Đề tài Hoạt động xúc tiến trong chiến lược Markeing của Công ty May 10 trên thị trường Mỹ

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I :CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG CHIẾN LƯỢC MARKETING 2 I.Hệ thống khái niệm. 2 1.Khái niệm xúc tiến. 2 2.Vị trí của xúc tiến thương mại trong Marketing hỗn hợp. 2 II.Vai trò của hoạt động xúc tiến đối với hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp. 3 III. Nội dung của hoạt động xúc tiến thương mại. 4 1.Quảng cáo. 5 1.1Khái quát chung về quảng cáo. 5 1.2. Các loại quảng cáo 7 1.3.Các phương tiện của quảng cáo 8 2.Khuyến mại 9 2.1. Khái niệm 9 2.2.Vai trò của khuyến mại đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các daonh nghiệp. 10 2.3.Các hình thức khuyến mại chủ yếu 10 3. Hội chợ, triển lãm 12 3.1. Khái niệm 12 3.2.Tác dụng của việc tham gia hội chợ triển lãm của các doanh nghiệp. 13 3.3. Quy trình tham gia hội chợ triển lãm của các doanh nghiệp. 14 3.3.1. Các hoạt động hội chợ trước triển lãm. 14 3.3.2. Các công việc phải làm trong hội chợ triển lãm 16 3.3.3. Các hoạt động diễn ra sau thời gian tham gia hội chợ triển lãm 16 4. Bán hàng trực tiếp 16 4.1 Các loại đại diện bán hàng 17 4.2 Chức năng và nhiệm vụ của các đại diện bán hàng 18 4.3 Vai trò của bán hàng cá nhân đối với hoạt động kinh doanh của công ty 18 4.4 Các quyết định trong bán hàng cá nhân 18 5. Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác 19 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY MAY 10 TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ 20 I. Khái quát một vài nét về Công ty May 10 20 II.Thực trạng hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của công ty May 10 trên thị trường Mỹ 21 III. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của May 10 trên thị trường mỹ 22 1. Những thuận lợi và cơ hội 22 1.1 Những thuận lợi và cơ hội đến từ việc chính thức gia nhập WTO 22 1.2. Công nghệ hỗ trợ hoạt động Marketing ngày càng được đổi mới 23 1.3.Hoạt động xúc tiến trong Marketing luôn được May 10 đầu tư đúng đắn 23 1.4.Hàng hoá của May 10 được nâng cao cả về chất lượng và mẫu mã thích hợp với người tiêu dùng mỹ 25 1.5 Nhà nước luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển 25 2.Những khó khăn và thách thức 25 2.1. Thị trường Mỹ rất “sang trọng” và “ khó tính” 25 2.2. Sản phẩm của May 10 phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm dệt may của các quốc gia khác trên thị trường mỹ 26 2.3. Vấn đề liên quan đến mẫu mã, chất lượng sản phẩm 26 2.4. Sự am hiểu của May 10 về thị trường mỹ còn có nhiều hạn chế 26 IV. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của May 10 trên thị trường Mỹ 27 1. Điều tra nghiên cứu kỹ hơn thị trường Mỹ 27 2. Xây dựng, liên kết với một số thương hiệu để thiết lập chỗ đứng ban đầu và phát triển dần trong tương lai 27 3. Nâng cao chất lượng và đổi mới mẫu mã sản phẩm 27 4. Nâng cao hiệu lực quản lý 28 5. Tận dụng lợi thế của đất nước ta - Một thành viên chính thức của WTO 28 KẾT LUẬN 29

docx32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/05/2013 | Lượt xem: 2785 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hoạt động xúc tiến trong chiến lược Markeing của Công ty May 10 trên thị trường Mỹ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chính thức được chính phủ hai nước thông qua đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ kinh tế giữa 2 nước và mở ra một hướng làm ăn mới có nhiều thuận lợi và cũng nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, việc nước thành trở thành thành viên thứ 150 WTO cũng đặt ra cho các doanh nghiệp ở nước ta những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang tiến hành rất nhiều các hoạt động nhằm đẩy mạnh việc đưa hàng hoá của doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường Mỹ. Những khó khăn đặt ra cho hàng hoá này còn rất nhiều. Bởi chúng ta đều biết thị trường Mỹ là thị trường của thương hiệu - thị trường cạnh tranh khốc liệt, với nhiều đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là bài toán đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam và May 10 cũng nằm trong số đó. May 10 là một trong những doanh nghiệp May đầu tiên của Việt Nam có chất lượng phát triển thương hiệu và mở rộng sang thị trường Mỹ. Đứng trước những cơ hội và thách thức đến từ việc Việt Nam gia nhập WTO hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết, May 10 đã có những bước đi đúng đắn trong hoạt động Marketing để phát triển thương hiệu của mình trên thị trường Mỹ. Với mong muốn giúp các bạn có cái nhìn cụ thể, toàn diện về những bước đi của May 10 trong chiến lược phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường trên đất Mỹ, em đã chọn đề tài: "Hoạt động xúc tiến trong chiến lược Markeing của Công ty May 10 trên thị trường Mỹ". CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG CHIẾN LƯỢC MARKETING I.Hệ thống khái niệm. 1.Khái niệm xúc tiến. Trong Marketing Mix chúng ta đều biết xúc tiến là một trong 4 tham số. Hoạt động xúc tiến có nguồn gốc từ Tiếng Anh: PROMOTION. Hiện nay có nhiều các quan niệm khác nhau về xúc tiến: Quan niệm xúc tiến trong “ Marketing căn bản ” của Philip Kotler. Quan niệm xúc tiến theo quan điểm của các nhà lý luận các nước tư bản. Quan niệm xúc tiến theo quan điểm của các nhà kinh tế các nước Đông Âu. Bên cạnh đó tham số xúc tiến thương mại cũng được tiếp cận ở ba góc độ: Vĩ Mô, Vi Mô và ở các Doanh Nghiệp Sản Xuất Kinh Doanh. Trong các quan niệm trên, mỗi quan niệm đều được các tác giả trình bày một cách chung nhất về cách xúc tiến. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực khác nhau, mỗi nghành nghề khác nhau có những đặc tính khác nhau. Do đó để hoạt động xúc tiến ở mỗi lĩnh vực mỗi ngành nghề phát huy được tác dụng của mình thì mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề cần có quan điểm riêng, phù hợp về xúc tiến. Xuất phát từ góc độ thương mại ở các doanh nghiệp, quan niệm về xúc tiến thương mại được hiểu là: Xúc tiến thương mại là các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực Marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại. Xúc tiến thương mại bao gồm các hoạt động chính: Quảng cáo; Khuyến mại; Hội chợ; Triển lãm; Bán hàng trực tiếp; Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác. 2.Vị trí của xúc tiến thương mại trong Marketing hỗn hợp. Xúc tiến thương mại là một trong 4 tham số quan trọng có thể kiểm soát được trong Marketing thương mại. Trong 4 tham số của Marketing, sự sắp xếp thứ tự theo mức độ quan trọng của từng tham số đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Điều đó phụ thuộc nhiều vào chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp, phụ thuộc vào chiến lược cạnh tranh cũng như vị thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp. Trong bản thân mỗi doanh nghiệp, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau vị trí của xúc tiến trong Marketing hỗn hợp cũng có thể là khác nhau. Điều này phụ thuộc vào chiến lược Marketing cũng như điều kiện cạnh tranh của doanh nghiệp, chương trình xúc tiến của đối thủ cạnh tranh trong từng giai đoạn. II.Vai trò của hoạt động xúc tiến đối với hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp. Theo quan điểm trước đây, xúc tiến có một số vai trò quan trọng như: Kích thích hiệu quả của lực lượng bán hàng, kích thích các hàng hoá bằng cách giảm giá sản phẩm, hoặc giữ nguyên giá mà tăng chất lượng sản phẩm. Ở Việt Nam, từ những năm 1990 trở lại đây xúc tiến thương mại là những hoạt động quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Vai trò của hoạt động xúc tiến đối với hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau: Một là, hoạt động xúc tiến thương mại sẽ giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong nước cũng như các bạn hàng ở nước ngoài. Thông qua hoạt động xúc tiến thương mại các doanh nghiệp có điều kiện để hiểu biết lẫn nhau. Đặt quan hệ mua bán với nhau. Hơn nữa thông qua hoạt động xúc tiến thương mại các doanh nghiệp có thêm thông tin về thị trường, có điều kiện để nhanh chóng phát triển kinh doanh và hội nhập vào kinh tế khu vực. Hai là, nhờ có họat động xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp có thông tin tốt về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh. Qua đó doanh nghiệp có hướng đổi mới kinh doanh, đầu tư công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh. Ba là, xúc tiến thương mại là công cụ hữu hiệu trong công việc chiếm lĩnh thương mại và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường. Thông qua hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp tiếp cận được thị trường tiềm năng của doanh nghiệp, cung cấp cho khách hàng tiềm năng nhưng thông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của khách hàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ đó mà không ngừng tăng lên. Bốn là, hoạt động xúc tiến thương mại là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp. Thông qua hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để nhìn nhận về ưu nhược điểm của hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có cơ sở để ra quyết định kịp thời, phù hợp. Năm là, xúc tiến làm cho bán hàng trở nên dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân phối hợp lý, kích thích hiệu quả của lực lượng bán hàng. Sáu là, xúc tiến thương mại là công cụ hữu hiệu giúp cho cung và cầu gặp nhau, đặc biệt nhờ nghệ thuật của xúc tiến thương mại, hoạt động này kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh. Bảy là, thông qua hoạt động xúc tiến, nhà kinh doanh không chỉ bán được nhiều hàng hoá mà còn góp phần thay đổi cơ cấu tiêu dùng, hướng dẫn thị hiếu của khách hàng. Tám là, giúp cho doanh nghiệp thương mại muốn đạt được mục tiêu kinh doanh đặt ra thì một vấn đề không thể thiếu được là phải tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại. III. Nội dung của hoạt động xúc tiến thương mại. Trong thương mại ở các doanh nghiệp, người phụ trách Marketing cần phải xác định những thị trường mục tiêu, đưa ra những chiến lược Marketing tổng thể, chiến lược xác định sản phẩm cần đưa vào kinh doanh, các hình thức dịch vụ cần thiết có thể thúc đẩy bán hàng, thiết lập những hệ thống phân phối, cách xác định giá cả…Hơn nữa các hoạt động đó cần phải xúc tiến tới những người có liên quan tới việc mua sắm trong thị trường mục tiêu. Lĩnh vực xúc tiến này lĩnh vực quan trọng trong hoạt động Marketing. Trong kinh doanh thương mại ngày nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả cao nếu chỉ nghĩ rằng: “ có hàng hoá chất lượng cao, giá rẻ là đủ bán hàng”. Những giá trị của hàng hoá, dịch vụ, thậm chí cả những lợi ích đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin đến khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng, cũng như những người có ảnh hưởng tới việc mua sắm. Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các hoạt động xúc tiến thương mại. Xúc tiến thương mại bao gồm các hoạt động chính sau: 1.Quảng cáo. 1.1Khái quát chung về quảng cáo. Quảng cáo đã ra đời từ rất lâu. Thực tế quảng cáo là một từ ngoại lai. Quảng cáo có nguồn gốc từ chữ Latinh là “Adverture” vào khoảng 1300-1475 từ này được dịch sang tiếng anh là Advertise có nghĩa là một người chú ý đến một sự kiện nào đó. Cho đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII từ này chính thức được sử dụng rộng rãi. Vào thời kỳ này quảng cáo đã phát triển thành một hoạt động, thành một nghề. Do có lịch sử phát triển lâu dài nên định nghĩa về hoạt động quảng cáo cũng được hoàn thiện theo thời gian. Hiện nay quảng cáo được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, các nhà nghiên cứu khác nhau cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. + Quảng cáo là phương tiện biểu hiện trong đó dùng sách báo, lời nói, hay hình vẽ do chủ quảng cáo chi tiền để công khai tuyên truyền cho cá nhân, sản phẩm, dịch vụ. nhận được phiếu bầu hoặc sự tán thành (năm 1932, trong tờ tuần báo thời quảng cáo Mỹ). + Quảng cáo là giới thiệu sản phẩm, sự việc và nhân vật theo hình thức không tiếp xúc cá nhân, được pháp luật cho phép, do cá nhân hoặc tổ chức chi tiền quảng cáo nhằm tác động vào công chúng để phát triển sự nghiệp cụ thể. + Quảng cáo là một hình thức tuyên truyền nhằm giới thiệu sản phẩm, thông báo nội dung phục vụ và tiết mục văn nghệ với công chúng bằng hình thức đăng tin trên báo chí, phát tin trên đài phát thanh, trên đài truyền hình, trên điện ảnh, trên đèn chiếu, trên các tờ áp phích, bằng cách triển lãm trưng bày( từ điển “Từ Hải” ở Trung Quốc xuất bản năm 1980). + Quảng cáo bố cáo sự việc cho công chúng. Nhìn chung các định nghĩa quảng cáo theo nghĩa rộng đều cho rằng quảng cáo không những được sử dụng nhằm mục đích kinh doanh mà nó còn sử dụng cho cả hoạt động tuyên truyền cho các hoạt động xã hội khác. Theo nghĩa hẹp, quảng cáo được hiểu là quảng cáo kinh tế, quảng cáo thương mại. Quảng cáo thương mại cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Cho đến nay có các định nghĩa về quảng cáo thương mại: + Quảng cáo thương mại là mọi sự tuyên truyền công khai bằng hình thức thuyết phục để tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ. + Quảng cáo thương mại là hình thức truyền thông không trực tiếp được thực hiện qua các phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí( theo Philip Kotler). + Quảng cáo thương mại là một loại thông tin phải trả tiền, có tính đơn phương, không dành riêng cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và phương tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ một sản phẩm, một nhãn hiệu, một doanh nghiệp…Được nêu danh trong quảng cáo( theo Armand Dayan-Pháp). + Hiệp hội tiêu thụ Mỹ( AMA) cho rằng, quảng cáo thương mại là giới thiệu và phổ biến sản phẩm hoặc dịch vụ không có người thuyết minh do chủ quảng cáo cụ thể chi tiền cho việc quảng cáo ấy… Trong tất cả các định nghĩa trên ta thấy rằng chúng đều thống nhất với nhau ở các luận điểm sau đây: - Quảng cáo là biện pháp truyền bá thông tin của các doanh nghiệp. - Quảng cáo là hoạt động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu truyền bá thông tin đến người nhận tin. - Đối tượng quảng cáo thương mại lầ người tiêu dùng cuối cùng, khách hàng công nghiệp, khách hàng là người mua để bán lại… - Quảng cáo thương mại không phải là sự truyền bá cá nhân với cá nhân. - Nội dung của quảng cáo là thông tin về hàng hoá, dịch vụ, doanh nghiệp kinh doanh. - Biện pháp quảng cáo thương mại là thông qua vật môi giới quảng cáo. - Mục đích quảng cáo thương mại là tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ qua đó thu lợi nhuận. 1.2. Các loại quảng cáo - Đứng trên giác độ đối tượng tiếp nhận quảng cáo để nghiên cứu thì quảng cáo thương mại có hai loại :Quảng cao lôi kéo và quảng cáo thúc đẩy. Quảng cáo lôi kéo là loại quảng cáo mà đối tượng tiếp nhận của nó là người tiêu dùng. Quảng cáo thúc đẩy là loại quảng cáo mà đối tượng tiếp nhận của nó là các trung gian phân phối. - Đứng trên giác độ phương thức tác động người ta có quảng cáo hợp lý và quảng cáo gây tác động. Quảng cáo hợp lý là thông báo, hướng vào trí tuệ của khách hàng tiềm năng, dẫn ra lý lẽ để thuyết phục họ, đưa ra những dẫn chứng thể hiện bằng lời nói cũng như sử dụng hình ảnh hay tranh vẽ để tăng cường củng cố ấn tượng về những điều đã nói. Quảng cáo gây tác động gây ra sự hồi tưởng, dẫn đến suy nghĩ nó hướng vào tình cảm gây ra cảm xúc, tiềm thức, nó tác động thông qua sự tác động các tư tưởng bằng cách tái tạo hình ảnh, phương tiện ưu thích: Hình ảnh và âm thanh. Trên thực tế các nhà làm Marketing thường kết hợp cả hai loại này. - Theo phương thức thể hiện quảng cáo cũng có thể chia ra “ quảng cáo cứng” và “ quảng cáo mềm”. - Đứng trên giác độ đối tượng được quảng cáo để nghiên cứu thì quảng cáo thương mại có hai loại: Quảng cáo gây tiếng vang và quảng cáo sản phẩm. Quảng cáo gây tiếng vang là loại hình quảng cáo dùng để đề cao hình ảnh của công ty trong trí nhớ của khách hàng mục tiêu hay những đối tượng khác có liên quan. Khi sử dụng hình thức quảng cáo này các nhà quảng cáo không nhất thiết phải giới thiệu về sản phẩm mà công ty đang kinh doanh. Quảng cáo sản phẩm là loại quảng cáo dùng để quảng cáo một hay một nhóm sản phẩm mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ kinh doanh. Trong quảng cáo sản phẩm cũng có hai loại đó là quảng cáo hàng công nghiệp và quảng cáo hàng tiêu dùng. Khi xây dựng chiến lược quảng cáo, người làm Marketing phải xác định xem mình phải sử dụng loại quảng cáo nào cho phù hợp. Để lựa chọn đúng vấn đề đầu tiên người làm Marketing phải xác định rõ mục tiêu của quảng cáo. 1.3.Các phương tiện của quảng cáo Các doanh nghiệp thường có hai cách thức tiến hành quảng cáo: Tự quảng cáo hoặc thuê các tổ chức làm quảng cáo cho doanh nghiệp. Để quảng cáo, người ta phải sử dụng các phương tiện quảng cáo sau: Quảng cáo qua phương tiện thông tin đại chúng, quảng cáo trực tiếp, quảng cáo tại nơi bán hàng và quảng cáo qua internet. - Quảng cáo qua phương tiện thông tin đại chúng. Cũng như các loại quảng cáo khác các phương tiện thông tin đại chúng gồm: + Báo chí. + Truyền hình. + Quảng cáo ngoài trời. + Máy thu thanh. + Các phương tiện khác như:Băng video,internet… - Quảng cáo trực tiếp:Là tất cả các hành vi có liên quan đến việc tìm kiếm khách hàng mới thông qua: + Catalogue gửi qua đường bưu điện. + Mang các tờ rơi quảng cáo bỏ vào thùng thư cá nhân hoặc đưa vào tận nhà các hộ dân cư ở địa bàn nào đó. + … - Quảng cáo tại nơi bán hàng. Loại quảng cáo này thường có ở khắp mọi nơi,nó được trình bày dưới tất cả các dạng.Nó có tác dụng lặp lại,nhắc nhở bằng hình ảnh của nhãn hiệu hàng hoá và tăng cường hiện tượng mua sắm tuỳ hứng.Tuy nhiên hình thức này chỉ thực sự có hiệu quả khi có thái độ đúng mức của nhân viên bán hàng trong khi tiếp xúc với khách hàng, bày bán hàng. * Trong quảng cáo thưong mại, tuỳ từng loại quảng cáo mà người ta sử dụng các hình thức và các phương tiện quảng cáo cho phù hợp. - Đối với quảng cáo gây tiếng vang người ta thường sử dụng các phương tiện: Truyền hình, radio, tạp chí chuyên ngành, báo chí. - Đối với quảng cáo sản phẩm. + Quảng cho hàng tiêu dùng người ta sử dụng các phương tiện: Truyền hình, báo chí, tạp chí, quảng cáo ngoài trời, quảng cáo qua bưu điện, quảng cáo qua điện thoại… + Quảng cáo hàng công nghiệp: Để quảng cáo hàng công nghiệp người ta thường sử dụng các phương tiện: Tạp chí thương mại, tạp chí chuyên ngành, catalogoue, thư tín thương mại, điện thoại, các tranh vàng của niên giám điện thoại… Hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học- kỹ thuật, đặc biệt là công nghiệp điện tử các phương tiện ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. 2.Khuyến mại 2.1. Khái niệm Khuyến mại là hàng vi thương mại của doanh nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách giành những lợi ích nhất định cho khách hàng. 2.2.Vai trò của khuyến mại đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khuyến mại là một trong những công cụ khá quan trọng trong hệ thống các công cụ xúc tiến. Nó là hình thức xúc tiến bổ xung cho quảng cáo. Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng khuyến mại nhằm kích thích khách hàng tiến tới hàng vi mua sắm. Hoạt động này có thể áp dụng cho cả khách hàng là người tiêu dùng, trung gian phân phối cũng như khách hàng công nghiệp. Thông thường nó được sử dụng cho các hàng hoá mới tung ra thị trường, áp lực cạnh tranh cao đặc biệt là các sản phẩm có đơn giá thấp mà đem lại doanh thu cao. Những người làm Marketing sẽ đạt được mục đích kích thích tiêu thụ trong thời gian ngắn khi tổ chức hoạt động khuyến mại. Thông qua các kỹ thuật khuyến mại, doanh nghiệp sẽ thu hút thêm những người tiêu dùng thử mới, kích thích những người mua trung thành kể cả những người thỉnh thoảng mới mua, bởi thông qua khuyến mại, người ta nhận thấy rằng: Các biện pháp khuyến mại sẽ nhanh chóng đem lại mức tiêu thụ cao hơn trong thời gian ngắn so với quảng cáo. Tuy nhiên trong nghiên cứu, người ta cũng nhận thấy rằng mức tiêu thụ tăng nhanh thêm đó chỉ là tạm thời bởi sau những biến đổi tạm thời do kích thích tiêu thụ người mua trung thành lại trở về nhãn hiệu ưa thích của họ. Chính vì vậy, việc chi ngân sách xúc tiến cho khuyến mại nhỏ hơn nhiều so với quảng cáo. 2.3.Các hình thức khuyến mại chủ yếu + Giảm giá: Giảm giá trong một thời gian là một trong những kỹ thuật xúc tiến khá phổ biến mà các doanh nghiệp thường dùng. + Phân phát mẫu hàng miễn phí: Đây là việc phân phát miễn phí cho người tiêu dùng. Các công ty sẽ cho các nhân viên tiếp thị đến tận nhà khách hàng mục tiêu, hoặc gửi thư qua bưu điện, hoặc phát tại các cửa hàng kèm theo những sản phẩm hàng khác. Đây là phương thức giới thiệu hàng hiệu quả nhất nhưng chi phí khá tốn kém. + Phiếu mua hàng: Là một loại giấy xác nhận người cầm giấy sẽ được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua hàng tại công ty phát hành, thông thưòng phiếu mua hàng sẽ được phát cho khách hàng khi khách hàng đến mua hàng tại công ty. Phiếu chứng nhận mua hàng này sẽ được sử dụng cho lần mua sau. Phiếu mua hàng có thể có hiệu quả đối với việc kích thích tiêu thụ mặt hàng có nhãn hiệu đã chín muồi hoặc khuyến khích việc sử dụng nhãn hiệu mới. + Trả lại một phần tiền: Là hình thức được sử dụng cũng không nhiều. Đây là hình thức người bán giảm giá cho người mua sau khi mua hàng chứ không phải tại cửa hàng bán lẻ. Người mua hàng sẽ gửi cho người bán một chứng tỏ đã mua hàng của công ty và công ty sẽ hoàn lại một phần tiền qua bưu điện. + Thương vụ có chiết khấu nhỏ: Là cách kích thích người tiêu dùng thông qua việc đảm bảo cho người tiêu dùng tiết kiệm được một phần chi phí so với giá bình thường của sản phẩm. Trong cách thức này công ty sẽ bao gói các sản phẩm cùng loại với nhau và như vậy chỉ phải trả chi phí cho một bao bì. + Thi- cá cược- trò chơi: Đây là hình thức tạo ra cơ may nào đó cho khách hàng bằng cách tạo ra các cuộc thi, tìm hiểu các trò chơi trong một thời hạn nhất định. Những người được giải thưởng có thể nhận được tiền, đồ vật hoặc được đi du lịch. Đây là công cụ xúc tiến bán hàng thường thu hút được sự chú ý của đông đảo người tiêu dùng. + Phần thưởng cho các khách hàng thường xuyên. Để giữ các khách hàng thường xuyên các công ty thường giảm cho các khách hàng này một tỷ lệ giá nhất định hoặc giảm giá dưới các dạng khác như thêm một lượng hàng cùng loại. + Dùng thử hàng hoá không phải trả tiền: Đây là công cụ xúc tiến nhằm vào khách hàng tiềm năng. Dựa trên cơ sở dự đoán khách hàng tiềm năng, công ty tiến hành tiếp xúc và thuyết phục họ dùng thử sản phẩm với hy vọng sau lần dùng thử khách hàng sẽ ưa thích sản phẩm và sẽ mua sản phẩm. + Phần thưởng: Các công ty thường có thêm quà tặng cũng như phần thưởng cho khách hàng. Phần thưởng được sử dụng nhằm thúc đẩy động cơ mua hàng của người tiêu dùng cũng như các trung gian phân phối. thông thường phần thưởng sẽ để phân phát cho khách hàng một lượng hàng hoá náo đó, mua với khối lượng giá trị hàng hoá nào đó. Đôi khi được phân phát ngay khi khách hàng bước chân vào cửa hàng. + Tặng vật phẩm mang biểu tượng quảng cáo: Để làm cho tên tuổi cũng như nhãn hiệu, biểu tượng của công ty trở nên quen thuộc hơn đối với người tiêu dùng, các công ty thường tiến hành tặng cho khách hàng mục tiêu nói riêng và người tiêu dùng nói chung những đồ vật mang trên mình một số nội dung mà công ty muốn quảng cáo như: biểu tưởng của công ty, tên công ty, tên sản phẩm hoặc nhãn hiệu muốn quảng cáo… Đối với các trung gian phân phối, các công ty còn có thể sử dụng một số hình thức xúc tiến bán khác như: + Chiết khấu: Giảm giá so với giá bán ghi trên hoá đơn trong từng trường hợp mua hàng hoặc trong từng thời kỳ. Cách này khuyến khích các khách hàng là đại lý, người bán lẻ, mua nhiều hàng hoá hơn, tích cực bán hàng cho công ty hơn. + Thêm hàng hoá cho khách mua hàng với lượng hàng nhất định. Ví dụ như mua một tạ muối được tặng thêm 20 kg . 3. Hội chợ, triển lãm 3.1. Khái niệm Triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bày hàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng và thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá. Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến hàng hoá tập trung trong một thời gian và một địa điểm nhất định, trong đó tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh đặc trưng bày hàng hoá của mình nhằm mục đích tiếp thị ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá. Như vậy hội tchợ mang tính định kỳ được tổ chức tại một thời điểm, thời gian nhất định là nơi người bán và người mua trực tiếp giao dịch mua bán. Triển lãm có hình thái gần giống với hội chợ nhưng triển lãm và hội chợ có sự khác biệt cơ bản: - Mục đích của người tham gia triển lãm không phải bán hàng tại chỗ mà chủ yếu để giới thiệu, quảng cáo. Mục đích của người tham gia hội chợ trước hết nhằm để bán hàng sau đó mới đến mục tiêu khác như thiết lập mối quan hệ làm ăn, quảng cáo… - Khi tổ chức triển lãm các doanh nghiệp cần mang đến triển lãm những hình ảnh. - Các triển lãm thường ít có định kỳ như hội chợ. trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung phần lớn các doanh nghiệp chỉ tham gia vào hoạt động triển lãm chứ rất ít khi có cơ hội để tham gia vào các hội chợ. Ngày nay hội chợ,triển lãm là hoạt động phát triển mạnh.Hội chợ,triển lãm thường được tổ chức phối hợp nhau trong cùng thời gian và không gian gọi là hội chợ triển lãm. 3.2.Tác dụng của việc tham gia hội chợ triển lãm của các doanh nghiệp. Khi tham gia vào hội chợ triển lãm các doanh nghiệp có thể đạt được những lợi ích sau: - Góp phần thực hiện chiến lược Marketing củadoanh nghiệp - Cơ hội để các doanh nghiệp tiếp cận với các khách hàng mục tiêu của mình. - Trình bày, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp với người tiêu dùng nói chung và khách hàng mục tiêu nói riêng. - Củng cố danh tiếng và hình ảnh của doanh nghiệp. - Qua hoạt động hội chợ triển lãm doanh nghiệp có cơ hội thu thập thông tin cần thiết về nhu cầu của khách hàng, về đối thủ cạnh tranh. -Cơ hội để doanh nghiệp mở rộng thị trường - Hoàn thiện thêm chính sách xúc tiến của doanh nghiệp. - Tăng cường hiệu quả của xúc tiến bán hàng. - Xúc tiến hợp tác đầu tư. Việc tham gia hội chợ triển lãm có thành công hay không, phụ thuộc vào chính sách xúc tiến thương mại của doanh nghiệp, vai trò của nhà tổ chức và phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sự nỗ lực của doanh nghiệp trong việc chuẩn bị cũng như tổ chức thực hiện khi tham gia hội chợ triển lãm. Trong thực tế đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đạt kết quả cao trong hội chợ triển lãm là những doanhnghiệp làm tốt hoạt động trước và sau hội chợ triển lãm. 3.3. Quy trình tham gia hội chợ triển lãm của các doanh nghiệp. 3.3.1. Các hoạt động hội chợ trước triển lãm. Trước khi tham gia vào hội chợ triển lãm các doanh nghiệp cần làm tốt những hoạt động sau đây: Xác định các mục tiêu của doanh nghiệp cần đạt tới nói chung và các mục tiêu Marketing của doanh nghiệp nói riêng. Mục tiêu của doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu, trên cơ sở đó các nhà chuyên môn xác định mục tiêu Marketing. Trong kế hoạch hoá Marketing các doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu cụ thể cho các chiến lược Marketing thành phần trong đó không thể loại trừ việc xác định cho hoạt động xúc tiến. Dựa trên cơ sở mục tiêu của hoạt động xúc tiến xem xét xây dựng mục tiêu cho từng hoạt động cụ thể, trên cơ sở đó lựa chọn các công cụ xúc tiến phù hợp. Xây dựng các mục tiêu cho việc tham gia hội chợ triển lãm. Tuỳ thuộc vào mục tiêu kinh doanh, mục tiêu Marketing, mục tiêu xúc tiến của từng doanh nghiệp, các doanh nghiệp xác định mục tiêu cho riêng mình. Thông thường các doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm thường hướng đến các mục tiêu sau: + Tiếp cận khách hàng mục tiêu. + Giao lưu với các bạn hàng, tìm kiếm nhà nhập khẩu, phân phối hay đại lý. + Chào bán sản phẩm mới. + Tăng doanh số bán, mở rộng thị trường. + Củng cố uy tín, hình ảnh sản phẩm trên thị trường truyền thống. Việc xác định rõ các mục tiêu trên sẽ là kim chỉ nam cho các hoạt động tiếp theo do đó nếu xác định rõ mục tiêu thì khả năng thành công hội chợ triển lãm sẽ rất cao. Lựa chọn hội chợ triển lãm để tham gia. Thông thường các doanh nghiệp xem xét đánh giá và lựa chọn hội chợ triển lãm dựa trên các khía cạnh sau: + Loại hội chợ triển lãm; + Nơi tổ chức; + Thành phàn tham gia và tham quan hội chợ triển lãm; + Giá cả,thời hạn, phương thức thanh toán; + Nhà tổ chức hội chợ triển lãm… Dự trù kinh phí, chuẩn bị yếu tố con người cho việc tham gia hội chợ triển lãm. Khi quyết định tham gia hội chợ triển lãm doanh nghiệp cần phải làm tốt công tác chuản bị. Trước tiên đó là chuẩn bị về tài chính, tiền cho hội chợ triển lãm sẽ lấy từ ngân sách xúc tiến. Chuẩn bị nhân sự là vấn đề không thể thiếu được khi tham gia hội chợ triển lãm, Lựa chọn những con người với những tiêu chuẩn sau: Lịch sự, văn minh, nhiệt tình, am hiểu về hàng hoá, ngoại hình và khả năng giao tiếp cao. Chuẩn bị các yếu tố vật chất cho triển lãm. Các tài liệu cần thiết cho tuyên truyền quảng cáo tại hội chợ triển lãm bao gồm: + Hình ảnh số liệu về lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp. + Sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp và nét đặc thù của nó. + Tài liệu về công cụ và tính năng của sản phẩm. + Tài liệu hướng dẫn sử dụng. + Các tài liệu khác … -Tổ chức thiết kế xây dựng gian hàng tại hội chợ triển lãm . Thiết kế và xây dựng gian hàng là yếu tố quan trọng trong thu hút sự chú ý của khách tham quan. Việc thiết kế xây dựng một mặt gian hàng phải làm sao có sự độc đáo nổi trội để khách hàng nhận ra doanh nghiệp trong vô vàn các doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm. Mặt khác việc thiết kế xây dựng phải phù hợp với việc trưng bày các sản phẩm của doanh nghiệp. 3.3.2. Các công việc phải làm trong hội chợ triển lãm Trong hội chợ triển lãm các doanh nghiệp có rất nhiều các công việc phải hoàn thành nhưng tựu chung lại có hai công việc chủ yếu: Giới thiệu hàng hoá. Giao tiếp và bán hàng tại hội chợ triển lãm . 3.3.3. Các hoạt động diễn ra sau thời gian tham gia hội chợ triển lãm - Đánh giá kết quả đạt được khi tham gia hội chợ triển lãm Ngay sau khi tham gia hội chợ triển lãm, doanh nghiệp cần tổ chức đánh giá kết quả. Các tiêu thức đánh giá cần được sử dụng: Các chỉ tiêu về lượng: + Số lượng đơn đặt hàng. + Giá trị hàng hoá bán được. + Số bạn hàng thu hút được. Đánh giá sự phản ứng của khách hàng . Quan hệ với khách hàng sau thời gian hội chợ triển lãm. 4. Bán hàng trực tiếp Bán hàng là hành vi thương mại của thương nhân, là sự giao tiếp trực tiếp giữa người bán hàng và khách hàng tiềm năng. Trong đó người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền. Các bước trong hoạt động bán hàng có thể được mô tả qua Sơ đồ các bước bán hàng. Sơ đồ các bước bán hàng Tiềm năng Sát hạch triển vọng Xác định các ảnh hưởng mua Lập kế hoạch chào hàng Thực hiện chào hàng Kết thúc chào hàng Theo dõi kết quả - Chào bán tại nhà - Quảng cáo - Nguồn tham khảo - Nhu cầu - Động cơ - Khả năng trả mua - Tư cách mua thích hợp - Nhu cầu - Động cơ - Khả năng trả mua - Tư cách mua thích hợp - Phục vụ khách hàng - Tập hợp thông tin - Đánh giá thông tin - Tổ chức thông tin - Tiếp cận - Xác định vấn đề - Chứng minh - Xử lý các ý kiến phản hồi - Kết luận - Hành động 1. Thăm dò 2. Lập kế hoạch 3. Trình bày 4. Tiến hành 4.1 Các loại đại diện bán hàng - Người giao hàng. - Người tiếp nhận đơn đạt hàng. - Kỹ thuật viên. - Người gợi tạo nhu cầu. - Người bán hàng. Tuỳ từng thương vụ cụ thể, tuỳ thuộc vào loại hàng hoá kinh doanh của doanh nghiệp mà số lượng cũng như loại đại diện bán hàng nào sẽ được đưa vào sử dụng. 4.2 Chức năng và nhiệm vụ của các đại diện bán hàng Trong các công ty hiện nay người ta sử dụng một đội ngũ những đại diện bán hàng để thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động bán hàng. Các đại diện bán hàng có nhiệm vụ cung cấp thông tin cần thiết về sản phẩm cũng như về công ty cho khách hàng. Đây là việc làm giúp cho khách hàng hiểu biết về sản phẩm cũng như về công ty hơn, có như vậy công ty mới có thể thu hút được khách hàng. 4.3 Vai trò của bán hàng cá nhân đối với hoạt động kinh doanh của công ty - Nhờ có hoạt động bán hàng các nhà Marketing truyền các thông tin có tính thuyết phục đến các nhu cầu cụ thể của người mua hoặc ảnh hưởng mua. - Hoạt động bán hàng thúc đẩy sự tương tác giữa người bán và người mua để dẫn tới một giải pháp có hiệu quả và tiết kiệm thời gian. - Làm tốt công tác bán hàng, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bán được hàng cho người mua thông qua việc khuyến khích trực tiếp đến từng cá nhân mục tiêu. - Bán hàng có vai trò quan trọng trong việc khuếch trương hàng hoá của công ty. 4.4 Các quyết định trong bán hàng cá nhân - Quyết định về mục tiêu bán hàng cá nhân: Việc quyết định mục tiêu tuỳ thuộc vào tình hình của thực trạng thị trường hiện tại, triển vọng về sự phát triển của thị trường trong tương lai cũng như mục tiêu và tiềm năng của doanh nghiệp trong thời gian tới. - Quyết định lựa chọn phương thức tiếp cận, chào hàng trực tiếp với khách hàng trọng điểm. phương thức chào bán hàng phải dựa trên sự thông hiểu quá trình mua hàng và các nhân tố tác động. - Xác định nhiệm vụ cho các đại diện bán hàng. - Xác đinh quy mô, số lượng các đại diện bán hàng . - Đánh giá và lựa chọn phẩm chất của các đại diện bán hàng. Như vậy bán hàng là một nghệ thuật, bán hàng đồng nghĩa với thương lượng, một nghệ thuật nhằm đạt được những điều khoản kinh doanh, thoả mãn giữa hai bên. 5. Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác Quan hệ công chúng là những quan hệ với quần chúng nhằm tuyên truyền tin tức tới các giới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước như: Nói chuyện, tuyên truyền, quan hệ với cộng đồng, đóng góp từ thiện… Các hoạt động khuếch trương khác có thể có như: Hoạt động tài trợ, hoạt động họp báo, tạp chí của công ty. Công chúng là mọi nhóm người có quan tâm hay ảnh hưởng hiện tại hay tiềm ẩn đến khả năng thành công của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các mục tiêu của mình. Công chúng là một lực lượng có thể thúc đẩy hoặc cũng có thể là một lực lượng gây cản trở cho quá trình thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Quan hệ công chúng và các hoạt động khuếch trương khác cũng là một trong những công cụ xúc tiến khá quan trọng trong các doanh nghiệp. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp có khả năng đạt được mục tiêu xúc tiến đề ra. * Tóm lại các nội dung của hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng như nhau. Để hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả, các doanh nghiệp thường sử dụng tổng hợp các nội dung của hoạt động xúc tiến. Tuy nhiên trong từng trường hợp cụ thể, thời gian và không gian cụ thể mà vị trí của các nội dung trên sẽ được các doanh nghiệp sắp xếp khác nhau. Thực tế đã chứng minh rằng, doanh nghiệp nào làm tốt công tác xúc tiến thương mại doanh nghiệp đó có khả năng đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY MAY 10 TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ I. Khái quát một vài nét về Công ty May 10 Được thành lập từ năm 1946 từ một đơn vị nhỏ bé sản xuất đồ quân trang với thiết bị lạc hậu chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, đến nay May 10 không chỉ là đơn vị anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, mà còn trở thành một trong những doanh nghiệp may hàng đầu Việt Nam. Hiện nay May 10 có 14 xí nghiệp thành viên, 9.000 lao động, 4.000 máy móc thiết bị hiện đại ngang tầm quốc tế. Năng lực mỗi năm đạt 18.000.000 sản phẩm, trong đó 80% sản lượng được xuất khẩu đi các nước Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canađa… với những thương hiệu nổi tiếng như: Pierre Cardin, Alain Delon, Seildensticker, Camel, Pharaon Series, Bigman, Cléopetre… Hiện nay May 10 có khoảng 140 đại lý trên cả nước ngoài ra công ty vừa khai trương một số cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại 69 đường Hoàng Quốc Việt và 150 Kim Liên, Hà Nội. Đây là những cửa hàng thứ 25 trong chuỗi các cửa hàng giới thiệu chính thức của may 10 trên toàn quốc. May 10 là một trong những thương hiệu mạnh của ngành May Việt Nam. Sản phẩm của May 10 luôn được người tiêu dùng tin yêu, mến mộ, vì chất lượng sản phẩm cao, kiểu dáng đẹp, hợp thời trang. Do vậy, doanh thu hàng nội địa của Công ty 6 tháng đầu năm 2007 đạt gần 50 tỷ đồng, tăng trên 48% so với cùng kỳ năm 2006. (Theo Công nghiệp) Mục tiêu chung của Công ty May 10 là trở thành Công ty hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng may mặc. May 10 cam kết đáp ứng mọi yêu cầu đã được thoả thuận với khách hàng, coi chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định là yếu tố quyết định để khách hàng đến với Công ty. May 10 thường xuyên đầu tư máy móc thiết bị hiện đại và áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến, hệ thống chất lượng được cải tiến liên tục tạo lòng tin và thoả mãn mong đợi của khách hàng. May 10 đảm bảo mọi cán bộ công nhân viên đều được đào tạo thích hợp để có đủ trình độ và năng lực cần thiết để hoàn thành các công việc được giao. Công ty đảm bảo rằng chính sách chất lượng và các quy trình kiểm soát được phổ biến và thấu hiểu tới mọi thành viên. Mỗi cán bộ công nhân viên đều phải tuân thủ các quy trình, thủ tục, hướng dẫn đã được xây dựng của hệ thống chất lượng. Trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của mỗi vị trí công việc là "trách nhiệm về chất lượng". Các tiêu chuẩn chất lượng mà May 10 đã thực hiện được: Hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ: ISO 9001 - 2000. Hệ thống quản lý môi trường: ISO 14001 - 2003. Hệ thống SA 8000. (Số liệu được lấy tại trang www.may10.com.vn) II.Thực trạng hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của công ty may 10 trên thị trường Mỹ Ở trong nước, có thể nói May 10 là một thương hiệu mạnh hàng đầu trong ngành may mặc nước ta. Sản phẩm May 10 luôn đứng trong top 5 ngành hàng việt nam chất lượng cao. Với một “ hậu phương” vững chắc như vậy May 10 đã phát triển không ngừng và thực hiện những cuộc chinh phục các thị trường khác trên thế giới. Hiện nay sản phẩm May 10 được xuất khẩu sang một số thị trường trọng điểm như: EU, Nhật Bản, Canada, Hong Kong, Hoa Kỳ…Có được sự thành công như hiện tại May 10 đã phải tốn nhiều công sức tiền của trong thời gian trước đó. Có thể nói May 10 là một trong những doanh nghiệp may mặc đầu tiên của Việt Nam đặt chân vào thị trường Mỹ. Nhưng đến nay tỷ lệ phần trăm xuất khẩu của May 10 ra nước ngoài mới chỉ chiếm khoảng 11% thua xa kim ngạch xuất khẩu sang EU, Nhật Bản (theo số liệu từ: www.Vinaseek.com.vn). Một câu hỏi có thể dặt ra là: Tại sao có hiện tượng đó, phải chăng sản phẩm của May 10 kém chất lượng ? Câu trả lời sẽ được sáng tỏ ở các phần sau nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy thị trường Mỹ là thị trường của thương hiệu với sự cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù hiện tại May 10 đã thực hiện các hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của mình trên thị trường Mỹ bằng các hình thức: Quảng cáo, quan hệ công chúng, liên kết thương hiệu, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp…Tuy nhiên một vài hoạt động xúc tiến chưa đạt được hiệu quả như mong muốn hay nói cách khác các hoạt động xúc tiến này chưa tạo ra được sức mạnh tổng hợp để có thể định vị trong tâm trí người tiêu dùng mỹ một thương hiệu May 10. Và có thể nói May 10 cần phải làm tốt các hoạt động xúc tiến hơn nữa để có thể khai thác thị trường mỹ đạt hiệu quả cao hơn. III. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của May 10 trên thị trường mỹ Từ sau khi BTA được ký kết và việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO việc May 10 phát triển kinh doanh trên thị trường mỹ có nhiều thuận lợi hơn nhưng bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn. 1. Những thuận lợi và cơ hội 1.1 Những thuận lợi và cơ hội đến từ việc chính thức gia nhập WTO Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh của hàng hoá của các doanh nghiệp nước ta với hàng hoá của các daonh nghiệp đến từ các quốc gia khác trong WTO. Đó thực sự là một thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó nó còn đem lại cho chúng ta một số ưu đãi khi xuất nhập khẩu hàng hoá. Chính điều đó tạo ra động lực để May 10 có thể tập chung vào các hoạt động xúc tiến của mình để phát triển thương hiệu May 10 và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ. 1.2. Công nghệ hỗ trợ hoạt động Marketing ngày càng được đổi mới Có thể nói không chỉ ở thị trường trong nước mà trên các thị trường nước ngoài cũng luôn được May 10 chú trọng trong việc khẳng định tên tuổi của mình. Công nghệ hỗ trợ hoạt động xúc tiến trong Marketing có thể được hiểu là các hoạt động liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin được sử dụng nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Nó được xem như một vũ khí quan trong trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Với May 10 công nghệ hỗ trợ xúc tiến có thể lấy ví dụ như: Thiết kế trang Web . www.may10.com.vn ở đó có lịch sử hình thành và phát triển của May 10 hơn nửa thế kỷ qua; các loại sản phẩm mới; định hướng chiến lược kinh doanh của công ty…Bên cạnh đó còn có việc sử dụng dịch vụ đặt hàng qua mạng và thanh toán bằng thư tín dụng … Cũng đều được May 10 nghiên cứu ứng dụng và đổi mới nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc mua bán, xuất nhập khẩu hàng hoá với bạn hàng quốc tế. 1.3.Hoạt động xúc tiến trong Marketing luôn được May 10 đầu tư đúng đắn Có thể nói hoạt động xúc tiến nói riêng và hoạt động Marketing nói chung luôn được May 10 chú trọng đầu tư và phát triển: - Quảng cáo: Hiểu rõ được tầm quan trọng của quảng cáo trong tiêu thụ sản phẩm May 10 đã đầu tư cho hoạt động quảng cáo từ rất sớm. Từ những năm 1999 trên truyền hình đã xuất hiện các chương trình quảng cáo về các sản phẩm của May 10. Đó thực sự là một chiến lược quan trọng giúp cho hình ảnh của May 10 in đậm trong tâm trí của người tiêu dùng. Đến nay với quan điểm: “Đẳng cấp của May 10 luôn được khẳng định”. Ban lãnh đạo công ty luôn có quyết sách đúng đắn để thực hiện chiến lược ấy. - Quan hệ công chúng: Chúng ta đều biết nước mỹ với 50 bang, hơn 280 triệu dân, ngoài luật của các tiểu bang còn có luật của liên bang, đa số dân số mỹ là người nhập cư từ khắp nơi trên thế giới, họ có phong tục tập quán khác nhau thói quen và phong cách thời trang khác nhau điều đó cho thấy vai trò của quan hệ với công chúng. Và May 10 đã luôn chú trọng tới điều đó. - Khuyến mãi: Đây luôn là một cách thức để May 10 thể hiện quan điểm “ khách hàng là bạn hàng”. - Tham gia hội chợ triển lãm: Ngoài việc đầu tư đúng đắn cho quảng cáo và khuyến mãi, công ty còn tích cực tham gia các hội chợ triển lãm để giới thiệu các hình ảnh và các sản phẩm của công ty đến người tiêu dùng mỹ. Đó thực sự là những cơ hội để công ty học hỏi, tiếp xúc với bạn hàng và đặt quan hệ làm ăn. - Bán hàng trực tiếp: Hiện nay trên thị trường mỹ May 10 đã phát triển thương hiệu của mình bằng cách thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với các tên tuổi nổi tiếng tại các thị trường trọng điểm. Đây là hướng đi đúng đắn vì phương thức này cho công ty thấy được khả năng cạnh tranh thực sự của sản phẩm của công ty. Các đối tác chiến lược của May 10 trên thị trường Mỹ là: Philip Van Heusen Perry Ellis Portfolio Town Carft Gap Old Navy Tommy Hifiger Arizona Geoferey Beene DKNY Arrow Security Foxeroft Lis Claiborn N.Y Lerner Express Geogeo St.John Bay Structure Security Berona Duck Head Bill Blass Staff ford (Số liệu được lấy từ www.may10.com.vn) 1.4.Hàng hoá của May 10 được nâng cao cả về chất lượng và mẫu mã thích hợp với người tiêu dùng mỹ Sản phẩm của May 10 chủ yếu là quần áo nam giới( chiếm 88%) còn lại là quần áo nữ giới và một số trang phục cho các ngành trong nền kinh tế . Ở trong nước sản phẩm của May 10 đã quá quen thuộc với người tiêu dùng. Còn trên thị trường mỹ những sản phẩm của May 10 được biết đến như: PharaonEX, Cleonpatres…Và mới đây là một vài mẫu thiết kế mới dành cho dân teen trong và ngoài nước. Đó thực sự là những nỗ lực đáng ghi nhận của May 10. 1.5 Nhà nước luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển Từ sau khi nước ta ra nhập WTO các doanh nghiệp của việt nam đã có những điều chỉnh hợp lý trong chiến lược kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, chú ý vấn đề xây dựng thương hiệu…Qua đó các doanh nghiệp có sự cạnh tranh tốt hơn và có thể phát triển được. Có được điều đó ngoài sự tự nhận thức của các daonh nghiệp, nhà nước luôn giúp các doanh nghiệp định hướng trong sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó còn có những chính sách hỗ trợ kịp thời, đầu tư đúng đắn. Ở nước ta dệt may là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực bên cạnh thuỷ sản, giầy da. Vấn đề sự quan tâm của nhà nước càng cần thiết hơn nhằm giúp các doanh nghiệp có được môi trương cạnh tranh công bằng và không phải chịu những thiệt thòi khi làm ăn với bạn hàng quốc tế. 2.Những khó khăn và thách thức Bên cạnh những thuận lợi như trên May 10 cũng gặp phải nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi phải có những phương cách khắc phục để nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến hơn nữa. 2.1. Thị trường Mỹ rất “sang trọng” và “ khó tính” mức thu nhập bình quân của người dân mỹ khoảng 30.000(USD/năm) do đó yêu cầu về chất lượng sản phẩm là rất cao. Điều đó đặt ra cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và May 10 nói riêng những thách thức mà nêu như không khắc phục được thì đừng nói đến việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển thương hiệu mà ngay việc xâm nhập vào biên giới cứng cũng là điều không tưởng. 2.2. Sản phẩm của May 10 phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm dệt may của các quốc gia khác trên thị trường mỹ Thị trường mỹ có mặt đầy đủ các thương hiệu nổi tiếng khắp thế giới trong mọi lĩnh vực và dệt may cũng không phải là một ngoại lệ . Ngoài các thương hiệu nổi tiếng như: Levis, Dollce&Gabbana, P&G, Nike…Còn có sự góp mặt của hàng dệt may Trung Quốc. 2.3. Vấn đề liên quan đến mẫu mã, chất lượng sản phẩm Đây thực sự là vấn đề đáng quan tâm bởi chúng ta đều biết hàng may mặc là mặt hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi. Đó là một thách thức đối với các công ty dệt may bởi nếu không nắm bắt được xu thế thời trang của thị trường thì sản phẩm của công ty ấy sẽ không có được sức cạnh tranh tốt. Với thị trường mỹ tốc độ thay đổi mẫu mã và xu hường thời trang luôn biến động. Do đó các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ như May 10 phải đối mặt với vấn đề tăng chi phí trong khâu thiết kế sản phẩm mới và tăng chi phí trong hoạt động xúc tiến. 2.4. Sự am hiểu của May 10 về thị trường mỹ còn có nhiều hạn chế Đây là vấn đề dễ hiểu bởi lẽ ngay cả thị trường nội địa nhiều công ty dệt may có khi cũng không thể nắm bắt và dự đoán được nhu cầu của thị trường. Sự am hiểu một thị trường như thị trường Mỹ còn khó hơn nhiều bởi lẽ các sản phẩm dệt may ở thị trường Mỹ thay đổi nhanh và phức tạp hơn nữa còn do khoảng cách về địa lý và sự khác biệt về văn hoá cũng như phong cách ăn mặc. * Tóm lại những thuận lợi, cơ hội cũng như khó khăn, thách thức trên đây là tình hình chung của các doanh nghiệp dệt may của việt nam. Chúng ta hãy cùng hy vọng may 10 có thể tận dụng tốt những thuận lợi, cơ hội cũng như có thể khác phục được những khó khăn và thách thức để có thể nâng cao được hiệu quả của hoạt động xúc tiến, tăng mức tiêu thụ sản phẩm và phát triển thương hiệu May 10 trong thời gian tới. IV. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến trong chiến lược Marketing của May 10 trên thị trường Mỹ 1. Điều ra nghiên cứu kỹ hơn thị trường Mỹ Đây là bước quan trọng đầu tiên bởi lẽ khi đã nghiên cứu kỹ thị trường Mỹ, Công ty mới nắm bắt được nhu cầu, sở thích, xu hướng… của người tiêu dùng Mỹ qua đó đề ra được các nội dung xúc tiến phù hợp để nâng cao kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và phát triển thương hiệu May 10 trong tâm trí người tiêu dùng Mỹ. Bên cạnh đó nghiên cứu kỹ thị trường Mỹ còn là nghiên cứu luật pháp và các quy định liên quan đến hàng dệt may giúp Công ty làm ăn có hiệu quả tránh những rủi ro không đáng có. 2. Xây dựng, liên kết với một số thương hiệu để thiết lập chỗ đứng ban dầu và phát triển dần trong tương lai. Công việc này đã được May 10 thực hiện trong một vài năm qua, ở đây chỉ đề cập đến vấn đề Công ty cần lựa chọn đối tác chiến lược kỹ càng hơn vì chỉ khi đó việc liên kết hợp tác mới có hiệu quả nếu không Công ty sẽ chịu thiệt thòi vì sức cạnh tranh của sản phẩm của chính Công ty sẽ yếu. 3. Nâng cao chất lượng và đổi mới mẫu mã sản phẩm Đây là một chính sách quan trọng bởi vì khi chất lượng sản phẩm được nâng cao và mẫu mã được đổi mới ngoài mục đích làm cho sản phẩm phù hợp với thị hiếu, yêu cầu của người tiêu dùng Mỹ qua đó khối lượng được tiêu thụ tăng lên nó còn giúp cho công ty nâng cao sức cạnh tranh và phát triển thương hiệu May 10 trên thị trường Mỹ. Để đổi mới mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm Công ty cần đầu tư thích hợp hơn nữa công nghệ sản xuất sản phẩm; đội ngũ thiết kế của phòng Marketing bởi lẽ đây chính là linh hồn của những sản phẩm mới hợp thời trang và thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ. 4. Nâng cao hiệu lực quản lý Đây là vấn đề chung đối với tất cả các doanh nghiệp của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới chứ không riêng gì May 10. Làm được điều này một mặt giúp công ty có được hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh; mặt khác còn giúp công ty giảm các chi phí trong lĩnh vực thuê nhân sự quản lý. 5. Tận dụng lợi thế của đất nước ta - Một thành viên chính thức của WTO Mặc dù việc đất nước ta gia nhập WTO cuối năm 2006 đem đến cho May 10 cũng như các doanh nghiệp cả cơ hội và nguy cơ thuận lợi và khó khăn. Tuy nhiên chúng ta phải nhìn nhận đó là xu hướng tất yếu của thế giới và chúng ta ra nhập WTO là một bước đi đúng đắn trong chiến lược phát triển đất nước trong tương lai. Do đó các doanh nghiệp như May10 cần tận dụng những cơ hội, bên cạnh đó sử dụng những ưu thế của mình để khắc phục các khó khăn nguy cơ và thách thức để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất, kinh doanh trên thị trường Mỹ. * Đây là một số giải pháp giúp May 10 có thể đạt được hiệu quả cao trong hoạt động xúc tiến thương mại và marketing khi công ty làm ăn trên thị trường Mỹ. KẾT LUẬN Xúc tiến là một công cụ quan trọng trong chiến lược Marketing của các Công ty. Để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm và phát triển thương hiệu, hoạt động xúc tiến cần phải được xem xét và có chiến lược thực hiện đúng đắn. Bên cạnh đó, các công ty cũng cần hoạt động xúc tiến với các hoạt động chuyên môn khác để tạo ra được hiệu quả tổng hợp trong cạnh tranh qua đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. May 10 là một trong những doanh nghiệp dệt may điển hình ở Việt Nam đã có những bước đi đúng đắn trong chiến lược Marketing để quảng bá sản phẩm và phát triển thương hiệu thông qua các hoạt động xúc tiến trên thị trường Mỹ. Chúng ta cùng chúc cho May 10 sẽ đạt được những thành công hơn nữa trên thị trường Mỹ, để công ty có thể phát triển sang thị trường tiềm năng khác. Bài viết của em xin dừng lại ở đây. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và sự giúp đỡ của thầy để em có thể hoàn thiện tốt hơn đề án của mình. Em xin chân thành cảm ơn! DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Kinh tế thương mại, chủ biên GS.Hoàng Đức Thông và GS.TS. Đặng Đình Đào 2. Giáo trình Marketing thương mại, chủ biên PGS.TS. Nguyễn Xuân Quang 3. Tạp chí Công nghiệp 4. Các trang web: www.may10.com.vn www.vinaseek.com.vn www.vinatex.com.vn www.gso.gov.com.vn MỤC LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………….28

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxHoạt động xúc tiến trong chiến lược Markeing của Công ty May 10 trên thị trường Mỹ.docx
Luận văn liên quan