Đề tài Hiện trạng sản xuất giống tôm sú ở một số xã thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

Cần nâng cao hơn nữa trình độ kỹ thuật nuôi cũng như sản xuất giống. Bên cạnh đó cần nâng cao tính cộng đồng trong nhân dân. Các nông hộ sản xuất cần phải tuân thủ nghiêm chặt quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn và chấp hành đúng quy định của nghề sản xuất giống. Không nên nuôi và bán tôm ở những bể giống kém chất lượng hoặc mang mầm bệnh cho người dân nuôi mà cần phải có biện pháp tiêu hủy. Trong trại cần có hệ thống xử lý nước thải trước khi đưa ra ngoài môi trường. Cần có thời gian nghỉ giữa hai vụ để hạn chế mầm bệnh tồn tại và lây lan. Mọi người dân cần có ý thức cộng đồng, thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, các hội nông dân để học hỏi kinh nghiệm sản xuất, đồng thời nắm bắt những thông tin, chính sách cần thiết.

pdf70 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 05/09/2014 | Lượt xem: 1998 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hiện trạng sản xuất giống tôm sú ở một số xã thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
khảo sát cho thấy 100% số trại đều không khử vỏ artemia trước khi ấp. Khi cho ấu trùng tôm ăn artemia, đa số các trại giống cho luôn vỏ trứng artemia vào bể ương ấu trùng tôm, điều này dễ gây nguy cơ nhiễm trùng nước và lây bệnh cho ấu trùng tôm rất cao. Download» Agriviet.com 42 Hình 4.5 Ấp trứng artemia trong xô nhựa 4.4.4 Vấn đề vệ sinh trại giống Sau khi điều tra, 100% số trại đều không có bồn khử trùng chân và không có giầy dép để đi vào khu nhà sản xuất. Một số trại, công nhân và khách tới đi giày dép vào thoải mái vào trong khu nhà sản xuất, đôi khi người ta còn hút thuốc lá trong khu nhà ương ấu trùng. Điều này rất nguy hiểm vì ấu trùng tôm rất nhạy cảm với chất nicotine trong thuốc lá, qua hệ thống sục khí các chất độc trong khói thuốc lá sẽ vào trong bể ương và nguy hiểm cho ấu trùng tôm. 4.4.5 Vấn đề sử dụng kháng sinh Tuy hiện nay vấn đề về sử dụng thuốc kháng sinh đã và đang bị lên tiếng rất mạnh, nhất là đối với những loại kháng sinh cấm sử dụng. Thế nhưng hầu như có đến 100% số trại sản xuất tôm giống có sử dụng thuốc kháng sinh trong quá trình sản xuất. Mặc dù việc sử dụng hóa chất, kháng sinh là điều cần thiết để kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên nếu sử dụng kháng sinh lâu dài thì sẽ làm cho vi khuẩn kháng thuốc, làm mất hiệu quả của thuốc và làm tăng chi phí sản xuất. Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh sẽ làm suy giảm sức đề kháng của Post, sau này khi đưa ra ao nuôi sẽ có tỷ lệ sống thấp. Có nhiều trại sử dụng kháng sinh một cách mù quáng mà không cần biết tôm mình bị bệnh là do vi khuẩn hay virus gây ra. 4.4.6 Mô tả hệ thống trại sản xuất giống ở Ninh Hải Download» Agriviet.com 43 4.4.6.1 Vị trí và mặt bằng xây dựng trại sản xuất Qua điều tra 65 hộ sản xuất tôm giống chúng tôi nhận thấy đa số các trại được xây dựng nằm dọc theo bờ biển (giáp với biển Đông) từ xã Vĩnh Hải đến xã Khánh Hải, đảm bảo được nguồn nước mặn cung cấp cho hoạt động sản xuất giống của trại. Các trại được xây dựng trên vùng đất cao có thể tránh được úng lụt hoặc thủy triều lớn nhất hàng năm. Môi trường nước biển vùng này không bị ô nhiễm bởi các chất thải từ các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp như hóa chất, dầu khí, thực phẩm, kim loại nặng, thuốc trừ sâu,… Các yếu tố thủy lý hóa thích hợp cho việc phát triển nghề sản xuất giống tôm sú. 4.4.6.2 Nguồn nước và chất lượng nước a) Nước mặn Nguồn nước mặn được bơm trực tiếp từ biển với các chỉ tiêu về lý – hóa như sau: Bảng 4.9 Các chỉ số chất lượng nước vùng sản xuất giống STT Chỉ tiêu Đơn vị Theo đo đạc 1 Nhiệt độ nước Độ C 28 - 33 2 pH 7,8 – 8,2 3 Độ mặn ppt 28 – 34 4 NH3 0,014 – 0,042 5 NO2-N 0 – 0,00012 6 Kim loại nặng Mg/L - Fe “ 0,128 Mn 0,0057 Cu 0,0039 Zn 0,0012-0,0037 pb 0,0009-0,022 (Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Ninh Hải, 2003) b) Nước ngọt Download» Agriviet.com 44 Mặc dù không là yếu tố quyết định trong quy trình sản xuất nhưng nếu có được nguồn nước ngọt tốt sẽ thuận lợi hơn cho nhiều vấn đề như vệ sinh sau mỗi đợt sản xuất, cho sinh hoạt, cho thuần hóa giảm độ mặn tôm bột khi cần thiết,… Vì vị trí xây dựng trại là vùng bờ biển nên không có nguồn cung cấp nước ngọt tại chỗ. Do đó nguồn nước ngọt được sử dụng ở đây là nước máy. Nước ngọt thích hợp để sử dụng trong trại tôm cần đảm bảo các yếu tố sau: Bảng 4.10 Các chỉ tiêu nước ngọt thích hợp cho sản xuất giống STT Chỉ tiêu Đơn vị Chỉ số 1 Nhiệt độ nước 0C 28 – 32 2 pH 7,5 – 8,5 3 Oxy hòa tan ppm > 5 4 Độ cứng “ > 20 5 NO-2 “ < 0,02 6 NH+4 “ < 0,1 7 Fe “ < 1 8 Mn “ < 0,2 9 Hg ppb < 0,001 (Nguồn: Công Ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Ngọc Hà, 2004) 4.4.6.3 Một số yếu tố khác a) Nguồn cung cấp tôm bố mẹ Khu vực sản xuất giống của huyện Ninh Hải cũng như trong cả tỉnh Ninh Thuận, có nhu cầu về tôm bố mẹ rất lớn, trong khi đó lượng tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên từ vùng biển ở địa phương rất ít không đủ để cung cấp cho thị trường. Chính vì vậy từ trước đến nay các hộ sản xuất đã phải mua tôm bố mẹ thông qua các cơ sở chuyên cung cấp tôm giống bố mẹ trong huyện và trong tỉnh, và nguồn gốc của chúng được đưa về từ các tỉnh miền Trung, miền Nam, một số ít được nhập về từ nước ngoài. b) Nguồn năng lượng Download» Agriviet.com 45 Khu vực sản xuất giống của bốn xã trong huyện đều nằm dưới mạng lưới điện quốc gia nên việc cung cấp điện cho quá trình hoạt động của trại rất thuận lợi, liên tục và hạn chế được mức chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, để phòng ngừa khi mất điện đột xuất gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, 100% số trại trong huyện đều có trang bị thêm máy phát điện và bình quân trên một cái trên trại. c) Giao thông Trại giống nơi đây nằm gần trục đường chính của huyện, gần biển và gần với cảng Ninh Chữ nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển cung cấp tôm bố mẹ đến và chuyển tôm giống đi. d) Không gian Hệ thống trại sản xuất trong huyện được xây dựng theo kiểu tập trung từng vùng. Các trại xây dựng sát nhau, khoảng cách bình quân của các trại không quá một mét, thậm chí còn nhiều trại xây dựng chung vách nhau. Điều này dễ dẫn đến vấn đề lây lan mầm bệnh từ trại này sang trại khác. 4.4.6.4 Kết cấu xây dựng Trại giống toàn huyện được xây dựng bằng nguyên vật liệu cổ truyền (đá, gạch, xi măng, sắt thép,…) hệ thống bể được xây dựng bằng gạch còn các hạng mục khác được xây dựng bằng “tắp lô”, mái che được làm bằng tôn xi măng. Nhìn chung, về kết cấu xây dựng: các trại xây dựng theo quy mô sản xuất gia đình. Các công trình phụ phục vụ cho sản xuất như bể lọc, bể chứa, hố xử lý nước thải chưa đảm bảo theo tỷ lệ cho hợp lý. Download» Agriviet.com 46 Hình 4.6 Trại sản xuất tôm giống đang được xây dựng Download» Agriviet.com 47 C B E D Sơ đồ 4.1 Trại đôi sản xuất giống điển hình ở khu vực Khánh Nhơn Ghi chú: 1/ A1 -> A4: Bể nuôi bố mẹ. 2/ B, C, D, E: Bể đẻ và ương nuôi. 3/ F1, F2: Bể lọc nước biển. 4/ G1, G2: Bể lắng nước biển. 5/ H: Nhà bếp. 6/ I: Nhà máy. 7/ J: Nhà vệ sinh. 1 4 2 3 5 7 6 8 1 2 3 5 4 8 7 6 7 6 8 5 3 1 4 2 7 6 8 5 3 1 4 2 Phòng khách Phòng khách H Phòng trực G1 G2 F1 F2 I J Bể chứa nước ngọt A1 A4 A2 A3 C2 C1 D2 D1 Download» Agriviet.com 48 Sơ đồ 4.2 Trại đơn điển hình ở địa phương Ghi chú: 1/ A: Bể đẻ và ương nuôi. 2/ B: Bể nuôi vỗ bố mẹ. 3/ C1, C2: Bể lắng. 4/ D1, D2: Bể lọc. 5/ E: Nhà bếp. 6/ F: Nhà máy. 7/ G: Nhà vệ sinh. Download» Agriviet.com 49 Than hoạt tính 80 - 100cm Cát biển Lưới ruồi 5 - 10cm Đá nhỏ 15 - 20cm Đá lớn Sơ đồ 4.3 Cấu tạo bể lọc nước (một trong những dạng bể lọc ở địa phương) 4.4.6.5 Hoạt động nuôi tôm Trại sản xuất giống tôm sú ở gần vùng có hơn 1.000ha diện tích sản xuất tôm thịt nên đây là nguồn tiêu thụ tôm Post không nhỏ. 4.4.6.6 Điều kiện thời tiết, khí hậu và địa thế Trại sản xuất được xây dựng trong vùng có khí hậu nhiệt đới nên thuận lợi cho việc sinh sản và ương nuôi ấu trùng. Trại tôm ở đây được xây dựng trong vùng ít có giông bão hay lũ lụt diễn ra trong năm, ngoài ra bờ biển nơi đây có đặc điểm là ngày càng bồi lấn biển nên cũng không bị xói mòn, xâm thực gây ảnh hưởng đến công trình sản xuất. 4.4.6.7 Khoảng cách giữa các trại giống Với tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp như hiện nay nhưng khoảng cách giữa các trại giống trong vùng quá gần càng tạo điều kiện để dịch bệnh lây lan. Do đó cần xây dựng các trại giống có khoảng cách theo tiêu chuẩn ngành. a) Bể lắng, bể lọc, bể chứa, bể xử lý nước thải ™ Bể lắng: bể được làm bằng xi măng cốt thép, bể xây dựng dạng chìm và bán chìm – bán nổi. ™ Bể lọc: khu vục trại giống nơi đây chỉ xây dựng một loại bể lọc là lọc xuôi, nhược điểm của loại bể lọc này là dễ bị ngẹt sau một thời gian sử dụng. Download» Agriviet.com 50 ™ Bể chứa nước: ở đây bể chứa được xây dựng bằng xi măng và có hai dạng là bán nổi và nổi. Tuy nhiên, sau khi điều tra 65 trại sản xuất giống thì có 100% số trại có thể tích không bằng với tổng thể tích bể nuôi. b) Bể nuôi vỗ tôm bố mẹ Trong sản xuất tôm giống, trở ngại lớn nhất là thiếu nguồn tôm bố mẹ tự nhiên. Vì thế, việc nuôi vỗ tôm bố mẹ là khâu rất cần thiết để chủ động sản xuất. Bể nuôi vỗ bố mẹ nơi đây được làm bằng xi măng. Bể có thể có dạng tròn, đáy bể dạng phẳng và chóp. Tùy theo quy mô của trại mà bể có thể tích từ 5m3 trở lên và sâu một mét. Bể nuôi vỗ tôm bố mẹ được sục khí liên tục. Hình 4.7 Nuôi vỗ tôm bố mẹ trong bể xi măng c) Bể cho đẻ Trong một trại sản xuất hoàn chỉnh luôn có bể cho đẻ riêng biệt với bể nuôi vỗ hay ương nuôi ấu trùng, bể này chỉ dùng lúc tôm sắp đẻ đến lúc tôm đẻ. Tuy nhiên hầu hết các trại đều sử dụng bể ương nuôi ấu trùng để cho đẻ. d) Bể ương ấu trùng Thông thường ở các địa phương của huyện Ninh Hải cũng như các vùng trại khác trong tỉnh hay nhiều vùng sản xuất giống trong cả nước, bể ương nuôi ấu trùng Download» Agriviet.com 51 thường làm bằng xi măng có thể tích 2m x 3m x 1,2m hoặc 2,5m x 2,5m x 1,2m. Bể được đặt trong nhà và có mái che bằng tôn xi măng. Bể này được người dân dùng cho đẻ, nở, ương ấu trùng và ương Postlarvae cho đến khi xuất bán. e) Bể nuôi tảo, ấp artemia Ngày nay, thị trường cung cấp thức ăn cho quá trình ương nuôi ấu trùng tôm rất đa dạng, nhiều loại thức ăn trước đây phải qua quá trình nuôi cấy mới có (như tảo) thì nay đã có các loại tảo khô thay thế và artemia cũng được người ta ấp trong xô nên hiện nay mặc dù các trại đều có xây dựng bể ấp 1m3 nhưng không sử dụng. f) Hệ thống sục khí Sục khí là khâu luôn được các trại duy trì xuyên suốt trong quá trình ương nuôi của trại giống nhằm đảm bảo đủ oxy hòa tan trong nước, đảm bảo nhiệt độ ổn định trong bể, giảm hàm lượng khí độc, phân tán đều ấu trùng và thức ăn. Sục khí bằng máy thổi hoặc máy nén chạy bằng nhiên liệu và điện, tuy nhiên theo chúng tôi chạy bằng điện là tốt nhất nhằm tránh ảnh hưởng của dầu lên ấu trùng. Trong một trại thường có ít nhất hai máy sục khí chạy luân phiên nhau để đảm bảo an toàn cho máy và đảm bảo sục khí được liên tục. g) Hệ thống cấp và thải nước Đây là công đoạn trong quá trình xây dựng trại không thể thiếu. Hệ thống bơm và ống nước trong các trại tôm đã được lắp đặt hoàn chỉnh để đảm bảo việc cấp thải nước dễ dàng cho các bể. Nước biển sau khi bơm vào được qua bể lắng, bể lọc, bể chứa và dẫn vào các bể ương nuôi. Nước thải ít được các trại xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường mà cho rút trực tiếp xuống cống. Download» Agriviet.com 52 Hình 4.8 Vị trí cấp nước ngoài biển h) Các dụng cụ khác Ngoài các phương tiện sản xuất trên, các trại giống còn sử dụng một số dụng cụ như chậu nhựa, xô nhựa, vợt,… những loại dụng cụ này chủ yếu được dùng khi thu hoạch tôm Post. Hình 4.9 Một số dụng cụ sử dụng trong trại Download» Agriviet.com 53 4.4.7 Những lợi thế và hạn chế của nghề sản xuất giống Ninh Hải 4.4.7.1 Những lợi thế a) Lợi thế về điều kiện tự nhiên Ninh Hải với bờ biển dài 60km, môi trường nước biển còn trong sạch, ít bị ảnh hưởng của các chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt, ít sông ngòi đổ ra biển nên nước biển có độ mặn ổn định. Đây là lợi thế lớn đối với nghề sản xuất giống tôm sú ở Ninh Hải. Dọc theo bờ biển Ninh Hải, phần lớn là đất xây dựng trại giống chưa được sử dụng triệt để nên có khả năng mở rộng diện tích trại sản xuất giống trong tương lai. Toàn huyện Ninh Hải có hơn 1.000ha diện tích nuôi tôm, nếu số diện tích này đưa vào sản xuất triệt để và mỗi năm hai vụ, thả nuôi với mật độ 30 con/m2 thì mỗi năm huyện Ninh Hải tiêu thụ hơn 700.000.000 con tôm PL15. đây là một nguồn tiêu thụ không nhỏ cho các trại sản xuất giống của địa phương. b) Công tác quản lý nhà nước Do được xác định sản xuất tôm giống cung cấp cho lĩnh vực nuôi tôm trong tỉnh và các khu vực khác của cả nước là một thế mạnh của ngành thủy sản của tỉnh Ninh Thuận nói chung cũng như của huyện Ninh Hải nói riêng nên từ những năm 1992 sau khi chia tách tỉnh, ngành thủy sản đã tập trung quy hoạch đầu tư và tăng cường đầu tư công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, cụ thể một số biện pháp như: - Tiến hành quy hoạch những vùng có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trại sản xuất giống tôm sú như Tri Hải, Nhơn Hải, Vĩnh Hải là ba vị trí có điều kiện tốt. - Quản lý chặt chẽ khâu xây dựng trại theo đúng như quy hoạch của nhà nước, tránh hình thức tự phát gây khó khăn cản trở việc sản xuất. - Quản lý chất lượng tôm giống nhằm mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng tôm giống. Chi cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản được giao nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát chất lượng tôm giống trên địa bàn tỉnh. Để thuận lợi cho công tác quản lý, ngành thủy sản đã chỉ đạo chi cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản lập mã số trại, cấp thẻ cho từng trại giống kèm theo hồ sơ công bố chất lượng tôm giống. Download» Agriviet.com 54 c) Lực lượng lao động kỹ thuật trại giống Hiện nay trong nghề sản xuất tôm giống có một đội ngũ kỹ thuật có trình độ cao và một lực lượng lao động lành nghề có tay nghề khá vững vàng, đây là nguồn vốn rất quý cho sự phát triển nghề tôm giống ở Ninh Hải cũng như trong toàn tỉnh trong những năm kế tiếp. Mặt khác, Ninh Hải là huyện nằm giáp ranh với tỉnh Khánh Hòa là cái nôi của ngành sản xuất giống của cả nước nên có lợi thế tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất tôm giống để áp dụng trên địa bàn của mình. 4.4.7.2 Những khó khăn Mặc dù được đánh giá cao trong nhiều năm qua, song thời gian gần đây nghề sản xuất tôm giống ở Ninh Hải cũng đang gặp nhiều khó khăn như là: - Nguồn tôm bố mẹ cung cấp cho các trại sản xuất ngày càng trở nên khan hiếm, trước kia phần lớn nguồn cung cấp cho các trại là từ khai thác tại các vùng biển trong tỉnh và một số ít là từ các tỉnh ngoài, nhưng hiện nay nguồn cung cấp này đã không còn đáp ứng đủ. Vì vậy các trại phải mua tôm bố mẹ từ các tỉnh khác hạn chế về chất lượng và tỷ lệ sống. Điều này làm cho các chủ trại khó chủ động được trong sản xuất và làm cho giá thành tôm PL cao. - Tình trạng sản xuất tôm giống còn phát triển tự phát ngoài vùng quy hoạch, lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra chất lượng tôm giống hiện nay còn mỏng so với tốc độ phát triển của nghề sản xuất tôm giống. Nếu tình hình này kéo dài thì công tác kiểm dịch kiểm tra chất lượng tôm giống không thể tổ chức một cách chặt chẽ sẽ xảy ra tình trạng giảm chất lượng làm ảnh hưởng đến uy tín con tôm giống của huyện cũng như của tỉnh. Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, tình hình nuôi trồng thủy sản còn mang tính phong trào tự phát, công tác quản lý đất đai còn chưa chặt chẽ do đó gây ảnh hưởng đến môi trường tạo ra nguy cơ xảy ra dịch bệnh cao, hạn chế định hướng phát triển bền vững. Mật độ trại dày đặc, có nhiều trại không có cán bộ kỹ thuật, việc sử dụng kháng sinh còn nhiều. Nhà nước chậm quy hoạch đối với nghể sản xuất giống tôm sú, số trại có đăng ký hoạt động còn ít, lượng tôm giống xuất trại qua kiểm dịch chỉ mới đạt khoảng 50%. Chưa quản lý được nguồn tôm bố mẹ về số lượng cũng như chất lượng. Đa số các trại chưa thực hiện quy trình xử lý nước thải, điều này có thể dẫn đến nước biển ven bờ bị ô nhiễm, nhiều trại xây dựng đã lâu nhưng không được tu sửa nên bị xuống cấp nghiêm trọng. Download» Agriviet.com 55 4.5 Kỹ Thuật Sản Xuất Giống 4.5.1 Quy trình kỹ thuật sản xuất giống tôm 4.5.1.1 Nguồn tôm bố mẹ Hiện nay, tôm bố mẹ dùng cho sinh sản nhân tạo được các trại sử dụng từ hai nguồn là tôm từ tự nhiên và tôm nuôi trong các ao, đầm. Tùy theo nguồn tôm khác nhau mà có những ưu nhược điểm khác nhau và tùy từng nơi mà dùng phổ biến tôm tự nhiên hay tôm đầm. Nhìn chung tôm tự nhiên có kích thước lớn hơn và cho sức sinh sản lớn hơn tôm đầm, đôi khi chất lượng ấu trùng cũng kém hơn. Thế nhưng tôm đầm có giá rẻ hơn và chủ động hơn tôm biển nên được các trại sử dụng nhiều hơn. Tôm có trọng lượng 150 – 300g có thể dùng làm tôm bố mẹ để nuôi vỗ. 4.5.1.2 Thả nuôi Tôm bố mẹ sau khi chuyển về đến trại thường được chọn kỹ, những con tôm chưa thành thục hay mới vừa thành thục, khỏe mạnh, vỏ sạch và cứng, không thương tích, mang bình thường được chọn để nuôi vỗ. Sau đó họ tiến hành xử lý tôm bố mẹ bằng Formaline 200ppm trong 30 phút, mật độ tôm bố mẹ hai con/m2 (1 đực : 1 cái) 4.5.1.3 Cắt mắt Tôm mẹ sau khi được chọn mua về nuôi khoảng hai đến ba ngày, khi tôm đã khỏe (hồi phục sức khỏe) lại thì được tiến hành cắt mắt tôm. Trên thực tế tôm bố mẹ bắt từ biển về nhiều trường hợp có thể cho đẻ được ngay trong đêm đó hay hôm sau mà không cần phải cắt mắt nuôi vỗ. Đó là do tôm đã thành thục (đến giai đoạn IV). Tuy nhiên đa số các trường hợp tôm chưa thành thục nên tôm mẹ cần được cắt mắt nuôi vỗ để sớm thành thục và đẻ trứng. Trước khi tiến hành cắt mắt tôm cái được kiểm tra thelycum, chỉ cắt mắt những con đã có gắn tinh nang. Những con tôm cái chưa gắn tinh nang thì được giữ lại nuôi đến khi nào chúng lột vỏ và giao vĩ xong mới cắt mắt. Chỉ cắt một mắt (có thể cắt mắt phải hoặc mắt trái) và cắt mắt yếu hoặc hư, giữ lại mắt khỏe. Có thể cắt mắt tôm bằng một trong những phương pháp sau: - Rạch và bóp cầu mắt. - Thắt cuốn mắt. - Đốt cầu mắt bằng điện hay bằng thanh Nitrate bạc. Download» Agriviet.com 56 - Cắt cuống mắt bằng kéo. Tuy nhiên người dân nơi đây chủ yếu cắt cuống mắt bằng kéo. Eyestalk Ablation Hình 4.10 Cắt mắt tôm bằng cách rạch và bóp cầu mắt (Nguồn: Phạm văn Nhỏ, 2002) Quản lý môi trường nuôi tôm bố mẹ Quản lý môi trường nước trong quá trình nuôi vỗ tôm bôm bố mẹ là khâu rất quan trọng. Chất lượng nước bao gồm các yếu tố và các thông số kỹ thuật sau: Bảng 4.11 Các chỉ tiêu nước trong bể nuôi bố mẹ STT Chỉ tiêu Đơn vị Chỉ số 1 Nhiệt độ nước 0C 25 – 30 2 pH 7,5 – 8,5 3 Oxy hòa tan ppm > 5 4 Độ mặn ppt 28 – 35 5 Đạm tổng số ppm < 0,5 6 Nitrite “ < 0,1 (Nguồn: Trường Đại Học Thủy Sản – Trung Tâm Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản Gia Huy Co.,LTD, 2002.) Trong quá trình nuôi, hàng ngày thay nước với tỷ lệ 100 – 400% thể tích nước trong bể, ít nhất là 60 – 70% thể tích. a. Rạch mắt tôm b. Bóp cầu mắt Download» Agriviet.com 57 Mực nước bể nuôi vỗ dao động từ 0,35 – 1m. Trong quá trình nuôi vỗ tôm được giữ yên tỉnh để tránh gây ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản. 4.5.1.4 Thức ăn và cách cho ăn Các loại thức ăn thường dùng cho tôm bố mẹ ở các trại giống là thức ăn tươi sống gồm có mực, sò huyết, ốc mượn hồn,… với lượng 10% trong lượng tôm. Trong quá trình nuôi vỗ, tôm được cho ăn hai lần/ngày, thức ăn thừa được siphon đáy sạch sẽ. 4.5.1.5 Cho đẻ và cho nở trứng Trước khi cho đẻ, tôm được xử lý bằng hóa chất như Formaline, KMnO4,… Sau khi cho tôm vào bể đẻ đã chuẩn bị kỹ, bể được che tối lại bằng vải bạt và giữ yên tỉnh để tránh làm động tôm và tôm sẽ đẻ ngay trong đêm đó. Sáng hôm sau tôm mẹ được vớt ra khỏi bể đẻ và siphon trứng vào túi lọc mịn. Trứng đươc xử lý bằng Formol, Iodin hay KMnO4 trước khi đem ấp, mật độ trứng ấp khoảng từ 100 – 200 trứng/lít. Trứng nở sau thời gian ấp từ 12 – 15 giờ (phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường). 4.5.1.6 Ương nuôi ấu trùng a) Thả ấu trùng Trứng sau khi nở thành ấu trùng Nauplius thì được chuyển sang bể ương, nếu nhiệt độ và độ mặn giữa nước bể ương và nước vận chuyển chênh lệch không quá 0,50C và 1ppt thì không cần phải thuần hóa, nhưng nếu nhiệt độ chênh lệch quá 0,50C thì cần phải thuần hóa trước khi thả. Tuy nhiên công việc này ít được người dân thực hiện. Mật độ ương ấu trùng trung bình 100 – 200 Nauplius/lít nước. b) Môi trường nước Trong quá trình ương nuôi ấu trùng, những yếu tố nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, ánh sáng là những yếu tố quan trọng được người nuôi kiểm tra và kiểm soát kỹ để quản lý môi trường nước ương, vì vậy bể ương được thay nước khi cần thiết và nước trước khi nuôi cũng được xử lý kỹ bằng hóa chất. Tùy theo nhiệt độ môi trường chung quanh mà người dân có thể che phủ bể bằng tấm bạt để giữ tối bể, ổn định nhiệt độ, không để tảo phát triển và tránh lây lan bệnh. Trong quá trình ương, bể được sục khí liên tục để đảm bảo lượng oxy > 5ppm, hàm lượng NH3 đảm bảo dưới mức nguy hại. Download» Agriviet.com 58 Trong quá trình ương nuôi không có thay nước ở giai đoạn Nauplii. Giai đoạn Zoea thay nước khoảng 30% mỗi ngày, giai đoạn Mysis thay khoảng 50% nước mỗi ngày và giai đoạn Postlarvae thay từ 50 – 80% nước mỗi ngày. Thức ăn và cách cho ăn Ở giai đoạn Nauplius, ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Vì thế không cần cho ăn. Tuy nhiên, việc cho ăn được bắt đầu từ giai đoạn Nauplius 4 để cung cấp thức ăn kịp thời cho ấu trùng khi chúng chuyển sang giai đoạn Zoea 1. Ngày nay người dân sản xuất giống không còn cho ấu trùng tôm ăn tảo tươi mà được thay thế bằng tảo khô. Tảo khô rất giàu đạm và các chất cần thiết khác, lượng cho ăn trung bình 1 – 2g/m3/lần, nhưng cũng còn tùy thuộc vào mật độ tôm nuôi trong bể. Ngoài ra thức ăn nhân tạo hiện nay cũng đang được sử dụng rất phổ biến ở các trại tôm giống, rất tiện lợi và thành công. Thức ăn nhân tạo có thể được dùng bổ sung, thay thế một phần hay ngay cả sử dụng cùng với tảo khô để thay thế tảo tươi. Lượng cho ăn trung bình 0,5 – 1g/m3/lần, thời gian cho ăn ba giờ/lần. Đối với ấu trùng Mysis, ngoài các loại thức ăn trên với số lượng được giảm dần, ấu trùng còn cho ăn thêm ấu trùng artemia mới nở. Mật độ artemia cho ăn thay đổi từ 0,25 – 1 con/ml, nếu không có bổ sung thêm thức ăn chế biến thì cho 0,5 – 8 con/ml. Artemia được cho ăn từ giai đoạn Zoea 3 để có thức ăn sẵn sàng khi ấu trùng chuyển sang Mysis. Thức ăn nhân tạo cho ăn với lượng 1 – 2g/m3/lần. Từ giai đoạn PL1 (Postlarva) đến PL15, tôm có thể được chuyển sang bể khác hoặc vẫn để ương trong bể cũ (tùy thuộc vào chất lượng nước trong bể). Lượng tảo cho ăn giảm xuống hoặc ngừng hẳn, ấu trùng artemia dùng với mật độ 1 – 2 con/ml, nếu không có bổ sung thêm thức ăn nhân tạo thì cho 6 – 20 con/ml, lượng thức ăn chế biến khoảng 1 – 2g/m3/lần. 4.5.1.7 Vận chuyển và thuần hóa tôm a) Vận chuyển và thuần hóa ấu trùng Ấu trùng Nauplius được vận chuyển bằng bao nhựa chứa từ 8 – 10 lít nước với mật độ 50.000 – 80.000 ấu trùng/lít, thời gian vận chuyển không nên quá 15 giờ. Trước khi thả ương, tôm được thuần hóa nhiệt độ và độ mặn bằng cách ngâm bao vào nước ương khoảng 15 phút, sau đó cho nước ương vào bao từ từ. Download» Agriviet.com 59 b) Vận chuyển và thuần hóa tôm Postlarvae Cũng giống như cách vận chuyển và thuần hóa ấu trùng, vận chuyển tôm Postlarvae bằng bao nhựa. Tuy nhiên bao có kích cỡ nhỏ, chứa 2 – 3 lít nước/bao tùy theo kích cỡ của PL và thời gian vận chuyển mà mật độ có thể từ 500 – 2000 con/lít. Bảng 4.12 Thời gian thuần hóa nhiệt độ và độ mặn cho Postlarvae Chênh lệch nhiệt độ (0C) Chênh lệch độ mặn (ppt) Thời gian thuần hóa (phút) 0 0 4 – 6 2 1 20 4 2 40 6 3 60 10 5 100 (Nguồn: Maugle, 1987; trích bởi Phạm Văn Nhỏ, 2002) 4.6 Thu Hoạch 4.6.1 Cách thu hoạch tôm PL (Postlarvae) Sau 25 – 30 ngày sản xuất (tính từ lúc tôm mẹ đẻ), tôm giống có thể xuất trại bán cho các hộ nuôi tôm sú thương phẩm. Để thu hoạch PL, trước tiên người nuôi tôm rút bớt nước trong bể ương ra sau đó dùng vợt vớt PL ra thau hoặc xô có chứa nước trong bể ương. Tiến hành định lượng PL bằng cách đếm mẫu sau đó so màu mẫu để tính số lượng. Qua đây có thể tính được kết quả sản xuất và tỷ lệ sống cho từng đợt sản xuất để hoạch toán lỗ, lãi,… 4.6.2 Đóng bao Khi tôm đã được định lượng, tôm được cho vào bao nilon có chứa nước của bể ương và có oxy. Mỗi bao chứa khoảng 2 – 2,5 lít nước. Mật độ tôm trong bao phụ thuộc vào quãng đường vận chuyển, kích cỡ tôm và thời gian vận chuyển. Mật độ vận chuyển thông thường là: - 800 – 900 PL/lít (với thời gian vận chuyển trên 10 giờ). - 900 – 1000 PL/lít (với quãng đường vận chuyển gần). Download» Agriviet.com 60 Đối với tôm chuyển đi thả ở địa phương, quãng đường vài ki lô mét thì người ta không cần hạ nhiệt độ nước vận chuyển mà được chở trực tiếp đến ao nuôi. Còn đối với tôm vận chuyển đi xa, người dân ở đây sử dụng hai biện pháp hạ nhiệt độ là bằng máy lạnh có sẵn trong xe lạnh, hai là sử dụng đá lạnh lót trên sàn xe. Tuy nhiên, hạ nhiệt độ cũng có giới hạn sao cho nhiệt độ nước trong bao tôm khoảng 22 – 240C và việc hạ nhiệt độ có tác dụng làm cho tôm ít hoạt động, giảm lượng tiêu hao oxy, không ăn thịt lẫn nhau, do vậy giảm được sự hao hụt trong quá trình vận chuyển. Phương tiện vận chuyển tôm PL ở đây chủ yếu bằng hai loại phương tiện chính là xe honda (đối với ở địa phương) nó mang tính cơ động và thứ hai là xe đông lạnh (đối với tôm xuất đi các địa phương khác ngoài tỉnh). Hình 4.11 Công nhân đếm tôm giống và đóng bao tôm giống 4.7 Hiệu Quả Kinh Tế của Nghề Sản Xuất Tôm Giống 4.7.1 Chi phí đầu tư xây dựng cho 100m3 bể nuôi Để có một mô hình trại sản xuất giống đạt hiệu quả kinh tế cao, trước hết các nông hộ cần phải đảm bảo tốt khâu xây dựng sản xuất. Để có một trại sản xuất 100m3 người ta phải xây dựng thêm các công trình phụ nhưng cũng không thể thiếu của một trại sản xuất giống (bể chứa, bể lắng, bể lọc,…) và hình thức thiết kế còn phải phụ thuộc vào địa hình của vùng sản xuất, đồng thời cũng cần phải đảm bảo các yếu tố kỹ thuật tốt nhất. Download» Agriviet.com 61 Với thị trường vật tư như trong những năm gần đây thì để đầu tư xây dựng cơ bản cho một hệ thống trại với công suất sản xuất 100m3 phải đầu tư một số vốn từ 150 triệu đến 200 triệu. Tuy nhiên khó có thể xác định được mức chi phí đầu tư xây dựng chính xác, vì mỗi vùng bờ biển có những kiểu địa hình khác nhau nên mức chi phí cho công tác đầu tư xây dựng cơ bản cũng khác nhau (vùng bờ biển của khu vục xã Nhơn Hải có nhiều nơi có đồi cát nên cần phải sang lấp hoặc chuyên chở cát đi nơi khác mới có mặt bằng xây dựng. 4.7.2 Chi phí sản xuất cho 100m3 bể/vụ. Để tính hiệu quả kinh tế cho 100m3 bể sản xuất giống trong một vụ, chúng tôi xác định các chi phí sản xuất cũng như khấu hao tài sản theo bảng sau: Bảng 4.13 Chi phí đầu tư sản xuất cho 100m3 bể Danh mục ĐVT Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình I. Chi phí vật chất 1.000đ 1/ Tôm bố mẹ 1.000đ 6.072 12.868 10.151,89 2/ Thức ăn 1.000đ 6.680 15.005 11.389,32 3/ Điện, nhiên liệu 1.000đ 911 1.930 1.527,92 4/ Thuốc, hóa chất 1.000đ 1.989 12.179 9.085,72 5/ Chi phí khác 1.000đ 3.036 6.434 5.091,00 II. Chi phí lao động (LĐ) 1.000đ 1/ LĐ phổ thông 1.000đ 833 1.961 1.322,00 2/ Kỹ thuật 1.000đ 0 3.379 638,3 III. Khấu hao tài sản 1.000đ 3.755 10.432 6.951,41 IV. Phí cơ hội 1.000đ 97,605 268,78 193,869 IV. Tổng chi phí 1.000đ 23.340,61 48.986,78 38.761,19 Qua bảng liệt kê về chi phí đầu tư sản xuất trên đây cho thấy mức chi phí đầu tư về thức ăn là cao nhất và chiếm gần 30% tổng chi phí, kế đến là chi phí mua bố mẹ (chiếm khoảng 26%) và chi phí mua thuốc – hóa chất chiếm gần 24% tổng chi, tuy nhiên ở mức chi phí này còn phụ thuộc vào chất lượng nước và thời tiết ở từng thời kỳ. Trên đây là ba mức chi phí lớn nhất trong một vụ sản xuất, còn lại những mức chi khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Download» Agriviet.com 62 Chi phí lao động thuê: Người dân ở đây ít sử dụng lao động gia đình mà chủ yếu là thuê lao động, đối với lao động kỹ thuật thì lương được tính là25% lợi nhuận ròng. Chi phí khấu hao cố định được người dân tính chung ở mức 15% lợi nhuận thô. Theo chúng tôi, với hình thức khấu hao như vậy là không hợp lý, vì cơ sở vật chất của trại qua từng năm sẽ có giá trị sử dụng khác nhau và ngày càng mất giá trị sử dụng nên mức khấu hao ở các năm cần phải khác nhau. 4.7.3 Hiệu quả kinh tế của một vụ sản xuất giống Nghề sản xuất giống tôm sú ở Ninh Hải là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Tuy nhiên, lợi nhuận còn tùy thuộc vào mùa vụ, tình hình dịch bệnh trong nghề nuôi tôm thương phẩm sẽ ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường. Thông thường thì giá cả tôm giống không ổn định. Ngoài ra, với mức giá của tôm bố mẹ và số lượng không ổn định cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Để có cái nhìn chung nhất về hiệu quả của nghề sản suất giống tôm sú tại Ninh Hải, qua điều tra chúng tôi thấy rằng trong những năm trước đây do môi trường nuôi chưa bị ảnh hưởng xấu, nghề nuôi tôm thịt ở địa phương còn hoạt động ổn định và giá cả của thị trường tôm giống cao và tương đối ổn định nên hiệu quả kinh tế của nghề sản xuất giống cao. Nhưng trong khoảng hai năm trở lại đây, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế xã hội và một số nguyên nhân khách quan khác đã làm cho nghề sản xuất giống của địa phương nơi đây bị ngưng trệ, hiệu quả kinh tế giảm xuống nhiều. Bảng 4.14 Kết quả một vụ sản xuất của 100m3 bể nuôi Khoảng mục Đơn vị tính Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Năng suất Triệu PL/100m3 0,912 1,995 1,571 Giá bán Đồng 16 38 29,46 Tổng doanh thu 1.000đ 25.036 69.551 46.342,72 Tổng chi phí 1.000đ 23.243 48.718 38.567,32 Lợi nhuận (LN) 1.000đ -19.566 13.516 826,00 LN/ Chi phí sản xuất Lần -0,84 0,28 0,02 Thu nhập 1.000đ -19.566 23.690 1.078,03 Chú thích: Lợi nhuận và năng suất bình quân được chúng tôi tính bằng phương pháp gia quyền. - Lợi nhuận trung bình = (Tổng doanh thu 65 hộ – Tổng chi phí 65 hộ)/ 65. Download» Agriviet.com 63 - Năng suất trung bình = (Tổng sản lượng 65 hộ) / (Tổng thể tích bể 65 hộ). Qua Bảng 4.14 trên ta nhận thấy hộ có lợi nhuận cao nhất chỉ có 13,516 triệu đồng, trong khi đó hộ có lãi suất thấp nhất là –19,566 triệu đồng (bị âm hay lỗ vốn), nhưng lợi nhuận trung bình của 65 trại đạt 826.000 đồngvụ và thu nhập đạt 1.078,03 đồng/vụ. Tỷ suất lợi nhuận/ chi phí sản xuất là 0,02 lần, nghĩa là chủ hộ đầu tư cho sản xuất một đồng thì sẽ thu được 0,02 đồng lợi nhuận. Nhìn chung, hầu hết các trại sản xuất bị lỗ vốn không phải vì năng suất thấp mà vì giá bán thấp. 4.7.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất giống Để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất giống, chúng tôi phân tích sự tương quan của các yếu tố sản xuất như: kinh nghiệm sản xuất, tổng thể tích bể, lượng chlorine. Bảng 4.15 Kết quả tương quan giữa năng suất và tổng thể tích Biến số Hệ số ước lượng Giá trị của t Xác suất p Hằng số 2032,984 25,034 1,91.10-31 Thể tích (X1) -2,092 -5,863 1,81.10-03 Qua kết quả trên cho thấy năng suất có tương quan với thể tích, với giá trị của xác suất P = 1,81.10-03. Kết luận: sự tương quan giữa hai yếu tố có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin tưởng 95% (hay 05,0=α ). Bảng 4.16 Kết quả tương quan giữa năng suất và kinh nghiệm nuôi. Biến số Hệ số ước lượng Giá trị của t Xác suất p Hằng số 1407,752 18,284 6,69.10-27 Kinh nghiệm nuôi (X2) 30,651 2,224 0,029 Qua kết quả trên cho thấy năng suất có tương quan với kinh nghiệm nuôi, với giá trị của xác suất P = 0,029. Kết luận: sự tương quan giữa hai yếu tố có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin tưởng 95% (hay 05,0=α ). Download» Agriviet.com 64 4.8 Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên cũng như tình hình kinh tế xã hội của huyện Ninh Hải thì trong tương lai nghề sản xuất giống của huyện có nhiều triển vọng, có đủ khả năng để phát triển cả về số lượng và chất lượng, gắn với nhiệm vụ giải quyết việc làm và bảo vệ sinh thái. Để góp phần tăng mức tiêu thụ sản phẩm của nghề sản xuất giống, trong tương lai nghề nuôi tôm sẽ mở rộng diện tích ra các vùng khác. Theo nghị quyết số 04 – NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận về phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ninh Hải lần VIII đã đề ra nhiệm vụ trong thời gian đến như sau: - Trong những năm tới sẽ mở rộng diện tích nuôi tôm sú tại các vùng như Vĩnh Hải, Tri Hải, Phương Hải,… đưa diện tích nuôi tôm đến năm 2010 là 2000ha và sản lượng đạt 6.500 – 7000 tấn tôm thương phẩm. Nguồn lực phát triển chủ yếu là các nông hộ, các chủ trang trại, doanh nghiệp. Nhà nước hỗ trợ đầu tư từ vốn tín dụng trung hạn, dài hạn và xây dựng kết cấu hạ tầng các vùng nuôi (kênh cấp thoát nước, đường giao thông, hệ thống điện và kiên cố hóa kênh mương các công trình hiện có kết hợp với quy hoạch quy mô, kiên cố lâu dài). - Ưu tiên đầu tư và khai thác lợi thế các vùng ven biển để phát triển sản xuất tôm giống, đồng thời cũng tăng cường công tác quản lý chất lượng tôm giống, chú trọng chất lượng tôm giống bố mẹ. Tổ chức và hoàn thiện quy hoạch 100ha tôm giống sạch bệnh có chất lượng cao tại khu vực sản xuất tôm giống Nhơn Hải để tạo sức cạnh tranh cao về chất lượng, giá cả, từng bước trở thành vùng sản xuất tôm giống có chất lượng cao, quy mô lớn của cả nước, phấn đấu đến năm 2010 sản lượng tôm giống toàn huyện đạt hai tỷ con Post 15 với chất lượng nguồn giống tốt phục vụ cho nhu cầu nuôi tôm ở các địa phương trong và ngoài tỉnh. Download» Agriviet.com 65 V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết Luận Qua quan sát thực tế tại bốn xã thuộc huyện Ninh Hải cho thấy vị trí địa lý cũng như điều kiện tự nhiên nơi đây thật sự là thế mạnh của ngành thủy sản Ninh Hải và đã không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng, trở thành ngành sản xuất hàng hóa quan trọng của huyện. Phần đông người dân Ninh Hải chịu khó trong công việc làm ăn, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức cũng như kinh nghiệm làm kinh tế. Nhờ sự phát triển của con tôm, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đã thúc đẩy hình thành và hoạt động của nhiều cơ sở kinh doanh, thương mại, dịch vụ vận tải, cơ khí hậu cần phục vụ cho sự phát triển của con tôm, giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng ngàn lao động. Bên cạnh đó giá trị ngày công lao động của người dân cũng dần tăng theo sự gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp (bình quân 18.000 đồng/công lao động vào năm 1998 tăng lên 30.000 – 40.000 đồng/công lao động trong thời điểm hiện nay). Qua điều tra 65 trại sản xuất tôm giống tại huyện Ninh Hải cho thấy mức năng suất thu được là 1,57 triệu Post larvae cho 100m3, trung bình lợi nhuận thu được là 824.000 đồng/100m3 bể nuôi. Mặc dù mới hình thành cách đây không lâu nhưng ngành sản xuất giống và nuôi tôm sú thịt ở Ninh Hải đã phát triển rất mạnh, đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân trong vùng. Từ nửa sau năm 2004 đến nay, do ảnh hưởng của tình hình nắng hạn kéo dài, nguồn nước ngọt cung cấp cho sản xuất nuôi tôm gặp nhiều khó khăn, môi trường các vùng nuôi tôm tiếp tục bị ô nhiễm kéo dài nhất là vùng đầm Nại, cải tạo ao đìa chưa đúng quy trình kỹ thuật đối với những ao bị dịch bệnh đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất giống của huyện: như giá bán thấp, dịch bệnh xảy ra đã dẫn đến thua lỗ. Vì có được lợi nhuận mang lại tương đối cao cho người dân từ nuôi trồng thủy sản nên các hộ nuôi cũng như sản xuất giống phát triển một cách tự phát mà không tuân theo một quy hoạch nhất định của chính quyền địa phương. Các trại giống phát triển ồ ạt, nhiều trại không tuân theo quy trình kỹ thuật đã được nghiên cứu. Phần lớn các trại không có hệ thống xử lý nước thải mà thải trực tiếp ra ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường nước trong vùng và khu vực chung quanh. Download» Agriviet.com 66 Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng chậm so với nhu cầu thực tiễn nên một số vùng phát triển tự phát quá mức cho phép. Tóm lại, nguyên nhân chính dẫn đến thua lỗ và đóng cửa trại không phải do năng suất sản xuất không đạt mà nguyên nhân là do các yếu tố bên ngoài tác động gây nên như mức tiêu thụ của thị trường tôm giống thấp, giá tôm PL hạ thấp (thời điểm thấp nhất chỉ 16 đồng/con), chi phí sản xuất cao,… vì vậy chỉ cần các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ổn định giúp cho nghề nuôi tôm sú phát triển ổn định trở lại thì nghề sản xuất giống tôm sú sẽ có điều kiện lấy lại sự khởi sắc như những năm 2000, 2001. 5.2 Kiến Nghị Để hoạt động nuôi trồng thủy sản ở Ninh Hải nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung đạt hiệu quả cao, đồng thời mang tính bền vững, chúng tôi xin có một số ý kiến, đồng thời cũng xin nêu một vài ý kiến của người sản xuất như sau: 5.2.1 Về phía nhà nước Đề nghị huyện, tỉnh có chính sách khoanh nợ và giảm thuế cho những hộ dân sản xuất giống và nuôi tôm sú bị thiệt hại, thua lỗ đang thật sự khó khăn trong hoạt động sản xuất. Đề nghị nhà nước (huyện, tỉnh) có chính sách giải quyết cho người dân nuôi tôm được vay vốn ngân hàng để đầu tư tái sản xuất. Dựa trên quy hoạch tổng thể để xúc tiến khảo sát lập quy hoạch chi tiết, thiết kế từng vùng nuôi cụ thể cho từng đối tượng. Tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi cấp thoát nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, để nâng cao quy trình kỹ thuật và hạn chế dịch bệnh lây lan làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế chung. Tăng cường kiểm dịch tôm giống, tiến hành xử lý thu gom những con giống kém chất lượng giúp người dân yên tâm sản xuất. Tăng cường quản lý môi trường nuôi tôm, có chính sách trợ giúp các nông hộ thu gom, xử lý chất thải sau thu hoạch để đảm bảo cho môi trường không bị ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất giống trên địa bàn huyện cũng như cho các vùng phụ cận. Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, tăng cường cán bộ khuyến ngư, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập huấn, hội thảo, tham quan. Phổ biến các mô hình nuôi, sản xuất có hiệu quả, qua đó kịp thời đề xuất khen thưởng động viên khuyến khích khen thưởng. Download» Agriviet.com 67 Cần có ngân sách hỗ trợ vốn để xử lý những ao – hồ bị nhiễm bệnh trước khi xả ra ngoài môi trường. Tổ chức đội tuần tra theo dõi để kịp thời xử lý những hộ dân thải nước thải ô nhiễm ra ngoài môi trường mà chưa qua xử lý hóa chất. Thường xuyên tuyên truyền nhắc nhở người dân nâng cao ý thức cộng đồng, khuyến cáo không nên thả tôm trái thời vụ gây ô nhiễm làm ảnh hưởng đến nguồn nước. Việc cung ứng tôm giống và tiêu thụ sản phẩm cần quan tâm giải quyết thỏa đáng, cần có chính sách bảo hộ về giá nhằm bảo vệ quyền lợi người sản xuất. Qua điều tra và tin tức từ UBND (Ủy Ban Nhân Dân) Huyện, hầu hết các trại sản xuất đều bị thua lỗ vì giá Post hiện nay rất thấp (chỉ 18 đồng/ con). Khi quy hoạch nuôi trồng thủy sản cần cân nhắc kỹ hơn nữa sự cân bằng sinh thái trong vùng (nhất là vùng đầm Nại), bảo đảm bảo tồn tính đa dạng sinh học, lý tưởng nhất là cần trồng thêm các vùng đệm rừng ngập mặn dưới các khu vực nuôi tôm, trên các bãi triều. Đánh giá những tác động gây ô nhiễm môi trường nước đầm Nại một cách khoa học để đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời. Tôm giống được sản xuất ra chỉ sử dụng một phần nhỏ để cung cấp cho nuôi tôm trong khu vực, số lượng giống còn lại cung cấp cho các tỉnh khác, chủ yếu là các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tuy nhiên cần phải quan tâm hơn nữa đến chất lượng giống để vừa đảm bảo uy tín đối với khách hàng các tỉnh, vừa cung cấp con giống khỏe, sạch bệnh cho người nuôi tôm sú trong tỉnh. Tiếp tục hoàn thiện quy trình sản xuất giống, đặc biệt lưu ý khuyến cáo hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh và tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học nhằm bảo đảm duy trì chất lượng con giống và gia tăng năng suất của trại giống. Nghiên cứu đề tài nuôi nâng cấp tôm sú bố mẹ để góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm tôm sú bố mẹ khi vào vụ sản xuất. Đây là đề tài lớn khó thực hiện về trình độ chuyên môn, kinh phí và công tác quản lý nhưng có nhiều triển vọng. Do vậy nên khuyến khích các doanh nghiệp, tư nhân tâm huyết với nghề nghiệp, kết hợp chặt chẽ hơn nữa với các nhà khoa học ở các Viện nghiên cứu, Trường đại học, nhà nước hỗ trợ ưu tiên giao đất ở những vùng thích hợp, tư nhân tự bỏ vốn nghiên cứu thực hiện. Bộ phận thương mại cần quan tâm, tìm kiếm đầu ra cho thị trường tôm sú thương phẩm để cho tôm làm ra có nguồn tiêu thụ và có giá cao. 5.2.2 Về phía người sản xuất Cần tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về đánh giá môi trường cho việc lựa chọn địa điểm. Download» Agriviet.com 68 Cần nâng cao hơn nữa trình độ kỹ thuật nuôi cũng như sản xuất giống. Bên cạnh đó cần nâng cao tính cộng đồng trong nhân dân. Các nông hộ sản xuất cần phải tuân thủ nghiêm chặt quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn và chấp hành đúng quy định của nghề sản xuất giống. Không nên nuôi và bán tôm ở những bể giống kém chất lượng hoặc mang mầm bệnh cho người dân nuôi mà cần phải có biện pháp tiêu hủy. Trong trại cần có hệ thống xử lý nước thải trước khi đưa ra ngoài môi trường. Cần có thời gian nghỉ giữa hai vụ để hạn chế mầm bệnh tồn tại và lây lan. Mọi người dân cần có ý thức cộng đồng, thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, các hội nông dân để học hỏi kinh nghiệm sản xuất, đồng thời nắm bắt những thông tin, chính sách cần thiết. Download» Agriviet.com 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẶNG VĂN GIÁP, 1997. Phân tích dữ liệu khoa học bằng chương trình ms-excel. NXB Giáo Dục. TRẦN VĂN HÒA, TRẦN VĂN BỞM, ĐẶNG VĂN KHIÊM, 2001. Kỹ thuật nuôi thâm canh tôm sú. NXB Trẻ. PHẠM VĂN NHỎ, 2002. kỹ thuật nuôi giáp xác. Giáo trình chưa xuất bản. PHẠM VĂN TÌNH, 1996. Kỹ thuật nuôi tôm sú. NXB Nông Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh VŨ VĂN TOÀN, ĐÀO MẠNH SƠN, ĐÀO TẤN HỖ, HÀ ĐỨC THẮNG, NGUYỄN CHÍNH, NGUYỄN CƠ THẠCH, NGUYỄN HỮU ĐẠI, NGUYỄN HỮU PHỤNG, NGUYỄN THỊ XUÂN THU, NGUYỄN VĂN CHUNG, PHẠM THỊ NHÀN PHẠM THƯỢC và các cộng sự, 2003. Danh mục các loài nuôi trồng thủy sản biểnvà nước lợ ở Vịêt Nam. DANIDA – Bộ Thủy Sản. CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ NGỌC HÀ, 2004. Quy trình nuôi tôm giống sạch. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, 2003, 2004, Báo cáo điều tra. SỞ THỦY SẢN NINH THUẬN, 2004. Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tần vùng sản xuất và kiểm định giống thủy sản tập trung Ninh Phước – Ninh Thuận. TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY SẢN – TRUNG TÂM NCNTTS GIA HUY CO.,LTD, 2002. Quy trình sản xuất giống tôm sú. Download» Agriviet.com 70 GIỚI THIỆU VỀ TÀI LIỆU Tài liệu bạn đang xem được download từ website WWW.AGRIVIET.COM WWW.MAUTHOIGIAN.ORG »Agriviet.com là website chuyên đề về nơng nghiệp nơi liên kết mọi thành viên hoạt động trong lĩnh vực nơng nghiệp, chúng tơi thường xuyên tổng hợp tài liệu về tất cả các lĩnh vực cĩ liên quan đến nơng nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu bạn cần khơng tìm thấy trong website xin vui lịng gửi yêu cầu về ban biên tập website để chúng tơi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất. »Chúng tơi xin chân thành cám ơn các bạn thành viên đã gửi tài liệu về cho chúng tơi. Thay lời cám ơn đến tác giả bằng cách chia sẽ lại những tài liệu mà bạn đang cĩ cùng mọi người. Bạn cĩ thể trực tiếp gửi tài liệu của bạn lên website hoặc gửi về cho chúng tơi theo địa chỉ email Webmaster@Agriviet.Com Lưu ý: Mọi tài liệu, hình ảnh bạn download từ website đều thuộc bản quyền của tác giả, do đĩ chúng tơi khơng chịu trách nhiệm về bất kỳ khía cạnh nào cĩ liên quan đến nội dung của tập tài liệu này. Xin vui lịng ghi rỏ nguồn gốc “Agriviet.Com” nếu bạn phát hành lại thơng tin từ website để tránh những rắc rối về sau. Một số tài liệu do thành viên gửi về cho chúng tơi khơng ghi rỏ nguồn gốc tác giả, một số tài liệu cĩ thể cĩ nội dung khơng chính xác so với bản tài liệu gốc, vì vậy nếu bạn là tác giả của tập tài liệu này hãy liên hệ ngay với chúng tơi nếu cĩ một trong các yêu cầu sau : • Xĩa bỏ tất cả tài liệu của bạn tại website Agriviet.com. • Thêm thơng tin về tác giả vào tài liệu • Cập nhật mới nội dung tài liệu www.agriviet.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflvtn_hien_trang_san_xuat_giong_tom_su_946.pdf