Đề tài Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Phần I. Một số vấn đề lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước Chương I.Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành I. Cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế 2. Vai trò của cơ cấu kinh tế 3. Các loại cơ cấu kinh tế và đặc điểm của nó II. Cơ cấu ngành kinh tế 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành 2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành III. Các lý thuyết về sự phát triển 1. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành (mô hình cân đối liên ngành) 2. Mô hình cực tăng trưởng (mô hình phát triển cơ cấu ngành không cân đối) 3. Lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay” 4. Mô hình của W.Rostow IV. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong thời kỳ CNH ở một số nước trên thế giới 1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 2. Indonexia 3. Trung Quốc Chương II. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nước ta thời kỳ 1996 – 2000 I. Những kết quả đạt được và tồn tại cần khắc phục 1. Thành tựu đạt được trong thời kỳ 1996 – 2000 2. Những tồn tại cần khắc phục Chương III. Một số giải pháp chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005 I. Mục tiêu của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 - 2005 1. Mục tiêu tổng quát 2. Mục tiêu cụ thể II. Quan điểm phát triển III. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005 1. Phương hướng chuyển dịch 2. Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kỳ 2001 – 2005 2.1. Đổi mới cơ cấu chính sách đầu tư 2.2. Hoàn thiện một số chính sách tài chính tiền tệ, khắc phục quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2.4. Cần rà xét để điều chỉnh, hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch và chiến lược phát triển ngành 2.5. Xác định, tập trung sức phát triển các ngành mũi nhọn, các ngành trọng điểm, các ngành cần ưu tiên 2.6. Tập trung nghiên cứu thị trường để xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý 2.7. Áp dụng chính sách bảo hộ hợp lý, giúp đỡ, thúc đẩy các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh 2.8. Trên cơ sở phát triển nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài KẾT LUẬN

doc33 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 18/05/2013 | Lượt xem: 1482 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước cũng như từng ngành và từng địa phương. b. Khai thác và phát huy tốt nhất, đạt hiệu quả sử dụng cao nhất những nguồn lực trong nước và quốc tế để thực hiện xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, nhằm đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đa dạng đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất, văn hoá không ngừng tăng lên của người lao động và của toàn xã hội. c. Tạo điều kiện thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan của nền kinh tế trong mối quan hệ sản xuất phù hợp. d. Thúc đẩy qúa trình phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng, bảo đảm và tăng cường sức mạnh quỗc phòng, giữ vững thành quả của công cuộc xây dựng đất nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân nhanh chóng hoà nhập vào thị trường thế giới. 3. Các loại cơ cấu kinh tế và đặc điểm của nó. a. Cơ cấu ngành kinh tế: Là tổng thể các ngành hợp thành nền kinh tế quốc dân và mối quan hệ tỷ lệ về chất lượng và số lượng giữa các ngành đó với nhau trong quá trình tạo nên tổng thể nền kinh tế. Là bộ phận cơ bản nhất của cơ cấu kinh tế, là cốt lõi của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược đề ra. Cơ cấu ngành được xác định trong 5 năm ( 2001 - 2005) tới: Nông - Lâm - Ngư nghiệp : 20 -21%. Công nghiệp và xây dựng: 38 - 39%. Dịch vụ: 40 - 41% Nền kinh tế được chia thành 3 ngành lớn , trong đó lại phân chia thành các ngành nhỏ khác: ngành cấp 2, ngành cấp 3, ngành cấp 4 . Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế. Sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển. b. Cơ cấu lãnh thổ kinh tế. Cơ cấu lãnh thổ kinh tế được hình thành từ việc bố trí sản xuất theo không gian lãnh thổ. Trước đây cơ cấu lãnh thổ kinh tế được hình thành theo quá trình phát triển của lợi thế tự nhiên, mang tính tự cung, tự cấp, dựa trên cơ sở lao động thủ công, năng suất thấp. Ngày nay do tác động của đầu tư và phân bố lao động, cơ cấu vùng đã có sự thay đổi lớn, xoá đi nhiều tính chất tự nhiên. Tuy vậy cơ cấu vùng vẫn manh mún đặc biệt là kinh tế miền núi vẫn mang đặc trưng kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp. Cơ cấu kinh tế của các vùng chưa tạo thế phát triển trong vùng và mở rộng mối liên hệ liên vùng để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước, trình độ chuyên môn hoá các ngành cũng như các vùng còn thấp, ở các thành phố và khu công nghiệp thì kết cấu hạ tầng chưa hoàn chỉnh và yếu kém. Hiện nay nước ta có 5 vùng rõ dệt: Vùng Trung Du miền núi Bắc Bộ; vùng Đồng Bằng Sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Nam Trung Bộ; Nam Bộ (bao gồm Đông và tây Nam Bộ). Mỗi vùng đều có thế mạnh riêng đều cần có phương hướng phát triển riêng để phát huy thế mạnh, vừa hỗ trợ cho các vùng khác nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế cả nước phát triển nhanh và có hiệu quả. c. Cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ sở của nó là chế độ sở hữu trong nền kinh tế hình thành lên. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ kinh tế. Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nhằm giải quyết mọi năng lực sản xuất. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN sẽ được tiếp tục mở rộng mạnh mẽ trong thời gian tới và tồn tại lâu dài dựa trên 3 loại hình sở hữu cơ bản (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân) sẽ hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức kinh doanh đa dạng: kinh tế quốc doanh với 100% vốn Nhà nước hoặc hình thức doanh nghiệp cổ phần trong đó vốn Nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế; Kinh tế tập thể, hình thức phổ biến là hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện vốn, góp sức của những lao động. Kinh tế cá thể; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế gia đình. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có thể liên kết thành các liên hiệp hoặc các tập đoàn kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi. Trong các loại cơ cấu thì ba loại trên là quan trọng nhất. Trong đó chúng có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời. Trong ba loại cơ cấu trên thì cơ cấu ngành kinh tế là quan trọng nhất, cơ bản nhất, mang đặc trưng cơ cấu kinh tế dễ nhận thấy nhất. II. CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ. 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành. Là tổng thể các ngành hợp thành nền kinh tế quốc dân và mối quan hệ tỷ lệ về chất lượng và số lượng giữa các ngành đó với nhau trong quá trình tạo nên tổng thể nền kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quyết định trong cơ cấu kinh tế vì nó được phát triển theo quan hệ cung cầu thị trường, theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế nó đảm bảo sản xuất theo nhu cầu thị trường. 2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Do sức ép của nhu cầu thị trường và yêu cầu phát triển đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu ngành, gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành. Như vậy có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu ngành là sự thay đổi một cách có mục tiêu, số lượng các ngành kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các ngành đó với nhau trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ( cao hơn về chất) hợp lý hơn và có hiệu quả hơn. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là cải tạo cái cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ câu mới tiên tiến hơn, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ, nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Và cơ sở của nó là cơ cấu hiện có và sự biến đổi cả về lượng và về chất trong nội bộ cơ cấu. Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu quan trọng đối với nước ta. Bởi cơ cấu kinh tế là vấn đề có tính chiến lược, là định hướng để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay của nền kinh tế nước ta, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang và sẽ gặp phải không ít những trở ngại. Từ những sai lầm thiết sót trong sự phát triển kinh tế trước đây, chúng ta đã phấn đấu dành được những thành công bước đầu trong thời gian gần đây, do đường lối đổi mới của đại hội Đảng VI chỉ ra, bắt đầu từ việc đổi mới cơ cấu kin tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển kinh tế của mỗi nước không chỉ bó hẹp trong phạm vi và tiềm lực của nước mình mà phải thực hiện chính sách mở cửa, tranh thủ nguồn vốn đầu tư và kinh tế hiện đại của nước ngoài, có thể tiếp thu và chọn lọc kinh nghiệm quản lý của thế giới, tận dụng lợi thế của nước "đi sau". Vấn đề khó khăn gặp phải là rất lớn khi thực hiện một quá trình chuyển đổi như vậy. Yêu cầu đặt ra là một cơ cấu kinh tế hợp lý để sử dụng được nguồn tài nguyên và nhận lực với hiệu quả cao. Tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển nhanh, đảm bảo nhu cầu đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân và đến năm 2010 đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là bước quan trọng trong việc thực hiện chiến lược 10 năm 2001 - 2010. Trong đó đã chỉ ra phải chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH. Những thành công sau 15 năm đổi mới và triển vọng phát triển trong những năm tới hết sức lạc quan. Những bài học đổi mới do các đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu lên đó là những kinh nghiệm quý báu đến nay vẫn còn giá trị lớn, đã khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn và bản lĩnh của Đảng. III. CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN. 1. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành (mô hình cân đối liên ngành). Theo mô hình này thì tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiết với nhau trong chu trình "đầu ra" của ngành này là "đâu vào" của ngành kia. Theo họ sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cần bằng cung- cầu trong sản xuất. - Sự phát triển cân đối giữa các ngành như vậy còn giúip tránh được sự ảnh hưởng tiêu cực biến động của thị trường thế giới và hạn chế sự phụ thuộc vào nền kinh tế khác. Tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiết hụt. - Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối như vậy chính là nền tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước thuộc thế giới thứ ba chống lại chủ nghĩa thực dân. Tuy nhiên, lý thuyết trên cũng có những yếu điểm, đặc biệt là thực hiện theo mô hình này sẽ đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài. Khả năng về nhân tài vật lực để có thể thực hiện những mục tiêu cơ cấu ban đầu đặt ra với các nền kinh tế chậm phát triển là không đủ khả năng. Cả hai vấn đề trên làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH gặp khó khăn, bởi lẽ nó làm phân tán nguồn lực phát triển rất có hạn của quốc gia. 2. Mô hình cực tăng trưởng (mô hình phát triển cơ cấu ngành không cân đối ) Theo mô hình này thì không thể và không nhất thiết phải đảm bảo tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia. Do : - Việc phát triển cơ câu không cân đôí gây lên áp lực tạo ra sự kích thích đầu tư. Trong mối tương quan giữa các ngành nếu cung bằng cầu thì sẽ triệt tiêu động lực khuyến khích đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất. - Trong mỗi giai đoạn của thời kỳ CNH, vai trò của các "cực tăng trưởng" của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau. Nên tập trung những nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong một thời điểm nhất định. - Do trong thời đầu tiến hành CNH, các nước đang phát triển rất thiếu vốn, lao động có kỹ thuật, công nghệ và thị trường nên không đủ điều kiện để cùng một lúc phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại. Vì vậy, phát triển một cơ cấu không cân đối là sự lựa chọn bắt buộc. Đây là mô hình ngày càng được thừa nhận rộng dãi, vì nó phù hợp với xu hướng phát triển chung mà một số nước đã đi trước đã thành công và phát triển nhanh chóng thần kỳ: điển hình là các nước NICs Đông Á. 3. Lý thuyết phát triển theo mô hình "đàn nhạn bay". Theo mô hình này, xét trên toàn bộ nền công nghiệp, từng phân ngành hay thậm trí từng loại sản phẩm riêng biệt quá trình "đuổi kịp" về mặt kinh tế - kỹ thuật của chúng của các nước kém phát triển đối với các nước tiên tiến nhất được chia thành bốn giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn phân liệt hay phân công lao động quốc tế xảy ra ngay trong lòng các nước kém phát triển - chuyên sản xuất một số loại sản phẩm thủ công đặc biệt để bán và nhập khẩu hàng tiêu dùng khác từ các nước công nghiệp . Giai đoạn 2: Các nước chập phát triển nhập sản phẩm đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển để tự chế lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng trước đây vẫn phải nhập; phát triển những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu. Giai đoạn 3: Những sản phẩm thay thế nhập khẩu ở giai đoạn 2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu. Những sản phẩm đầu tư trước đây phải nhập giờ đã có thể dần dần thay thế bằng nguồn khai thác và sản xuất trong nước. Như vậy đã có thể rút ngắn được khoảng cách giữa nước đi sau với các nước đi trước. Giai đoạn 4: Có thể xuất khẩu các loại hàng hoá đầu tư vốn đã bắt đầu phát triển ở giai đoạn 3. Về mặt kỹ thuật, nền công nghiêp đã đạt mức ngang bằng với các nước công nghiệp phát triển và chuyển giao một số ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng sang các nước kém phát triển. 4. Mô hình của W. Rostow. Theo mô hình này quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng theo 5 giai đoạn tuần tự như sau: - Giai đoạn xã hội truyền thống: đặc trưng là kinh tế nông nghiệp. - Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Kinh tế vẫn nặng về sản xuất nông nghiệp tuy vậy tỷ trọng của công nghiệp đã tăng lên. Với cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. - Giai đoạn cất cánh : nền kinh tế tỷ trọng cao về công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Với cơ cấu : công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. - Giai đoạn chín muồi: Với cơ cấu : công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp - Giai đoạn tiêu dùng hàng hoá: Với cơ cấu : dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Mô hình này được tiếp cận từ góc độ khái quát lịch sử của nhiều nước lên trong vấn đề chuyển dịch cơ câu trong quá trình CNH của những nước đang phát triển hiện nay là rất có ý nghĩa. Một cách tổng quát, mỗi mô hình trên đều có những mặt mạnh không thể phủ nhận, song lại tỏ ra không thể áp dụng được đối với mọi quốc gia và mọi thời kỳ. Tuy vậy, các lý thuyết đã cung cấp cho chúng ta cách xác định các tiền đề cần thiết của quá trình CNH; chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu là mục tiêu quan trọng trong sự phát triển mặt khác nó cũng cho biết nguyên nhân của tình trạng không bắt nhịp được vào quá trình CNH đã xảy ra ở một số nước trên thế giới trong đó lý thuyết phát triển khẳng định rằng có nguyên nhân thuộc về cơ cấu. Tuy vậy khi xem xét chúng nhất thiết phải đứng trong logic của mỗi loại lý thuyết mà không được bỏ qua đối tượng và phương pháp tiếp cận. IV. KINH NGHIỆM CHUYÊN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TRONG THỜI KỲ CNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. 1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc. Vào những năm 60s Hàn Quốc đã quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế CNH - HĐH theo hướng xuất khẩu. Chính phủ Hàn Quỗc đã quyết định đầu tư vào các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến ( đã đạt được tốc độ phát triển là trên 20% /năm); công nghiệp điện tử... đồng thời cải tạo công nghệ ở những ngành công nghiệp truyền thống như: Dệt, may mặc.v.v.. để nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó sản lượng được nâng cao không ngừng chất lượng đạt tiêu chuẩn thị trường thế giới. Tổng sản phẩm xã hội trong thời kỳ những năm 60s và thập kỷ 70s đã tăng bình quân 10% /năm . Tổng kim ngạch tăng nhanh. Giá trị xuất khẩu tăng từ mức 100 triệu USD đầu những năm 60s lên hơn 10 tỷ USD sau năm 1977, ngành dịch vụ với tốc độ phát triển bình quân cả thời kỳ dài là 14,1%. Cơ cấu ngành đã thay đổi cơ bản , trong đó vai trò của các ngành công nghiệp đã tăng lên đáng kể Năm Khu vực 1956 1961 1966 1971 I 44,2 43,8 37,9 24,2 II 12.8 14.9 19.8 29.9 III 40,0 41,3 42,3 45,9 Cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm xã hội (%). 2. Indonexia. Vào những năm 60s quá trình thay đổi cơ cấu và công nghệ của Indonexia diễn ra hết sức nhanh chóng. Giai đoạn 1975 - 1980 tập trung vào phát triển công nghiệp, sau những năm 80s là giai đoạn bùng nổ về xuất khẩu cụ thể là: xuất khẩu hàng chế biến tăng tỷ trọng từ 23% (năm 1980) lên 47,5% (1992). Với tổng kim ngạch đạt 16,1 tỷ USD , tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 20 - 30%, là những thành công đã đạt được. Thay đổi cơ cấu công nghiệp của Inđônêxia 1975 - 1991 Năm Chế biến thực phẩm Giầy may Gỗ giấy Công nghiệp nặng Kim khí 1975 41,2 18,2 7,4 20,3 12,8 1980 31,7 14,1 20,2 24,1 20 1985 26 13,3 12,8 26,3 21,6 1991 25,2 15,5 17,7 20,9 20,7 Từ năm 1988 - 1992 các ngành chế biến đã tăng lên từ 38% - 62%. Các ngành sử dụng nhiều vốn đã trở nên kém quan trọng chỉ chiếm khoảng 10 - 13%; công nghiệp nhẹ có bước tăng trưởng khá, tuy nhiên những ngành công nghiệp truyền thống lại giảm sút về tỷ trọng. - Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện rõ trong sự thay đổi chính sách kinh tế của Inđonêxia trong từng thời kỳ. 3. Trung Quốc. - Giữa những năm 70 những cuộc cải cách đã đem lại những thành tựu to lớn: thu nhập quốc dân, sản lượng nông nghiệp, công nghiệp đã tăng trên 10% trong những năm 80. - Những cuộc cải cách đã làm đa dạng hoá các mặt hàng công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng sẵn có. - Đội ngũ lãnh đạo đã đổi mới trong phương thức quản lý tạo ra một hệ thống hàng hoá xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường. - Kế hoạch 10 năm và 5 năm, năm 1975 Trung Quốc đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế mới để đưa đất nước lên vị trí hàng đâù về kinh tế năm 2000 là tăng nhanh sản lượng trong nông nghiệp, công nghiệp ,khoa học kỹ thuật và quốc phòng. Thực hiện chương trình "4 hiện đại hoá". Với tiền đề cơ bản của chính sách kinh tế là lợi ích của người tiêu dùng, năng suất kinh tế và sự ổn định về chính trị là không thể tách rời, một loạt các nhà máy hoàn chỉnh được nhập từ phương tây. - Mục tiêu tăng thu nhập, tăng tiêu dùng cá nhân áp dụng những hệ thống sản xuất khuyến khích và quản lý mới, khuyến khích cạnh tranh trên thị trường; giảm thuế đối với các xí nghiệp ngoài quốc doanh, thúc đẩy giao dịch trực tiếp giữa các doanh nghiệp Trung Quốc và nước ngoài. Từ kinh nghiệm các nước trên cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung về cơ cấu ngành nói riêng không chỉ là kết quả của sự phát triển cạnh tranh trên thị trường, những ngành có hiệu quả cao sẽ phát triển ngày càng mạnh và những ngành kém hiệu quả sẽ ngày càng lại thu hẹp lại. Sự phát triển của thị trường, khoa học công nghệ là khâu quyết định tạo ra sự tăng trưởng kinh tế từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành. Sự phát triển của các nước nói chung gắn liền với sự thay đổi vị trí giữa công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ qua các thời kỳ theo xu hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP. Đều trải qua các giai đoạn khởi đầu, giai đoạn hoàn thành công nghiệp và giai đoạn hậu công nghiệp; sự phát triển theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ hướng nội, thay thế nhập khẩu sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu; từ phát triển không đồng đều sang phát triển đồng đều giữa các vùng về kinh tế - xã hội, thực hiện sự công bằng, giảm bớt sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ NƯỚC TA THỜI KỲ 1996 - 2000. I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ TỒN TẠI CẦN KHẮC PHỤC 1. Thành tựu đạt được trong thời kỳ 1996 - 2000. Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đề xướng và lãnh đạo đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, đặc biệt từ năm 1990 và 1995 thời kỳ phát triển toàn diện và tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Tốc độ tăng GDP bình quân 1 năm của thời kỳ ‘96 - 2000 là 7% so với 3,9% thời kỳ 1986 - 1990 và 8,2% thời kỳ 1991 - 1995. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ trên 2 chữ số: bình quân thời kỳ 1991 - 1995 tăng 13,7% thời kỳ 1996 - 2000 tăng trên 13,2%. Sản lượng dầu thô tăng 16 triệu tấn vào năm 2000 so với 40 (ngàn tấn) vào năm 1986 giá trị xuất khẩu 3,58 tỷ USD. Trong sản xuất công nghiệp đã xuất hiện xu hướng đa ngành và đa sản phẩm, đa thành phần, trong đó công nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Năm 1990 - 1995 nhiều sản phẩm công nghiệp phục vụ sản xuất và tiêu dùng phải nhập khẩu như: sắt thép, xi măng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, bột giặt, đường, sữa, bia...thì nay sản xuất trong nước không những đáp ứng được nhu cầu trong nước, cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, mà bước đầu tham gia xuất khẩu. Nhiều sản phẩm mới, chất lượng cao được bổ sung vào thị trường, thay thế cho hàng nhập khẩu như: Ôtô, xe máy, tủ lạnh, máy giặt, máy văn phòng, mạch in điện tử, thiết bị truyền thông, sản phẩm ngành tin học... thị trường xuất khẩu được củng cố không chỉ trong khu vực nào đã vươn tới các thị trường "khó tính" như Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ, Bắc Mỹ... Bên cạnh sự phát triển của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp cũng phát triển toàn diện cả về trồng trọt chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản. Trong đó thành tựu nổi bật nhất là đã giải quyết vững chắc an toàn lương thực quốc gia, xây dựng nước ta từ một nước thiếu lương thực trước năm 1989 thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới năm 2000, năm 1995 là 1,98(triệu tấn) năm 1996 là 3 triệu tấn; 1997 là 3,6 triệu tấn; 1998: 3,7 triệu tấn; 1999: 4,6 triệu tấn. Sản lượng cà phê xuất khẩu năm 2000 đứng thứ hai thế giới đã xuất khẩu sang thị trường 30 nước và vùng lãnh thổ. Chăn nuôi phát triển nahnh và toàn diện theo hướng hàng hoá. Có thể nói ở nước ta một nền nông nghiệp gắn với xuất khẩu đã thực sự hình thành. Hoạt động thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc, thị trường đầy ắp hàng hoá và dịch vụ, giá cả ổn định, chất lượng ngày càng cao, phương thức mua bán thuận tiện. Hoạt động xuất nhập khẩu sôi động, kim ngạch xuất - nhập khẩu bình quân thời kỳ 1996 - 2000 đạt 5.646 triệu USD riêng năm 2000 đạt 14 tỷ USD. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 150 nước và vùng lãnh thổ. Tốc độ tăng trưởng TSP trong nước 3 năm 1998 - 2000 1998 1999 ước tính 2000 Tổng số 5,8 4,8 6,7 - Nông lâm nghiệp thủy sản 3,5 5,2 4,0 - Công nghiệp & XD 8,3 7,7 10,1 - Dịch vụ 5,1 2,3 5,6 Rõ ràng những thành tựu đã đạt được trong 5 năm qua là hết sức to lớn, cơ bản và đáng tự hào và tự hào nhất vẫn là biến nước ta từ chỗ thiếu lương thực và thực phẩm triền miên, thành nước xuất khẩu gạo và cà phê đứng thứ 2 thế giới và những thành tựu đó là tiền đề quan trọng để đất nước ta bước vào giai đoạn tiếp theo là đẩy mạnh CNH - HĐH trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21. 2. Những tồn tại cần khắc phục. Ngoài những tiến bộ và kết quả đạt được chung và trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng thì trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn một số tồn tại và yếu kém cần phải khắc phục . - Sự bất cập về trình độ của lực lượng lao động xã hội so với yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế "Trong lĩnh vực nguồn lực, yếu tố vốn quá được chú trọng đôi khi đến mức lạm dụng, trong khi lao động, vốn được coi là quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội lại chưa được coi trọng đúng mức". - Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn manh mún, tự phát, thiếu chính sách ổn định lâu dài. - Thiếu các mặt hàng, các ngành kinh tế mũi nhọn. Đó là những yếu kém, tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà chúng ta phải có các biện pháp khắc phục hữu hiệu nếu không thì chúng sẽ là những lực cản rất lớn cho sự phát triển của nước ta trong giai đoạn tiếp theo. Trên đây là những thành tựu đạt được trong những năm đổi mới và đặc biệt là trong thời kỳ 1996 - 2000 trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng là rất lớn, rất cơ bản nó sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Tuy nhiên những yếu kém và tồn tại cũng cần phải khắc phục bằng các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt những lực cản của nó trong thời kỳ tới. CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN VIỆC CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2001 - 2005. I. MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2001 - 2005. 1. Mục tiêu tổng quát. Mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH - HĐH. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng kinh tế đối ngoại. Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm, cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. 2. Mục tiêu cụ thể. Từ mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 nêu trên được cụ thể hoá thành các mục tiêu cụ thể của vấn đề chuyển dịch cơ cấu nói chung và cơ cấu ngành nói riêng, là: a. Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn 5 năm trước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo. b. Phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo: củng cố kinh tế tập thể; hình thành 1 bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. c. Tăng nhanh vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả và sức cạnh tranh. Hoàn chỉnh một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng. Đầu tư thích đáng cho các vùng kinh tế trọng điểm; hỗ trợ đầu tư nhiều hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn. * Các chỉ tiêu kinh tế cụ thể. - Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 2001 - 2005 là 7,5% + Nông lâm ngư nghiệp tăng : 4,3% + Công nghiệp và xây dựng tăng : 10,8%. + Dịch vụ tăng : 6,2% - Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp : 4,8%/năm - Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng: 13%/năm. - Giá trị dịch vụ tăng: 7,5%/năm - Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP đến năm 2005 dự kiến: + Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp : 20 - 21% + Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng khoảng : 38 - 39%. + Tỷ trọng các ngành dịch vụ : 41 - 42%. II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 được xây dựng dựa trên các quan điểm sau: 1. Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế và đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. 2. Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết. 3. Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải pháp và phát huy mọi nguồn lực. 4. Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 5. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh. III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2001 - 2005. 1. Phương hướng chuyển dịch. - Đổi với mỗi quốc gia khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đều phải xác định cho mình một cơ cấu kinh tế hợp lý để xây dựng. Đối với nước ta, mục tiêu của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế là thoát khỏi tình trạng cơ cấu với tỷ trọng nghiêng về nông nghiệp trong GDP, để tạo ra cơ sở vững chắc để tăng trưởng nhanh và bền vững. Mục tiêu định lượng cơ cấu lại nền kinh tế xét theo tỷ trọng nhóm ngành lớn, về cơ bản cũng phải đạt được cơ cấu tương tự như cơ cấu của các nước công nghiệp phát triển (tỷ trọng nông nghiệp khoảng 10%; công nghiệp 40 - 45%; Dịch vụ: 45 - 50%). Cơ cấu ngành kinh tế có vị trí cốt lõi trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia. Về định hướng khi xây dựng cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta hiện nay cần chú trọng mấy vấn đề sau: + Phát triển toàn song có trọng điểm: nhằm khai thác có hiệu quả các điều kiện và nguồn lực của đất nước; định hướng thị trường, hướng dẫn nhu cầu phát triển lành mạnh và thiết thực. Tuy vậy phải xác định đúng và tập trung sức phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn để tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế, tạo xương sống của nền kinh tế trong một thời kỳ phát triển dài và là yếu tố cơ bản bảo đảm sự bền vững của quá trình phát triển nền kinh tế. + Phát triển các ngành thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu sử dụng nhiều lao động trong giai đoạn đầu tiên của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. - Mục tiêu đến 2005, tỷ trọng của các ngành trong GDP là: + Nông - lâm - ngư nghiệp: 20 - 28% + Công nghiệp và xây dựng: 38 - 39% + Dịch vụ : 41 - 42% - Ngành nông nghiệp (bao gồm: nông nghiệp - lâm nghiệp và thủy sản) Hiện nay cơ cấu trong nội tại ngành nông nghiệp vẫn chưa hợp lý nặng về nông nghiệp: 83,2%; trong khi đó thủy sản 10,5%, lâm nghiệp 6,3% trong tổng sản lượng của 3 ngành. Nhà nước hiện nay khá quan tâm tới việc đầu tư phát triển lâm nghiệp, thủy sản: Để tạo điều kiện cho ngành lâm nghiệp đi vào thế ổn định và trở thành ngành kinh tế quan trọng. Thúc đẩy thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực. Vì lẽ đó tới 2005 phấn đấu nâng tỷ trọng nông lâm nghiệp lên 20% và nâng thủy sản lên 30% trong tổng giá trị 3 ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. - Ngành công nghiệp. Từ thực trạng của nền kinh tế cho thấy sản xuất công nghiệp nước ta, đáp ứng được phần lớn các nhu cầu về tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng trong nước, nhiều loại sản phẩm có chất lượng tốt được xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới với số lượng ngày càng tăng. Tuy vậy cơ cấu sản xuất trong công nghiệp nước ta vẫn chưa hợp lý. Ta có thể thấy qua số liệu sau: TT Ngành Giá trị tổng sản lượng (tỉ đồng) % 1 Toàn vùng 26584 100 2 Năng lượng 5950 22,4 3 Luyện kim 583 2,2 4 Cơ khí 1554 5,8 5 Điện tử 532 2,0 6 Hoá chất 2291 8,6 7 Vật liệu xây dựng 2279 8,5 8 Chế biến nông - lâm - thủy sản 9059 34,0 9 Dệt may 2360 8,8 + Ngành điện tử: là ngành công nghiệp mới của nước ta, đây cũng là ngành sản xuất nước ta có xu thế, cần phải tập trung để đầu tư cho ngành công nghiệp này thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. + Công nghiệp may mặc thu hút và giải quyêté được rất nhiều chỗ làm việc và tạo ra khối lượng sản phẩm phục vụ sản xuất rất lớn là một ngành mà chúng ta có ưu thế về lực lượng lao động, về sự khéo léo, cần phải tập trung đầu tư thực sự để khai thác lợi thế này. + Ngành cơ khí: sản phẩm cơ khí của chúng ta tạo ra chưa nhiều nhưng đây lại là ngành sản xuất, sản phẩm có vai trò quan trọng trong tiến trình CNH - HĐH đất nước; Nhà nước cần đầu tư để phát huy và khai thác lợi thế này, nâng lên tầm vị trí thực sự cần thiết của nó để giải quyết nhu cầu về sản phẩm cơ khí trong quá trình CNH - HĐH và trong xu thế hội nhập quốc tế. - Ngành dịch vụ. Cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước, ngành dịch vụ có sự vận động và thay đổi nhanh chóng, đáp ứng kịp thời những yêu cầu và đòi hỏi của nhu cầu của thị trường trong nước, có thể nói là nhanh và theo kịp trình độ của một số nước trong khu vực trong một số ngành như: Bưu chính viễn thông, hàng không... Tuy vậy, khách quan để đánh giá khu vực dịch vụ còn rất nhiều yếu kém. Đó là yếu tố cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng của các dịch vụ nhìn chung còn rất kém, giá cả lại cao. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là đổi mới toàn diện các hoạt động dịch vụ là một đòi hỏi bức xúc hiện nay và chỉ có như vậy chúng ta mới nâng cao hơn chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện tốt hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào hướng đổi mới của ngành dịch vụ, trong tiến trình hội nhập và thực hiện đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước là: + Đầu tư để mở rộng một số lĩnh vực cơ bản như giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính - tín dụng, bảo hiểm, cung cấp nước sạch, thông tin liên lạc, dịch vụ thương mại... + Xây dựng và thực hiện các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các hoạt động dịch vụ. + Cần có chính sách giá cả các hoạt động dịch vụ hợp lý. + Xây dựng luật và các văn bản thực thi về các hoạt động dịch vụ, cơ chế chính sách chống độc quyền cơ chế thanh tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động dịch vụ. 2. Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kỳ 2001 - 2005. 2.1. Đổi mới cơ cấu chính sách đầu tư - Tạo nguồn vốn đầu tư cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có biện pháp tiếp tục đa dạng hoá chủ thể đâù tư và nguồn vốn đầu tư. Đối với trong nước chúng ta có thể thực hiện ở cả 3 khối. + Khối doanh nghiệp: hoạt động theo luật công ty, luật doanh nghiệp luật doanh nghiệp tư nhân, luật hợp tác xã. + Khối các tổ chức phi doanh nghiệp có vốn đầu tư như: các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội, các tổ chức chính trị xã hội. + Khối cá nhân, nhóm kinh doanh hoạt động theo nghị định 66/HĐBT ngày 3 - 2 - 1992 của HĐBT (nay là chính phủ) và cư dân nói chung. Trong 3 khối này khối thứ ba cần được đặc biệt khuyến khích. Đối với vốn đầu tư nước ngoài, cần chú trọng khai thác vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ chính thức (ODA). Đặc biệt là ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp ở nước ta hiện nay, cần chú trọng các nguồn vốn để tăng khối lượng vốn phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. + Nguồn ngân sách + Nguồn vốn tự có. + Nguồn vốn tự có + Nguồn huy động trong các tầng lớp dân cư + Thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thị trường vốn dài hạn, đó là bước quan trọng để hình thành đồng bộ thị trường tài chính ở nước ta. + Phát triển các hoạt động hợp tác quốc tế, liên doanh và liên kết kinh tế để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài vào phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đa dạng hoá các hình thức liên kết kinh tế để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư và hợp tác quốc tế. + Thực hiện mạnh chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần nghị định số 44 - 1998/NĐ - CP ngày 29 - 6 - 1998 để thu hút thêm vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển, vừa thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nước ta. Trên tinh thần chung trong huy động vốn phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế là: Tranh thủ mọi nguồn vốn có thể khai thác, đa dạng hoá hình thức huy động, coi trọng khai thác các nguồn "nội lực" và dùng nội lực để lôi kéo thu hút "ngoại lực" vào phục vụ chuyển dịch cơ cấu. - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư bằng cách điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư. + Tập trung vốn đầu tư phát triển các ngành then chốt, ngành mũi nhọn vùng kinh tế trọng điểm... Khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, phân tán, kém hiệu quả; góp phần thúc đẩy việc hình thành các ngành, các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu của nước ta. + Chuyển đầu tư từ chiều rộng sang đầu tư theo chiều sâu và có trọng điểm. + Chú trọng thoả đáng việc đầu tư vào các ngành then chốt, mũi nhọn các ngành kết cấu hạ tầng...để tạo đà phát triển ở các các giai đoạn sau. Đồng thời chú trọng đầu tư phát triển các ngành nghề, sản phẩm truyền thống, độc đáo... có vai trò quan trọng trong cơ cấu hàng công nghiệp xuất khẩu độc đáo ở nước ta. - Tăng cường quản lý kiểm tra kiểm soát của nhà nước với quá trình huy động và quản lý sử dụng vốn đầu tư trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bằng cách: tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư, xác định và điều chỉnh cơ cấu đầu tư, thẩm định cấp độ công nghệ, quy mô dự án phương án đối tác... 2.2. Hoàn thiện một số chính sách tài chính tiền tệ, khắc phục quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Chính sách thuế + Giảm thuế từ khu vực doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích lũy tái đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, để nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; Dùng thuế như một công cụ để khuyến khích phát triển và tăng khả năng hội nhập. + Miễn, giảm thuế hợp lý đối với hoạt động xuất nhập khẩu nguyên liệu, vật tư... + Dùng thuế để khuyến khích phát triển các sản phẩm mới, các ngành nghề mới, các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, phù hợp với xu thế tiến bộ khoa học kỹ thuật... - Chính sách tín dụng: Vấn đề quan trọng trong chính sách tín dụng có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phải xác định được vốn đầu tư trên cơ sở nguồn vốn huy động và phương thức thực hiện đầu tư có hiệu quả. Cần tập trung vốn vào các hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trọng tâm (hướng cần ưu tiên các ngành trọng điểm, mũi nhọn...) Để làm được điều đó cần có: + Lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực điều tiết của ngân hàng nhà nước nhằm tạo ra sự ổn định tiền tệ thu hút vốn nhàn rỗi trong xã hội, phục vụ trong phát triển sản xuất, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. + Cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động ngân hàng nhằm tạo thuận lợi cho người đi vay và ngân hàng cũng thực sự tham gia kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay. 2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực phải gắn bó hữu cơ gắn bó hữu cơ và phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động hợp lý là cơ sở, điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý và đảm bảo tăng nhanh. - Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực vừa bảo đảm yêu cầu phát triển các ngành, các lĩnh vực (cơ cấu ngành nghề), yêu cầu lao động kỹ thuật (cơ cấu trình độ), tạo điều kiện phân bố và sử dụng lao động hợp lý. - Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực phải nhằm nâng cao chất lượng lao động, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh... do đó nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. 2.4. Cần ra xét để điều chỉnh, hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch và chiến lược phát triển ngành. - Quán triệt tư tưởng, quan điểm định hướng và mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 và căn cứ vào kết quả thực hiện kế hoạch 1996 - 2000, vào các kết quả và phân tích dự báo, thực hiện điều chỉnh mục tiêu đặc biệt là mục tiêu phát triển của từng ngành kinh tế đó cần chú trọng tới tăng giá trị tuyệt đối trong GDP. - Chú trọng tới quan hệ theo các ngành kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo quản lý và phát triển theo ngành, cải tiến cơ cấu nội bộ ngành và các quan hệ theo vùng, các thành phần kinh tế để khai thác tiềm năng đảm bảo tốc độ phát triển nhanh và yêu cầu của xu thế hội nhập. Trong đó mục tiêu là phải phục vụ chuyển dịch cả ba loại cơ cấu là cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và thành phần kinh tế. 2.5. Xác định, tập trung sức phát triển các ngành mũi nhọn các ngành trọng điểm, các ngành cần ưu tiên. + Xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển ngành phù hợp với yêu cầu của một ngành trọng điểm và mũi nhọn. Đối với những ngành đã có chiến lược, cần soát lại, xét lại cho phù hợp với yêu cầu phát triển. + Nghiên cứu thị trường và có chính sách thị trường thích hợp với từng ngành trọng điểm và ngành mũi nhọn. + Tập trung nguồn lực xứng đáng để phát triển các ngành trọng điểm, ngành mũi nhọn. Bao gồm vốn đầu tư, lao động có chất lượng cao, đầu tư phát triển công nghệ kỹ thuật... + Hoàn thiện các chính sách để thực hiện ưu tiên phát triển các ngành trọng điểm, ngành mũi nhọn. Các chính sách cần tập trung vào quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH và thúc đẩy tiến trình hội nhập có kết quả. + Có chính sách thu hồi vốn và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển các ngành kinh tế trọng điểm và mũi nhọn của nước ta. 2.6. Tập trung nghiên cứu thị trường để xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý. Xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý (cơ cấu ngành kinh tế hợp lý) theo hướng khai thác lợi thế đất nước phù hợp với tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập một cách có hiệu quả, thì cần thực hiện một số biện pháp sau: - Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến tinh trong tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu, giảm mạnh xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế. Thực hiện được bằng cách tạo vốn để đổi mới công nghệ kỹ thuật. - Mở rộng danh mục sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm thủ công truyền thống, sản phẩm độc đáo, các sản phẩm đáp ứng các phân đoạn thị trường thế giới còn bỏ ngỏ. - Mở rộng quan hệ hợp tác gia công cho nước ngoài theo các hướng: + Mở rộng mặt hàng và quy mô theo các hiệp định song phương, đa phương về ưu đãi thương mại. + Mở rộng quan hệ thị trường gia công theo hướng đa phương hoá quan hệ, đối tác hoá và đa dạng hoá hình thức gia công trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. + Nâng cao trình độ gia công, chuẩn bị điều kiện để chuyển sang hình thức mua nguyên liệu, bán sản phẩm hay mua đứt bán đoạn. - Có các chính sách và giải pháp khuyến khích khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường sản xuất sản phẩm phục vụ xuất khẩu. * Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho xuất khẩu, tích cực chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. - Các doanh nghiệp có đăng ký thuộc các thành phần kinh tế, chủ yếu là các đơn vị sản xuất được trực tiếp xuất khẩu hoặc tham gia các hiệp hội xuất khẩu theo những điều kiện được pháp luật quy định. Quy định rõ mặt hàng cấm xuất khẩu, hạn chế cho xuất khẩu, những mặt hàng còn lại được xuất khẩu dễ dàng với thủ tục đơn giản. Thu hẹp diện mặt hàng quy định hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, thay thế bằng chính sách thuế, áp dụng chính sách đấu thầu công khai đối với mặt hàng chưa bỏ được hạn ngạch. Ban hành quy chế thành lập về hoạt động của các quỹ hỗ trợ xuất khẩu từ nguồn ngân sách và nguồn đóng góp của các doanh nghiệp trước hết là ở các ngành hàng có kim ngạch lớn. Rút kinh nghiệm bài học thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đang diễn ra ở một số nước để đề ra chính sách phù hợp theo hướng có lợi cho xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại... phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các khu chế xuất, khu công nghiệp, nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện. - Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Tiến hành thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA. Giữ vững và mở rộng thị trường đã tạo lập được trong khu vực và các nước thuộc liên minh Châu Âu, khôi phục thị trường Nga và các nước Đông Âu, phát triển các quan hệ thương mại chính ngạch với Trung Quốc, tăng cường quan hệ buôn bán, hợp tác với Ấn độ, mở rộng thị trường Mỹ, đẩy mạnh việc tìm thị trường mới ở Trung Cận Đông, Châu Phi, Mỹ la tinh. Chú trọng đa phương hoá quan hệ thương mại, giảm sự tập trung vào một vài đối tác và việc mua bán qua thị trường trung gian. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, trung ương, tỉnh và thành phố, các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường xuất khẩu, đàm phán và ký kết các thoả hiệp song phương và đa phương. Tăng cường vai trò và trách nhiệm của cơ quan ngoại giao trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. - Hình thành hệ thống thông tin thương mại quốc gia, thành lập trung tâm xúc tiến thương mại. - Phát triển các hiệp hội ngân hàng, liên kết chặt chẽ nhau giữa sản xuất nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu, ban hành quy chế cho các doanh nghiệp lập cơ quan đại diện, chi nhánh ở nước ngoài. - Nghiên cứu việc sử dụng các tổ chức dịch vụ và tổ chức môi giới quốc tế. Khuyến khích các cá nhân và tổ chức có khả năng và điều kiện ở trong nước, cũng như người Việt Nam ở nước ngoài, tham gia tích cực vào việc tìm hiểu tiếp cận và thâm nhập thị trường thế giới. 2.7. Áp dụng chính sách bảo hộ hợp lý, giúp đỡ, thúc đẩy các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Nhà nước đảm nhiệm việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật bên ngoài doanh nghiệp, phát triển thị trường vốn, đào tạo nguồn nhân lực giúp đỡ về nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, về tiếp thông tin thị trường v.v... Dành ưu tiên về đất, vốn, thuế, lao động được đào tạo... Cho việc đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu và cho việc đổi mới thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp. Phát triển sự hợp tác của các cơ quan và cán bộ khoa học với các doanh nghiệp, kể cả với các nhà khoa học và kinh doanh người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp tục điều chỉnh chính sách bảo hộ có hợp lý theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện và có thời hạn, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Lộ trình giảm thuế nhập khẩu và giảm dần các hàng rào phi quan thuế được công bố rõ ràng để từng doanh nghiệp có kế hoạch phấn đấu cụ thể. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, phát huy vai trò của nhân dân, để tiến hành có hiệu quả những biện pháp chống luôn lậu trên các tuyến đường biên giới, vùng biển trên thị trường nội địa. Ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi buôn lậu, gian lận thương mại hoặc tiếp tay, bao che cho bọn buôn lậu. Tập trung triệt phá các đường dây buôn lậu móc nối giữa gian thương và các cơ quan tổ chức Nhà nước. 2.8. Trên cơ sở phát triển nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài. Mở rộng nhiều hình thức thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Có bước đi và biện pháp cụ thể, thận trọng trong việc mở cửa thị trường vốn. Áp dụng từng bước có mức độ phải được quản lý và giám sát chặt chẽ các hình thức đầu tư gián tiếp (nước ngoài góp cổ phần, mua cổ phần của các cơ sở trong nước). Khuyến khích mạnh mẽ đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu vào công nghệ cao, công nghệ cơ khí và điện tử, những ngành ta có thế mạnh và nguyên liệu, lao động ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm năng lớn về tài chính và nắm công nghệ nguồn: chú ý cả các dự án lớn, dự án vừa và nhỏ nhưng công nghệ hiện đại. Từng bước tạo mặt bằng pháp lý và áp dụng thống nhất chính sách thuế, các loại giá cả dịch vụ đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Bổ sung các chính sách ưu đãi thiết thực, có sức hẫp dẫn cao, nhất là đối với những vùng và ngành cần ưu tiên. Có chính sách ưu đãi đặc biệt. Thu hút vào các vùng sâu, vùng xa. Quản lý và việc thực hiện các dự án đã được cấp giấy phép. Và các cơ sở đã được đưa vào thực hiện theo hướng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vừa đảm bảo chấp hành tốt pháp luật Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 -Sách * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới (PGS - TS Lê Du Phong và PGS.TS Nguyễn Thành Độ) * Văn kiện đại hội Đảng lần thứ 8, hội nghị 4. * Nền kinh tế thích nghi Tollick. * Kinh tế học và tổ chức phát triển nền kinh tế quốc dân Việt Nam. * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH nền kinh tế quốc dân. GS. TS Ngô Đình Giao. * Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 . * Liên giám thống kê 99 * Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc IX 2. Tạp chí. * Đầu tư ngày : 19/6/2000 * Kinh tế và dự báo, số tháng 2 năm 1999, 11/1998; 9/2000; 10+ 11 - 2001 *- Thương mại ngày : 13/1996; 23,1997. * Phát triển kinh tế : 57/95;27/ 98; 87 / 98, S115/2000, S114 /2000 Thương mại : 23 /97 * Nghiên cứu kinh tế : 2 / 98; 12/98; 7/2000 * Quản lý Nhà nước 6/98 * Tạp chí ngân hàng : 3/98 * Con số và sự kiện số số : 1 +2 /2001 * Kinh tế và phát triển tháng : 11/2001 Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ THỜI KỲ 2001 – 2005 Ở VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 Phần I. Một số vấn đề lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước 2 Chương I.Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 2 I. Cơ cấu kinh tế 2 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế 2 2. Vai trò của cơ cấu kinh tế 2 3. Các loại cơ cấu kinh tế và đặc điểm của nó 3 II. Cơ cấu ngành kinh tế 5 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành 5 2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 5 III. Các lý thuyết về sự phát triển 6 1. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành (mô hình cân đối liên ngành) 6 2. Mô hình cực tăng trưởng (mô hình phát triển cơ cấu ngành không cân đối) 7 3. Lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay” 8 4. Mô hình của W.Rostow 8 IV. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong thời kỳ CNH ở một số nước trên thế giới 9 1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 9 2. Indonexia 10 3. Trung Quốc 10 Chương II. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nước ta thời kỳ 1996 – 2000 12 I. Những kết quả đạt được và tồn tại cần khắc phục 12 1. Thành tựu đạt được trong thời kỳ 1996 – 2000 12 2. Những tồn tại cần khắc phục 13 Chương III. Một số giải pháp chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005 15 I. Mục tiêu của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 - 2005 1. Mục tiêu tổng quát 15 2. Mục tiêu cụ thể 15 II. Quan điểm phát triển 16 III. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 – 2005 17 1. Phương hướng chuyển dịch 17 2. Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kỳ 2001 – 2005 20 2.1. Đổi mới cơ cấu chính sách đầu tư 20 2.2. Hoàn thiện một số chính sách tài chính tiền tệ, khắc phục quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 21 2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 22 2.4. Cần rà xét để điều chỉnh, hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy hoạch và chiến lược phát triển ngành 23 2.5. Xác định, tập trung sức phát triển các ngành mũi nhọn, các ngành trọng điểm, các ngành cần ưu tiên 23 2.6. Tập trung nghiên cứu thị trường để xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý 23 2.7. Áp dụng chính sách bảo hộ hợp lý, giúp đỡ, thúc đẩy các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh 26 2.8. Trên cơ sở phát triển nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài 26 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO KẾT LUẬN Trong những năm gần đây đã diễn ra những biến động sâu sắc trong sự phát triển của thế giới và dự kiến còn nhiều biến động sâu sắc hơn nữa trong tương lai. Việt Nam đang tiến hành đổi mới với một điều kiện thuận lợi là nằm trong khu vực phát triển năng động nhất của thế giới, khu vực Châu á - Thái bình dương. Ở khu vực này không chỉ có lịch sử phát triển nhanh mà còn chứa đựng tiềm năng tăng trưởng nhanh trong vài thập niên tới. Là khu vực đang có tiềm năng lớn về vốn và công nghệ, do đó nếu biết nắm bắt thời cơ này thì Việt Nam có thể phát triển nhanh. Trái lại, nếu không khôn khéo vượt qua thách thức thì sẽ bị cạnh tranh làm kìm hãm bước tiến của dân tộc. Việt Nam cần lựa chọn mô hình nào? Hàn Quốc? Trung Quốc? Đài Loan? Thái Lan?... hay loại mô hình nào khác.... Các mô hình trên đều hay vì tự nó đã khẳng định được vị thế cao trong quá trình phát triển. Nhưng chúng ta không thể lựa chọn mô hình theo cách sao chép. Mô hình Việt Nam phải là mô hình riêng, nguyên mẫu Việt Nam, vừa học hỏi được những kinh nghiệm quốc tế, vừa phát huy được truyền thống dân tộc và những lợi thế so sánh của đất nước, phù hợp với đặc điểm của thời đại. Vì lý do trên nên đề tài “Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện” góp phần vào định hướng chung trong quá trình phát triển ở mức độ nào đó, với những ưu và nhược điểm như nội dung của đề tài đã được em phân tích. Qua quá trình phân tích em cũng thấy rằng ở Việt Nam chúng ta không những vấn đề “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang là yêu cầu quan trọng đối với nước ta” mà bên cạnh những gì đã đạt được và chưa đạt được còn cần phải có: Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao đủ sức đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần phong phú, đa dạng của nhân dân các dân tộc các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam; phát triển đất nước theo cơ chế mở – mở cả trong và ngoài, đảm bảo vừa giữ được bản sắc dân tộc vừa có được sự hoà nhập với các nước. Cuối cùng là hài hoà với mức phát triển kinh tế nhân dân có cuộc sống văn hoá tinh thần và phát triển cao, có sự bình đẳng trong cơ hội phát triển và không chênh lệch quá mức trong đời sống giữa các tầng lớp nhân dân, các dân tộc và các vùng lãnh thổ của đất nước. Đó là những điều cuối cùng của đề án mà chúng ta phải nhất quán thực hiện. Trên đây là sự phân tích đề tài của em; Do trình độ kinh nghiệm và hạn chế nhiều mặt nhất là tài liệu và thời gian, chắc chắn sẽ còn thiếu sót nhiều mặt, em mong được sự chỉ bảo hơn nữa của cô giáo. Em xin chân thành cám ơn cô Vũ Thị Ngọc Quỳnh người đã hướng dẫn tận tình khi em làm đề tài này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện.doc
Luận văn liên quan