Đề tài Giải pháp tránh thất thu thuế giá trịgia tăng tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa

Đểbáo cáo nghiên cứu khoa học của mình sát thực tếvà đạt được hiệu quảcao hơn, tác giảquyết định tiến hành khảo sát, thu thập thông tin thực tếcác doanh nghiệp do Chi cục thuếTP. Biên Hòa quản lý, với mục đích tìm hiểu nắm bắt được nhu cầu và ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp vềcác vấn đềthuếGTGT mà họquan tâm. Thông qua đó, giúp tác giảcó thể đềra một sốgiải pháp giúp cho Chi cục Thuế TP.Biên Hòa tránh thất thuếGTGT. Tuy nhiên, do thời gian thực tập ngắn và khảnăng chuyên môn của tác giảcòn nhiều hạn chế, đồng thời do nhiều yếu tốkhách quan khác nhưnhững khó khăn từphía doanh nghiệp (không hợp tác, không có thời gian tiếp ) cho đến những khó khăn từphía Chi cục ThuếTP.Biên Hòa (không muốn đểsinh viên biết nhiều vềcông tác quản lý của mình v.v ) và những khó khăn khác mà tác giả gặp phải, cho nên những kết quảthực tếmà tác giảthu thập được chưa thểhiện hết, đầy đủnhững yêu cầu, kiến nghịvà ý kiến đóng góp của doanh nghiệp.

pdf113 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/06/2014 | Lượt xem: 2366 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp tránh thất thu thuế giá trịgia tăng tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
N THUẾ GTGT CỦA CÁC DN TẠI CCT CÁC NĂM 2007, 2008, 2009 Đơn vị tính: Đồng Chênh lệch 2008-2007 Chênh lệch 2009-2008 Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Giá trị % Giá trị % Đề nghị hoàn thuế 4,101,646,682 1,884,593,126 4,699,949,046 -2,217,053,556 -54.05% 2,815,355,920 149.39% Quyết định hoàn thuế 2,390,495,013 1,439,412,742 4,056,271,798 -951,082,271 -39.79% 2,616,859,056 181.80% Không được hoàn thuế 542,195,613 182,210,999 217,332,013 -359,984,614 -66.39% 35,121,014 19.27% ( Nguồn: BC Kiểm tra hoàn thuế năm 2007, 2008, 2009 tại CCT TP.Biên Hòa) - 89 - Biểu đồ 2.1: Tình hình hoàn thuế GTGT của DN tại Chi cục Thuế TP. Biên Hòa 4,101,646,682 2,390,495,013 542,195,613 1,884,593,126 1,439,412,742 182,210,999 4,699,949,046 4,056,271,798 217,332,013 0 500,000,000 1,000,000,000 1,500,000,000 2,000,000,000 2,500,000,000 3,000,000,000 3,500,000,000 4,000,000,000 4,500,000,000 5,000,000,000 Giá trị (đồng) 2007 2008 2009 Năm Đề nghị hoàn thuế Quyết định hoàn thuế Không được hoàn thuế Nguồn : Chi cục Thuế TP.Biên Hòa Theo như bảng 2.6 mà tác giả đã xử lý từ danh sách các DN hoàn thuế năm 2007, 2008, 2009 tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa có thể thấy: - Năm 2007 số thuế mà các DN xin được hoàn là 4.101.646.682 đồng nhưng trong đó chỉ được CQT đồng ý ra quyết định hoàn thuế là 2.390.495.013 đồng số thuế không được hoàn 542,195,613 đồng. Số thuế được hoàn trong năm này chủ yếu là do các DN xuất khẩu hàng hóa nên chịu thuế GTGT đầu ra 0% nhưng vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Thêm nữa là các DN mua sắm TSCĐ nhiều trong năm 2007 này dẫn đến việc các DN được khấu trừ GTGT đầu vào nhiều nên số thuế được hoàn lớn. - Năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu các DN gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên không chú trọng vào xuất khẩu hay mua sắm TSCĐ nhiều, chỉ chủ yếu bán hàng nội địa là chủ yếu do vậy số thuế xin được hoàn giảm rất nhiều chỉ còn 1.884.593.126 đồng, so với năm 2007 giảm 54.05%. Trong đó số thuế được hoàn là 1.439.412.742 đồng (giảm 39.79% so với 2007) và số thuế không được hoàn là 182,210,999 đồng. - Năm 2009, Chính phủ tung ra gói kích cầu nhằm giảm tình trạng lạm phát phục hồi nền kinh tế đã đưa ra một số chính sách ưu đãi khuyến khích các DN hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn. Một trong những chính sách đó là giảm thuế suất thuế GTGT một số mặt hàng nhằm kích cầu nhiều hơn. Đây là điều kiện thuận lợi cho các DN thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh mạnh hơn nhằm hưởng những ưu đãi từ Chính phủ. Do vậy, năm 2009 số thuế mà các DN xin được hoàn tăng lên 4.699.949.046 đồng, tăng 2.815.355.920 đồng so với năm 2008 (tăng 149.39%), tăng - 90 - 598.302.364 đồng so với 2007 (tăng 14.59%). Trong đó, số thuế được hoàn là 4.056.271.798 đồng tăng 181,80% so với 2008 và tăng 69.68% so với năm 2007.  Những khó khăn trong công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa. Từ những thực trạng trên cho thấy, hiện nay công tác quản lý thuế GTGT nhằm tránh thất thoát nguồn thu NSNN vẫn còn gặp nhiều khó khăn do: Thứ nhất: Địa bàn quản lý rộng, nguồn nhân lực hạn hẹp, trình độ chuyên môn cán bộ chưa đồng đều chưa thể đáp ứng hết yêu cầu hỗ trợ, quản lý và theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT của các đơn vị kinh tế. Thứ hai: Hệ thống quản lý dữ liệu kê khai thuế GTGT còn khá phức tạp. Thứ ba: Sự liên kết, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến công tác quản lý còn chưa có sự đồng bộ và chặt chẽ. Thứ tư: Thời hạn và quyền hạn cho công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở của NNT còn hạn chế. Thứ năm: Hiện tượng gian lận, trốn thuế GTGT của các cá nhân, tổ chức kinh tế ngày càng tinh vi. Thứ sáu: Do nhận thức của người tiêu dùng về thuế GTGT liên quan đến quyền lợi của mình chưa cao. Thứ bảy: Luật thuế GTGT hiện hành chưa xử lý mạnh và triệt để các hành vi gian lận, trốn thuế. - 91 - CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TRÁNH THẤT THU THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ. 3.1. Phương hướng thực hiện dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2010 tại Chi cục Thuế TP. Biên Hòa. Căn cứ Quyết định số 429/QĐ-STC, ngày 14/12/2009 về việc giao dự toán thu chi ngân sách năm 2010 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và Nghị quyết số 102/NQ-HĐND, ngày 17/12/2009 của HĐND TP.Biên Hòa về dự toán thu chi ngân sách Nhà nước năm 2010; Tổng dự toán thu đối với Chi cục Thuế TP. Biên Hòa là 954.600 triệu đồng (bao gồm số dự toán thu do Cục thuế phân cấp cho Chi cục thuế quản lý một số doanh nghiệp sẽ chuyển vào đầu năm 2010). Ngày 25/12/2009, Cục thuế Tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 917/QĐ- CT về việc giao dự toán thu theo Pháp lệnh năm 2010; Tổng dự toán năm 2010 phải thực hiện như sau: - Tổng dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2010 (bao gồm số dự toán thu do Cục thuế phân cấp cho Chi cục quản lý một số doanh nghiệp sẽ chuyển vào đầu năm 2010): 963.600 triệu đồng, so với thực hiện năm 2009 tăng 17% (trừ tiền sử dụng đất tăng 28%). - Nếu loại trừ số dự toán do Cục thuế phân cấp cho Chi cục thuế, thì tổng dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2010 là 942.930 triệu đồng, so với thực hiện 2009 tăng 14% (trừ tiền sử dụng đất tăng 25%). Như vậy, Dự toán thu Pháp lệnh do Cục thuế tỉnh Đồng Nai giao cao hơn Dự toán thu do Sở Tài chính giao là 20.670 triệu đồng. Trong tổng dự toán thu năm 2010, Khoản thu thuế ngoài quốc doanh có số dự toán thu 591.000 triệu đồng (chiếm tỷ lệ cao nhất 61,3% trong Tổng dự toán thu năm 2010), so với năm 2009 tăng 51%; đặc biệt, có 02 chỉ tiêu thu cao: là Thuế Thu nhập Doanh Nghiệp 108.700 triệu đồng, so với năm 2009 tăng 138%, Thuế Giá Trị Gia Tăng 460.600 triệu đồng, so năm 2009 tăng 43%. Chỉ tiêu này thực hiện cực kỳ khó khăn đối với Chi cục Thuế, khả năng rủi ro thu không đạt rất cao so với tình hình thực tế hiện nay và trong thời gian tới. Dự toán thu phấn đấu năm 2010 theo Quyết định số 918/QĐ-CT ngày 25/12/2009 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai, với Tổng số dự toán thu là 1.008.391 triệu đồng so với thực hiện 2009 tăng 22% (trừ tiền sử dụng đất tăng 35%). - 92 - 3.2. Giải pháp tránh thất thu Thuế GTGT tại Chi cục Thuế TP.Biên Hòa. 3.2.1, Cơ sở đề xuất các giải pháp: khảo sát thu thập thông tin thực tế tại các doanh nghiệp do Chi cục thuế TP. Biên Hòa quản lý. Để báo cáo nghiên cứu khoa học của mình sát thực tế và đạt được hiệu quả cao hơn, tác giả quyết định tiến hành khảo sát, thu thập thông tin thực tế các doanh nghiệp do Chi cục thuế TP. Biên Hòa quản lý, với mục đích tìm hiểu nắm bắt được nhu cầu và ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp về các vấn đề thuế GTGT mà họ quan tâm. Thông qua đó, giúp tác giả có thể đề ra một số giải pháp giúp cho Chi cục Thuế TP.Biên Hòa tránh thất thuế GTGT. Tuy nhiên, do thời gian thực tập ngắn và khả năng chuyên môn của tác giả còn nhiều hạn chế, đồng thời do nhiều yếu tố khách quan khác như những khó khăn từ phía doanh nghiệp (không hợp tác, không có thời gian tiếp…) cho đến những khó khăn từ phía Chi cục Thuế TP.Biên Hòa (không muốn để sinh viên biết nhiều về công tác quản lý của mình v.v…) và những khó khăn khác mà tác giả gặp phải, cho nên những kết quả thực tế mà tác giả thu thập được chưa thể hiện hết, đầy đủ những yêu cầu, kiến nghị và ý kiến đóng góp của doanh nghiệp. 3.2.1.1, Mô tả quá trình khảo sát thực tế:  Địa bàn tiến hành khảo sát: Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.  Đối tượng tiến hành khảo sát: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn .  Tổng số đơn vị khảo sát thực tế: 70 đơn vị.  Tổng số phiếu khảo sát phát ra: 70 phiếu.  Tổng số phiếu khảo sát thu về: 63 phiếu, trong đó có 9 phiếu không sử dụng được do thiếu quá nhiều thông tin hay thông tin không đảm bảo độ tin cậy nên đã bị loại. Kết quả là 54 phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng làm dữ liệu cho nghiên cứu.  Thời gian khảo sát: từ ngày 01/03/2010 đến 22/04/2010.  Phương thức khảo sát: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 29 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 41,43%), gửi fax phỏng vấn 15 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 21,43%), gửi thư phỏng vấn 26 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 37,14%).  Trong số 54 phiếu khảo sát hợp lệ gồm có: 40 Công trách nhiệm hữu hạn (chiếm tỷ lệ 74,07%); 14 Doanh nghiệp tư nhân (chiếm tỷ lệ 25,93 %) . 3.2.1.2, Phân tích các phương án trả lời của doanh nghiệp: Bảng 3.1: Đánh giá của DN về các quy định của luật thuế GTGT hiện nay: Tần số % % có giá trị % tích lũy Dễ hiểu, dễ áp dụng 34 62.96% 62.96% 62.96% Bình thường 11 20.37% 20.37% 83.33% Khó hiểu, khó áp dụng 7 12.96% 12.96% 96.30% Không có ý kiến 2 3.70% 3.70% 100% Tổng 54 100% 100% - 93 - Biểu đồ 3.1: Đánh giá của DN về các quy định của luật thuế GTGT hiện nay. ¾ Nhận xét: Theo như kết quả khảo sát cho thấy, có 34 DN được khảo sát nhận định rằng Luật thuế GTGT hiện hành là “dễ hiểu, dễ áp dụng” chiếm 62,96% tổng số DN được khảo sát; 11 DN nhận thấy Luật thuế GTGT là “bình thường” chiếm 20,37%. Chỉ có 7 DN cho rằng Luật thuế GTGT hiện nay “khó hiểu, khó áp dụng” chiếm 12,96% và có 2 DN không có ý kiến. Điều này cho thấy, đa số các DN đều cho rằng thuế GTGT hiện hành là một loại thuế đơn giản, các DN có thể tuân thủ, thực hiện tốt các quy định của Luật thuế GTGT. Bảng 3.2: Đánh giá của DN về sự hỗ trợ của cơ quan thuế: Tần số % % có giá trị % tích lũy Rất tốt 19 35.19% 35.19% 35.19% Tốt 27 50.00% 50.00% 85.19% Bình thường 6 11.11% 11.11% 96.30% Không tốt 2 3.70% 3.70% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.2: Đánh giá của DN về sự hỗ trợ của cơ quan thuế. 19 27 6 2 0 5 10 15 20 25 30 Rất tốt Tốt Bình thường Không tốt Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 34 11 7 2 0 5 10 15 20 25 30 35 Dễ hiểu, dễ áp dụng Bình thường Khó hiểu, khó áp dụng Không có ý kiến Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 - 94 - 23 21 9 1 0 5 10 15 20 25 Rất tốt Tốt Bình thường Không tốt Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 Bảng 3.3: Đánh giá của DN về năng lực chuyên môn của cán bộ thuế: Tần số % % có giá trị % tích lũy Rất tốt 23 42.59% 42.59% 42.59% Tốt 21 38.89% 38.89% 81.48% Bình thường 9 16.67% 16.67% 98.15% Không tốt 1 1.85% 1.85% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.3: Đánh giá của DN về năng lực chuyên môn của cán bộ thuế ¾ Nhận xét: Nhìn chung các DN được khảo sát về việc đánh giá sự hỗ trợ từ CQT và năng lực chuyên môn của cán bộ thuế đều có đánh giá “tốt” và “rất tốt” chiếm tỷ lệ cao, đánh giá mức độ “bình thường” và “không tốt” là rất thấp. Điều này cho thấy công tác hỗ trợ NNT của CQT và năng lực chuyên môn của cán bộ thuế hiện nay tại Chi cục Thuế TP.Biên Hòa là tương đối tốt và hiệu quả trong việc hỗ trợ, quản lý các đơn vị kinh tế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Bảng 3.4: Phương pháp kê khai thuế GTGT DN đang áp dụng: Tần số % % có giá trị % tích lũy Trực tiếp 0 0.00% 0.00% 0.00% Khấu trừ 54 100.00% 100.00% 100.00% Tổng 54 100% 100% Bảng 3.5: DN có sử dụng phần mềm kê khai thuế GTGT: Tần số % % có giá trị % tích lũy Có 54 100.00% 100.00% 100.00% Không 0 0.00% 0.00% 100.00% Tổng 54 100% 100% - 95 - 0 11 21 22 0 5 10 15 20 25 Rất khó Khó Bình thường Dễ Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 ¾ Nhận xét: Theo như trả lời của 54 DN được khảo sát thì 100% các DN đều áp dụng phương pháp kê khai thuế GTGT là “phương pháp khấu trừ” và đều “có” sử dụng phần mềm kê khai thuế GTGT. Như vậy, đa số các DN hiện nay đều sử dụng những công cụ hỗ trợ khai báo thuế GTGT. Điều này giúp cho việc kê khai thuế của DN và công tác quản lý dữ liệu của CQT dễ dàng và hiệu quả hơn. Bảng 3.6: Đánh giá của DN khi sử dụng phần mềm kê khai thuế GTGT: Tần số % % có giá trị % tích lũy Rất khó 0 0.00% 0.00% 0.00% Khó 11 20.37% 20.37% 20.37% Bình thường 21 38.89% 38.89% 59.26% Dễ 22 40.74% 40.74% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.4: Đánh giá của DN khi sử dụng phần mềm kê khai thuế GTGT ¾ Nhận xét: Kết quả khảo sát ở trên cho thấy 100% DN đều sử dụng phần mềm hỗ trợ kê khai thuế GTGT thì theo như kết quả khảo sát của câu hỏi này có 22 DN cho rằng phầm mềm này “dễ” sử dụng chiếm tỷ lệ 40,74% và có 21 DN cho rằng phần mềm này không quá dễ cũng không quá khó để sử dụng mà chỉ đánh giá ở mức “bình thường” chiếm tỷ lệ 38,89%. Còn lại 11 DN chiếm tỷ lệ 20,37% thì cho rằng phần mềm này “khó” sử dụng. Như vậy, 100% DN sử dụng phần mềm hỗ trợ này nhưng không phải 100% DN đều có thể sử dụng nó như một công cụ hỗ trợ để hạch toán các khoản nghĩa vụ thuế GTGT một cách hiệu quả. Bảng 3.7: Khi bán hàng DN có xuất hóa đơn GTGT: Tần số % % có giá trị % tích lũy Có 54 100.00% 100.00% 100.00% Không 0 0.00% 0.00% 100.00% Tổng 54 100% 100% - 96 - 19 35 0 5 10 15 20 25 30 35 Có Không Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 ¾ Nhận xét: Với câu hỏi “Khi DN bán hàng có xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng không?” thì 100% các DN đều trả lời là “có”. Tuy nhiên, với tình trạng chung hiện nay, đa phần các DN nếu không có yêu cầu của khách hàng khi mua hàng phải xuất hóa đơn bán hàng GTGT thì các DN luôn hạn chế tối đa việc xuất hóa đơn đầu ra. Bảng 3.8: Khi mua hàng khách hàng có yêu cầu DN xuất hóa đơn GTGT: Tần số % % có giá trị % tích lũy Có 19 35.19% 35.19% 35.19% Không 35 64.81% 64.81% 100.00% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.5: Khi mua hàng khách hàng có yêu cầu DN xuất hóa đơn GTGT ¾ Nhận xét: Để chứng minh rõ hơn cho câu hỏi trên, ở câu hỏi này khi được hỏi rằng khách hàng khi mua hàng có yêu cầu DN xuất hóa đơn GTGT hay không thì 35/54 DN được khảo sát trả lời “không” chiếm tỷ lệ 64,81% và chỉ có 19 DN trả lời “có” chiếm tỷ lệ 35,19%. Điều này cho thấy không phải khách hàng nào cũng yêu cầu DN bán hàng xuất hóa đơn nên nếu DN không xuất hóa đơn GTGT thì cũng không ảnh hưởng gì đến khách hàng. Bảng 3.9: Số lần DN được CQT thanh tra, kiểm tra: Tần số % % có giá trị % tích lũy 1 lần 34 62.96% 62.96% 62.96% 2 lần 15 27.78% 27.78% 90.74% 3 lần 5 9.26% 9.26% 100.00% Từ 4 lần trở lên 0 0.00% 0.00% 100% Tổng 54 100% 100% - 97 - 28 13 5 8 0 5 10 15 20 25 30 Hóa đơn, chứng từ Hàng tồn kho Áp dụng thuế suất Sổ sách kế toán Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 34 15 5 0 0 5 10 15 20 25 30 35 1 lần 2 lần 3 lần Từ 4 lần trở lên Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 Biểu đồ 3.6: Số lần DN được CQT thanh tra, kiểm tra. ¾ Nhận xét: Theo như kết quả cho thấy có 34 DN trả lời “1 lần” chiếm tỷ lệ 62,96%, 15 DN trả lời “2 lần” chiếm tỷ lệ 27,78%, 5 DN trả lời “3 lần” chiếm 9,36% còn lại không có DN được CQT thanh tra, kiểm tra “từ 4 lần trở lên”. Điều này dễ dẫn đến tình trạng các DN chủ quan không chấp hành đúng các yêu cầu về nghĩa vụ thuế, đôi khi còn lợi dụng tình trạng này có hành vi gian lận về thuế. Bảng 3.10: Nội dung DN được CQT thanh tra, kiểm tra: Tần số % % có giá trị % tích lũy Hóa đơn, chứng từ 28 51.85% 51.85% 51.85% Hàng tồn kho 13 24.07% 24.07% 75.93% Áp dụng thuế suất 5 9.26% 9.26% 85.19% Sổ sách kế toán 8 14.81% 14.81% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.7: Nội dung DN được CQT thanh tra, kiểm tra. - 98 - 22 32 0 5 10 15 20 25 30 35 Có Không Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 ¾ Nhận xét: Trả lời câu hỏi “Những nội dung nào DN thường được CQT thanh tra, kiểm tra?” thì có 28/54 DN trả lời “hóa đơn, chứng từ” chiếm tỷ lệ 51,85%, 13 DN trả lời “hàng tồn kho” chiếm tỷ lệ 24,07%, 5 DN trả lời “áp dụng thuế suất” và 8 DN trả lời “sổ sách kế toán”. Điều này cho thấy, tùy theo đặc thù ngành nghề kinh doanh mà CQT sẽ kiểm tra nội dung nào nhiều hơn, nhưng hầu hết khi tiến hành kiểm tra thì CQT vẫn chú trọng vào hóa đơn chứng từ nhiều nhất vì điều này vẫn thể hiện rõ nét nhất tình hình mua bán hàng hóa dịch vụ của DN. Bảng 3.11: DN có thực hiện giao dịch qua ngân hàng: Tần số % % có giá trị % tích lũy Có 22 40.74% 40.74% 40.74% Không 32 59.26% 59.26% 100.00% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.8: DN có thực hiện giao dịch qua ngân hàng ¾ Nhận xét : Việc thực hiện giao dịch qua ngân hàng có liên quan đến điều kiện được khấu trừ thuế nên tác giả đã tiến hành khảo sát và kết quả khảo sát là 22 DN trả lời “có” chiếm tỷ lệ 40,74%, 32 DN trả lời “không” chiếm 59,26% cho thấy các DN vẫn chưa nắm bắt kịp thời những quy định về điều kiện được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Bảng 3.12: Chi phí của DN và chi phí của thuế có đồng nhất: Tần số % % có giá trị % tích lũy Hoàn toàn trùng khớp 12 22.22% 22.22% 22.22% Trùng khớp 1 phần 32 59.26% 59.26% 81.48% Không trùng khớp 10 18.52% 18.52% 100% Tổng 54 100% 100% - 99 - 29 11 10 4 0 5 10 15 20 25 30 Các chi phí liên quan đến quá trình SXKD của DN Các chi phí do cơ quan thuế quyết định Các chi phí do nhà nước quy định Các chi phí khác Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 Biểu đồ 3.9: Chi phí của DN và chi phí của thuế có đồng nhất. 12 32 10 0 5 10 15 20 25 30 35 Hoàn toàn trùng khớp Trùng khớp 1 phần Không trùng khớp Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 ¾ Nhận xét: Câu hỏi này đã thể hiện được phần nào sự khác biệt giữa cách đánh giá chi phí của DN và CQT. Như vậy, có 12 DN trả lời “hoàn toàn trùng khớp” chiếm tỷ lệ 22,22%, 32 DN trả lời “trùng khớp 1 phần” chiếm tỷ lệ 59,26% và 10 DN trả lời “không trùng khớp” chiếm tỷ lệ 18,52%. Qua đó cho thấy, việc hạch toán chi phí của DN vẫn có phần chưa đồng nhất với CQT dẫn đến việc sai lệch trong việc kê khai thuế GTGT đầu vào của DN. Bảng 3.13: Đánh giá của DN về chi phí hợp lý : Tần số % % có giá trị % tích lũy Các chi phí liên quan đến quá trình SXKD của DN 29 53.70% 53.70% 53.70% Các chi phí do cơ quan thuế quyết định 11 20.37% 20.37% 74.07% Các chi phí do nhà nước quy định 10 18.52% 18.52% 92.59% Các chi phí khác 4 7.41% 7.41% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.10: Đánh giá của DN về chi phí hợp lý. - 100 - 0 5 32 17 0 5 10 15 20 25 30 35 Rất dễ Dễ Rất khó Không có ý kiến Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 04/2010 ¾ Nhận xét : Theo như số liệu thu được qua câu hỏi này có thể thấy hầu hết DN nhận định rằng chi phí hợp lý là “các chi phí liên quan đến quá trình SXKD của DN” vì có đến 29 DN chọn câu trả lời này và chiếm tỷ lệ 53,7%, chỉ có 11 DN chiếm tỷ lệ 20,37% và 10 DN chiếm tỷ lệ 18,52% cho rằng “các chi phí do cơ quan thuế quyết định” và “các chi phí do nhà nước quy định” là chi phí hợp lý, còn lại 4 DN “không có ý kiến”. Bảng 3.14: Đánh giá của DN việc mua bán hóa đơn GTGT trên thị trường. Tần số % % có giá trị % tích lũy Rất dễ 0 0.00% 0.00% 0.00% Dễ 5 9.26% 9.26% 9.26% Rất khó 32 59.26% 59.26% 68.52% Không có ý kiến 17 31.48% 31.48% 100% Tổng 54 100% 100% Biểu đồ 3.11: Đánh giá của DN về việc mua bán hóa đơn GTGT trên thị trường ¾ Nhận xét : Câu hỏi này đặt ra nhằm đánh giá ý kiến của các DN về việc mua bán hóa đơn GTGT trên thị trường – một hình thức gian lận thuế GTGT khá phổ biến. Kết quả khảo sát cho thấy có 32/54 DN chọn câu trả lời “rất khó” chiếm tỷ lệ lớn 59,26%, 17 DN trả lời “không có ý kiến” chiếm 31,48% và có 5 DN chọn câu trả lời “dễ” chiếm 9,26%. Điều này cho thấy hầu hết các DN cho rằng việc mua bán hóa đơn GTGT là không thể nhưng vẫn còn có một số ít DN cho rằng việc này có thể thực hiện được mà không biết hay cố tình không biết đó là hành vi vi phạm pháp luật về thuế. - 101 - 3.2.2, Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu Thuế GTGT tại Chi cục Thuế TP.Biên Hòa. Như đã nêu ở Chương 2, trong công tác quản lý thuế GTGT hiện nay tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa vẫn còn gặp nhiều khó khăn do những nguyên nhân sau đây: Thứ nhất: Địa bàn quản lý rộng, nguồn nhân lực hạn hẹp, trình độ chuyên môn cán bộ chưa đồng đều chưa thể đáp ứng hết yêu cầu hỗ trợ, quản lý và theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT của các đơn vị kinh tế. Hiện nay, Chi cục thuế TP.Biên Hòa đang chịu trách nhiệm quản lý thuế 26 phường xã trên địa bàn TP.Biên Hòa với số lượng NNT rất lớn: các tổ chức, DN và hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai là trên 6.300 đơn vị; cá nhân, hộ kinh doanh thuế khoán (kể cả hộ thu nhập thấp) trên 17.000 hộ. Do địa bàn quá rộng, tình hình kinh doanh khá phức tạp mà nhân sự của Chi cục thuế còn hạn hẹp chỉ có 164 cán bộ, trình độ chuyên môn của cán bộ lại trải đều từ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học nên để thực hiện chuyên môn hóa công việc cho từng bộ phận, cho từng cán bộ là rất khó khăn. Ví dụ Bộ phận kê khai – kế toán thuế, hàng tháng từ ngày 01 cho đến ngày 20 là bộ phận này luôn trong tình trạng quá tải do đó là thời điểm NNT nộp Tờ khai thuế GTGT, đó là chưa kể những ngày sau đó bộ phận này còn phải giải quyết những trường hợp nộp Tờ khai trễ hay chỉnh sửa bổ sung tờ khai. Hay Bộ phận Hỗ trợ Tuyên truyền, hàng ngày bộ phận này phải tiếp nhận và phân loại rất nhiều đơn từ, hồ sơ do NNT gửi đến hay giải đáp thắc mắc, hướng dẫn NNT các thủ tục về thuế. Thứ hai: Hệ thống quản lý dữ liệu kê khai thuế GTGT còn khá phức tạp. Do cơ chế hiện nay vẫn còn tồn tại song song hai hình thức Tờ khai thuế GTGT có mã vạch và không có mã vạch nên bộ phận KK-KTT phải thực hiện cùng lúc hai công việc là nhập tờ khai vào cơ sở dữ liệu của Chi cục thuế (đối với tờ khai không có mã vạch) và quét mã vạch, đối chiếu thông tin, số liệu với dữ liệu của NNT đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu (đối với tờ khai có mã vạch). Sau đó, hai công việc này lại nhập thành một trong việc hạch toán số thuế GTGT phải nộp mà NNT khai đã đúng hay chưa. Thứ ba: Sự liên kết, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến công tác quản lý còn chưa có sự đồng bộ và chặt chẽ. Công tác quản lý thuế GTGT hiện nay vẫn còn là một trong những công tác quản lý khó khăn và phức tạp nhất. Do thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nên công tác quản lý để tránh tình trạng thuế chồng lên thuế hay tình trạng trốn thuế đòi hỏi phải có sự gắn kết, phối hợp một cách chặt chẽ đồng bộ giữa CQT với - 102 - CQT và với các cơ quan có thẩm quyền liên quan khác như Hải quan, Ngân hàng, Quản lý thị trường…… Trước hết sự liên kết, phối hợp giữa các cấp quản lý thuế về cơ sở dữ liệu trong nội bộ ngành còn chưa thống nhất khiến việc xác minh các hóa đơn chứng từ, tư cách pháp nhân của các đơn vị kinh tế đang hoạt động chưa hiệu quả. Hiện nay, sự liên kết giữa CQT và các cơ quan chức năng Hải quan, Ngân hàng, Quản lý thị trường…… vẫn còn rời rạc và còn có phần thiếu sự hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết các công việc liên quan đến các vấn đề về thuế. Về phía Hải quan, CQT cần sự hỗ trợ từ cơ quan này để xác định các hóa đơn hàng nhập khẩu có tính xác thực hay không hoặc các bộ hồ sơ xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài có tồn tại thật hay không hay chỉ là những hồ sơ ngụy tạo để đủ điều kiện xin được hoàn thuế.Về phía Ngân hàng, do đặc thù của ngành này là phải đảm bảo bí mật cho khách hàng nên CQT khó lòng mà xác nhận được NNT có thực hiện giao dịch qua ngân hàng đối với những hợp đồng nhập khẩu, xuất khẩu hay hàng hóa dịch vụ mua vào có trị giá hơn 20 triệu đồng hay không. Đối với CQT, Quản lý thị trường là cơ quan có thẩm quyền mà CQT cần có sự phối hợp để làm rõ tính hợp pháp của hàng hóa lưu thông trên thị trường, đó cũng là điều kiện để xem xét nguồn đầu vào của NNT có thật sự hợp pháp hay không hay chỉ là những hóa đơn khống để hợp thức hóa nguồn hàng nhập lậu. Thứ tư: Thời hạn và quyền hạn cho công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở của NNT còn hạn chế. Theo Điều 77,78 của Luật quản lý thuế: 1 năm CQT chỉ có thể tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT 1 lần, còn đối với trường hợp kiểm tra tại trụ sở CQT thì 1 năm CQT có thể tiến hành mời NNT lên kiểm tra, giải trình nhiều lần nếu thấy NNT có dấu hiệu gian lận về thuế. Riêng trường hợp thanh tra thuế theo điều 81 Luật quản lý thuế: CQT chỉ tiến hành thanh tra thuế đối với DN có ngành nghề kinh doanh đa dạng hoặc khi DN có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế định kỳ 1 năm không quá 1 lần. Với số lượng đơn vị kinh tế nhiều và địa bàn rộng, công tác kiểm tra, thanh tra chỉ có thể thực hiện trong thời gian ngắn theo đúng quy định và vẫn còn có một số hạn chế về mặt quyền hạn của cán bộ kiểm tra, thanh tra thì khó có thể đánh giá hết được sự sai phạm của NNT là ở mức nào để có hình thức xử lý thích đáng. Thứ năm: Hiện tượng gian lận, trốn thuế GTGT của các cá nhân, tổ chức kinh tế ngày càng tinh vi. Một trong những hình thức gian lận đó là bán hàng không xuất hóa đơn, tình trạng này không chỉ diễn ra ở các DNTN vừa và nhỏ mà còn ngang nhiên diễn ra ở các công ty và DN lớn. Với đủ các hình thức từ việc xuất phiếu xuất hàng cho khách hàng chỉ ghi “phiếu xuất hàng này chỉ có giá trị để xuất hóa đơn GTGT trong vòng 10 ngày kể từ ngày mua” để hợp thức hóa nếu như CQT kiểm tra cho đến việc công khai xuất - 103 - phiếu giao hàng cho khách mà không hề quan tâm đến việc CQT có kiểm tra hay không chứng tỏ các đối tượng này rất “liều lĩnh”. Hình thức trên có thể vẫn còn sơ sót sẽ bị phát hiện khi CQT kiểm tra nhưng những thủ đoạn như xuất hàng bán ra với giá thấp hơn nhưng ghi trên phiếu xuất hàng là “hàng bị lỗi, hư hỏng” phải bán lỗ thì cũng đâu ai có thể kiểm tra được chất lượng thật sự món hàng đó như thế nào. Một hình thức gian lận nữa đó là lập các hồ sơ xuất khẩu khống để được áp mức thuế suất đầu ra là 0% nhưng vẫn được khấu trừ thuế đầu vào. Hình thức này các đối tượng cần có sự thông đồng với phía cán bộ hải quan nên để xác minh được những hồ sơ này có thật hay không là rất khó. Thứ sáu: Do nhận thức của người tiêu dùng về thuế GTGT liên quan đến quyền lợi của mình chưa cao. Theo quy định hiện nay thì khi khách hàng mua hàng có trị giá từ 100.000 đồng trở lên DN phải xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng, nhưng do tâm lý không muốn chờ đợi, số tiền trả cho món hàng không nhiều là bao và khách hàng đôi khi cũng chẳng cần hóa đơn GTGT để làm gì nên người tiêu dùng hiện nay vẫn không quan tâm lắm đến việc DN có xuất hóa đơn GTGT cho mình hay không. Thói quen này không những vô tình tiếp tay cho các DN có thể thực hiện hành vi gian lận thuế không bị ảnh hưởng gì đến việc bán hàng mà đôi khi còn ảnh hưởng đến quyền lợi của chính người tiêu dùng. Họ mua hàng với mức giá phải trả là giá đã bao gồm thuế GTGT vậy mà lại không yêu cầu xuất hóa đơn GTGT vậy xem như họ đã “cho không” DN thêm một khoản tiền mà đáng ra mình không phải chịu nếu không lấy hóa đơn GTGT. Thứ bảy: Luật thuế GTGT hiện hành chưa xử lý mạnh và triệt để các hành vi gian lận, trốn thuế. Theo Điều 6, Điều 13, Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thì việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế chỉ là xử phạt cảnh cáo và phạt tiền mức phạt cao nhất là 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì mức phạt là từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn. Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì mức xử phạt chỉ là 10% tính trên số tiền thuế khai htiếu hoặc số tiền thuế được hoàn. Đối với những đối tượng có hành vi gian lận thì mức phạt trên chẳng thấm vào đâu với số tiền họ thu được từ việc gian lận thuế. Hơn nữa, đây chỉ là mức xử phạt hành chính không truy cứu trách nhiệm hình sự nên không có sự răn đe quyết liệt đối với các đối tượng có hành vi gian lận, trốn thuế nên tình trạng sai phạm vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần và ngày càng tinh vi hơn. - 104 - 3.2.3, Giải pháp tránh thất thu Thuế GTGT tại Chi cục Thuế TP.Biên Hòa. 3.2.3.1, Giải pháp từ Chi cục Thuế TP.Biên Hòa. Để có thể giảm thiểu tối đa các trường hợp gian lận trốn thuế, tránh thất thu cho Ngân sách Nhà nước cần tập trung vào các mục tiêu trọng tâm sau:  Quản lý đối tượng nộp thuế (ĐTNT) theo nhóm. [4] Việc phân nhóm ĐTNT là để đưa ra chiến lược quản lý thuế chuyên sâu, phù hợp với từng nhóm nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế cũng như phòng ngừa, hạn chế các rủi ro gây nên tình trạng gian lận, trốn thuế là hoàn toàn cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang thực hiện công cuộc hiện đại hóa công tác quản lý thuế. Có nhiều cách khác nhau để đưa ra tiêu thức phù hợp cho việc phân nhóm ĐTNT. Phương pháp thông thường để phân nhóm ĐTNT là phân biệt theo quy mô, doanh thu thông qua đó chia các ĐTNT thành các nhóm lớn, vừa và nhỏ. Khi lựa chọn ĐTNT lớn dựa vào doanh thu cao sẽ bao gồm cả ĐTNT có số thu nộp thuế lớn và ĐTNT lớn có số thuế nộp thấp. Đối với hai ĐTNT còn lại ngưỡng doanh thu sẽ thiết lập nên ranh giới giữa hai nhóm này. Khi doanh thu của ĐTNT vượt quá ngưỡng, ĐTNT chuyển từ cơ chế thuế khoán đơn giản sang cơ chế kê khai, điều này giúp cho CQT dễ dàng quản lý và theo dõi tình hình nộp thuế của các ĐTNT.Mỗi nhóm ĐTNT sẽ có các đặc tính khác nhau, cũng như cũng sẽ cần những chiến lược quản lý thuế chuyên sâu khác nhau. Các ĐTNT lớn thường là các công ty có danh tiếng, tuân thủ hoàn toàn và đáp ứng đầy đủ chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, có tư vấn kế toán và tư vấn thuế, các giao dịch kinh tế của các đối tượng này thường phức tạp, có mức doanh thu hàng năm cao nên có nguy cơ thất thu thuế lớn, tính phức tạp của các vụ trốn thuế tinh vi; do vậy các ĐTNT lớn cần được thanh tra thường xuyên và kỹ lưỡng hơn. Các ĐTNT loại vừa thường chiếm số lượng lớn nhất nhưng cũng thường xuyên biến động về số lượng cũng như doanh thu song nguy cơ gian lận, trốn thuế là lớn nhất. Do số lượng các DN vừa khá nhiều, trong khi số lượng cán bộ thuế còn hạn chế nên CQT rất khó có thể cung cấp đủ nguồn lực để quản lý chặt chẽ cũng như thực hiện được các trường hợp gian lận, trốn thuế. Chính vì vậy, đòi hỏi CQT cần có một chiến lược quản lý thuế phù hợp như: kết hợp giữa giải đáp thắc mắc, trả lời điện thoại với phát hành các bộ tài liệu, sách hướng dẫn về các thủ tục, quy định về thuế. Đây cũng là nhóm đối tượng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro gây nên tình trạng gian lận trốn thuế nhất vì vậy đòi hỏi quy trình cưỡng chế của CQT phải được chuẩn hóa hơn, mức độ thanh tra tập trung cao hơn vào các rủi ro tuân thủ đã được xác định. - 105 - Nhóm ĐTNT nhỏ mặc dù có số lượng lớn nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ số thu cho NSNN. Nhóm này bao gồm các đối tượng kinh doanh nhỏ, cá nhân tự kinh doanh hoặc hợp danh trên cơ sở gia đình. Với quy mô nhỏ, hoạt động mang tính tự phát, vì mục đích lợi nhuận nên ý thức tuân thủ pháp luật cũng như trình độ về kế toán, hóa đơn chứng từ của nhóm này vẫn còn có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, mô hình hiệu quả cho quản lý ĐTNT nhỏ chính là mô hình khoán thuế thường dựa vào doanh thu. Mô hình này vừa đơn giản, phù hợp với ĐTNT nhỏ, chưa thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, vừa đảm bảo số thu cho NSNN và do vậy sẽ đảm bảo tính hiệu quả trong công tác quản lý thuế. Quản lý ĐTNT theo nhóm cho phép CQT có khả năng phân tích và hạn chế các rủi ro trong quá trình chấp hành nghĩa vụ thuế, đồng thời CQT có thể đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng nhóm ĐTNT.  Tăng cường công tác quản lý hóa đơn. Hiện nay, tình trạng các DN làm “mất” hóa đơn ngày càng trở nên phổ biến cả về số lượng DN và số lượng hóa đơn, các loại hóa đơn này gồm hóa đơn đã sử dụng và hóa đơn chưa sử dụng. Nguyên nhân mất hóa đơn thì có nhiều, cả nguyên nhân khách quan (như bị cướp túi xách trong đó có hóa đơn, gửi kèm theo xe hàng lái xe làm mất, do hỏa hoạn……) và cả nguyên nhân chủ quan (do trình độ quản lý và ý thức gian lận thuế). Việc mất hóa đơn gây tổn thất cho nhiều phía: CQT phải mất thời gian xử lý và theo dõi thu số tiền phạt xử lý vi phạm; cá nhân làm mất phải bỏ tiền ra nộp phạt. Về mặt kinh tế xã hội cũng gây ra hậu quả khôn lường khi các hóa đơn bị mất chưa sử dụng bị lợi dụng đưa vào mua bán, kinh doanh bất hợp pháp nhằm gian lận trốn thuế. Để tăng cường hiệu quả cho công tác quản lý hóa đơn, ấn chỉ , CQT các cấp cần tổ chức các hội nghị chuyên đề để có những đánh giá xác đáng từ đó đề ra những biện pháp quản lý tốt hơn. Cùng với đó, ngành thuế cần tăng cường tuyên truyền tác hại của việc mất hóa đơn, cảnh báo các cá nhân, tổ chức kinh doanh phòng ngừa không để xảy ra tình trạng mất hóa đơn gây hậu quả xấu. Thời điểm này, cơ chế quản lý và sử dụng hóa đơn đang được sửa đổi bổ sung, cải cách theo hướng tăng khuyến khích các DN sử dụng hóa đơn tự in giúp giảm thời gian cho các DN đồng thời tăng cường trách nhiệm của đơn vị nhằm tránh hiện tượng mua bán, gian lận về hóa đơn. Chính phủ đã có Nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn và Bộ Tài chính có Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 trong đó Bộ Tài chính quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sử dụng hóa đơn tự in phải đăng ký mẫu hóa đơn, ký hiệu, số lượng, - 106 - nơi in với Cục Thuế tỉnh, TP nơi đóng trụ sở và thông báo mẫu hóa đơn đến các cơ quan này để theo dõi, quản lý. Thực hiện cơ chế này song không có nghĩa là ngành thuế đã hết trách nhiệm, mà càng đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò quản lý, xét duyệt mẫu mã, kiểm tra số lượng hóa đơn mà DN đã in và cho phép lưu hành, kiểm tra việc bán hàng phải xuất hóa đơn, đảm bảo thiết lập môi trường quản lý trong sạch, hiệu quả.  Tiến hành cải cách hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế. [4] Chuyển hẳn từ cơ chế thanh tra nhằm vào tất cả các ĐTNT hiện hành sang cơ chế thanh tra theo mức độ các vi phạm về thuế, có gian lận thì mới thanh tra, không gian lận thì không thanh tra. Đây là hình thức thanh tra theo mức độ rủi ro về thuế nhằm không gây phiền hà, cản trở công việc kinh doanh của ĐTNT, không làm tốn kém chi phí không cần thiết cho CQT. + Chuyển đổi từ việc thanh tra, kiểm tra diện rộng sang thanh tra theo hệ thống tiêu thức lựa chọn, đi vào chiều sâu theo mức độ vi phạm. + Chuyển hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu tiến hành tại cơ sở kinh doanh của ĐTNT sang thanh tra, kiểm tra chủ yếu tại trụ sở CQT. + Chuyển từ thanh tra, kiểm tra toàn diện sang thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề và nội dung vi phạm. Trình Nhà nước bổ sung chức năng điều tra các vụ án vi phạm pháp luật về thuế cho các bộ phận có chức năng thanh tra, kiểm tra của CQT để điều tra, xử lý nhanh chóng, kịp thời chống thất thu thuế; răn đe, ngăn chặn các hành vi gian lận tiền thuế. Cơ sở để đề xuất ý kiến trên là do CQT trực tiếp quản lý các ĐTNT, cán bộ thanh tra, kiểm tra nắm rõ đặc điểm tình hình kinh doanh của ĐTNT, có hệ thống dữ liệu về từng ĐTNT sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc điều tra.  Áp dụng công nghệ tin học vào việc xây dựng và thu thập thông tin phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra có hiệu quả cao. [4] Nghiên cứu xây dựng phần mềm máy tính hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra thuế từ khâu thu nhập cơ sở dữ liệu của DN, chuyển đổi dữ liệu DN để phân tích, đánh giá, xác định mức độ rủi ro phục vụ việc lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra; lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra tại CQT và triển khai kế hoạch thanh tra, kiểm tra tại DN. Sử dụng các phần mềm hỗ trợ như: - Phần mềm hỗ trợ phân tích, nhận dạng rủi ro. - Phần mềm hỗ trợ chuyển đổi, xử lý dữ liệu đầu vào. - 107 - - Phần mềm hỗ trợ kiểm tra rủi ro phát hiện. - Phần mềm hỗ trợ phục hồi dữ liệu cho công tác thanh tra, kiểm tra tại DN. - Hoàn thiện các phần mềm hỗ trợ thanh tra, kiểm tra trên máy tính.  Đổi mới tổ chức cán bộ thanh tra thuế. [4] Xây dựng lực lượng cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế chiếm khoảng 25-30% tổng số cán bộ, có trình độ chuyên sâu về chế độ chính sách thuế, về kế toán tài chính DN và có tính chuyên nghiệp cao, có phẩm chất đạo đức tốt, sử dụng thành thạo các phương tiện tin học vào công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ năng thanh tra, kiểm tra, đạo đức, phẩm chất của cán bộ với các nội dung chủ yếu là: - Các chính sách chế độ thuế hiện hành; - Các thủ tục hành chính thuế hiện hành; - Kế toán và chuẩn mực kế toán; - Phân tích, đánh giá tài chính doanh nghiệp; - Kiến thức tin học; - Luật thanh tra, kiểm tra và các nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra; năng lực tổ chức thanh tra, kiểm tra; - Trách nhiệm pháp luật, trách nhiệm công chức và đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, cần các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra như: - Trang bị các thiết bị nghiệp vụ cần thiết cho việc điều tra, thanh tra, kiểm tra thuế. Trang bị hệ thống máy tính cho công tác thanh tra, kiểm tra, mỗi cán bộ có 1 máy tính. - Kết nối mạng toàn ngành thuế bảo đảm cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra.  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT. [4] Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và các hành vi sai phạm về thuế là rất phổ biến. Một trong những nguyên nhân của tình hình trên là do công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT chưa được coi trọng đúng mức, chưa tổ chức thực hiện thường xuyên, chưa có định hướng rõ rệt, lượng thông tin cung cấp cho các - 108 - ĐTNT còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của ĐTNT, làm cho nhận thức và hiểu biết của người dân nói chung và NNT nói riêng về thuế còn hạn chế. Mặt khác, các chính sách thuế chưa ổn định, thường xuyên điều chỉnh, bổ sung làm các ĐTNT không có hoặc chưa có điều kiện nắm bắt kịp thời, không biết hết các thủ tục và nghĩa vụ thuế của mình dễ dẫn đến các sai phạm về nghĩa vụ thuế. Đứng trước những yêu cầu trên rõ ràng là ngành thuế cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho toàn dân; triển khai mạnh mẽ công tác hỗ trợ phục vụ các tổ chức, cá nhân nộp thuế; đưa công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT thành một trong những khâu trọng tâm của ngành trong công tác quản lý và thu thuế. Sơ đồ 3.1: Mô hình thể hiện vai trò của công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT trong công tác quản lý thuế nhằm đạt tới mục đích là sự tuân thủ của ĐTNT. (Nguồn: Tài liệu Tập huấn chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế) Xây dựng kho dữ liệu phục vụ công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT: - Rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ sở dữ liệu sẵn có về hệ thống văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn về thuế, các thủ tục hành chính thuế trên website. CHIẾN LƯỢC TUÂN THỦ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TỔNG QUÁT Tuyên truyền & Hỗ trợ ĐTNT Điều tra & Phân tích Chính sách & Quản lý Tuyên truyền để ĐTNT hiểu về nghĩa vụ thuế. Tăng cường dịch vụ hỗ trợ ĐTNT để giải đáp mọi yêu cầu, thắc mắc của ĐTNT. Tăng cường xác định mục tiêu để thanh tra tại cơ sở. Duy trì chức năng điều tra tại cơ sở các hồ sơ nghi ngờ cao. Tăng cường thu thập thông tin điều tra và khả năng phân tích. Cố gắng giảm tính phức tạp và sự khó hiểu về các luật thuế. Cố gắng đơn giản hóa hệ thống quản lý và tạo điều kiện tốt hơn cho tuân thủ. TUÂN THỦ CỦA ĐTNT - 109 - - Tổng hợp các câu hỏi, vướng mắc của ĐTNT và soạn thảo nội dung trả lời thống nhất theo từng chủ đề. Kiện toàn đội ngũ cán bộ trong hệ thống tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT. Tiến hành tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn (cả về chính sách, chế độ thuế cũng như về kỹ năng tuyên truyền, phong cách giao tiếp….) cho toàn bộ cán bộ công chức làm công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền hỗ trợ: - Phối hợp với Đài phát thanh, truyền hình địa phương xây dựng chuyên mục về thuế phát định kỳ với các nội dung: giới thiệu các chính sách, chế độ về thuế; phóng sự về các hoạt động của ngành thuế; giải đáp các câu hỏi, vướng mắc về thuế….. - Tổ chức định kỳ các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về thuế trên một số báo, đài với từng loại đối tượng dự thi: học sinh, sinh viên, tổ chức, cá nhân kinh doanh….. Phát hành các ấn phẩm tuyên truyền và đổi mới các khẩu hiệu tuyên truyền trên theo hướng dễ hiểu, dễ nhớ và thiết thực căn cứ theo từng thời kỳ, nhu cầu của xã hội, đáp ứng các mục tiêu tuyên truyền của ngành.  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đề ra những biện pháp nhằm khuyến khích, nâng cao ý thức của người dân khi mua hàng phải lấy hóa đơn. Đối với các cơ sở kinh doanh việc xuất hóa đơn nhiều hay ít cũng đồng nghĩa với việc kê khai, nộp thuế trung thực hay gian lận. Đối với những cơ sở kinh doanh làm ăn bài bản, uy tín, có cơ chế quản lý tài chính chặt chẽ thì dù người mua không yêu cầu lấy hóa đơn thì họ vẫn tự nguyện kê khai doanh thu không xuất hóa đơn để nộp thuế.Tuy nhiên cũng không loại trừ một số cơ sở kinh doanh có cơ chế quản lý tài chính nhỏ lẻ, thiếu lành mạnh thì lợi dụng việc người tiêu dùng không đòi hóa đơn để hợp thức hóa, gian lận doanh thu trốn thuế. Vì thế, công tác quản lý thuế, quản lý hóa đơn cần tập trung vào những đối tượng là những DN nhỏ lẻ, cơ chế quản lý tài chính không minh bạch; những lĩnh vực nhạy cảm như các hoạt động chủ yếu cung cấp trực tiếp hàng bán lẻ cho người tiêu dùng mà mỗi lần thanh toán có giá trị cao như: kinh doanh điện máy, xây dựng, ăn uống. Các trường hợp này thường không xuất hóa đơn cho người tiêu dùng. Thay vào đó khi giao hàng hay bán hàng cho khách hàng cơ sở kinh doanh thường đưa cho khách hàng các chứng từ dưới hình thức bảng kê tính tiền, phiếu thu tiền, phiếu giao hàng hoặc phiếu xuất hàng, phiếu xuất kho nội bộ….. - 110 - Vậy cho nên, để có căn cứ xác đáng nhằm xử lý triệt để hành vi bán hàng không xuất hóa đơn thì CQT nên có cơ chế khuyến khích, vận động đông đảo người mua hàng tố giác và cung cấp cho CQT các trường hợp các DN bán hàng không xuất hóa đơn. Theo đó, nếu người mua hàng không nhận được hóa đơn mà chỉ nhận được chứng từ mua hàng đã thanh toán xong, thì người mua hàng có thể cung cấp các chứng từ đó làm cơ sở để CQT kiểm tra thực tế, xác định doanh thu bán hàng hóa để truy thu và phạt về hành vi trốn thuế. Số tiền thuế truy thu sẽ được trích thưởng cho người mua hàng hoặc có cơ chế khen thưởng phù hợp. Khi người mua hàng cung cấp thông tin và thấy được quyền lợi từ việc cung cấp thông tin, thì đó là một trong những kênh thông tin đấu tranh phòng chống việc bán hàng không xuất hóa đơn một cách tốt nhất.  Thực hiện tốt các quy chế phối hợp giữa các ngành: Công an, Hải quan, Kế hoạch - Đầu tư, Kho bạc, Thuế và các ngành có liên quan. Trước khi nói đến sự phối hợp giữa CQT với các ngành chức năng khác cần phải nói đến sự liên kết hỗ trợ ngay trong nội bộ ngành thuế. Ngành thuế cần thiết lập cổng thông tin nội bộ theo chiều dọc từ Tổng cục thuế, Cục thuế cho đến Chi cục thuế, các Đội thuế và theo chiều ngang là các Cục thuế, Chi cục thuế của các địa phương trên toàn quốc. Việc thiết lập cổng thông tin này giúp cho công tác thu thập thông tin, kiểm tra tình hình giao dịch của các ĐTNT ở CQT các địa phương khác nhau sẽ được thực hiện nhanh chóng và kịp thời hơn, giúp cho công tác kiểm tra được chính xác hơn. Đối với ngành Hải quan, CQT cần phải có sự liên kết chặt chẽ để có thể khai thác nguồn thông tin về các ĐTNT một cách hiệu quả và trung thực nhất. Đa số các DN xin hoàn thuế hiện nay đều có lý do là kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu nên được hưởng thuế suất thuế GTGT đầu ra 0% nhưng vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho các đối tượng có các hành vi gian lận, trốn thuế; chỉ cần có một bộ hồ sơ xuất khẩu hợp lệ có sự xác nhận của cơ quan Hải quan thì xem như DN đã có thể hợp thức hóa một khoản doanh thu bán hàng mà không phải kê khai thuế GTGT đầu ra. Vì vậy, những hồ sơ xuất khẩu mà CQT có được trong quá trình kiểm tra cần phải có sự phối hợp với cơ quan Hải quan để giám định lại các hồ sơ này thực chất có tồn tại hay không và sự chính xác của nó đến mức độ nào. Ngoài ra, ngành Hải quan cũng cần phải có biện pháp mạnh để xử lý những cán bộ có hiện tượng tiếp tay cho các DN lập các bộ hồ sơ xuất khẩu khống nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ phía Sở Kế hoạch Đầu tư cũng không thể thiếu cho công tác quản lý thuế. Để theo dõi được hoạt động của các DN đăng ký kinh doanh mới, - 111 - xin ngưng kinh doanh hay chuyển đổi, bổ sung thêm các ngành nghề kinh doanh CQT cần có sự liên kết về thông tin đối với Sở kế hoạch và Đầu tư. Điều này đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, nếu một cơ sở đăng ký kinh doanh mới nhưng chỉ đăng ký với Sở Kế hoạch Đầu tư mà không đến CQT để làm các thủ tục cần thiết để có thể kinh doanh một cách hợp pháp thì đây là hình thức kinh doanh chui để trốn thuế, nếu không tra cứu thông tin từ Sở Kế hoạch Đầu tư thì làm sao CQT có thể nắm bắt hết được số lượng các DN xin đăng ký kinh doanh. Thêm nữa, khi các DN có ý đồ gian lận về thuế đã rút giấy phép kinh doanh ở Sở Kế hoạch Đầu tư, ngưng kinh doanh nhưng vẫn đến CQT xin mua hóa đơn sẽ gây hậu quả hết sức nghiêm trọng. Nếu không có sự phối hợp trao đổi thông tin với Sở Kế hoạch Đầu tư thì CQT khó lòng tránh khỏi các trường hợp gian lận tinh vi như vậy. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp với ngành Công an để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, tiến hành điều tra những vụ việc gian lận về thuế có tính chất quy mô và các đối tượng trốn thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật mang tính hình sự gây tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế của đất nước. Đây có thể là các hình thức tội phạm về kinh tế cần có thẩm quyền của ngành Công an can thiệp để đưa ra xử lý nghiêm minh, là hình thức răn đe, cảnh báo cho các đối tượng khác nếu có ý định gian lận về thuế. Ngoài ra, tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội từng giai đoạn và tùy thuộc đặc điểm phát triển của ngành mà đưa ra một số giải pháp mang tính thời điểm như sau:  Phân bổ dự toán thu và phát động phong trào thi đua phấn đấu cho từng đội thuế thực hiện nhiệm vụ ngay từ đầu.  Quản lý đăng ký kê khai thuế kết hợp với đăng ký kinh doanh để quản lý đăng ký thuế đảm bảo theo dõi, giám sát sự biến động; làm rõ DN bỏ trốn, chuyển khỏi địa bàn, cơ sở kinh doanh không đăng ký kinh doanh nhưng vẫn hoạt động để đưa các đối tượng này vào quản lý.  Kiểm tra hồ sơ khai thuế của NNT một cách kỹ lưỡng ngay từ khi bắt đầu năm tài chính, tập trung kiểm tra các chỉ tiêu kê khai như doanh thu lớn nhưng có số thuế nộp ít, kinh doanh có quy mô nhưng số thuế nộp ít………….những lĩnh vực có dấu hiệu tiềm ẩn kê khai không đủ.  Tăng cường công tác kiểm tra để khai thác nguồn thu còn tiềm ẩn, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm theo quy định, qua đó tác động đến tính chấp hành tuân thủ pháp luật về thuế của NNT.  Thực hiện tốt công tác quản lý thu nợ thuế, đôn đốc nhắc nhở các đối tượng còn nợ thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; thực hiện các bước xử lý nợ, cưỡng chế nợ thuế theo quy định. - 112 -  Khai thác, sử dụng hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế như kê khai thuế, quản lý nợ thuế, kiểm tra thuế………  Tổ chức đào tạo bồi dưỡng, trang bị, cập nhật thường xuyên kiến thức cho cán bộ thuế về trình độ chuyên môn để thực hiện tốt các công tác chuyên môn của mình.  Tổ chức công tác tuyên truyền ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế đúng quy định cho NNT cũng như nâng cao nhận biết về quyền lợi của người tiêu dùng đối với các DN. 3.2.3.2, Giải pháp từ Cục Thuế T.Đồng Nai, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính.  Có sự hỗ trợ về mặt nhân lực cho công tác thanh tra, kiểm tra cũng như sự hỗ trợ về mặt chuyên môn cho các cán bộ tiến hành thanh tra, kiểm tra.  Có các kiến nghị, đề xuất lên các cấp cao hơn về việc sửa đổi một số điểm trong Luật quản lý thuế nhằm có sự phân bổ thời gian, quyền hạn một cách hợp lý hơn trong quá trình thanh tra, kiểm tra.  Đưa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế vào Bộ Luật hình sự nhằm xử phạt nghiêm minh và triệt để các đối tượng có hành vi gian lận gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý thuế.  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đề ra những biện pháp nhằm khuyến khích, nâng cao ý thức của người dân khi mua hàng phải lấy hóa đơn.  Có sự chỉ đạo các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan đến công tác quản lý thuế phối hợp chặt chẽ với CQT để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công tác kiểm tra, thanh tra thuế.  Thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm khuyến khích, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cũng như ý thức trách nhiệm cho các cán bộ thuế. - 113 - KẾT LUẬN Đối với nền kinh tế cơ chế thị trường phát triển không ngừng như ở nước ta hiện nay, thuế đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội; thuế còn là nguồn thu chính cho Ngân sách Nhà nước để góp phần phát triển đất nước, nâng cao đời sống người dân. Thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ không chỉ là chấp hành tốt pháp luật mà còn đảm bảo quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh tế và người tiêu dùng. Công tác quản lý thuế là một biện pháp đảm bảo các cá nhân, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tuân thủ và chấp hành tốt pháp luật về thuế. Để công tác quản lý thuế ngày càng hiệu quả và khoa học hơn đòi hỏi sự kết hợp và hỗ trợ từ các cấp các ngành có liên quan, nhận thức về nghĩa vụ thuế của người dân phải được nâng cao hơn nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho việc đảm bảo nguồn thu Ngân sách Nhà nước. Từ khi ngành thuế ra đời và phát triển cho đến nay đã có nhiều cải thiện và tiến bộ vượt bậc trong công tác quản lý tuy nhiên cơ chế quản lý hiện hành vẫn còn tồn tại nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có thể gian lận, trốn thuế. Từ đó, rút ra kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn công tác quản lý và tránh xảy ra tình trạng thất thu thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_giai_phap_tranh_that_thu_thue_gia_tri_gia_tang_tai_chi_cuc_thue_thanh_pho_bien_hoa_6579.pdf
Luận văn liên quan