Đề tài Khái quát chung về đất nước và con người nước Nga

Đối với người N ga, khoảng cách riêng tư nhỏ hơn s o với nhữn g người Châu Âu khác. Trong khi trao đổi có thể vỗ vai nhau hay nắm tay nhau, vì người N ga coi đó là sự thể hiện của tình thân thiện. Khi đã qu en biết nhau lâu hơn - kể cả phụ nữ và nam giới -đều có thể ôm n hau hoặc hôn lên m á để thể hiện tình thân. - Quà tặng Q uan hệ càng thân thiết và càng lâu dài thì giá trị, mối liên hệ giữa món quà với cá nhân người tặng quà và mứ c độ tỷ mỷ khi chọn quà càng phải cao. Hoa luôn là món quà thích hợp, nhưng nhớ phải chọn số bông lẻ. Số bông ch ẵn chỉ được dùng để viếng tang. Hoa m àu vàng và trắng còn có nghĩa liên tưởng tới đau thương và mất mát. - Tục chúc sức khỏ e K hi một N ga thấy người khác bị hắt hơi, họ có thói quen nói với anh ta “Budt e zdorovy!” (chúc sức khỏe). Với người N ga hắt hơi được coi là điềm lành. N gười ta cho rằng, nếu như hắt hơi, tức là anh t a sẽ kh ỏe, còn mong muốn của anh t a thành sự thật. Nếu như một người nói điều gì đó, và anh ta hắt hơi, có nghĩa là điều anh ta nói là thật. Nếu như ai đó hắt hơi s au bữ a tối, có nghĩa là: con người hạnh phúc hắt hơi cho sự xuất hiện của m ột người mới trong nhà, còn với người không hạnh phúc, ngược lại, là ai đó chết hoặc đi xa. Nói “Bu d zdorov!” cũng cho cả những con vật – chó và mèo.

pdf32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 1905 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Khái quát chung về đất nước và con người nước Nga, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sự ưu tiên hàng đầu cho khoa học và kỹ thuật trong giáo dục, y tế, toán học, khoa học và khoa học vũ trụ…cung cấp lực lượng nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực cong nghệ cao, công nghệ mới… Liên Bang Nga là một quốc gia đông dân, có trình độ dân trí cao, có đội ngũ khoa học kỹ thuật, kỹ sư lành nghề…vì thế mà tiềm năng du khách từ đất nước này rất lớn, bởi đội ngũ lao động ở đất nước này phần lớn là làm về ngành công nghiệp,ngành khoa học cơ bản nên họ thường phải làm việc trong một môi trường căng thẳng nên du cầu được đi du lịch thư giãn rất cao,những vị khách này thường có những đòi hỏi về phong cách phục vụ cao,họ sẵn sàng chi một số tiền khá lớn để được hưởng các loại dịch vụ du lịch cao cấp nhất.Bên cạnh đó,một số người dân sống ở vùng nông thôn cũng có nhu cầu được đi du lịch sau những mùa vụ,những người dân làm nghề nông thường có tính cách hiền hòa và đòi hỏi không quá cao,họ thường có xu hướng chọ những nơi mới lạ,được tìm hiểu về những vùng đất mới.Nhưng nhìn chung,người Nga thường có tính cách hòa đồng,vui vẻ,thân thiện,đặc biệt dân tộc Nga nổi tiếng là những người yêu chuộng hòa bình,vì thế mà những vùng đất thanh bình êm ả như Việt Nam là những nơi mà họ lựa chọn để có một kỳ nghỉ thoải mái. II. NHữNG ĐặC ĐIểM VĂN HÓA NƯớC NGA Với diện tích lớn nhất trên thế giới nước Nga đã có những nét văn hóa độc đáo trải rộng khắp lãnh thổ của mình. Với rất nhiều điểm đặc trưng, văn hóa Nga đã, đang và sẽ có nhiều người thuộc các dân tộc lãnh thổ khác nhau trên thế giới biết đến. Sau đây là những phần đặc trưng nhất về văn hóa N ga: 1. Văn học Nga Văn học Nga đã bắt đầu xuất hiện trong những người Xla-vơ Đông, sau phong trào cơ đốc hoá vào thế kỷ thứ 10. Trong suốt thế kỷ 16, hầu hết những tác phẩm văn học đều có chủ đề tôn giáo hoặc do những người trong những lĩnh vực tôn giáo viết ra. Một số tiểu thuyết ngắn và chuyện châm biếm của thế kỷ 17 cũng đã sử dụng tiếng N ga bản xứ. Thế kỷ 18, đặc biệt là dưới triều đại của Pet er đại đế và Catherine Đại đế, là một giai đoạn chịu ảnh hưởng rất mạnh của phương Tây. Đến thế kỷ 19 văn học Nga đã hình thành một truyền thống thể hiện những vấn đề trong cuộc sống thực tế và những nhà văn từ thế kỷ 18 đã làm giàu hơn ngôn ngữ Nga bằng những yếu tố mới. Kỷ nguyên của chủ nghiã Hiện thực bắt đầu khoảng năm 1850. Trong thời kỳ này các chuẩn mực mới về ngôn ngữ, chủ đề, hình thức và kỹ t huật miêu t ả đã được phát triển. Pushkin đã được coi như nhà thơ vĩ đại nhất của Nga. Lermontov thì đã đóng góp cho văn học bằng cả t hể loại văn xuôi lẫn thể loại thơ ca. Gogol được công nhận như người khai sinh ra văn xuôi hiện thực và hiện đại của Nga. Những nhà văn viết văn xuôi có tầm cỡ nhất trong kỷ nguyên này là Ivan Turgennev, Fedor Dostoyeveskiy và Lev Tolstoy. Đến thập kỷ 1890, thơ ca của Nga đã được phục hồi và định hình lại bởi một số thi s ĩ theo trường phái tượng trưng, mà người đại biểu nổi bật nhất là Aleksandr Blọk. Năm 1933 Bunin đã trở thành nhà văn N ga đầu tiên nhận giải Nobel văn chương. Thời kỳ ngay sau cách mạng Nga là một giai đoạn thử nghiệm của văn học và cũng đã nổi lên nhiều nhóm nhà văn khác nhau. Hầu hết những tác phẩm trong thập kỷ 1920 mô tả cuộc nội chiến hoặc sự đấu tranh giữa người Nga cũ và người Nga mới. Tác phẩm chiếm ưu thế trong giai đoạn này là “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolay Ostrovskiy. Văn học N ga có phong cách riêng biệt, khác lạ. Đặc biệt, tư tưởng dân chủ bộc lộ trong văn học mạnh mẽ đến mức tạo ra nhu cầu đòi hỏi tư tưởng xã hội chủ nghĩa như một qui luật tất yếu. Vì lẽ đó, Lênin đã coi tác phẩm của L.Tonxtôi là "tấm gương phản chiếu cách mạng N ga". Đó là đóng góp quan trọng của văn học Nga vào nền văn học thế giới. Những tác phẩm của , Lermontov, Gogol, L.Tonxtôi, Dotstoievski, Sekhov... đã trở thành t ác phẩm cổ điển cùng với thành tựu lý luận, phê bình của Bielinski, Tsernysevski... còn đặt nền móng lí luận và gây ảnh hưởng sâu sắc đến cả thế kỷ sau. Văn học N ga Xô viết là một bước tiến hóa cao trong tiến trình văn học của nhân loại. Gần 7000 người cầm bút viết văn trong dân số 300 triệu người (số liệu 1975) với bút pháp đa dạng, đề tài phong phú, giáo trình này thật khó lựa chọn những gương mặt thực sự tiêu biểu cho nền văn học Nga. (ĐẠI HỌC AN GIANG - Phùng Hoài Ngọc - 2008). 2. Ẩm thực Nga. Các món ăn chính thường chế biến từ thịt, thường là thịt bò, thịt cừu, hay thịt heo, đôi khi kèm với nấm, kem chua hay nước sốt pho mát. Do ở Nga có rất nhiều sông, hồ, rừng rậm nên trong ẩm thực của nước này có một số lượng lớn các món ăn từ cá, thịt rừng, nấm và quả rừng. Thường thì sẽ là cá, thịt bò, thịt cừu hầm hoặc nướng được ăn kèm với rau và khoai tây. Người Nga thích ăn khoai tây, họ có cả thảy hơn 1000 món làm từ khoai tây. Ngoài những món đơn giản như khoai t ây rán, khoai tây luộc, còn có khoai tây nhồi thịt băm và nấm, thịt băm viên tẩm khoai t ây rán, bánh nướng làm bằng khoai tây… Ở Nga có 2 món ăn rất nổi tiếng đó là là bánh mì đen và salad Nga. Trong tục ngữ của nước N ga, bánh mì đen được ví như là cha ruột của mỗi người vậy. Món salad Nga bí quyết lại nằm ở việc có mua được đúng loại M ayonaise hay không. Ẩm thực nước Nga rất đa dạng nhưng hầu hết người Việt Nam khi nhắc đến nước Nga là nhắc đến món trứng cá hồi, bánh mì đen và salad Nga. Ngoài ra phải kể đến đó là loại rượu Vodka nặng độ hơn cả rượu Nàng hương Việt Nam. Những món ăn Nga từ trứng cá hồi với bánh mỳ nướng, súp củ cải đỏ ăn với bánh mỳ đen, cuống t ỏi muối, chả gà Kiep, cá khô Atrakhan, súp củ cải đỏ, bánh cuốn Lêningrát... mang phong vị Nga nhưng lại rất phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam. Café của Nga có đặc điểm là loãng vô cùng đến nỗi mỗi người uống tầm 1 lít café là chuyện bình thường. Một số món ăn truyền thống ở Nga: Borsh (Борщ): Borseht là món súp cổ điển của Nga, món này gồm có nhiều thành phần chính với màu sắc tươi sáng nhất là của cải đỏ. Món này thường được ăn lạnh vào mùa hè và ăn nóng vào mùa đông. Bnili (Блины): Bnili là một loại bánh kếp nhỏ, trong có nhồi trứng cá muối, cá, bơ lỏng hoặc kem chua. Tsipleonok tabaka (Цыпленок табака): đây là món thịt gà, trong đó thịt nướng bằng xiên. Shi (Щи): món Sehchi bao gồm bắp cải nhồi và ớt ngọt nhồi cơm và thịt băm. Varenniki (Вареники): Đây là món bánh bao dùng để ăn sáng, trong ruột có các loại quả mọng, quả anh đào hay mứt. Cốt lết gà k iểu Nga (Котлеты): người ta nghiền nhỏ thịt gà, cho thêm một ít bơ và kem để giữ cho thịt được ẩm. Muốn cho hương vị được tuyệt hảo, người t a dùng rượu vang Beaujolais của Pháp hoặc rượu M erlot ở vùng Trentino của Bắc Ý. Thịt cừu nướng xiên (Шашлык): Theo truyền thống món ăn này được làm bằng thịt cừu, nhưng người ta cũng có thể làm bằng thịt heo, thịt bò, thịt gia cầm, hoặc cá tầm. Mì ống hầm (Макароны): Đây là món mì ống nấu t heo kiểu N ga với pho mát vàt thật nhiều rau. Seledka (Селедка): Cá trích là món rất khoái khẩu của người N ga, cùng với dưa chuột ri và các loại thịt nguội và các món trộn. Thưởng thức trà theo kiểu Nga: Để thưởng t hức trà N ga, bộ ấm tách bằng sứ là đặc biệt cần thiết. Việc pha loãng trà bằng nước sôi luôn trong t ách là nét đặc trưng của cách thưởng thức trà N ga. Tại Nga, trà luôn được pha loãng ra - do đó, ngoài bộ ấm chén phà trà đạt tiêu chuẩn, khi thưởng thức trà N ga cần phải có cả hũ đựng nước sôi riêng. Chanh là thành phần quan trọng thứ 2 trong cách thưởng thức trà của người Nga. Toàn thế giới đều cho rằng, trà với chanh là phát minh của người N ga và cách thưởng thức trà này được gọi là “Trà Nga”. Đó là lý do vì sao trên bàn trà Nga nhất định phải có chanh. Còn một đặc điểm nữa khá quan trọng trong cách thưởng thức trà N ga đó là trà pha sẵn và được uống liền. Tất nhiên, đó phải là trà đen. Bộ đồ trà bằng sứ, ấm trà, chanh và trà Trung Quốc hay Xrilanca – đó là những thành phần cần thiết để có thể thưởng thức trà theo đúng kiểu Nga. 2. Trang phục Nga. Trang phục của dân tộc Nga có một lịch sử rất phong phú. Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời nước Nga cổ đại đến đầu thế kỷ XVIII, bộ trang phục đã có những thay đổi lớn về hình dáng cơ bản của nó. Thế kỷ XVIII trở thành cái mốc đánh dấu sự khác biệt trong trang phục. Đây là thời kỳ của những cải tổ trong kinh t ế - xã hội và văn hóa ở nước N ga. Nó được đánh dấu bởi những thi hành pháp luật của Petr I nhằm điều hòa những môi trường khác nhau trong xã hội và tiến hành những thay đổi cơ bản. Cuộc cải cách đã thay đổi cuộc sống ở nước N ga một cách sâu rộng, trong đó có cả trang phục. Bộ trang phục truyền thống đặc trưng bởi đường cắt thẳng tự nhiên, độ dài của trang phục, ống tay lớn và rộng, có nhiều lớp với sự kết hợp màu sắc tương phản của các phần trong trang phục, sự đa dạng về họa tiết và trang trí. Trang phục của phụ nữ Các nhà dân tộc học đã chia ra làm 4 loại cơ bản trang phục trên lãnh thổ nước N ga:  Với váy poneva.  Với váy sarafan.  Với váy andarak.  Với váy kubelek. Hai bộ đầu tiên thường đươc mặc trên phần lớn vùng châu Âu và châu Á của nước Nga. Bộ trang phục với váy poneva bao gồm có áo cánh, thắt lưng, chiếc váy poneva, yếm đằng trước, khăn đội đầu dạng con chim ác là, trang sức bằng lông chim và hạt cườm, giày được bện từ vỏ cây hoặc bằng da. Bộ trang phục với váy sarafan gồm có áo cánh, váy sarafan, khăn bịt đầu kiểu kokoshnik, mũ dushegrei, giày chủ yếu là bằng da. Trang phục với váy kubilek là chiếc váy may thắt ở eo, mặc phía trên là áo với ống tay rộng. Váy mặc cùng với quần dài và chít khăn trên đầu. Bộ trang phục váy andarak gồm áo cánh, váy, áo nâng ngực, tấm thắt lưng lớn, khăn bịt đầu kiểu kokoshnik. Chúng có mặt tại Ryazan, Orlov, Kursk, Tambov. Trang phục cho nam giới Trang phục cho đàn ông Slavơ nói chung đều giống nhau. Nó bao gồm có áo dài thắt ngang lưng, quần không quá rộng, giày da hoặc bện bằng vỏ cây, mũ có hoặc không có vành. Như một nguyên tắc, áo buông đến cạp quần thì thắt lại. Tuy nhiên nó có những đặc trưng riêng của từng vùng. Ví dụ, tại các làng ở ven bờ Bạch hải, đàn ông mặc áo dệt từ lông thú. Áo được nhét vào trong quần như một số dân tộc t ại các vùng khác phía Bắc nước N ga. Tại một số làng ở miền Nam, trang phục của nam giới còn có cả áo gilet. Trang phục của nam giới và phụ nữ được làm từ lanh, vải gai, lông thú, vải pha len của nhà làm, cũng như các sản phẩm của nhà máy như lụa, lông thú, vải sợi bông, gấm. Trang phục truyền thống có những chức năng nhất định. Nó được chia ra làm trang phục lễ hội, nghi lễ, thường ngày và để làm việc. Trang phục lễ hội được may bằng những loại vải đắt tiền. Tất cả những phụ kiện của trang phục, chiếc khăn bịt đầu, giày được trang trí công phu. Trang phục thường ngày thường đơn giản, trang trí sơ sài và được may từ những loại vải rẻ t iền. Trang phục nghi lễ dành để may trong thời gian diễn ra nghi lễ. Bên cạnh việc giữ gìn hình dáng truyền thống, bộ trang phục dân gian đã không ngừng biến đổi. Sự phát triển của công nghiệp và thời trang thành thị ảnh hưởng mạnh tới lối sống xưa ở nông thôn và đời sống của nông dân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ngày nay, những đường cắt, những họa tiết của bộ trang phục truyền thống là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn cho những tìm tòi mẫu thiết kế mới. Nó là dành cho những người đam mê đích t hực những sáng tạo dân gian. ( MộT Số KIểU TạP Dề Áo saraphan là một thành phần không thể thiếu của bộ trang phục truyền thống N ga. Từ thế kỷ XVIII cho đến đầu thế kỷ XIX saraphan thường được may từ vải thô, một màu tông sẫm như xanh, đỏ hoặc đen. Trên nền đơn sắc sẫm của saraphan các hoa văn trang trí màu sắc sặc sỡ trên áo và tạp dề càng nổi bật. Cách mặc trang phục nhiều tầng có nhiều độ dài khác nhau của áo, váy, yếm, tạp dề... chia cơ thể người mặc thành nhiều đoạn, và gây cảm giác như thân hình người mặc to lớn hơn. TÓC VÀ CÁC LOạI KHĂN, MŨ ĐộI ĐầU Trong bộ trang phục Nga khăn mũ đội đầu là chi tiết không thể thiếu, bởi theo truyền thống phụ nữ đã lấy chồng phải luôn che kín mái tóc của mình, còn các thiếu nữ mới có quyền khoe tóc. Chính truyền thống này quy định hình dạng các loại mũ kín đội đầu dành cho phụ nữ có chồng, và bờm hay một dải hoa văn buộc đầu dành cho các cô thiếu nữ. Các loại mũ đội đầu của phụ nữ được trang trí bằng ngọc trai, cườm, hổ phách, san hô, dây tòng t eng, chuỗi hạt và khuyên. GIÀY DÉP Phụ nữ thường mang giày da ngắn cổ, koty có mũi cong bằng dạ hoặc nỉ, và giày đan lapti với dây buộc dài. 4. Ki Ến trúc Nga. Chúng ta tìm hiểu về kiến trúc N ga qua các thời kì sau: Thế kỷ 15 – 18 Những công trình kiến trúc ở nước Nga lú này rất ít được chú ý, mãi cho đến năm 1477, nền kiến trúc của Nga mới có phần khởi sắc. Saint Basil's Cathedral Thế kỷ 19 Dormition Cathedral, Kremlim, Moscow Tại Đông Âu trong một phần tư đầu của thế kỷ thứ 19, ở đây, lối thiết kế mang phong cách Hy Lạp phục hưng được phát triển và phong cách th iết kế kinh điển cũng được hồi sinh vào giữa thế kỷ này. Kiến trúc sư người Nga có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong thời kỳ này là Thon, ông đã thiết kế xây dựng công trình kiến trúc nhà thờ lễ Truyền tin tại St Petersburg và Thánh đường St. Saviour đồ sộ ở Moscow (1838 – 1883 theo phong cách Lomba La M ã), cả hai công trình này đã bị phá hủy. Công trình Bộ hải quân của Zakharov ở St Petersburg (1806) là dấu hiệu đặc trưng nhất vẫn tồn tại của một công trình kiến trúc mang phong cách thiết kế t ân cổ điển. Thế kỷ 20 Ivan the Great Bell Tower, Moscow Kremlin Hầu hết các công trình kiến trúc từ năm 1850 – 1917 không có nét gì nổi bật, thường là thực hiện kém chất lượng và mang sự hỗn độn của các phong cách thiết kế. Trong thời gian cách mạng, những kiến trúc sư trẻ đã theo phong trào thiết kế có xu hướng tạo dựng và phong cách thiết kế k iến trúc hiện đại mới được cổ vũ nhiệt liệt. Năm 1932 phong cách chủ nghĩa kinh điển hầu như lấn át trên sân kiến trúc của nước N ga, nó được tôn vinh cho đến tận những năm 60. Những công trình kiến trúc đáng chú ý được dựng lên vào những năm 20 gồm có: Tòa nhà Xô Viết do Yofan thiết kế, Nhà hát Hồng quân do Alaby an thiết kế, Nhà hát M eyerhold do Schusev thiết kế, Thư viện Lenin do Shuko thiết kế, Học viện Quân sự do Rudner và M unz thiết kế, Sân bóng nước Dynamo do Morchan thiết kế, tất cả các công trình đó đều được xây dựng tại thành phố Moscow, công tr ình Cựu chiến binh chiển tranh do Simonov thiết kế được xây dựng tại Leningrad; Đập nước Lenin do Vesnin và nhà hát quốc gia được xây dựng tại Novosibirsk do Greeuberg thiết kế. Những công trình xây dựng từ thế chiến t hứ hai có khách sạn Moscow, Nhà hát quốc gia ở Batum, những nhà ga xe điện ngầm, nhà bảo tàng Nizami tại Bacu và viện điều dưỡng ở Sochi… đều là những công trình quan trọng của nền kiến trúc Xô Viết. Đến ngày nay nước Nga đã có thêm rất nhiều những công trìng kiến trúc hiện đại vào bậc nhất thế giới, và nó cũng khắc thêm cho k iến trúc Nga những sắc màu rực rỡ. Khách sạn Ukraina là một trong bảy tòa nhà chọc trời ở Moscow, khách sạn này được xây dựng theo chỉ thị của St alin trong những năm 1950 ở M oscow. Được xây dựng năm 1957, khách sạn có 30 tầng và cao 206 mét bao gồm cả 73 mét tháp chuông này được tọa lạc ngay bên dòng sông Moscow. Khách sạn to lớn này có hơn 1 ngàn phòng đầy đủ tiện nghi và các đồ đạc trong phòng rất độc đáo, những bức tranh và những cây đèn bằng đồng ở đây có từ những năm 1950 từ thời kỳ Stalin. Trên nóc của khách sạn có phòng quan sát, ở đây ta có thể ngắm phong cảnh của thành phố Moscow rất toàn diện. Khách sạn Ukraina Khách sạn này không đồ sộ như trường đại học quốc gia Moscow, nhưng nó có một phong cách kiến trúc tao nhã và hết sức quyến rũ trong từng chi tiết của công trình. (DiaOcOnline.vn - Theo Tuvank ientruc). Gần như toàn bộ lịch sử phát triển của mình, ngành kiến trúc của nước Nga bị chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố tôn giáo. Các nhà thờ được xây dựng hoàn toàn bằng đá với các bức tường cao trên nền một không gian khoáng đạt (theo lối kiến trúc Hy Lạp). Cùng với sự ra đời của nước Nga thống nhất dưới thời trị vì của Ivan III, lối kiến trúc châu Âu bắt đầu xuất hiện t ại N ga. Tác phẩm đầu tiên của sự du nhập này là Nhà thờ Assumption, được hoàn thành vào năm 1479 theo t hiết kế của kiến trúc sư Aritotle Fioravanti và được xem là nhà thờ lớn nhất ở thủ đô Mát-xcơ-va. Đây cũng là công trình kiến trúc đầu tiên ở Nga chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phục hưng Ý. Trong suốt thế kỷ 19, hội họa tạo dựng hồi sinh ở Nga. Lăng Lênin cũng được xây dựng vào thời kỳ này theo lối kiến trúc của trường phái này. Những năm cuối cùng của thế kỷ 20, kiến trúc hiện đại thực sự tìm được chỗ đứng ở Nga, các tòa nhà cao chọc trời chiếm ưu thế trong tương quan chung của các bức tranh thành phố. Tuy vậy, trong những năm gần đây, nước Nga đặc biệt đề cao lối kiến trúc dân gian, các loại gỗ được dùng nhiều trong xây dựng lăng tẩm, bảo tàng... (nuocnga.net). 5. Lễ hội ở Nga. Là đất nước có một nền văn hoá lâu đời, nước Nga nổi tiếng với rất nhiều lễ hội đặc sắc. Những lễ hội ấy phản ánh nét sinh hoạt mùa màng của nền nông nghiệp vùng ôn đới, của xứ sở của bạch dương và tuyết trắng. Và những lễ hội ấy cũng gắn liền với những chiến tích, những di tích lịch sử, những bãi chiến trường nổi tiếng của nước Nga. Khác với những gì người ta thường nghĩ, nguồn gốc của nhiều lễ hội của N ga thường không liên quan tới các lễ hội của đạo Ky-tô nói chung và Chính thống giáo nói riêng, tôn giáo mà phần lớn người Nga theo. Lễ hội dân tộc của nước này thường bắt nguồn từ xa xưa, thời kỳ của chủ nghĩa vô thần. Thiên chúa giáo đã kết thúc chủ nghĩa vô thần bằng những nghi lễ tôn giáo. Tuy nhiên, nhiều truy ền thống vẫn được bảo tồn dưới dạng các dịp vui chơi hay lễ hội, thậm chí một vài lễ hội còn được đưa vào chính các nghi lễ và truyền thống của đạo Ky-tô. Lễ Giáng sinh của Đạo Cơ đốc chính thống Peter Đại Đ ế, vị hoàng đế ưu tú của nước Nga đã mang lại nhiều đổi thay trong cuộc sống cũng như trên tờ lịch của nước Nga. Lễ Giáng sinh là một ví dụ. M ặc dù, Giáng sinh vẫn là một trong những ngày lễ chính của người theo đạo Ky-tô ở Nga, Giáng sinh của Nga lại được tổ chức vào ngày 7/1 theo lịch N ga chứ không phải ngày 25/12 theo lịch Tây. Lễ Kolyadki Ở Nga, không có bất cứ một lễ hội nào được tổ chức theo nhiều tập tục và nghi lễ như những ngày lễ Giáng sinh. Một trong các nghi lễ trong các ngày Giáng sinh đó được gọi là Kolyadki. Trong buổi lễ này, người ta thường chúc cho nhau hạnh phúc và khỏe mạnh. T rong buổi lễ, người ta làm ra một bà tuyết với cái mũi bằng cà rốt, mắt bằng quả mận khô và rǎng bằng hạt đậu xanh. Đức mẹ Kolyadki (như ông già Noel) với một vài người hộ t ống đem theo những ngôi sao đến dự hội để chúc mừng mọi người và tham gia những trò chơi vui vẻ. Họ hát hò và nhảy múa trong một vòng trên tuy ết xung quanh ánh lửa bập bùng suốt lễ hội. Lễ Phục Sinh Cũng như các nước theo Đạo Ky-tô khác, ở N ga cũng có ngày lễ Phục Sinh. Người t a sẽ làm loại bánh mỳ ngọt đặc biệt, có hình tròn (gọi là bánh Phục Sinh) và được bày bán ở hầu hết các hiệu bánh mỳ trong dịp lễ. Ngoài ra, người ta còn làm cả bánh Paskha (một loại bánh làm bằng hỗn hợp sữa có đường, nho khô và bơ) và những quả trứng được nhuộm nhiều màu sắc sặc sỡ. Trứng đỏ được coi là biểu tượng của lễ Phục Sinh. Trứng Phục Sinh có nhiều mục đích, nó là món quà truyền thống để tặng bạn bè và người thân thay lời chúc mừng trong lễ Phục Sinh. Có một câu thành ngữ nói rằng, nếu bạn rửa mặt bằng nước có cả trứng phục sinh, bạn sẽ luôn giàu có và xinh đẹp. Lễ Phục Sinh cũng là dịp để mọi người đi thǎm hỏi bà con, họ hàng. Lễ hội Red Hill Ngày chủ nhật đầu tiên sau lễ Phục Sinh được gọi là ngày lễ Red Hill. Ngày này được coi là dịp tốt nhất dành cho các đôi uyên ương t ổ chức lễ cưới. Trước kia, mọi người thường đón chào mùa xuân trong lễ hội này, như thể để "mời" mùa xuân tới nhà mình vậy. Vào dịp lễ hội, bạn sẽ bắt gặp ở khắp nơi mọi người hát hò nhảy múa xung quanh những cây cối đang đâm chồi nảy lộc. Lễ Ivan Kupalo Ở các nước theo Đạo Cơ đốc chính thống trên khắp châu Âu, người ta thường tổ chức lễ thánh John và lễ rửa tội. ở N ga, ngày này gọi là Ivan Kup alo. Mọi thứ trong ngày này đều liên quan tới nước. Trước đây, các cô cậu thường xuống sông bơi cho đến tận đêm, sau đó họ đốt lửa và nắm tay nhau nhảy qua đống lửa. Nếu sau khi nhảy qua lửa, họ vẫn nắm tay nhau thì đó sẽ là dấu hiệu tốt, báo hiệu một lễ cưới chẳng còn bao xa. Lễ hội Troitsa Ở Nga, lễ hội dân gian "Troitsa" được tổ chức rất rầm rộ. Vào ngày lễ hội, nhà cửa đều được trang hoàng bằng những cành cây xanh tốt. Những bộ quần áo của các cô gái được treo trên những cây bulô nhỏ và người ta hát hò nhảy múa xung quanh. Những chiếc vòng làm bằng cành và hoa bulô được nhúng xuống nước để bói xem số phận của mỗi người. Lễ hội Spas Tháng 8, tháng cuối cùng của mùa hè, khi mùa màng đã xong, người N ga thường tổ chức 3 ngày hội khác nhau, trong tiếng Nga gọi là "Spas". Ngày hội Sp as đầu tiên là Honey Spas (lễ hội mật ong) (14/8) Ngày hội Sp as thứ 2 là Apple Spas (lễ hội táo) (19/8) Ngày hội thứ 3 là Nut Spas (lễ hội quả hoạch) (29/8) Lễ hội Spas mang sương giá đến cho đất đai và cây cỏ. Sau ngày lễ Spas đầu tiên, người ta sẽ thu hoạch mật ong. Ngày thứ 2, thu hoạch táo và ngày thứ 3 là quả hoạch. Phong tục đón khách của người Nga Ở những lễ hội lớn, mở đầu lễ hội, những cô thiếu nữ xinh tươi nhất tặng bánh mì và muối cho những vị khách đáng kính. Sau khi nhận quà của các thiếu nữ, người khách cúi xuống, hôn lên ổ bánh mì (ổ bánh mì được đựng trên một chiếc khay có phủ chiếc khăn thêu màu sắc sặc sỡ). Tiếp đó, theo nghi lễ cổ truyền, người khách bẻ một m iếng bánh, rắc muối lên, nếm thử và nói lời cảm t ạ. Người dân N ga trân trọng bánh mì và muối vì lúa mì là nguồn lương thực quý giá nuôi sống con người và con người không thể sống thiếu muối. Ngày nay, tục lệ đón khách danh dự bằng muối và bánh mì vẫn được duy trì, nhưng khách thường chỉ nhận tượng trưng ổ bánh mì và lọ muối ở trên đĩa men sứ cổ truyền có phủ khăn thêu rồi truyền lại cho người tháp tùng. Lễ tiễn mùa đông Một trong những lễ hội khó quên của nước Nga là Lễ tiễn mùa đông. Lễ này bắt nguồn từ nền nông nghiệp, từ công việc đồng áng của những người nông dân N ga. Mùa đông nước N ga tuyết rơi phủ kín mặt đất, ruộng đồng, khiến cho cây cối không nảy mầm được, nếu kéo dài mãi dễ sinh nạn đói. Bởi vậy, người nông dân mong mùa đông mau qua, mong mùa xuân mau đến. Lễ tiễn mùa đông là một trong những ngày hội dân gian vui vẻ nhất. Mở đầu buổi lễ, những chú bé ngộ nghĩnh, mặc quần áo dân tộc truy ền t hống, màu sắc sặc sỡ cầm đuốc đốt những hình nộm bằng rơm, đó là hình ảnh tượng trưng của băng tuyết trong mùa đông lạnh giá. Trẻ em và người lớn reo hò ầm ĩ, ca hát, nhảy múa xung quanh hình nộm đang bốc lửa. Họ mừng vui tiễn tượng trưng mùa đông, hân hoan chào đón mùa xuân tươi đẹp, chuẩn bị khí thế bước vào một mùa gieo trồng mới. Lễ tiễn mùa đông thường được tổ chức ở những nơi đông người qua lại, có quảng trường, ngã tư đường phố, một cánh rừng đầu làng vào những đêm đẹp trời. Tất cả già, trẻ, nam, nữ đều tham dự lễ hội. Họ nắm tay nhau nhảy điệu múa vòng tròn. Những động tác giậm chân, không chỉ là một tiết mục nghệ thuật, mà còn là một cách sưởi ấm nhanh chóng trong giá rét. Ngày nay, trẻ em và người lớn múa vòng tròn xung quanh cây thông cũng là hình bóng của Lễ tiễn mùa đông. Trong ngày Lễ tiễn mùa đông, trên những con đường lớn, những chiếc xe ngựa vừa rung chuông và lục lạc, vừa đuổi rượt nhau. Ngựa được đeo dải nạm bạc rất đẹp, còn xe trượt được trang trí bằng thảm. Ba con ngựa được thắng vào một cỗ xe chạy băng băng trên đường. Bánh xèo Nga Ngoài những món ăn cổ truyền dành cho ngày lễ của người N ga thì bánh xèo là món không thể thiếu trong Lễ tiễn mùa đông, giống như bánh chưng trong ngày Tết của Việt Nam. Đó là những chiếc bánh mỏng làm bằng bột mì cho lên men có trộn với trứng gà, bơ, váng sữa, và được rán bằng những chiếc chảo lửa to nóng bỏng. Chiếc bánh xèo hình tròn là tượng trưng cho mặt trời thần linh mang lại hơi ấm mùa xuân, tràn trề sức sống và hạnh phúc. Hội Ivan Kupala mùa đông Khác với Lễ Tiễn Mùa Đông được tổ chức chung với nhiều bạn bè và những người sống xung quanh, hội Ivan Kupala mùa đông thường được tổ chức ngay trong gia đình để tiễn mùa đông, đón mùa xuân. Đây là hội của những người Nga từ nhiều thế kỷ nay. Để bắt đầu buổi lễ, người ta trải cuộn rơm lên bàn, phủ tấm khăn trải bàn rộng lên trên, đặt lên đó một hũ cháo đại mạch trộn mật ong. Đó là món ăn chính theo phong tục. Bát cháo đầu t iên là dành cho tổ tiên. Khi chủ và khách ăn xong món ăn chính, phần còn lại đem để ra ngoài sân cho thần băng giá, mọi người hát bài hát bằng âm điệu êm ái, ngọt ngào, cầu xin thần đừng làm hại hoa màu. Tiếp đó, các em nhỏ xuất hiện, chúng đeo mặt nạ, đội lốt con dê, con sếu, con gấu... những con vật gần gũi với người nông dân N ga. Những đứa trẻ cùng nhau hát những lời cầu mong mùa màng bội thu và nhận những đồng tiền nhỏ từ người lớn. Hội Ivan Kupala mùa hạ Hội Ivan Kupala mùa hạ khác với hội mùa đông. Trong ngày hội, các cô gái bói tìm người yêu bằng cách bện các vòng hoa, thả chúng xuống sông trong đêm Ivan Kupala. Trên các bãi cỏ trong rừng, những người mạnh bạo nhất nhảy qua đống lửa trong tiếng cười và tiếng hò hét, khích lệ của người xem. Trong đêm hội mùa hè ngắn ngủi, nam nữ thanh niên rủ nhau vào rừng, họ tin rằng, trong những cánh rừng âm u, điều huyền bí nhất có thể xảy ra. Nhảy múa mừng hội Ivan Kupala Hội chăn cừu Hội chăn cừu là một hội có từ thời xa xưa, hội diễn ra vào mùa xuân. Sau những ngày mùa đông, tuy ết bắt đầu tan, cây cỏ, thảo nguyên bừng thức. Những con cừu bị nhốt trong chuồng, ăn cỏ khô suốt mùa đông, giờ đây được đưa lên các thảo nguyên, hít thở khí trời trong lành, ăn cỏ non. Những người chăn cừu phải tạm biệt gia đình đi theo, chăm sóc, quản lý đàn cừu. Do vậy, người ta tổ chức ngày hội chăn cừu để tiễn những người chăn cừu lên núi. Ngày hội mở đầu bằng tiếng kèn hiệu trembita là loại kèn gỗ lớn. Theo sau họ là những chiếc xe ngựa chở đồ trang trí bằng những tấm thảm thêu. Một số nghệ nhân địa phương đứng trên thùng xe biểu diễn những tiết mục hài, vui nhộn, hoặc tái hiện những cảnh tượng sinh động phản ánh sinh hoạt của người chăn cừu như vắt sữa, nấu pho-mát từ sữa cừu. Những người thợ thủ công cũng tham gia diễu hành với những khung cửi, những tấm vải dệt có hoa văn miêu tả đời sống của dân chăn cừu. Ở một bãi cỏ gần nhất trên sườn núi, người ta đã chuẩn bị sẵn một đống củi lớn để đốt. Người chăn cừu nhiều tuổi nhất nhóm lửa dùng roi chăn cừu dài, vung lên vài lần, đập vào đống lửa. Đó là hiệu lệnh cho các nghệ sĩ nhân dân lên sân khấu bắt đầu buổi biểu diễn. Người t a nhảy các điệu nhảy dân tộc, điệu nhảy rồng rắn, mời nhau nếm pho-mát cừu thơm, tươi nhất, uống rượu sữa cừu, ăn bánh ngọt. Sau đêm hội là những ngày làm việc bình thường của người chăn cừu. (Theo TTXVN, Tổng Cục Du Lịch) Lễ hội cô dâu Lễ hội này được tổ chức tại M atxcơva. Các cô gái trẻ trong cô dâu mang đủ phong cách sẽ tham gia diễu hành tại đường phố Matxcơva. Các cô được chụp ảnh ở rất nhiều địa điểm đẹp như bên dòng sông và cạnh các du thuyền và trở thành đối tượng chiêm ngưỡng của các khách du lịch. Các cô gái Nga rất háo hức tham gia lễ hội này và họ còn nghĩ ra rất nhiều trò tinh nghịch trong lễ hội. Người dân địa phương và các khách du lịch rất thích thú với các màn diễu hành của lễ hội.( Ngày lễ thánh Tatyana – ngày hội của sinh viên Nga Lịch sử ngày hội riêng của giới sinh viên Nga khởi nguồn từ năm 1755, khi Nữ hoàng Elizaveta Petrovna ký Sắc lệnh thành lập ở Matxcơva Trường Đại học tổng hợp đầu tiên của nước Nga Sa hoàng. Ngày Nữ hoàng ký Sắc lệnh đúng vào ngày lễ thánh Tatyana. Kể từ đó, thánh Tatyana, vị nữ thần La Mã hồi t hế kỷ thứ 3 theo Công lịch, đã trở thành nữ thánh bảo trợ cho Trường Đại học Tổng hợp lớn nhất của nước N ga. Rồi sau đó, ngày 25 tháng Giêng hàng năm đã biến thành ngày lễ của toàn thể giới sinh viên Nga. Lễ hội đua heo ở Nga Được biết, đây là một lễ hội có truyền thống từ lâu đời, khoảng thế kỷ thứ 17, nhưng đã b ị mai một dần và không được tổ chức thường xuyên. Vào đầu thế kỷ 20, để làm sống lại những lễ hội bản sắc dân tộc đang dần bị mai một, các nông dân N ga đã dần dần khôi phục lễ hội đua heo truyền thống vui nhộn này và ấn định thời gian tổ chức định kỳ hằng năm. (nuocnga.net) 6. Những phong tục, trò chơi dân gian Nga. Nghề thêu truyền thống ở Nga Thêu thùa là một trong những hình thức phổ biến nhất của nghệ thuật dân tộc. Cây kim, cuộn chỉ, mảnh vải – đó là tất cả những gì cần thiết để may và thêu trang phục, làm ra những sản phẩm tinh xảo để trang trí nhà cửa. Trên trang phục cũng như những vật dụng trong nhà có thêu hình mặt trời, những con chim, những người phụ nữ - nó như biểu tượng của sức mạnh cuộc sống, hạnh phúc, sự màu mỡ. Người ta tin rằng chúng sẽ mang tới cho ngôi nhà sự sung túc. Việc thêu thùa của các dân tộc trên lãnh thổ Nga đặc biệt đa dạng về kỹ thuật cũng như nghệ thuật thêu, nó mang đặc trưng cuộc sống của mỗi dân tộc. Có các kiểu thêu: hình chữ thập, hình 2 chữ thập đơn giản, những họa tiết (nửa chữ thập), đuôi sam, thêu nổi và các kiểu khác. Cách thêu này được sử dụng rộng rãi để trang trí rèm che, khăn trải bàn, gối trên đivăng, khăn ăn, panno và quần áo. Những nghệ nhân người Nga đã sáng tạo ra một khối lượng lớn những hoa văn thêu. Đối với những vùng phía Bắc, màu trắng đặc trưng cho những đường thêu xương cá; còn với khu vực miền Trung – nó thường thêu cùng những đường thêu màu trong đường viền bức tranh hay ở những phần nhỏ của hoa văn; ở các tỉnh miền Nam, có những họa t iết trang trí màu thêu đan xen nhau. Những hoa văn màu cũng như trắng được thêu theo lưới làm bằng vải t hưa. Ở bất kể vùng, tỉnh hay miền nào trên đất nước N ga đều có thể bắt gặp những tác phẩm độc đáo của những nghệ nhân tài hoa. Búp Bê Matrioshka Vào những năm 90 của thế kỷ XIX A.M amontova đã đem về từ Nhật Bản hình ảnh một cụ già hói đầu, tốt bụng – nhà thông thái, bổ sung vào kho tàng đồ chơi cho trẻ con Matxcơva. Thứ đồ chơi này khá đặc biệt, nó bao gồm nhiều con búp bê lồng vào nhau. Búp bê Matrioshka đầu tiên là hình ảnh một cô gái trong trang phục dân tộc truy ền thống: áo xa – ra – phan, yếm và khăn trùm đầu. Thứ đồ chơi này có khoảng 8 búp bê trở nên. Hình tượng các búp bê gái được lần lượt thay đổi từ búp bê bé trai để phân biệt với nhau. Con búp bê trong cùng nhỏ nhất là hình ảnh một đứa trẻ quấn tã. Tên gọi Matrena thời đó đã được rất nhiều người biết đến. Cái tên Matrioshka cũng bắt nguồn từ đó. Sản xuất búp bê M atrioshka đã trở nên phổ biến và rộng khắp tới mức còn có cả các đơn đặt hàng sản xuất từ Paris, Đức, tại hội chợ Leipzig nổi tiếng. Chủ đề trong các câu chuyện cổ tích luôn thu hút được sự chú ý đặc biệt của loại búp bê này. Bên cạnh đó còn có nhiều chủ đề khác: cácc nhân vật nổi tiếng,… Búp bê Matrioshka trở nên phong phú không chỉ nhờ các hình vẽ mà cả bởi số lượng búp bê lồng vào nhau. Đầu thế kỷ XX, tại Sergiev Posad, những con búp bê Matrioshka có tới 24 con lồng vào nhau, đến năm 1913 người thợ tiện Nikolai Bulychev đã phá kỷ lục với số lượng búp bê là 48. Ngay trong năm nay, tại Sergiev Posad, hợp tác xã t iểu thủ công nghiệp chuyên sản xuất đồ chơi đã được t hành lập mang lại số lượng thu nhập đáng kể cho người dân nơi đây. Đồng thời, hình tượng con lật đật cũng bắt nguồn từ loại búp bê này. Nhắc tới búp bê Matrioshka, chúng ta không thể không nhắc tới Bảo t àng đồ chơi t ại Sergiev Posad. Cây Đàn Balalaika Đàn balalaika là một nhạc cụ truyền thống của Nga. Nó không chỉ là một nhạc cụ đơn thuần, mà còn mang trong mình cả tâm hồn Nga và đã trở thành một trong những biểu tượng của văn hóa Nga. Nhiều người cho rằng, đàn balalaika được nghĩ ra ở nước Nga cổ, những người khác lại cho rằng nó xuất phát từ một nhạc cụ của người kirgiz – kaisak – dombra. Còn có một giả thuyết nữa: có khả năng đàn balalaika được nghĩ ra trong thời gian quân Tatar chiếm đóng, hoặc ở một mức độ nhất định, đó là sự giao thoa với nền văn hóa của người Tatar. Do vậy khó có thể xác định chính xác năm cây đàn xuất hiện. Những nhà sử học và những nghiên cứu âm nhạc vẫn đang tranh luận về vấn đề này. Cây đàn balalaika gồm 3 phần chính. Phần thứ nhất là thân đàn gồm có mặt đàn (phần trước) và phần sau, được tạo nên bằng cách dán 6 – 7 mảnh gỗ lại với nhau. Phần thứ hai là cần đàn có các phím đàn và cuối cùng là đầu đàn – phần trên cùng của balalaika. Trên phần đầu đàn là các khóa để lên dây. Ở phần mặt đàn thường có một cái lỗ nhỏ, trên lỗ nhỏ đó thường có một màng bảo vệ. Nó có tác dụng bảo vệ mặt đàn khỏi những cú đập trong khi chơi. Ở nhiều đàn balalaika không có cái lỗ nhỏ này, chúng được thay thế bằng một bức tranh nhỏ vẽ hình hoa hay quả dại. Nhưng Vasily Andreev còn nghĩ t ới một điều gì đó lớn hơn là hoàn thiện cây đàn balalaika. Ông muốn trả lại cây đàn cho nhân dân và phổ biến nó. Hiện nay tất cả những người lính khi phục vụ trong quân đội đều được phát cho một cây đàn balalaika và khi rời quân ngũ họ mang theo cây đàn. Lần đầu tiên cây đàn xuất hiện trong dàn nhạc giao hưởng. Ngày nay đàn balalaika mặc dù gặp nhiều thăng trầm nhưng nó vẫn luôn là biểu tượng cho nền văn hóa truyền thống của N ga trong mắt bạn bè thế giới. 7. Tôn giáo ở Nga. Tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và tinh thần của người Nga hiện đại. Đa số những tín đồ ở Nga là những người theo đạo Cơ đốc chính thống (Orthodox). Tôn giáo ở Nga ngày nay Với gần 5000 giáo hội, Nhà thờ Orthodox của N ga đã chiếm tới quá nửa tổng số giáo hội được đăng ký ở Nga. Tiếp đến là đạo Hồi với 3000 giáo hội; Baptist - 450 giáo hội; Seventh Day Advent ists -120 giáo hội ; Evangelicals - 120 giáo hội; Cựu giáo (Old Believers) - trên 200 giáo hội; Thiên chúa giáo - 200 giáo hội; Krishnaites - 68 giáo hội; Đạo Phật - 80 giáo hội; Đạo Do Thái - 50 giáo hội và Đạo Unified Evarfelical Lutherans - 39 giáo hội. Một số nhà thống kê ước tính số người theo đạo chiếm 40% tổng số dân Liên bang Nga. Gần 9000 cộng đồng ở N ga thuộc về trên 40 tôn giáo khác nhau đã chính thức đăng ký. Phần lớn tôn giáo của Nga ngày nay là đạo Cơ đốc giáo. Đất nước này có trên 5000 nhà thờ Oxthodox, mà rất nhiều trong số đó được sửa chữa hoặc làm mới bằng công quỹ của giáo khu hoặc địa phương. Nga có 19 triệu người theo đạo Hồi, cộng đồng tôn giáo lớn thứ 2 ở Nga, có trên 800 giáo khu và đền đài, phần lớn là ở Bashkortostan, Daghestan, Kabarda-Balkaria, Bắc Ossetia, Tatarst an, Ingushetia và Chechny a. Đạo Phật được phát triển lan rộng ở các vùng Buryat ia, Kalmykia, Tuva và các khu vực I rkutsk và Chits. Liên bang Nga hiện nay đã có 10 phật đường với 200 ngôi chùa, 10 phật đường khác đang được xây dựng. Liên bang Nga có 42 cộng đồng Do Thái. Thành phố M át-xcơ-va có hơn 10% dân số là người Do Thái, và có 3 giáo đường Do Thái, trong đó có Giáo đường Hasidic. III. NHữNG THÓI QUEN, Sở THÍCH TRONG GIAO TIếP CủA NGƯờI NGA Mỗi dân tộc có thói quen, sở thích khi giao tiếp khác nhau. Vì vậy để tạo ấn tượng và tránh thất thố trước một vị khách nước ngoài, cần phải hiểu được những đặc điểm trong văn hóa giao tiếp của quốc gia đó. Người Nga được đánh giá là dễ bộc lộ t ình cảm, cởi m ở và dễ hòa mình thích nghi với môi trường mới. Họ thẳng thắng, dễ thương lượng và chân thành trong các mối quan hệ. Vì thế văn hóa giao tiếp của người Nga có nét chân thành, thể hiện sự hiếu khách và ít đặt nặng vấn đề hình thức. 1. Tính cách tâm lý dân tộc Người N ga là khách dễ tính, ít đòi hỏi, tính đôn hậu, trung thực tình cảm dễ t hể hiện ra bên ngoài. Người Nga rất thích nói về hòa bình, thích đọc nhiều và rất quan tâm đến kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nghệ thuật, âm nhạc và văn học. những người có thể trao đổi được với họ ở mặt bằng trí thức cao sẽ khiến người Nga nể phục. Bạn nên đọc các tác phẩm của Tolstoi, Puskin, Dostojevski. 2. Đặc điểm giao tiếp - Chào hỏi, làm quen Khi chào hỏi, làm quen nhau lần đầu tiên với người Nga, bạn không được tỏ ra quá thân thiện. Thái độ xuồng xã hoặc quá dí dỏm hay bị người Nga coi là “Mỹ quá”, thậm chí còn không được xem trọng. Đối với những người thân thiết thì họ thường ôm, hôn má khi gặp mặt. Khi từ biệt họ vẫy tay nhưng lại ngửa lòng bàn t ay về phía ngoài và khua lên xuống. Nếu lòng bàn tay hướng về phía mình và khua ra trước và sau có nghĩa là ”hoy đến đây ”. - Tín ngưỡng Khi tiếp khách là người Nga, bạn nên thận trọng với màu sắc trang trí của nơi đón tiếp. Họ có cách hiểu riêng về màu sắc và con số. Tốt nhất là sử dụng màu đỏ (đối với người Nga tượng trưng cho vẻ đẹp, sự phục s inh, tình y êu), xanh lá cây, xanh da trời, số 3, số 7 và số 12. Không được dùng màu đen và số 13. Sử dụng màu trắng cũng phải hết sức thận trọng vì người Nga cho rằng màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết, trong trắng, nhưng đồng thời cho cả đau thương. - Khoảng cách Đối với người Nga, khoảng cách riêng tư nhỏ hơn so với những người Châu Âu khác. Trong khi trao đổi có thể vỗ vai nhau hay nắm tay nhau, vì người Nga coi đó là sự thể hiện của tình thân thiện. Khi đã quen biết nhau lâu hơn - kể cả phụ nữ và nam giới - đều có thể ôm nhau hoặc hôn lên má để thể hiện tình thân. - Quà tặng Quan hệ càng thân thiết và càng lâu dài thì giá trị, mối liên hệ giữa món quà với cá nhân người tặng quà và mức độ tỷ mỷ khi chọn quà càng phải cao. Hoa luôn là món quà thích hợp, nhưng nhớ phải chọn số bông lẻ. Số bông chẵn chỉ được dùng để viếng tang. Hoa màu vàng và trắng còn có nghĩa liên tưởng tới đau thương và mất mát. - Tục chúc sức khỏe Khi một Nga thấy người khác bị hắt hơi, họ có thói quen nói với anh ta “Budt e zdorovy!” (chúc sức khỏe). Với người N ga hắt hơi được coi là điềm lành. Người ta cho rằng, nếu như hắt hơi, tức là anh t a sẽ khỏe, còn mong muốn của anh t a thành sự thật. Nếu như một người nói điều gì đó, và anh ta hắt hơi, có nghĩa là điều anh ta nói là thật. Nếu như ai đó hắt hơi sau bữa tối, có nghĩa là: con người hạnh phúc hắt hơi cho sự xuất hiện của một người mới trong nhà, còn với người không hạnh phúc, ngược lại, là ai đó chết hoặc đi xa. Nói “Bud zdorov!” cũng cho cả những con vật – chó và mèo. - Tiếp đãi khách: Người Nga thường hay tiếp đãi các vị khách quan trọng bằng bánh mỳ-muối. Tục lệ đón khách bằng bánh mỳ và muối đã quen thuộc với người dân N ga từ rất lâu rồi. Sự kết hợp của bánh mỳ và muối đóng vai trò quan trọng đặc biệt về biểu tượng: Bánh mỳ thể hiện mong muốn giàu có và sung túc, còn muối là sự bảo vệ con người khỏi những ảnh hưởng và sức mạnh của kẻ thù. Tiếp đãi khách bằng bánh mỳ và muối tức là mối quan hệ giữa khách và chủ nhà là thân thiện và đầy tin cậy. Nếu từ chối thì nó như một sự sỉ nhục. - Giao tiếp trong công việc: Trong doanh nghiệp Nga, người đứng đầu ít khi ủy quyền cho cấp dưới. Vì thế, muốn đàm phán có kết quả thật sự, bạn nên tìm cách đàm phán trực tiếp với người đứng đầu này. Nếu đối tác của bạn là nữ đôi khi chỉ cần gật đầu chào là đủ, trong khi bắt tay đối tác nam giới chặt và lâu. Nhưng tập tục này đang có chiều hướng thay đổi vì ngày càng có nhiều phụ nữ N ga đảm nhận cương vị quản lý quan trọng. Xưng hô với người N ga bằng tên gọi của họ đi kèm với tên của người cha. Ví dụ, tên gọi của đối tác là Sergej, tên gọi của người cha là Oskar, thì gọi đối t ác là Sergej Oskarovitsh. Các chức danh cấp cao thì mới sử dụng trong xưng hô, chẳng hạn như Tổng Giám đốc hay Bộ trưởng. Một điều đáng lưu ý, muốn làm ăn với người Nga, các đối tác nên phải biết tiếng Nga hoặc ít nhất phải có phiên dịch giỏi. Bởi, nhiều người Nga ứng xử giống như người Mỹ: nói ngôn ngữ của chúng tôi hoặc chẳng nói ngôn ngữ nào hết. - Những điều kiêng kỵ: Người Việt chúng t a thường kiêng chụp ảnh 3 người, kiêng ăn thịt chó đầu tháng, kiêng nói những từ không hay vào ngày đầu tiên của năm. Những người đi biển thì kiêng lật cá khi ăn, sĩ tử trước khi đi thi thì kiêng ăn trứng hoặc chuối, thậm chí kiêng cả tắm...v.v. Người Nga cũng vậy, họ cũng có những điều kiêng kỵ riêng do đó cần phải lưu ý để tránh làm mất lòng họ.  Khi nói chuyện với người N ga nên tránh bàn về các đề tài St alin, khơ – rut – sốp…, với phụ nữ thì không nên hỏi tuồi.  Người Nga rất không thích “khách không mời mà đến”, vì vậy trước khi đến thăm nhà, bạn cần phải thông báo trước nếu không họ sẽ không tiếp hoặc nếu có thì cũng rất miễn cưỡng.  Họ cũng rất kiêng kỵ việc bắt tay hay đưa tiền qua cánh cửa, cũng không thích ngồi ở góc bàn.  Khi một người Nga dẫm phải chân người khác sẽ tự động đưa chân ra cho đối phương dẫm nhẹ lên. N gười kia buộc phải đồng ý nếu không kẻ phạm lỗi sẽ gặp xui. Còn một điều tương tự nữa là nếu bạn bước ngang qua một người (đang nằm phơi nắng trên biển) thì bạn sẽ phải bước lại chứ không được chỉ đi "1 chiều".  Phụ nữ Nga kiêng không dùng chung lược, của ai người nấy dùng, không mượn qua lại như phụ nữ VN.  Không tặng nhau khăn mù xoa.  Tặng ai cái ví nhất thiết bên trong phải có một đồng tiền (1 kop. cũng được), chứ tặng ví không lại là rủa người kia luôn nhẵn túi.  Tặng hoa phải là số bông lẻ, đi viếng đám ma mang số bông chẵn.  Không được tặng người ốm chậu hoa cây hoa (có rễ mọc, lâu khỏi bệnh)  Kiêng ngửa tay khi rót rượu.  Rượu bia đã rót hết thì chai phải để ngay xuống sàn, không để trên bàn.  Không như ở Việt Nam, đàn ông Nga khi uống rượu bằng chai có thể chuyền tay nhau được nhưng bằng ly thì tuy ệt đối không. - Một số thói quen giao tiếp khác  Dấu hiệu “O .K” là mộ t cử chỉ mơ hồ ở Nga. Nếu như đối với các nước phương Tây nó thể hiện “Tốt” hay “Được” thì đối với nhiều vùng của Nga đó được xem là một cử chỉ tục tĩu, khiếm nhã.  Khi ăn họ cầm dao bằng tay phải và nĩa bằng tay trái. Họ không có thiện cảm với hành động để t ay lên đùi trong khi ăn. Cổ tay lu ôn được đặt trên bàn trong bữa ăn của họ .  Bước vào tiệm ăn và để gọi hầu bàn, 2 cách phổ biến người Nga dùng là một cái gật đầu nhẹ hoặc giơ một bàn tay lên cao.  Một điều kiêng kỵ ở rạp chi ếu là bạn quay lưng vào mặt những người đang ngồi để đến chỗ của mình, hãy luôn xoay mình và đi đối diện với họ. IV. NHữNG THÓI QUEN, Sở THÍCH, NHU CầU CủA NGƯờI NGA KHI ĐI DU LịCH Như chúng ta đã biết, Nga là quốc gia có nền văn hóa l âu đời, người Nga có tính thật thà, đôn hậu, ham hiểu biết, ưa thích cuộc sống p hón g khoáng, gần gũi với thiên nhiên. Họ giản dị trong sinh hoạt, đơn giản trong ăn uống v à không cầu kì trong giao tiếp. Với du khách Nga, phương Đông ngày càng cuốn hút bởi sự độc đáo riêng, nền văn hóa và triết học lâu đời, những phong tục tập quán h ay những truyền thuyết dân gian, và cả những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bên cạnh đó là tình hình an ninh chính trị của nhiều quốc gia phương Đông ổn định, đặc biệt là đố i vớ i khu vực Đông và N am Á, kinh tế – xã hội đang ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập. Do vậy phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, bên cạnh đáp ứng nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của phần đông du khách Nga, còn có thể đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thị trường và đối t ác kinh doanh của một n hóm du khách khác của Nga. Với du lịch Việt Nam, du khách Nga là một thị trường tiềm năng. Vì khoảng tháng 11 đến tháng 3, du khách N ga bắt đầu những chuyến đi du lịch tránh đông, trong khi ở Việt Nam lại là mùa hè. Điều này, khiến Việt Nam trở thành lựa chọn hàng đầu, trong đó những bãi biển, resort ở khu vực miền Trung rất hấp dẫn du khách Nga. H ơn thế du khách Nga luôn là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh, độ dài lưu trú và mức chi tiêu cao với tỷ lệ tăng bình quân từ 50 đến 80%/năm. Du khách Nga thích đi du lịch theo gia đ ình hoặc các nhóm bạn bè về các vùng quê hay thăm các danh lam thắn g cảnh vào những ngày nghỉ. Khi du lịch nước ngoài du khách N ga thường đi theo đoàn (nhiều trường hợp là đi theo các phiếu nghỉ của Công đoàn nơi họ làm việc). Họ thích vui vẻ, hài hước và đàn hát. Nhu cầu về lưu t rú của du khách N ga khá cao, nên hầu hết nơi ở họ chọ n thường là khách sạn lớn. Một điều không thể thiếu của du k hách N ga k hi đến một xứ sở khác là mua sắm. Hàng hóa được họ chú ý nhiều nhất thường là hàng hóa cao cấp và hàng lư u niệm. Hầu hết các du khách N ga đều rất thích mua những thứ đặc trưng của nơi mình đến. Điều cần chú ý của hướng dẫn viên khi đón đoàn khách Nga là:  Bắt t ay và giới thiệu tên khi gặp mặ t.  Đầu mục chủ yếu của các buổi nói chuy ện (gợi chuyện): hòa bình.  Người Nga giỏi t iếng Anh rất ít.  Quà nên tặng: Đồ jean, bút tốt, album nhạc, sách Người Nga thường có thói quen đi du lịch vào mùa hè, họ có nhu cầu đi du l ịch biển và du lịch nghỉ ngơi an dưỡng cao. Phương tiện di chuyển chủ yếu mà du khách N ga ưa thích dùng trong du lịch là máy bay, xe lửa và ô tô, một số đông du khách N ga ( có khả năng chi trả cao) còn thích dùng thuyền. Ngoài ra họ còn thích khám phá, t ìm hiểu bản sắc văn hóa, lịch sử, con người ở các vùng miền nơi họ đến. Khi đi du lịch, họ thích tham gi a vào các loại h ình thể thao như: bóng bàn, bóng đá, cầu lông, đua ngựa hoặc leo núi. Tín h tập thể cũng như ý thức của du khách nga khá cao. Họ tập trung rất đúng giờ của chương trình hay theo lời hướng dẫn (trước khi ăn hoặc giờ tham quan). Khi ăn xong ở nhà hàng họ rời bàn thường cùng một lúc nên dễ t ạo những tiếng đ ộng gây chú ý xung quanh. Dù du khách Nga không cầu kì trong ăn uống n hư du khách một số quốc gia khác, tuy nhiên họ cũng có những thói quen riêng, đặc trưng riêng trong bữa ăn của mình. Chính vì thế cần chú ý đến một số điểm nổ i bậc trong khẩu vị của họ như:  Người N ga thường thích ăn những món lạn h, trong bữa ăn của họ luôn có bánh mì, sữa và bơ. Bữa sáng họ thường dùn g cháo sữa, bánh mì bơ v à trà đen.  Khai vị d u khách Nga ưa chuộng món súp có lẫn thịt được chế biến từ bắp cải tím, củ cải đỏ, lá thơm (đặc biệt là súp củ cải đỏ, đây đ ược xem như một món ăn truyền th ống của N ga. Để chuẩn bị loại súp này cần chú ý chọn loại củ cải đỏ cả vỏ lẫn ru ột thì khi chế biến mới có thể có được màu đặc trưng). Súp là món không thể thiếu trong bữa ăn trưa.  Họ thích ăn các món quay, các món nấu phải nhừ, hay các món thịt xay nhỏ, bỏ lò, rán hay om có nước sốt. Món chính trong bữa ăn của du khách N ga nhấ t thiết phải có cá hay thịt (thịt bò và thịt cừ u được ưa chuộng hơn) nướng hay hầm, ăn kèm với rau hay trái cây. N goài ra còn có món thịt ướp muối hun khói. Du khách N ga thường không thích ăn các món tái và kiêng ăn chim bồ câu.  Các loại r au củ được họ ưa chuộ ng đầu tiên phải nói đến khoai t ây. Ở Nga có đến khoảng 1000 món ăn chế biến từ khoai tây, từ đơn giản đến cầu kì. N goài ra cũng phải kể đến bắp cải, cà chua, dưa chuột, củ cải đỏ, xà lách (ăn kèm với các món thịt vi ên hay thịt ninh nhừ) và bắp cả i muối chua.  Hai món ăn đặc biệt với người N ga (có t hể hiểu như cơm trong bữa ăn với người Việt Nam) là bánh mì đen và salad Nga. Bánh mì đen được làm từ bột mì đen và ủ chua, tục ngữ n gườ i Nga s o sánh bánh mì đen giống như cha của mỗi người. Riêng đối với salad Nga được chế biến từ giò, dưa chuột, cà chua, khoai tây luộc và thịt nạc luộc được thái vuông nhỏ sau đó trộn với mayonaise của Nga.  Trước bữa ăn, du khách N ga thích nhấp chút Voska, Whisky, Cognac hay một số loại khác. Trong thói quen phổ biến của du khách N ga thì rượi Voska đỏ được ưa thích nhiều hơn cả. Bên cạnh việc uống một ít rượi trước khi dùng bữa thì du khách Nga t hường uống coffe (pha rất loãng), chocolate, ca cao hay hỗn hợp của chúng. Và hoa quả tươi hay nước uống đóng hộp. Họ sẽ tỏ ra thích thú nếu được mời cốc (to) nước chè đen nóng, có đư ờng và một vài lát chanh.  Món tráng miệng t hường được du khách N ga dùng là coffe và bánh. Các loại bánh được làm từ bột mì, có nhân là mứt h oa quả hay pho -mát. Trong trường hợp vui vẻ hay liên hoan nên chuẩn bị cho bàn ăn của họ một chiếc bánh gatô và một chai Voska. Trong những năm gần đây, lượng du khách Nga đến Việt Nam có chiều hướng t ăng mạnh. Các hãng hàng không của Việt Nam lẫn N ga đã và đang tăng các chuyến bay để kịp đáp ứng nhu cầu của du khách. Nơi thu hút du khách Nga n hiều nhất Việt Nam hiện nay có thể kể đến các vùng biển du lịch miền Trung như Bình Th uận, Phan Thiết, Nha Trang, Qui Nhơn. Du khách Nga thường chọn tour 2 tuần khi du lị ch ở Việt Nam nhằm kết hợp vừa du ngoạn, tìm hiểu và n ghỉ dưỡng. Khí hậu hay danh lam thắng cảnh của Việt Nam làm du khách rất hài lòng, từ những bãi biển dài, cát trắng, nước trong như Bình Thuận, Nha Trang đến những con đường phố cổ trầm mặc ở Hội An, Hà Nội . Các h ệ thống Nhà hàng – Khách sạn cùng sự phục vụ của nhân viên, sự thân thiện của mọi người là những điểm cộng mà du khách Nga ưu ái dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, đi ều đáng nói t rong việc đáp ứng nhu cầu du kh ách là v ần đề lực lượng hướng dẫn viên tiếng Nga còn hạn chế về chất lượn g cũng như số lượng nên dẫn đến tình trạng du khách không được truyền đạt những thông tin như mong đợi (hoặc không được cảm nhận nhiều qua giới thiệu của hướng dẫn). Điều này đi ngược lại với t inh thần tìm hiểu, khám phá của người Nga trong du lịch. thế nên bên cạnh việc đáp ứng các y êu cầu về các dịch vụ nhà hàng – khách sạn, nhu cầu về tham quan nghỉ dưỡng cho du khách, cần đào t ạo n hiều hơn các hướng dẫn viên tiếng Nga, hi ện t ại đây là điểm yếu của du lịch Việt Nam khi muốn khai thác thị trường tiềm năng này .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfga_1571.pdf
Luận văn liên quan