 146 43 5 134 131 116,8 122,86 33,33 50 100 200 25 25 63 123 217 47 58 126 123 108,5 188 232 Nguồn: Phòng TCLĐXH huyện Kinh Môn Trong những năm từ 2001 trở về trước lao động của huyện Kinh Môn đi theo con đường tự do, không thông qua nhà nước. Chính vì vậy mà việc quản lý cũng như giám sát lao động là vô cùng khó khăn. Từ khi chính thức nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị định về việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, và thực hiện nghị quyết của Ban thường vụ tỉnh uỷ Hải Dương. Huyện Kinh Môn đã có quyết định số 326 ngày 1/7/2002 của UBND huyện về việc thành lập BCĐ về xuất khẩu lao động. BCĐ huyện Kinh Môn đã xây dựng kế hoạch triển khai xuất khẩu lao động. Qua thực tế cho thấy, bắt đầu từ khi huyện tham gia xuất khẩu lao động từ năm 2001 đến nay đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Năm 2001 chỉ tiêu huyện đề ra là 100 lao động, sau quá trình thực hiện toàn huyện đã xuất khẩu được 73 lao động đạt 73% so với chỉ tiêu đề ra. Cũng chính vì kết quả trên mà BCĐ huyện Kinh Môn đã nhìn nhận lại về vấn đề xuất khẩu lao động. Thực vậy, năm 2002 kế hoạch đề ra của BCĐ là cho xuất khẩu được 300 lao động, sau quá trình thực hiện toàn huyện đã xuất khẩu được 359 lao động đạt 119,67% tức là vượt chỉ tiêu đề ra là 19,67%, năm 2003 kế hoạch đề ra là 400 lao động, đã cho lao động đi xuất khẩu được 508 lao động chiếm 127%, tức là vượt chỉ tiêu đề ra là 27%. Để đạt được thành tựu trên đã có sự cố gắng không ngừng của BCĐ huyện Kinh Môn, và sự đóng góp không nhỏ của các thành viên của BCĐ. Với trình độ chuyên môn được đào tạo và bằng những kinh nghiệm trên thực tế các thành viên của BCĐ đã đóng góp hết mình cho công tác xuất khẩu lao động. Vì họ nhận định được rằng vấn đề xuất khẩu lao động không chỉ là vấn đề của huyện mà nó còn là vấn đề của toàn quốc gia. Xuất khẩu lao động không chỉ giúp người lao động có công ăn việc làm, mà nó còn giúp người lao động xoá đói giảm nghèo và cao hơn nữa xuất khẩu lao động nó còn tăng thu nhập cho quốc gia có lao động đi xuất khẩu. Một yếu tố nữa tác động trực tiếp tới hiệu quả của xuất khẩu lao động đó là vấn đề về các khoản chi phí của người lao động khi tham gia xuất khẩu lao động. Bảng 6: Các khoản chi phí người lao động phải đóng tại công ty TRCIMEXCO trước khi xuất cảnh sang Malaysia Các khoản tiền Tính bằng USD Tính bằng VNĐ Tiền vé máy bay lượt đi 244 3.763.000 Tiền lệ phí xin cấp VISA 6 100.000 Tiền lệ phí sân bay 14 220.000 Tiền phí môi giới Từ 350 – 400 5.400.000 – 6.200.000 Tiền trang bị đồng phục trước khi bay 33 500.000 Tiền phí dịch vụ 10%(Trả trước 24 tháng) 310 4.800.000 Tổng cộng 937 – 987 14.693.000 – 15.493.000 Nguồn: Thông báo tuyển lao động đi làm việc có thời hạn tại Malaysia Ngoài ra người lao động phải tự chịu các khoản chi phí sau Các khoản tiền VNĐ Tiền học phí ( Ngoại ngữ, giáo dục định hướng) 350.000VNĐ/ tháng Tiền ăn ở trong thời gian học tập Theo nhu cầu Tiền làm hộ chiếu( Theo quy định cục xuất nhập cảnh) 220.000 Tiền mua hồ sơ 30.000 VNĐ/ 1 bộ Tiền khám sức khoẻ Từ 350.000 – 500.000VNĐ/ người Nguồn: Thông báo tuyển lao động đi làm việc có thời hạn tại Malaysia Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy, trước khi xuất cảnh người lao động phải đóng một khoản tiền là 15.643.000 VNĐ. Với khoản chi phí này đối với người lao động, đặc biệt là đối với người lao động ở nông thôn thì nó là một khoản chi phí tương đối lớn. Nhưng với những chính sách ưu đãi của nhà nước về việc cho người lao động vay vốn ở diện chính sách để đi xuất khẩu động là vay không quá 50% số phí phải đóng. Chính vì chính sách này mà khuyến khích người lao động đi xuất khẩu một nhiều hơn. Đây là một động lực tác động đến hiệu quả xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn. 2.6 NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN KINH MÔN. Hiện nay, mặc dù đạt được những thành quả đáng khích lệ trong công tác xuất khẩu lao nhưng bên cạnh nó còn có những vấn đề tồn tại chưua được giải quyết triệt để. Một là: Về công tác tuyên truyền. Như chúng ta đã biết công tác tuyên truyền là một công tác quan trọng, tác động một phần rất lớn đến việc có thành công hay không. Vì chỉ có tuyên truyền mới đưa được thông tin đến quần chúng nhân dân, giúp nhân dân biết được và hiểu được tầm quan trọng của vấn đề xuất khẩu lao động. Trong những năm vừa qua mặc dù đã có nhiều thay đổi trong công tác tuyên truyền như tuyên truyền trực tiếp đến người lao động, mặt khác tuyên truyền gián tiếp thông qua đài, báo. Vì chưa có sự gắn kết thực sự giữa BCĐ huyện với phòng Văn hoá thông tin huyện nên công tác tuyên truyền chưua đạt hiệu quả cao. Mặt khác, nhiều cán bộ chưa hiểu rõ được tầm quan trọng trong công tác tuyên truyền nên xem nhẹ công tác này. Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác xuất khẩu lao động. Hai là : Trình độ chuyên môn của cán bộ ở cấp xã, thị trấn chưa được cao. Thực trạng hiện nay cho thấy một vấn đề nổi cộm là trình độ cán bộ ở cấp xã, thị trấn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Đây là một vấn đề cấp thiết của các cấp, các ngành, thực chất của vấn đề trên cho thấy huyện vẫn chưa trú trọng đến vấn đề đào tạo cán bộ ở cấp xã, thị trấn. Chính vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến công tác xuất khẩu lao động. Vì các cán bộ ở xã, thị trấn là người tiếp xúc với dân, hiểu dân cho nên nếu người cán bộ không hiểu được vấn đề thì xẽ không giải thích được cho người lao động hiểu được tầm quan trọng của công tác xuất khẩu lao động. Ba là: Cơ chế xuất khẩu lao động của nhà nước còn chưa nhạy bén, chưa phù hợp với sự vận động của thị trường lao động quốc tế. Việc chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong lĩnh vực xuất khẩu lao động sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do là một lĩnh vực mới, chưa có kinh nghiệm nên các quy định về chính sách của chúng ta phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Việc giao cho các tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ xuất khẩu lao động theo Nghị định 370/ HĐBT cũng rất hạn chế, các quy định về tài chính quy định trong Nghị định này còn mang nhiều tư duy quản lý tập trung, bao cấp, chưa thực sự tạo cho các doanh nghiệp các cơ hội và điều kiện để tiếp cận thị trường lao động quốc tế. Bốn là: Các chính sách hỗ trợ của nhà nước còn thiếu và chưa mang tính khả thi. Nhà nước đã ban hành một số chính sách mang tính hỗ trợ về xuất khẩu lao động nhưng việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện chưa có kết quả, nhất là quy định về cho người nghèo vay vốn đi xuất khẩu lao động, việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Chính sách hỗ trợ của nhà nước về tư pháp quốc tế, về bảo hộ hoạt động xuất khẩu lao động hầu như chưa có. Mỗi khi xảy ra các tranh chấp liên quan đến người lao động, đến doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động thì phần nhiều các doanh nghiệp và người lao động phải gánh chịu; việc hỗ trợ từ phía nhà nước hầu như chưa có gì. Hỗ trợ của nhà nước về tài chính trong việc cho phép dùng một phần hoặc toàn bộ lợi nhuận trong khoảng thời gian nào đó phục vụ cho công tác giữ vững và mở rộng thị trường hiện nay chưa có, hầu như các doanh nghiệp phải tự trong việc tìm kiếm hợp đồng, thị trường. Hỗ trợ cho người lao động về vay tiền đặt cọc, nộp phí cũng chưa triển khai rộng, thủ tục phiền hà. CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NƯỚC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN KINH MÔN 3.1. GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN KINH MÔN Hoạch định chiến lược đúng và tăng cường định hướng xuất khẩu lao động Để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động, về phía Nhà nước, việc thực hiện chiến lược về ổn định và mở rộng thị trường thông qua các giải pháp của quản lý Nhà nước mang tính quyết định. Định hướng ổn định và mở rộng thị trường bao gồm các nội dung: ổn định và phát triển các thị trường hiện có; gia tăng một cách vững chắc quy mô lao động xuất khẩu đáp ứng tốt nhu cầu về số lượng và chất lượng cho các thị trường trọng điểm; đầu tư mở rộng thị trường mới ở mọi khu vực có nhu cầu; đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, nông nghiệp; gia tăng quy mô và chất lượng xuất khẩu thuyền viên và sỹ quan lao động trên biển; hình thành chiến lược về thị trường xuất khẩu lao động phù hợp với mục tiêu và kế hoạch xuất khẩu lao động của Việt Nam thời kỳ từ nay đến 2010 và các năm tiếp sau. Các giải pháp cụ thể của nhà nước để ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là : - Tích cực nghiên cứu thị trường, xu hướng biến đôạng của thị trường xuất khẩu lao động trên thế giới để điều chỉnh các mục tiêu chiến lược, xác định các chiến lược phát triển thị trường trọng điểm ở cấp quốc gia - Tích cực đàm phán, ký kết các hiệp định cấp chính phủ của thị trường mới và thị trường truyền thống để duy trì tính ổn định và khả năng tăng trưởng. - Nâng cao năng lực các cơ quan đại diện ngoại giao. Theo hường này cần quy định rõ vai trò, nhiệm vụ của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nươc ngoài trong việc góp phần ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động trong đó có các việc cụ thể giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình sử dụng lao động của chủ sử dụng lao động nước ngoài, giữa nhà nước với nhà nước, giữa các công ty môi giới lao động. - Nghiên cứu ban hành chính sách khuyến khích đói với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc mở rộng ra thị trường xuất khẩu lao động. Hiện nay, chúng ta đang có trên hai triệu kiều bào sinh sống ở nước ngoài. Đây là một lợi thế cho việc ổn định và mở rộng thị trường lao động. - Cho phép mở rộng hơn nữa việc tham gia các thành phần kinh tế vào lĩnh vực xuất khẩu lao động, nhất là đối với các Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để tranh thủ những thế mạnh của họ trong việc chiếm lĩnh thị trường. Mở rộng việc tham gia của các thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước vào lĩnh vực xuất khẩu lao động có thể tranh thủ được những lợi thế trong việc khai thác thị trường nhưng cuãng đặt ra nhiều vấn đề trong việc quản lý lao động, nhất là bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Do vậy, việc thực hiện cần có thí điểm và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. - áp dụng các biện pháp giữ uy tín nguồn gốc lao động bằng cách tăng cường đào tạo, khắc phục những yếu điểm của lao động Việt Nam đã và đang mắc phải trong thời gian qua như trình độ ngoại ngữ kém, thể lực yếu, ý thức chấp hành pháp luật yếu. - Tận dụng mọi cơ hội để tiếp cận và khai thác thông qua các thị trường mới tại các nước trên thế giới. cần xác định rõ hơn nữa vai trò và nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao thông qua hệ thống các sự quan trong việc thực hiện chiến lược kinh tế đối ngoại nói chung và của riêng xuất khẩu lao động; tận duạng mọi cơ hội trong các chuyến viếng thăm ngoại giao của các cấp lãnh đạo để trao đổi về vấn đề lao động, ký kết các hiệp định về xuất khẩu lao động. 3.2. GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ LAO ĐÔNG XUẤT KHẨU CỦA HUYỆN KINH MÔN. 3.2.1. Chuẩn bị nguồn nhân lực cho xuất khẩu lao động của huyện Kinh Môn. Để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường xuất khẩu lao động thế giới thì chất lượng nguồn lao đôạng có ý nghĩa quyết định. cũng như cạnh tranh xuất khẩu hàng hoá, khi mà yếu tố giá cả không còn là lợi thế thì chất lượng nguồn lao động là yếu tố quyết định nhất để chúng ta có thể giữ vững thị trường đã có, phát triển thị trường mới. Nguồn nhân lực có chất lượng là một trong những nhân tố góp phần để chúng ta ổn định và phát triển thị trường lao động ở nước ngoài. Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm những vấn đề cơ bản như sức khoẻ, kỹ năng nghề nghiệp, khă năng giao tiếp và ý thức kỷ luật lao đôạng của người lao động. đối với lao động nước ta đã xuất khẩu trong những năm qua, hầu hết các thị trường đều đánh giá lao động Việt Nam cần cù, thông minh, có khả năng tiếp thu nhanh. Tuy nhiên, lao động Việt Nam có một số điểm yếu như: trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, ý thức kỷ luật kém. Để nâng cao chất lượng lao động, về phía quản lý nhà nước cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau: - Cần thống nhất quản lý chặt chẽ mọi hình thức đào tạo lao động và chuyên gia. - Có chính sách hỗ trợ các Doanh nghiệp xuất khẩu lao động về công tác đào tạo - Đầu tư bồi dưỡng chuyên môn về đào tạo cho đội ngũ cán bộ làm công tác đào tạo lao động xuất khẩu. Hiện nay, các đơn vị được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động phải tự chủ động trong việc đào tạo cho lao động do đơn vị mình sẽ đưa đi xuất khẩu. để thực hiện việc đó hoặc bỏ tiền đầu tư địa điểm phục vụ cho công tác đào tạo. tình hình trên đây dẫn đến hoặc đơn vị không chủ động được trong việc chuẩn bị lực lượng lao động phục vụ cho xuất khẩu . - Tổ chức đào tạo nguồn lao động cho xuất khẩu phù hợp với phương án xuất khẩu lao động. Quy mô xuất khẩu lao động chỉ có thể thực hiện được khi chất lượng lao động được thị trường chấp nhận. Không thể chỉ tận dụng nguồn lao động có sẵn mà phải chủ động chuẩn bị nguồn lao động thông qua một kế hoạch đào tạo được chủ động xây dựng đáp ứng từng khu vực, thị trường. Để thực hiện được điều này, cần phải: + Khuyến khích các cơ sở đào tạo, Doanh nghiệp và người lao động cùng đầu tư đào tạo chuẩn bị nguồn lao động cho xuất khẩu. + Tăng cường liên kết các cơ sở đào tạo và các Doanh nghiệp xuất khảu lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo. + Các cấp, các ngành, các đoàn thể, Doanh nghiệp và cơ sở đào tạo phải chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức của người lao động làm cho người lao động thâý rõ vai trò, trách nhiệm của họ đối với đất nước. 3.2.2. Các giải pháp hỗ trợ, nâng cao năng lực và hiệu quả của các đơn vị làm xuất khẩu lao động. Tăng cường năng lực của các đơn vị làm công tác xuất khẩu lao động Năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu lao động có vai trò quyết định đến việc nâng cao hiệu quả, mở rộng thị trường trong đó có năng lực về tài chính, về cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động và kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động là trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp và của Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp, phải chủ động và có kế hoạch không những nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp và rộng lớn của lĩnh vực xuất khẩu lao động, không trông chờ vào nhà nước và cơ quan chủ quản. Nhà nước cần đầu tư cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, ban hành một số chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động như: tái đầu tư thuế cho doanh nghiệp mới hoạt động trong thời gian ít nấht là 5 năm; chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp với nguồn vốn được lấy từ quỹ dự phòng xuất khẩu lao động tạo cho doanh nghiệp không chỉ khuôn khổ pháp lý cho hoạt động mà còn cả điều kiện vật chất cho hoạt động của doanh nghiệp. Đầu tư đào tạo cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động trong đó quan tâm đến cán bộ làm công tác thị trường, công tác quản lý lao động. Cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động của doanh nghiệp là chìa khóa cho sự thành công của doanh nghiệp. Hiện nay, hầu hết số cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp chỉ có các kinh nghiệm thông qua thực tế làm việc. Để thực hiện giải pháp này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần đưa chương trình giảng dạy về xuất khẩu lao động vào chương trình của Trường Cao đẳng Lao động - Xã hội, yêu cầu các doanh nghiệp cử cán bộ tham gia việc đào tạo và đào tạo lại những vấn đề mới về quản lý lao động, về thị trường lao động và những vấn đề liên quan thì mới có thể nâng cao trình độ cho cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp. 3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý tại huyện Kinh Môn trong công tác xuất khẩu lao động. Để nâng cao được năng lực quản lý trước tiên người quản lý phải là người có trình độ chuyên đáp ứng được yêu cầu đề ra. Chính vì vậy, để nâng cao năng lực quản lý trong công tác xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn thì cần phải mở một lớp bồi dưỡng cho các cán bộ làm về công tác xuất khẩu lao động. Nhằm giúp các cán bộ có kiến thức sâu hơn về công tác xuất khẩu lao động, đặc biệt là các cán bộ ở cấp xã, thị trấn. Mặt khác, quán triệt tư tưởng cho các cán bộ về công tác xuất khẩu lao động. Vì vấn đề về xuất khẩu lao động không chỉ là vấn đề của một riêng ai mà nó là vấn đề của cả nước, của tất cả các Quốc gia xuất khẩu lao động. Cần phải nêu cao hơn nữa vai trò của xuất khẩu lao động, vì đi xuất khẩu lao động là đi giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, sâu hơn nữa đi xuất khẩu lao động là tăng nguồn thu nhập cho quốc gia, hay nói cách khác đi xuất khẩu lao động là đóng góp một phần vào sự phát triển kinh tế cho xã hội, chứu không phải đi xuất khẩu lao động là đi nghĩa vụ quân sự. Cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của người cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động. Hiện nay một số cán bộ của huyện chưa thông suốt được tư tưởng, đặc biệt là các cán bộ ở cấp xã, thị trấn. Chính vì vậy mà tinh thành trách nhiệm của họ chưa được nêu cao. Quan niệm của một số cán bộ về xuất khẩu lao động vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đầy đủ. Cần phải gắn tinh thần trách nhiệm của xuất khẩu lao động với tinh thần trách nhiệm của toàn dân, của toàn huyện nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Nêu cao tình thần tự chủ, sáng tạo trong công tác xuất khẩu lao động, biểu dương khuyến khích những cán bộ làm tốt công tác xuất khẩu lao động, để cho các cán bộ chưa làm tốt loi theo học hỏi. KẾT LUẬN Như vậy, thông qua chuyên đề này cho chúng ta thấy được vấn đề xuất khẩu lao động không chỉ là vấn đề của huyện Kinh Môn nói riêng mà nó là vấn đề của toàn xã hội. Trong những năm vừa qua Huyện Kinh Môn đã làm tốt công tác xuất khẩu lao động, song bên cạnh đó còn có những thiếu sót cần được giải quyết. Thông qua chuyên đề trên giúp chúng ta hiểu được phần nào về những thực trạng xuất khẩu lao động của huyện và trong công tác quản lý. Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý về xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo kết quả thực hiện đề án xuất khẩu lao động năm 2003 2. Kế hoạch xuất khẩu lao động huyện Kinh Môn 3. Quyết định của UBND huyện Kinh Môn về việc thành lập BCĐ xuất khẩu lao động 4. Phân công nhiệm vụ các thành viên BCĐ xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn 5. Chỉ thị của UBND huyện Kinh Môn về tăng cường chỉ đạo công tác xuất khẩu lao động 6. Thông báo về việc lao động đi làm tại Malaysia 7. Thông báo về việc tuyển lao động Giúp việc gia đình, Khán hộ công đi làm việc tại Đài Loan với mức kinh phí trước khi đi MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGiải pháp tăng cường & nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ở huyện Kinh Môn.doc
Luận văn liên quan