Đề tài Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ I.1. Lý do chọn đề tài Để đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng tăng cũng như để đáp ứng sự phát triển sản xuất của doanh nghiệp mình, một trong những biện pháp được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm hiện nay là công tác kế toán nói chung cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất(CPSX) và tính giá thành sản phẩm nói riêng. Trong đó, hạch toán CPSX và tính giá thành được coi là một khâu trung gian của công tác kế toán mở ra hướng đi đúng đắn cho các doanh nghiệp. Thực chất CPSX là đầu vào của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm CPSX là hạ giá thành sản phẩm, đồng thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản xuất sao cho nó được xã hội chấp nhận và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm và giá thành sản phẩm chính là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, thông tin về CPSX và giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà quản lý trong vệc ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh(SXKD) của công ty. Xuất phát từ vấn đề đó mức tính giá thành sản phẩm đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ CPSX bỏ ra theo đúng chế độ của Nhà nước. Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bên cạnh những mặt thuận lợi cũng không ít những mặt khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đảm bảo ưu thế cạnh tranh thu lợi nhuận cao thì bên cạnh việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, hợp với thị hiếu người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ phù hợp với sức mua của đa số nhân dân. Hạ giá thành sản phẩm đã trở thành nhân tố quyết định sự tồn vong của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong ngành xây dựng cơ bản (XDCB) hạ giá thành sản phẩm đã được đặt ra như một yêu cầu bức thiết, khách quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân cùng hạ giá thành sản phẩm. Bởi vậy, XDCB nhằm trang bị tài sản cố định(TSCĐ) cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân khác góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây dựng nói riêng và với mong muốn có thể áp dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu thực tế, bổ sung, nâng cao kiến thức, tôi quyết định chọn đề tài: ”Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế“ để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp I.2. Nội dung nghiên cứu Chuyên đề gồm 3 phần: Phần I: Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này được thiết kế thành 3 chương: Chương 1: Tổng quan về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế. Chương 3: Một số giải pháp cải thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị

doc73 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/04/2013 | Lượt xem: 2489 | Lượt tải: 18download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bảng thanh toán lương 2) Bảng chấm công 1) Hợp đồng làm khoán Tổ trưởng Giám đốc XN Kế toán XN Cán bộ kỹ thuật b) Tài khoản sử dụng Để hạch toán chi phí NCTT thì công ty sử dụng tài khoản 622. Tài khoản này chỉ dùng để hạch toán tiền lương và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ liên quan đến công nhân trực tiếp xây dựng trong biên chế, không phản ánh các chi phí liên quan đến công nhân lái máy và bộ phận gián tiếp. Ở công ty, TK 334 (Lương phải trả) được mở 2 tiểu khoản: TK 3341(Lương phải trả cho công nhân trong biên chế) và TK 3348 (Lương phải trả cho công nhân hợp đồng). c) Phương pháp hạch toán Ở xí nghiệp ĐB có hai bộ phận NCTT là: công nhân trong biên chế và công nhân hợp đồng. Xí nghiệp đều áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm cho cả hai bộ phận nhân công này. Chi phí NCTT xây dựng liên quan đến CT nào thì tập hợp trực tiếp cho CT đó. Tuỳ theo yêu cầu tiến độ và khối lượng công việc của từng CT mà xí nghiệp có thể thuê thêm nhân công ngoài khi đã được phép của Phòng kế hoạch - Kỹ thuật và Ban Giám đốc công ty. Khi cần thuê thêm nhân công đơn vị viết Tờ trình xin thuê nhân công ngoài. Tiền lương công nhân hợp đồng cũng được trả giống như công nhân biên chế và cũng được hưởng các chế độ như đối với công nhân biên chế ngoại trừ các khoản trích theo lương. Kế toán cũng dựa vào Bảng chấm công để lập Bảng lương cho công nhân thuê ngoài vào cuối tháng. Sau khi nhận khoán CT từ Công ty, Giám đốc xí nghiệp giao từng phần việc cho từng tổ căn cứ khối lượng công việc và kế hoạch thi công, Xí nghiệp làm “ Bản khoán nhân công”với các tổ trưởng thi công. Hợp đồng này là căn cứ để XN tổ chức thi công theo kế hoạch về khối lượng, thời gian, chi phí xây dựng. Thi công xong, cán bộ kỹ thuật sẽ tiến hành nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành và lập Biên bản nghiệm thu chất lượng công việc. Trên biên bản này kĩ thuật phải ghi rõ chất lượng công việc đạt yêu cầu và đồng ý cho thanh toán. Sau đó hai bên tiến hành lập Biên bản thanh lý hợp đồng khoán. Đối với lương công nhân trực tiếp thuộc biên chế: Ở xí nghiệp XDCT1, tiền lương công nhân trực tiếp thuộc biên chế được trả theo lương sản phẩm dưới hình thức khoán gọn. Tuy nhiên đơn vị cũng dựa vào định mức dự toán quy ra công để tính lương theo đơn giá ngày công. Tuỳ thuộc vào từng hạng mục công việc, đơn giá được trả từ 70.000 đ/công - 100.000 đ/công, đối với tổ trưởng đơn giá từ 85.000 đ/công - 110.000 đ/công. Dựa vào Bảng chấm công của Tổ trưởng có chữ ký của Cán bộ kỹ thuật phụ trách công trình đó để kế toán đơn vị làm Bảng lương vào cuối tháng và đồng thời lập chứng từ ghi sổ lương công nhân trực tiếp trong biên chế. Khi phòng Kế hoạch - Kỹ thuật về xác nhận khối lượng, xí nghiệp xin vay công ty để trả lương cho cán bộ công nhân viên của xí nghiệp. Để đảm bảo đời sống cho anh em, ở xí nghiệp thường trả lương vào ngày 15 của tháng sau. Việc chi trả lương được kế toán theo dõi ở Bảng kê chi tiền mặt và Chứng từ ghi sổ Chi tiền mặt. Lương công nhân nhận được Đơn giá của một ngày công Số ngày công Ở công trình này NCTT xây dựng đều là nhân viên thuộc biên chế của công ty nên lương nhân công được hạch toán bằng cách căn cứ vào Bảng chấm công, Biên bản thanh toán khối lượng thi công hoàn thành đã nghiệm thu, kế toán tính ra và lập Bảng thanh toán lương cho công nhân trực tiếp sản xuất. Cách tính lương của từng công nhân như sau: Í = VD: Tính ra lương tháng 4 của công nhân Nguyễn Văn Dũng : 28 x 70.000đ = 1.960.000đ Đơn giá của một ngày công của mỗi công nhân phụ thuộc vào năng suất làm việc của mỗi người dựa trên nhận xét của đội trưởng giám sát. Thông thường đơn giá của một ngày công từ khoảng 70.000đ đến 100.000đ. Cuối tháng kế toán dựa trên bảng chấm công và phiếu nhận xét để tính lương và lập bảng thanh toán lương cho mỗi nhân viên. Từ Bảng thanh toán lương của công nhân trực tiếp sản xuất cuối tháng kế toán lập chứng từ ghi sổ như sau: Biểu số 2.4: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a- DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/QD-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ- Huế ngày 20/03/2006 của Bộ Trưởmg CHỨNG TỪ GHI SỔ Số:......... Ngày 30 tháng 04 năm 2009 Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền Nợ Có Nợ Có A B C D E Lương công nhân trực tiếp sản xuất công trình ĐT 4 tháng 4/2009 622 3341 9.004.000 9.004.000 Cộng 9.004.000 Ngày 30 tháng4 năm 2009 Giám đốc XN Kế toán XN (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) Tập hợp vào chi phí NCTT ngoài tiền lương còn có các khoản trích theo lương. Các khoản này hàng tháng kế toán xí nghiệp lập danh sách nộp bảo hiểm 25 % của cán bộ công nhân viên toàn xí nghiệp về Phòng tài vụ. Sau đó công ty sẽ ghi Nợ cho xí nghiệp và trừ vào nghiệm thu của khối lượng công trình. Dựa vào các Danh sách nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cùng Bảng kê chi tiết hạch toán Nợ công ty, kế toán tập hợp 19% chi phí bảo hiểm của công nhân trực tiếp trong biên chế như sau: Nợ TK 622 – chi tiết từng công trình Có TK 336 Trường hợp lĩnh tiền khen thưởng cho công nhân của tổ thì tổ trưởng sẽ viết giấy, Giám đốc XN ký duyệt rồi đến thẳng kế toán đơn vị nhận tiền từ thủ quỹ. Về nghỉ hưởng BHXH, hàng quý đơn vị tập hợp các phiếu nghỉ hưởng BHXH, lập bảng thanh toán trợ cấp BHXH ốm đau, thai sản đem thanh toán với cơ quan BHXH. Sau khi cơ quan BHXH chuyển tiền về mới tiến hành chi trả. Vậy chi phí NCTT công trình Nâng cấp đường tỉnh 4 được tổng hợp qua sơ đồ sau: TK 3341 TK622 TK154 60.322.500 60.322.500 Sơ đồ 2.6: Sơ đồ hạch toán Tài khoản 622 2.2.3.3. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, việc trang bị kỹ thuật, máy móc thiết bị thi công sẽ giảm được lao động trực tiếp, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng công trình. Hiện nay, Công ty xây dựng các công trình theo phương thức hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy. MTC ở Công ty gồm: Máy đầm, máy lu rung, máy ủi, máy san, máy xúc, máy trộn bê tông, xe ôtô vận chuyển ...Với những loại xe, máy cần cho thi công nhưng ở công ty không có hoặc không đủ Công ty sẽ thuê ngoài. Xí nghiệp cơ giới là một trong 8 xí nghiệp trực thuộc công ty có tổ chức kế toán riêng. Do vậy, hầu hết MTC của công ty được giao cho xí nghiệp cơ giới quản lý, sử dụng. Nhiệm vụ của xí nghiệp cơ giới là bảo quản, sử dụng máy phục vụ cho tiến độ thi công toàn công ty. Toàn bộ chi phí sử dụng máy phát sinh như: tiền lương công nhân điều khiển máy, nguyên vật liệu, khấu hao,... do xí nghiệp cơ giới tính. Các xí nghiệp và các đội trực thuộc công ty có nhu cầu sử dụng MTC phải ký hợp đồng thuê máy với xí nghiệp cơ giới và phải thanh toán với xí nghiệp cơ giới về dịch vụ sử dụng máy mà xí nghiệp cơ giới đã cung cấp. Các khoản này sẽ được thanh toán thông qua TK 336 - "Phải trả nội bộ" và TK 136 - "phải thu nội bộ". Đối với xí nghiệp trực thuộc công ty, khi có nhu cầu sử dụng máy thì Giám đốc XN ký hợp đồng với xí nghiệp cơ giới về thuê máy phải trả xí nghiệp cơ giới. Công ty sẽ đứng ra thanh toán. Số tiền mà công ty phải trả cho xí nghiệp cơ giới về sử dụng máy cho các công trình thuộc Xí nghiệp trực thuộc công ty thi công là khoản mục chi phí sử dụng máy. a) Trình tự luân chuyển chứng từ 9) Sổ cái TK623 8) CTGS 7) Bảng kê các khoản Nợ cty 6) Biên bản đối chiếu công nợ 5) Thanh lý hợp đồng 4) Bảng kê phải trả KH 4) Bảng xác nhận khối lượng 3) Bảng tổng hợp CP xe máy v/c nội bộ 2) Nhật trình theo dõi hoạt động 1) Hợp đồng kinh tế Cán bộ kỹ thuật Giám đốc XN Kế toán XN Bộ phận văn phòng Tổ trưởng b) Tài khoản sử dụng Các chi phí sử dụng MTC được kế toán đơn vị tập hợp trên tài khoản 623. Chi phí sử dụng MTC bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất xây dựng như: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương và bảo hiểm của lái máy, chi phí phân bổ khấu hao công cụ dụng cụ, vv c) Phương pháp hạch toán MTC được vận chuyển trực tiếp đến CT để phục vụ trực tiếp cho công tác xây dựng. Hàng tháng căn cứ vào khối lượng thực tế máy làm việc tại hiện trường, phòng kế hoạch tiến hành nghiệm thu phần máy cho xí nghiệp cơ giới, lập bảng doanh thu máy. Máy được tính theo bảng dự toán ca máy. Giá ca máy là mức chi phí cần thiết cho máy và thiết bị thi công làm việc trong ca. Các khoản mục chi phí được tính vào giá ca máy bao gồm: Chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, chi phí nhiên liệu, năng lượng, tiền lương thợ điều khiển máy và chi phí khác của máy. Do đơn vị có tổ chức bộ phận xe máy nên trong quá trình mua vật tư, giá vật tư ghi trên hoá đơn chỉ bao gồm giá mua còn chi phí vận chuyển vật liệu đến chân công trình do bộ phận xe máy đảm nhận. Cuối tháng căn cứ vào khối lượng thực tế xe đã vận chuyển, phòng kế hoạch mới tiến hành nghiệm thu xe theo bảng giá cước vận tải hàng hoá bằng ô tô và lập bảng doanh thu xe. Xe vận chuyển trực tiếp cho công trình nào thì tính trực tiếp cho công trình đó. Căn cứ vào bảng tổng hợp doanh thu xe, máy kế toán công ty thanh toán cho XN cơ giới và ghi: Nợ TK621- Xe, Máy Nợ TK627- Xe, Máy Có TK1368- XN cơ giới Trong chi phí xe, máy Công ty đề ra quy chế chi tiết cho từng khoản mục như sau: Chi phí KHCB 23%, khấu hao sửa chữa lớn 11%, Khấu hao sửa chữa thường xuyên 15%, nhiên liệu 28%, lương lái xe 10%, BHXH 2%, chi phí quản lý 8%, chi phí khác 3% trong tổng doanh thu. Trong đó Công ty giữ lại phần khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, chi phí quản lý và chi phí khác Công ty giữ lại một phần còn lại thanh toán cho xí nghiệp. Trong một tháng, xe, máy của XN có thể phục vụ nhiều công trình. Vì vậy, để hạch toán và xác định chính xác chi phí sử dụng máy cho các đối tượng sử dụng. Công ty sử dụng “Nhật trình theo dõi hoạt động” của máy móc thi công. Sổ nhật trình được công nhân điều khiển máy ghi có sự xác nhận của đội trưởng hoặc tổ trưởng đơn vị thi công nhằm theo dõi hoạt động của máy theo số giờ hoạt động trong tháng phục vụ cho từng đối tượng. Căn cứ vào Nhật trình theo dõi hoạt động của MTC, kế toán XN cơ giới lập phiếu theo dõi hoạt động của xe, máy cho từng công trình đến cuối tháng tập hợp và tính chi phí sử dụng MTC cho từng công trình. Nợ TK154- Xe, Máy Có TK621- Xe, Máy Có TK627- Xe, Máy Và ghi Nợ chi phí máy, xe cho đơn vị thi công: Nợ TK1368- chi tiết cho từng đơn vị Có TK154- Xe, Máy MTC phục vụ cho công trình Nâng cấp sữa chữa Đường Tỉnh 4 vừa được thuê ngoài vừa thuê máy của XN cơ giới. Đối với máy thuê ngoài: Căn cứ vào tiến độ thi công mà xí nghiệp làm hợp đồng thuê MTC. MTC thuê ngoài có thể do bên cho thuê cấp nhiên liệu cho máy hoạt động hoặc xí nghiệp cấp nhiên liệu cho máy sau đó sẽ khấu trừ vào đơn giá ca máy. Xí nghiệp đã Hợp đồng kinh tế thuê máy ủi, máy san, máy lu, cần cẩu, ôtô vận chuyển để phục vụ công trình Nâng cấp đường tỉnh 4 với đơn giá ca máy ủi là 1.363.636 đ/ca, đơn giá máy san là 2.272.727 đ/ca, đơn giá ca máy lu là 1.181.818 đ/ca chưa bao gồm thuế VAT 10%, đơn giá ô tô tưới nước 76.175 đ/ca, ...... Sau đó dựa vào Hoá đơn giá trị gia tăng, hai bên làm Biên bản thanh lý hợp đồng để kết thúc việc thuê máy. Để theo dõi khối lượng xe máy thực hiện, kế toán lên Phiếu xác nhận khối lượng xe máy. Cuối tháng hoặc khi kết thúc công trình, kế toán sẽ căn cứ vào Nhật trình ca máy để hạch toán vào chi phí sử dụng MTC của công trình Nâng cấp đường Tỉnh 4 như sau: Nợ TK 623 14.404.969 Nợ TK 133 1.440.469 Có TK 331 15.845.465 Sau khi vào Bảng kê chi tiết phải trả khách hàng, kế toán dựa vào đó để lên Chứng từ ghi sổ. Biểu số 2.5: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a-DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ -Huế ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng CHỨNG TỪ GHI SỔ Số:......... Ngày 31 tháng 5 năm 2009 Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền Ghi chú Nợ Có A B C 1 D Tập hợp xe máy công trình XN thuê ngoài 133 623 331 1.440.496 14.404.969 Cộng 15.845.465 Ngày 31 tháng 5 năm 2009 Giám đốc XN Kế toán XN (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) Đối với máy thuê của XN cơ giới: Trình tự hạch toán khoản mục chi phí sử dụng MTC của các CT thuộc đội trực thuộc công ty như sau: Hàng ngày, căn cứ vào hợp đồng thuê máy và giấy báo nợ do xí nghiệp cơ giới gửi lên (trong giấy báo nợ ghi rõ số tiền các đội phải trả về thi công và đã tính phân bổ cho từng CT, HMCT) sử dụng máy trực tiếp của công ty thì chịu khấu hao phân bổ. Kế toán đơn vị lập chứng từ ghi sổ đồng thời ghi vào sổ cái tài khoản 623. Vậy chi phí MTC thuê của XN cơ giới phục vụ cho công trình Nâng cấp TL9 là: Nợ TK623 : 3.172.100 Có TK336 : 3.172.100 Biểu số 2.6: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a-DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ -Huế ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC CHỨNG TỪ GHI SỔ Số:......... Ngày 31 tháng 5 năm 2009 Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền Ghi chú Nợ Có A B C 1 D Công ty ghi Nợ xe máy nội bộ phục vụ công trình ĐT 4 623 336 3.172.100 Cộng 3.172.100 Kèm theo: 8 chứng từ gốc Ngày 31 tháng 5 năm 2009 Giám đốc XN Kế toán XN (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) Sau đây là sơ đồ tổng hợp chi phí sử dụng MTC của công trình Nâng cấp Tỉnh lộ 9 TK 331 TK 623 TK154 14.404.969 TK133 17.577.069 1.440.469 TK 336 3.172.100 Sơ đồ 2.7 : Sơ đồ hạch toán Tài khoản 623 2.2.3.4. Hạch toán chi phí chung Bên cạnh các yếu tố cơ bản về nguyên liệu, nhân công... để tiến hành hoạt động sản xuất một cách thuận lợi và đạt hiệu quả cao, trên thực tế phải tiêu hao một số yếu tố chi phí khác như chi phí khấu hao được phân bổ cho các CT, lương và các khoản trích bảo hiểm của bộ phận gián tiếp, khấu hao xe phục vụ văn phòng, khấu hao nhà làm việc và tiền thuê đất của XN, chi dịch vụ điện thoại, chi nghiệm thu CT ...Đó là chi phí SXC. a) Trình tự luân chuyển chứng từ 15) Sổ cái 14) CTGS 13) Bảng phân bổ CCDC 12) PXK 11) Giấy đề nghị cấp CCDC 10) Bảng kê CP DVụ mua ngoài 9) PC 8) Giấy đề nghị thanh toán 7) Bảng kê các khoản Nợ cty 6) Bảng phân bổ khấu hao 5) BBản tính lãi vay 4) Danh sách nộp BHXH.vv. 3) Bảng tổng hợp và phân bổ lương 2) Bảng thanh toán lương 1) Bảngchấm công Bộ phận VPhòng Giám đốc XN Kế toán XN b) Tài khoản sử dụng Công ty sử dụng tài khoản 627 để hạch toán chi phí SXC (chi tiết cho từng CT). c) Phương pháp hạch toán Chi phí SXC được tập hợp theo từng công trình (phát sinh tại công trình nào tập hợp cho công trình đó). Khoản chi phí nào không tính trực tiếp cho CT nào thì phân bổ theo tiêu thức giá thành dự toán khối lượng xây dựng hoàn thành bàn giao trong kỳ: Giá thành dự toán KLXD hoàn thành bàn giao trong kỳ của công trình i Công thức phân bổ như sau: Tổng Cp SXC cần phân bổ Cp SXC phân bổ cho công trình i x = Tổng giá thành dự toán KLXD hoàn thành bàn giao trong kỳ của tất cả các công trình mà XN thi công Ở xí nghiệp XDCT1, chi phí SXC bao gồm: *Chi phí nhân viên quản lý công trình: Chi phí này bao gồm tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của nhân viên quản lý: Giám đốc XN, Kế toán XN, cán bộ Kỹ thuật XN. Lương của bộ phận gián tiếp được tính theo lương thời gian, cách tính đã được trình bày ở phần chi phí NCTT. Kế toán cũng dựa vào Bảng chấm công có chữ ký của Giám đốc do Bộ phận văn phòng chấm công hàng ngày, cuối tháng kế toán tập hợp và căn cứ vào sản lượng trong tháng để làm Bảng lương cho bộ phận gián tiếp. Chi phí lương của bộ phận gián tiếp cũng được kế toán tập hợp ở Bảng phân bổ lương, sau đó lên Chứng từ ghi sổ phân bổ tiền lương vào cuối quý. Biểu số 2.7: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a-DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ -Huế ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC Đơn vị: XN ĐB 105 CHỨNG TỪ GHI SỔ Ngày 31 tháng 5năm 2009 Đơn vị tính :Đồng Trích yếu Tài khoản Số tiền Ghi chú Nợ Có Nợ Có 1. Chi lương nhân viên quản lý 627 3341 9.411.400 9.411.400 Cộng 9.411.400 9.411.400 Kế toán Người lập chứng từ (Ký, họ tên) ( Ký, họ tên) Căn cứ vào bảng thanh toán lương kế toán lập Bảng kê các khoản trích theo lương. Dựa vào bảng kê, cuối tháng kế toán lập chứng từ ghi sổ các khoản trích theo lương. Biểu số 2.8: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a-DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ -Huế ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC Đơn vị: XN XDCT 1 CHỨNG TỪ GHI SỔ Ngày 31 tháng 5 năm 2009 Đơn vị tính :Đồng Trích yếu Tài khoản Số tiền Ghi chú Nợ Có Nợ Có 1. Các khoản trích theo lương tháng 4/2009 627 338 986.800 986.800 Cộng 986.800 986.800 Kế toán Người lập chứng từ (Ký, họ tên) ( Ký, họ tên) Lương và các khoản trích theo lương của bộ phận gián tiếp được phân bổ hết vào công trình Nâng cấp TL9 như sau: + Nợ TK 627 : 9.411.400 Có TK 3341: 9.411.400 + Nợ TK 627: 986.800 Có TK 338: 986.800 *Lãi vay: Chi phí lãi vay của XN được công ty tính lãi suất 0% *Chi phí dịch vụ mua ngoài Chi phí dịch vụ mua ngoài của công ty bao gồm: chi phí điện, nước, điện thoại, chi phí tiếp khách, nghiệm thu sản phẩm....phục vụ cho thi công công trình và cho công tác quản lý xí nghiệp, chi phí phát sinh cho công trình nào thì tập hợp cho công trình đó. Cuối quý kế toán tập hợp các chứng từ gốc lập bảng kê chi phí dịch vụ mua ngoài rồi lên chứng từ ghi sổ. VD: Theo phiếu chi số 74 ngày 25 tháng 4 năm 2009, chi cho Nguyễn Văn Sơn tiền điện thoại theo Hóa đơn GTGT của bưu điện TT Huế, kế toán ghi: Nợ TK627: 829.700 Nợ TK133: 82.970 Có TK 111: 912.670 Từ các chứng từ gốc như Hoá đơn, Giấy thanh toán...kế toán lập Bảng kê chứng từ chi tiền mặt cho tháng 4. Từ Bảng kê tiền mặt kế toán lập Chứng từ ghi sổ Biểu số 2.9: Đơn vị: Xí nghiệp XDCT1 Mẫu số S02a-DN Công ty CP ĐB I TT Huế (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC) Địa chỉ: 19 Nguyễn Huệ -Huế ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTCC CHỨNG TỪ GHI SỔ Ngày 29 tháng 4 năm 2009 Đơn vị tính :Đồng Trích yếu Tài khoản Số tiền Ghi chú Nợ Có Nợ Có Xuất quỹ thanh toán các khoản mua ngoài tháng 04 627 111 1.205.044 1.205.044 Cộng 1.205.044 1.205.044 Kế toán Người lập chứng từ (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) Chi phí dịch vụ mua ngoài XN phân bổ hết cho công trình Nâng cấp Đường tỉnh 4 như sau: Nợ TK627 : 1.205.044 Có TK111: 1.205.044 *Chi phí công cụ dụng cụ: Chi phí CCDC của công ty bao gồm: cuốc, xẻng, dụng cụ bảo hộ lao động ...tất cả đều được kế toán phân bổ một lần vào chi phí sản xuất trong kỳ của CT. Khi có nhu cầu xuất dùng thì cán bộ kỹ thuật viết Giấy đề nghị, kế toán sẽ viết Phiếu xuất và tiến hành xuất kho sau khi được Giám đốc xí nghiệp ký duyệt. Dựa vào PXK, cuối quý kế toán lập bảng kê xuất CCDC và Chứng từ ghi sổ Xuất bảo hộ lao động. Sau đó kế toán tiến hành phân bổ chi phí công cụ ,dụng cụ này cho từng CT, ở CT này kế toán phân bổ hết vào công trình như sau: Nợ TK 627 10.438.857 Có TK 153 10.438.857 *Khấu hao nhà làm việc và tiền thuê đất: 346 - Phan Bội Châu - TP Huế là địa điểm của xí nghiệp XDCT1. TSCĐ của XN được khấu hao trên nguyên tắc dựa trên nguyên giá và tỷ lệ khấu hao mà doanh nghiệp đã đăng ký. Hàng tháng tiền khấu hao nhà làm việc và tiền thuê đất được phân bổ đều cho mỗi CT. Mức trích khấu hao trung bình, áp dụng theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của BTC Mức khấu hao bình quân phải trích trong năm = Nguyên giá TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao Sau đó cuối quý kế toán đơn vị lập bảng tính hao mòn TSCĐ làm căn cứ ghi vào chứng từ ghi sổ. Tiếp theo kế toán phân bổ chi phí khấu hao cho từng CT như sau: Nợ TK627- chi tiết cho từng công trình Có TK214: Tuy nhiên đến thời điểm thi công công trình Nâng cấp Đường Tỉnh 4 các tài sản trên đã khấu hao hết nên công trình không chịu chi phí khấu hao. Chi phí SXC phân bổ cho công trình Nâng cấp Đường Tỉnh 4 Tỉnh lộ được kế toán tập hợp ở sơ đồ sau: TK3341 TK627 TK154 9.411.400 TK 338 986.800 22.042.101 TK 111 1.205.044 TK 153 10.438.857 Sơ đồ 2.8: Sơ đồ hạch toán TK627 2.2.3.5. Hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất + Đối với các khoản chi phí thiệt hại trong sản xuất, theo quy định doanh nghiệp không hạch toán vào giá thành sản phẩm, nếu có phát sinh chi phí này thì chủ nhiệm công trình phải chịu. Trong thực tế, Công ty tiến hành xây dựng trên cơ sở thiết kế và kế hoạch thi công đã được duyệt, có cán bộ kỹ thuật giám sát đến tận công trình xây dựng với từng công việc cụ thể nên trường hợp phá đi làm lại thường không xảy ra. + Đối với khoản thiệt hại ngừng sản xuất, do yếu tố khách quan bên ngoài, chủ yếu là do thiên tai, mưa bãọ.. nhưng tự các tổ sẽ bố trí việc làm khác. Mặt khác, do công ty áp dụng nguyên tắc khoán sản phẩm nên các đội tổ thường tự bố trí thời gian hoàn thành công việc được giaọ. 2.2.3.6. Tổng hợp chi phí sản xuất, đánh giá SPDD cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm a) Tổng hợp chi phí sản xuất Để tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sử dụng tài khoản 154 phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm xây dựng, được mở chi tiết cho từng công trình xây dựng. Cuối mỗi quý, kế toán tập hợp chi phí sản xuất. -Kết chuyển chi phí NVLTT (chi tiết công trình Nâng cấp Đường Tỉnh 4) Nợ TK 154 287.505.809 Có TK 621 287.505.809 -Kết chuyển chi phí NCTT Nợ TK 154 60.322.500 Có TK 622 60.322.500 - Kết chuyển chi phí sử dụng MTC Nợ TK 154 17.577.069 Có TK 623 17.577.069 - Kết chuyển chi phí SXC Nợ TK 154 22.042.101 Có TK 627 22.042.101 - Các trường hợp ghi giảm chi phí hầu như không có vì công ty thực hiện khoán sản phẩm cho XN thi công trình, vật tư do các đội tự thu mua và khoán máy móc cho đội tự quản lý. b) Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ Do đặc điểm chung của ngành XDCB và đặc điểm riêng của Công ty Cổ Phần Đường Bộ I TT Huế nên sản phẩm của Công ty mang tính đơn chiếc, thời gian gian thi công kéo dài. Để thuận lợi cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty áp dụng phương pháp tính giá cho từng HMCT và phương pháp thanh toán với chủ đầu tư là khi khối lượng sản phẩm xây dựng đã hoàn thành toàn bộ. Vì thế giá trị sản phẩm dở dang là tổng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến cuối kỳ đó. Sau khi HMCT đã hoàn thành được bên chủ đầu tư nghiệm thu (đảm bảo về chất lượng và đúng theo thiết kế ban đầu) và chấp nhận thanh toán. Lúc đó các HMCT tiếp theo mới được bên chủ đầu tư chấp nhận cho thi công. c) Tính giá thành sản phẩm Như vậy, CPSX công trình Nâng cấp đường tỉnh 4, có thể tóm tắt qua sơ đồ sau: TK 621 TK 154 TK 632 287.505.809 TK 622 378.447.479 60.322.500 TK 623 17.577.069 TK 627 22.042.101 Sơ đồ 2.9: Sơ đồ tổng hợp CPSX và tính giá thành công trình Nâng cấp Đường Tỉnh 4 (Đoạn Bạch Yến- Bao Vinh) Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp được kế toán theo dõi ở sổ riêng để cuối kỳ kết chuyển sang TK 911- Xác định kết quả kinh doanh để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Đồng thời chi phí quản lý doanh nghiệp cũng được phân bổ cho từng CT hoàn thành theo tiêu thức doanh thu để tính giá thành toàn bộ sản phẩm xây dựng. Việc phân bổ này được thực hiện theo nguyên tắc phù hợp, vì chi phí quản lý này phục vụ cho nhiều công trình nên việc phân bổ đảm bảo chi phí phù hợp với doanh thu của từng CT, từ đó giúp xác định chính xác lãi, lỗ của các công trình, HMCT hoàn thành trong kỳ. Cụ thể, đối với công trình Nâng cấp ĐT 4, chi phí Sản xuất dở dang đầu kỳ là 21.031.531 Giá thành toàn bộ công trình là 387.447.479 đồng. CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG BỘ I TT HUẾ 3.1. Đánh giá chung về công tác kế toán CPSXvà tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Tổ chức tốt công tác kế toán ở doanh nghiệp giúp doanh nghiệp quản lý chặt chẽ nguồn vốn, ngăn ngừa được những hành vi làm tổn hại đến tài sản của doanh nghiệp. Mọi tồn tại và thiếu sót về công tác tổ chức kế toán đều có thể dẫn đến sự trì trệ trong công tác hạch toán kế toán và cung cấp thông tin kinh tế không đầy đủ chính xác, từ đó tạo ra những tiêu cực. Vì vậy, tổ chức một cách khoa học và hợp lý công tác kế toán là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế ở doanh nghiệp. Hiểu được điều đó nên Ban lãnh đạo công ty đã không ngừng hoàn thiện công tác hạch toán kế toán ở công ty để phát huy hơn nữa vai trò kế toán trong công tác quản lý. Với sự phát triển lớn mạnh như hiện nay, công ty đã chứng tỏ là một đơn vị nhạy bén trong kinh doanh nói chung cũng như trong công tác kế toán nói riêng. Tuy nhiên bất kỳ một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường dù phát triển đến mức nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi những sai sót do yếu tố chủ quan và khách quan gây ra. Công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế cũng không ngoại lệ. Công ty đã và đang gặt hái được nhiều thành công cũng như đứng trước những khó khăn cần khắc phục do chính bản thân công ty và môi trường bên ngoài tạo ra. Qua thời gian thực tập, nghiên cứu thực tế ở công ty, tôi đã củng cố thêm được kiến thức đã học ở trường và liên hệ với thực tiễn công tác. Mặc dù thời gian thực tập ngắn ngủi, hiểu biết về thực tế chưa nhiều nhưng với sự nhiệt tình của bản thân và lòng mong muốn góp phần nhỏ bé kiến thức đã học ở trường vào công tác quản lý hạch toán ở công ty, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhận xét và vài kiến nghị về công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây dựng ở Công ty như sau 3.1.1. Ưu điểm Công ty có bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả giúp cho lãnh đạo công ty giám sát thi công, quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức kế toán được khoa học, hợp lý, kịp thời. Phòng kế toán của công ty với những nhân viên kế toán năng động, có trình độ, nhiệt tình và trung thực, lại được bố trí công việc cụ thể đã góp phần đắc lực vào công tác kế toán và quản lý của công ty được Ban Quản trị của công ty đánh giá cao. Công ty đã sử dụng các sổ sách chi tiết và tổng hợp phản ánh được rõ ràng, cụ thể các loại chi phí thực tế phát sinh của từng công trình, hạng mục công trình nhằm so sánh với dự toán từ đó thấy được tăng giảm của các khoản mục giữa dự toán với thực tế, tìm ra nguyên nhân tăng giảm để có biện pháp khắc phục nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Về công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của công ty nhìn chung được thực hiện hợp lý. Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp CPSX của công ty cụ thể là CT, HMCT hoàn thành và thực hiện thường xuyên theo từng quý là rất hợp lý, phù hợp với điều kiện sản xuất thi công của công ty, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo sản xuất, quản lý và phân tích hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Công ty áp dụng hình thức khoán sản phẩm cho các XN thi công nên tiền lương được tính theo giá trị CT hoàn thành trong kỳ. Phương pháp này có tác dụng thúc đẩy sản xuất, nâng cao được tinh thần tự giác của người lao động do đó đẩy nhanh được tiến độ thi công của công trình. - Đối với vật liệu: Bằng hình thức khoán vật liệu cho các XN thi công tự tìm nguồn cung cấp, công ty đã tạo điều kiện thuận lợi cho các XN thi công trong quá trình thực hiện CT được chủ động, không bị phụ thuộc vào công ty. Điều này giúp cho việc thi công được đúng tiến độ, không mất thời gian để chờ xét duyệt cấp nguyên, vật liệu từ cấp trên. Đồng thời việc xoá hình thức xuất vật tư tại kho Công ty đã giảm được chi phí bảo quản vật tư tại kho và giảm được chi phí vận chuyển vật tư từ kho Công ty đến các công trường xây dựng. Mặt khác đơn vị đã áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên, mở sổ ghi chép đầy đủ, việc tổ chức cung cấp vật tư tự mua sắm dựa trên kế hoạch sản xuất của phòng kế hoạch kỹ thuật, không có kế hoạch dự trữ vật tư (dự trữ nhựa đường) mà mua sắm theo từng thời điểm cần dùng trực tiếp, điều này làm cho giá thành công trình phù hợp với mặt bằng hiện tại và không bị ứ đọng vốn trong thời gian dài. Khi xuất vật tư cho các công trình đã ghi chép theo dõi cụ thể, cuối tháng có đối chiếu khối lượng vật tư trong nghiệm thu của các công trình với sổ theo dõi xuất vật tư nên vật liệu được xuất cho các công trình được tính một cách chính xác. - Đối với nhân công: Đơn vị không áp dụng tập hợp toàn bộ tiền lương và phân bổ cho các công trình mà đơn vị tính trực tiếp cho công trình trên biên bản nghiệm thu của công trình đó. Vì vậy chi phí nhân công trong giá trị công trình sát đúng với thực tế giúp cho đơn vị đánh giá chính xác chi phí nhân công thực tế so với dự toán khi đó sẽ biết công trình nào chi vượt tìm ra nguyên nhân từ đó đưa ra giải pháp khắc phục. - Đối với máy thi công: Việc sử dụng nhật trình theo dõi hoạt động của xe, máy giúp cho công ty xác định đúng khoảng thời gian hoạt động tại một CT của một máy thi công qua ngày tháng ghi trên Nhật trình. 3.1.2. Nhược điểm Bên cạnh những thành tựu đạt được Công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: Thứ nhất: Về hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán Trong quá trình hạch toán tổng hợp Công ty sử dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, nhưng Công ty không có Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ nên rất khó cho việc kiểm tra, đối chiếu việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh trong tháng trong Chứng từ ghi sổ ở đơn vị vào cuối tháng. Thứ hai: Về mặt tổ chức quản lý: Trong quá trình thực hiện chưa có sự kết hợp giữa phòng kế hoạch và phòng tài vụ một cách ăn khớp nhịp nhàng thể hiện: Phòng kế hoạch cử cán bộ về giám sát CT, trong quá trình thi công nếu thấy thiếu vật tư làm cho tiến độ thi công không đảm bảo, cán bộ giám sát sẽ xin ý kiến chỉ đạo của phòng kế hoạch và tiến hành mua vật tư nhưng không báo qua phòng tài vụ, do đó khi bên cung cấp đến thanh lý hợp đồng và lấy tiền phòng tài vụ mới biết nên không có sự chuẩn bị trước về mặt tài chính. Thứ ba: Về chi phí Nguyên vật liệu. Tại Công ty phương thức quản lý sản xuất kinh doanh là khoán gọn CT cho các xí nghiệp trực tiếp thi công. Công ty thực hiện quản lý chi phí NVL trực tiếp sử dụng cho CT thông qua các XN thi công và dựa trên các Hoá đơn, chứng từ được chuyển lên vào cuối tháng, cuối quý. Điều này có ưu điểm là tạo ra sự chủ động cho các XN thi công nhưng cũng có thể xảy ra gian lận hoặc thất thoát, lãng phí trong khâu, mua sắm, quản lý và sử dụng vật tư. Như vậy trong tháng Công ty không thể kiểm soát được tình hình sử dụng nguyên vật liệu của các XN thi công cho CT là bao nhiêu? Bên cạnh đó, ở Công ty cũng như các doanh nghiệp xây dựng khác điều kiện vật chất các kho, bãi không được đảm bảo vì kho vật tư được tập kết tại chân CT và sử dụng các nhà kho lưu tạm. Nếu không quản lý tốt dễ gây mất mát, trong những nguyên nhân ngây hao hụt vật tư là do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như mưa, bão lũ...đây là nguyên nhân khách quan khó tránh khỏi. Nhưng cũng có những nguyên nhân chủ quan từ con người dẫn đến sự hao hụt vật tư với số lượng không nhỏ. Thứ tư: Về chi phí nhân công trực tiếp: Ở các xí nghiệp xây lắp không thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp mà khoản chi phí này phát sinh kế toán hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp theo bút toán: Nợ TK 622 Có TK 334 Như vậy, nếu trong kỳ số công nhân nghỉ phép nhiều thì chi phí nhân công trực tiếp tăng lên kéo theo giá thành cũng tăng lên từ đó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ. Thứ tư: Về hạch toán chi phí sử dụng máy thi công. Công ty sử dụng máy móc, thiết bị sản xuất chưa hợp lý, hiệu quả mang lại không cao. Số lượng máy chưa sử dụng hết công suất và nhàn rỗi nhiều. Một số xe, máy thi công đã cũ không còn thích hợp cho quá trình thi công, nhưng Công ty vẫn chưa thanh lý, vẫn phải trích khấu hao hàng tháng. Thứ năm: Về công tác hạch toán chi phí sản xuất chung. Đối với loại vật liệu sử dụng luân chuyển và công cụ dụng cụ, công ty nên căn cứ vào giá trị và đặc điểm sử dụng của từng loại để phân bổ cho các công trình, hạng mục công trình một cách hợp lý nhằm tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ, chính xác. Tiêu thức phân bổ cần quy định thống nhất, tránh hiện tượng phân bổ tuỳ tiện ước lượng như hiện nay. Đối với chi phí mua ngoài và chi phí khác bằng tiền Công ty hạch toán vào một khoản đã gây khó khăn cho người quản lý trong việc kiểm tra những khoản chi phí trong chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ. Thứ sáu: Về công tác tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm. Về cơ chế khoán của Công ty cho các xí nghiệm trực thuộc có những mặt tích cực nhưng cũng có những mặt tiêu cực rõ nét. Hình thức này đã làm giảm vai trò quản lý của công ty trong quá trình tính giá thành thực tế của công trình xây dựng. Giá thành công trình chính là giá khoán của Công ty cho các Xí nghiệp trực tiếp xây dựng. Vì thế làm giảm vai trò của kế toán Công ty trong việc kiểm soát các chứng từ phản ánh chi phí sản xuất phát sinh thực tế trong quá trình xây dựng. Tạo khe hở trong quản lý tài chính có thể dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn. Hiện nay, tỷ lệ giao khoán mà Công ty đang áp dụng là khá cao vì thế lợi nhuận thu được trên mỗi công trình là thấp. Đồng thời việc tính toán tỷ lệ giao khoán cao sẽ không cho thấy hiệu quả cũng như khả năng của các đơn vị thi công trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho Công ty. Ngoài ra, ở Công ty cuối kỳ chưa xác định khối lượng SPDD cuối kỳ mà chỉ mới tập hợp chi phí dở dang cuối kỳ của những công trình dở dang chưa có nghiệm thu A-B nên không xác định sự tương ứng giữa chi phí dở dang và khối lượng dở dang do đó rất dễ xảy ra tình trạng chi phí dở dang thì lớn mà khối lượng dở dang thì bé. Thứ sáu: Công ty chưa áp dụng Hình thức kế toán trên máy vi tính. Hiện tại Công ty mới đang sử dụng máy vi tính cho quá trình tính toán và lập các chứng từ cần thiết, chưa áp dụng chương trình phần mềm kế toán phục vụ cho công tác kế toán của toàn Công ty. 3.2. Một số biện pháp góp phần cải thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Biện pháp 1: Hoàn thiện hệ thống sổ sách * Thực trạng ở công ty Công ty vẫn chưa mở Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ * Hướng đề xuất Công ty và các xí nghiệp nên lập Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ. * Tính hiệu quả của biện pháp Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ vừa dùng để theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian, quản lý chứng từ ghi sổ, vừa để kiểm tra đối chiếu số liệu với Bảng cân đối số phát sinh, phát hiện kịp thời các sai sót trong ghi chép kế toán và thuận lợi cho việc chuyển sổ cái. Biện pháp 2: Hoàn thiện hình thức tổ chức công tác kế toán * Thực trạng ở công ty Công ty vẫn đang sử dụng phần mềm máy tính Microsoft Excel để trợ giúp cho công tác hạch toán kế toán * Hướng đề xuất Công ty nên sử dụng phần mềm kế toán máy được thiết kế chuyên dùng phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đặc điểm của công ty để tiến hành tự động hoá công tác kế toán * Tính hiệu quả của biện pháp Với một phần mềm kế toán viết sẵn, cho phép công ty sử dụng và quản lý các thông tin kế toán một cách chặt chẽ, linh động và phù hợp với điều kiện SXKD của công ty, giúp giảm bớt áp lực về thời gian cũng như khối lượng công việc cho các nhân viên kế toán nhưng vẫn hoàn thành một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác việc xử lý số liệu và hình thành các báo cáo, đảm bảo cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, trung thực và kịp thời theo đúng yêu cầu quản lý. Tuy nhiên công ty cần tham khảo và cân nhắc kỹ giữa lợi ích và chi phí bỏ ra khi xây dựng hoặc mua phần mềm kế toán trước khi đưa ra quyết định. Biện pháp 3: Một số biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành Hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu của tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trong đó có cả ngành xây dựng. Hạ giá thành sản phẩm làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp không ngừng tăng lên, doanh nghiệp không ngừng được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên trong công ty được nâng cao. Đồng thời giá thành hạ là một trong những ưu thế để doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường. Chính vì ý nghĩa quan trọng như vậy nên công ty cần phải tiết kiệm chi phí sao cho vừa thực hiện được mục tiêu hạ giá thành vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm. Do đó phải quản lý chặt chẽ các khoản mục chi phí từ khâu xây dựng định mức chi phí cho đến khâu thực hiện dự toán. - Quản lý nguyên vật liệu Do đặc điểm của ngành xây dựng, vật tư chiếm 70% giá trị công trình nên muốn hạ giá thành sản phẩm thì việc quản lý tốt khoản mục nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Để quản lý tốt nguyên vật liệu nhằm hạ giá thành sản phẩm trước hết phải căn cứ vào hồ sơ thiết kế và định mức tiêu hao vật tư để xây dựng đơn giá dự toán, trên cơ sở đơn giá dự toán lập ra, có thể nói quan trọng nhất trong vấn đề quản lý vật tư chính là vấn đề quản lý chặt chẽ về phần vật tư xuất khi sử dụng. Các CT thường ở xa cơ quan quản lý, nên việc giám sát CT đều do cán bộ kỹ thuật xí nghiệp giám sát, cán bộ kỹ thuật phòng Kỹ thuật không thể thường xuyên theo dõi giám sát công trình đều được. Vì vậy việc đảm bảo chất lượng vật tư và chủng loại vật tư phải đúng theo hồ sơ dự toán để khi bên A nghiệm thu chấp nhận cho công ty mà không trừ vào khoản mục nào. Yêu cầu đặt ra là Cán bộ kỹ thuật của Công ty cần tiến hành cùng với XN trực tiếp thi công lập“Biên bản kiểm nghiệm (vật tư, hàng hoá sản phẩm). Bên cạnh đó Ban quản lý công ty cần theo dõi chặt chẽ các chứng từ mua hàng và quá trình các XN xuất vật liệu để xây dựng công trình, không để tình trạng khai khống số liệu, mua vật liệu không đảm bảo số lượng và chất lượng ảnh hưởng đến quá trình thi công và chất lượng CT. Để tránh tình trạng mất mát nguyên vật liệu nhiều làm tăng CPSX làm sai lệch giá thành thực tế của sản phẩm, công ty cần phải gắn trách nhiệm cho XN thi công cũng như người bảo vệ kho bãi. Công ty tính toán lập định mức hao hụt nguyên vật liệu cho từng CT. Sau khi tính toán số nguyên vật liệu tồn cuối kỳ giữa thực tế và sổ sách nếu mức hao hụt nằm trong định mức cho phép thì có thể tính vào chi phí để tính giá thành sản phẩm. Còn mức hao hụt ngoài định mức thì phải quy trách nhiệm bồi thường cho cá nhân phạm lỗi hoặc nhân viên quản lý kho, bãi. - Quản lý khoản mục nhân công Căn cứ vào dự toán chi phí nhân công để tổ chức quản lý chặt chẽ khâu điều động nhân công như bố trí đúng loại thợ, bậc thợ phù hợp với công việc để tăng năng suất lao động. Bố trí thời gian lao động theo biểu đồ tiến độ thi công, bố trí lực lượng thi công không bị chồng chéo, tránh lãng phí. Phải cung cấp vật tư đầy đủ, kịp thời tránh tình trạng công nhân phải chờ việc do thiếu vật tư. Để nâng cao năng suất lao động có thể thực hiện định mức lao động nội bộ, đảm bảo trả lương cho công nhân đúng thời hạn và có chế độ thưởng phạt rõ ràng. - Quản lý chi phí máy thi công Trong chi phí MTC thì chi phí sửa chữa thường xuyên cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn do đó phải cần có sự theo dõi sát sao chi phí này như mở sổ theo dõi mỗi lần sửa (chi tiết sửa cái gì, thay mới cái gì...). Với cách làm như vậy sẽ quản lý chặt chẽ chi phí này từ đó có kế hoạch lập định mức sửa chữa thường xuyên trong khoản mục MTC được chính xác hơn. Một số máy móc, thiết bị đã cũ không thích hợp cho việc thi công Công ty nên thanh lý, nhằm giảm bớt chi phí bảo dưỡng máy, chi phí khấu hao máy. Đồng thời lấy kinh phí để đầu tư mua sắm thêm các máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến phù hợp với quá trình thi công công trình của đơn vị. - Quản lý chi phí sản xuất chung Công ty cần tách khoản chi phí khác bằng tiền ra khỏi chi phí dịch vụ mua ngoài. Nhằm đảm bảo hạch toán đúng quy định và giúp cho việc quản lý các khoản chi phí được rõ ràng và thuận lợi. Bởi đây là khoản chi dễ phát sinh tiêu cực hoặc sai mục đích, lãng phí thiếu cơ sở pháp lý. -Về công tác quản lý của Công ty trong việc tập hợp CPSX tính giá thành sản phẩm. Có thể đổi mới phương pháp tổ chức kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty. Tại thời điểm này Công ty vẫn đang thực hiện hình thức giao khoán công việc cho các đội thi công theo khối lượng và giá cả hai bên đã kí kết. Vì vậy giá thành sản phẩm hoàn thành cũng chính là giá CT đã được công ty giao khoán ngay từ đầu. Cuối quý hoặc sau khi hoàn thành công việc các đội có trách nhiệm hoàn các chứng từ liên quan lên phòng kế toán cho Công ty tổng hợp CPSX và tính giá thành cho toàn bộ CT. Đây là việc làm bất cập, thụ động như hình thức “kê đơn, bốc thuốc” không mang lại kết quả tốt cho công tác tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm. Bởi vì sau khi nhận công việc giao khoán các đội thi công CT tiến hành thi công, tổng hợp số liệu chứng từ sao cho khớp đúng với giá trị đã được ký kết. Điều này có thể dẫn đến việc điều chỉnh số liệu chứng từ ở các đội gây ra sự tổng hợp sai lệch chi phi phát sinh để tính giá thành sản phẩm chính xác. Vì vậy Công ty cần tính toán phân bổ chi phí theo kế hoạch cho từng giai đoạn CT sau khi đã giữ lại số phần trăm (%) giá trị công trình để lấy kinh phí trang trãi cho hoạt động chung của toàn công ty. Sau đó khoán trắng cho các đội có khả năng, chuyên môn phù hợp nhận công việc có trách nhiệm hạch toán độc lập xác định lãi, lỗ kinh doanh ngay tại đơn vị. Như vậy mới nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý, hạch toán các chi phí sản xuất trong quá trình thi công. Góp phần hạ thấp giá thành sản xuất. Nhằm tính giá thành thực tế của công trình một cách chính xác. - Rút ngắn thời gian thi công Rút ngắn thời gian thi công cũng có tác dụng giảm giá thành thực tế so với giá thành dự toán. Thời gian xây dựng càng dài thì các phí tổn phát sinh càng nhiều như phí tổn sử dụng máy móc, chi phí cho bộ phận gián tiếp...càng cao. Như vậy, công ty nên tổ chức thi công, sử dụng phương án thi công như thế nào cho thuận tiện, nhịp nhàng, đảm bảo tính liên tục trong thi công để rút ngắn thời gian thi công nhưng vẫn phải đảm bảo khối lượng, chất lượng công trình như thiết kế. - Tổ chức kế toán quản trị Ngày nay, để hoàn nhập vào xu hướng chung của nền kinh tế thị trường cũng như đảm bảo lợi ích của đơn vị mình, việc vận kế toán quản trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh là cần thiết. Tuy nhiên, vận dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao là vấn đề cốt lõi. Tại Công ty, việc áp dụng kế toán quản trị chỉ ở giai đoạn thử nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu xót. Chẳng hạn: các thông tin kế toán không được tách biệt rõ ràng, không phân biệt được loại thông tin nào cung cấp cho đối tượng bên ngoài và loại nào cung cấp cho quản trị doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp xây dựng cũng như ở Công ty, các CT, HMCT thường được xây dựng dựa trên dự toán CPSX nên đối với công tác kế toán CPSX và tính giá thành xây dựng các công trình, Công ty nên kiểm soát chi phí bằng hệ thống chi phí tiêu chuẩn. Hệ thống này gồm có 3 thành phần: - Định mức chi phí (hay dự toán chi phí ): việc xác định các định mức này có thể dựa vào số liệu quá khứ hoặc phối hợp với các nhân viên kỹ thuật để phân tích quy trình công nghệ, qui trình sản xuất... để xác định các định mức chi phí. - Chi phí thực tế: được đo lường trong quá trình sản xuất thực tế. - So sánh giữa chi phí thực tế với định mức chi phí (dự toán) sự chênh lệch này được sử dụng để kiểm soát chi phí. Khi sử dụng các định mức chi phí thì khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức là điều mà nhà quản trị cần quan tâm. Nếu chi phí thực tế > chi phí định mức nhiều thì cần phải phân tích xem do nguyên nhân nào, do giá thực tế > giá định mức ( biến động về giá) thì phải tổ chức lại vấn đề thu mua nguyên vật liệu, bố trí lại công nhân sao cho tay nghề phù hợp với công việc..., còn do lượng thực tế > lượng định mức ( biến động về lượng) cần phải quan tâm xem trong thi công đã để lãng phí trong khâu nào... Để làm được điều này, sổ kế toán quản trị phải mở một cách chi tiết. Các chỉ tiêu trong sổ kế toán quản trị vừa phải thể hiện được số dự toán vừa phải thể hiện được số thực tế. Cần có các loại sổ như: sổ phân tích chi phí NVLTT, sổ phân tích chi phí NCTT, sổ phân tích chi phí sử dụng máy, sổ phân tích chi phí SXC. PHẦN III KẾT LUẬN III.1. Kết luận Đề tài đã hoàn thành ba mục tiêu đặt ra. Cụ thể trong khuôn khổ khoá luận này: Đề tài đã hệ thống hoá và phân tích những cơ sở lý luận cơ bản về hạch toán kế toán chi CPSX và tính giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây dựng nói chung và công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế nói riêng . Trên tiền đề đó, đề tài đã trình bày được về cơ bản thực trạng công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế . Dựa trên những mô tả và phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình , rút ra những nhận xét, đánh giá, đối chiếu với cơ sở lý luận, đồng thời chỉ ra những mặt đạt được và những mặt còn tồn tại cần khắc phục để công ty quản lý tốt hơn phần hành kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm. Qua đó, đã đề xuất được các biện pháp phù hợp với đặc điểm hoạt động xây dựng ở công ty nhằm giúp hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của công ty nghiên cứu . III.2. Hạn chế của đề tài Do hạn chế về mặt thời gian, quy mô khoá luận cũng như những khó khăn khi thu thập xử lý số liệu nên đề tài chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá những nét tổng quan về đặc điểm nguồn lực, kết quả kinh doanh của công ty và việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành của công trình Nâng cấp Tỉnh lộ 9 do xí nghiệp Xây dựng đường bộ 105 thi công mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện về các công trình khác của công ty. Đây là một đề tài rộng, có nhiều vấn đề cần tìm hiểu sâu thêm mà đề tài còn chưa nghiên cứu được. III.3. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp Đề tài có thể mở rộng nghiên cứu thêm kế toán chi phí và tính giá thành của nhiều công trình khác do công ty thi công để đánh giá được một cách toàn diện hơn về công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế. Đồng thời có sự so sánh, phân tích về chi phí, giá thành giữa các công trình nhằm cung cấp những thông tin thực sự hữu ích cho công ty trong việc kiểm soát, quản lý chi phí và xây dựng các định mức một cách chính xác để có cơ sở đưa ra giá đấu thầu hợp lý, có khả năng thu lời cao. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hướng dẫn thực hành hạch toán kế toán và lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp xây lắp - Nguyễn Văn Nhiệm 2. Bài giảng kế toán chi phí - Tiến sĩ Bùi Minh Tám - Đại học Huế, Trường Đại học kinh tế 3. Hướng dẫn thực hành kế toán doanh nghiệp xây lắp và kế toán đơn vị chủ đầu tư - Võ Văn Nhị, Trần Anh Hoa, Trần Thị Duyên - Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội 4. Hệ thống kế toán doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán mới - Huỳnh Minh Nhị, Nguyễn Quang Huy - Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội 5. Kế toán tài chính - Phan Đình Ngân - Trường Đại học kinh tế Huế, Khoa kế toán tài chính. 6. Các khoá luận tốt nghiệp đại học * Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH Nhà nước một thành viên Quản lý đường bộ và Xây dựng công trình Thừa Thiên Huế - Trần Thị Minh Nguyệt - Đại học thuỷ sản Nha Trang, Khoá học 2001-2005 * Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH Nhà nước một thành viên Bảo trì đường bộ TTHuế - Nguyễn Thị Phương Nga, Đại học kinh tế Huế 7. Các trang Web trên Internet - Trang web của Tạp chí kế toán - Trang web kế toán - Trang web của Bộ xây dựng - Trang web của Bộ tài chính DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT -------------- CPSX: Chi phí sản xuất XDCB: Xây dựng cơ bản TSCĐ: Tài sản cố định MTC: Máy thi công CT: Công trình SXKD: Sản xuất kinh doanh NVLTT: Nguyên vật liệu trực tiếp BHXH: Bảo hiểm xã hội BHYT: Bảo hiểm y tế KPCĐ: Kinh phí công đoàn SXC: Sản xuất chung SPKD: Sản phẩm kinh doanh SPDD: Sản phẩm dở dang SPXD: Sản phẩm xây dựng VAT: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ NVL: Nguyên vật liệu HMCT: Hạng mục công trình NCTT: Nhân công trực tiếp TK: Tài khoản` VC: Vận chuyển CNV: Công nhân viên LN: Lợi nhuận DT: Doanh thu CP: Chi phí XN: Xí nghiệp BCTC: Báo cáo tài chính PNK: Phiếu nhập kho PXK: Phiếu xuất kho NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP .....˜«™..... .......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty Cổ phần đường bộ I Thừa Thiên Huế.doc
Luận văn liên quan