Đề tài Lập kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm

LỜI MỞ ĐẦU. Trong thời đại hiện nay, sức khỏe ngày càng là một mối quan tâm lớn đối với tất cả người dân.Với khí hậu nhiệt đới ở nước ta nắng nóng quanh năm, thêm vào đó là ô nhiễm môi trường trầm trọng, bụi khói khắp trên đường đi.Chính vì vậy, khẩu trang là một vật dụng đã trở nên thiết yếu đối với phụ nữ hiện nay. Ngày 15/12/2007, theo quyết định của chính phủ, tất cả mọi người dân đều phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường thì khẩu trang trở nên bất lợi.Với mong muốn phụ nữ bảo vệ được làn da nhạy cảm và đẹp hơn khi đội mũ bảo hiểm mà không hề ngần ngại khi mang khẩu trang thì chúng tôi đã nảy ra ý định kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm. Sản phẩm của chúng tôi với chất lượng cao, bền đẹp, giá thành hợp lý vừa túi tiền, tiện dụng mọi lúc mọi nơi phù hợp với mọi lứa tuổi sẽ mang lại sự hài lòng của mọi người khi sử dụng sản phẩm khẩu trang đa năng của công ty chúng tôi.Và dưới đây là phần trình bày về chiến lược sản phẩm, kế hoạch tung sản phẩm khẩu trang KING- A01 của công ty. Ý TƯỞNG KINH DOANH. Trong thời đại hiện nay, sức khỏe ngày càng là một mối quan tâm lớn đối với tất cả người dân. Với khí hậu nhiệt đới ở nước ta nắng nóng quanh năm, thêm vào đó là ô nhiễm môi trường trầm trọng, bụi khói khắp trên đường đi. Chính vì vậy, khẩu trang là một vật dụng đã trở nên thiết yếu đối với các bạn gái chúng ta. Ngày 15/12/2007, theo quyết định của chính phủ, tất cả mọi người dân đều phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường thì khẩu trang hiện nay trở nên bất lợi. Nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường chúng tôi đã nảy ra ý định kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm. Dưới đây là bài nghiên cứu của chúng tôi trước khi tung ra sản phẩm này. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. Thị trường mục tiêu được nhắm tới: ở Quảng Ngãi Đối tượng khách hàng chủ yếu là phụ nữ KẾT CẤU ĐỀ TÀI. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ. Dân số.Tự nhiên và khí hậu.Kinh tế.Pháp luật.Công nghệ. MÔI TRƯỜNG VI MÔ. MÔI TRƯỜNG NỘI TẠI CÔNG TY. Quản trị cao cấp. Tài chính. Sản xuất. Nhân sự. Các bộ phận khác. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI CÔNG TY. Nhà cung cấp. Khách hàng. Đối thủ cạnh tranh. Người trung gian. PHÂN TÍCH SWOT CÔNG TY. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU.HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC. CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM.CHIẾN LƯỢC GIÁ CẢ.CHIẾN LƯỢC PHÂN PHỐI.CHIẾN LƯỢC XÚC TIẾN. KHẨU TRANG - SẢN PHẨM TIỆN ÍCH ĐI KÈM NÓN BẢO HIỂM

doc29 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 24/04/2013 | Lượt xem: 2267 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Lập kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHẨU TRANG - SẢN PHẨM TIỆN ÍCH ĐI KÈM NÓN BẢO HIỂM LỜI MỞ ĐẦU. Trong thời đại hiện nay, sức khỏe ngày càng là một mối quan tâm lớn đối với tất cả người dân.Với khí hậu nhiệt đới ở nước ta nắng nóng quanh năm, thêm vào đó là ô nhiễm môi trường trầm trọng, bụi khói khắp trên đường đi.Chính vì vậy, khẩu trang là một vật dụng đã trở nên thiết yếu đối với phụ nữ hiện nay. Ngày 15/12/2007, theo quyết định của chính phủ, tất cả mọi người dân đều phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường thì khẩu trang trở nên bất lợi.Với mong muốn phụ nữ bảo vệ được làn da nhạy cảm và đẹp hơn khi đội mũ bảo hiểm mà không hề ngần ngại khi mang khẩu trang thì chúng tôi đã nảy ra ý định kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm. Sản phẩm của chúng tôi với chất lượng cao, bền đẹp, giá thành hợp lý vừa túi tiền, tiện dụng mọi lúc mọi nơi phù hợp với mọi lứa tuổi sẽ mang lại sự hài lòng của mọi người khi sử dụng sản phẩm khẩu trang đa năng của công ty chúng tôi.Và dưới đây là phần trình bày về chiến lược sản phẩm, kế hoạch tung sản phẩm khẩu trang KING- A01 của công ty. Ý TƯỞNG KINH DOANH. Trong thời đại hiện nay, sức khỏe ngày càng là một mối quan tâm lớn đối với tất cả người dân. Với khí hậu nhiệt đới ở nước ta nắng nóng quanh năm, thêm vào đó là ô nhiễm môi trường trầm trọng, bụi khói khắp trên đường đi. Chính vì vậy, khẩu trang là một vật dụng đã trở nên thiết yếu đối với các bạn gái chúng ta. Ngày 15/12/2007, theo quyết định của chính phủ, tất cả mọi người dân đều phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường thì khẩu trang hiện nay trở nên bất lợi. Nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường chúng tôi đã nảy ra ý định kinh doanh sản phẩm khẩu trang dành cho mũ bảo hiểm. Dưới đây là bài nghiên cứu của chúng tôi trước khi tung ra sản phẩm này. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. Thị trường mục tiêu được nhắm tới: ở Quảng Ngãi Đối tượng khách hàng chủ yếu là phụ nữ KẾT CẤU ĐỀ TÀI. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ. Dân số. Tự nhiên và khí hậu. Kinh tế. Pháp luật. Công nghệ. MÔI TRƯỜNG VI MÔ. MÔI TRƯỜNG NỘI TẠI CÔNG TY. Quản trị cao cấp. Tài chính. Sản xuất. Nhân sự. Các bộ phận khác. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI CÔNG TY. Nhà cung cấp. Khách hàng. Đối thủ cạnh tranh. Người trung gian. PHÂN TÍCH SWOT CÔNG TY. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC. CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM. CHIẾN LƯỢC GIÁ CẢ. CHIẾN LƯỢC PHÂN PHỐI. CHIẾN LƯỢC XÚC TIẾN. NỘI DUNG. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ. DÂN SỐ. * Dân số: 1.271.370 người (2004). Trong đó vùng đồng bằng là 1.064.879; vùng núi là 186.689 người và vùng hải đảo 19.802 người. Dân số tỉnh đang có xu hướng hơi giảm về cơ học, theo kết quả điều tra chính thức ngày 01/04/2009, dân số tỉnh Quảng Ngãi chỉ còn 1.217.159 người. * Dân tộc trong tỉnh gồm: Việt (Kinh), Hrê, Co, Xơ Đăng... CƠ CẤU DÂN SỐ CHIA THEO GIỚI TÍNH Tổng số Nam Nữ Tổng Tỷ lệ Tổng Tỷ lệ 1.217.159 546.075 48,63 671.084 51,37  Dân số Quảng Ngãi trong độ tuổi lao động là 694.792 người, chiếm 53,8% dân số toàn tỉnh. TỰ NHIÊN. Thời tiết Quảng Ngãi được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt. - Mùa nắng: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch. - Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch. - Gió mùa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc, hết sức mát mẻ dễ chịu gọi là gió Nồm. Khí hậu Quảng Ngãi có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía nam, hơn nữa do thế núi địa phương tạo ra. Quảng Ngãi có mưa đặc biệt. vũ lượng trung bình hằng năm 2.198 mm nhưng chỉ quy tụ vào 4 tháng cuối năm còn các tháng khác thì khô hạn. Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12. Sự phân phối vũ lượng không đều cũng như sự kéo dài mùa khô hạn rất có hại cho cây cối, đất đai và gây khó khăn cho việc dẫn thoát thuỷ. Đặc biệt ở Quảng Ngãi các trận bão chỉ thể xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11. Với điều kiện khí hậu và thời tiết hết sức phức tạp của Việt Nam nói chung và ở Quãng Ngãi nói riêng như vậy, chúng tôi đã đưa ra những cơ hội và thách thức đối với sản phẩm khẩu trang đa năng : Cơ hội: • Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa • Mùa nóng kéo dài, nắng gắt: tổng số giờ nắng từ 1500h đến 3000h trên năm. • Phương tiện giao thông đi lại, khói bụi nhiều. • Tâm lý phụ nữ: sợ nắng ảnh hưởng đến làn da của họ • Đa số sử dụng xe gắn máy =>ô nhiễm môi trường=>sử dụng khẩu trang bảo vệ sức khỏe Thử thách • Khí hậu nóng ẩm=>khẩu trang khi dùng dễ bị ẩm mốc=>tích tụ nhiều lọai bụi, khí, chất độc hại • Khi mùa mưa đến, gây sự bất tiện khi dùng khẩu trang vì dễ bị ướt, đối với những loại khẩu trang khác thì phơi rất lâu khô =>giảm lượng tiêu thụ sản phẩm trong thời điểm này. • Có nhiều loại khẩu trang với nhiều mẫu mã và giá thành đa dạng => sức cạnh tranh cao với các công ty khác như: Vinamash, công ty TNHH TM & DV Nhân Sơn, khẩu trang Nano,…. • Sản phẩm còn mới lạ trên thị trường khẩu trang nên người tiêu dùng khó tiếp nhận, ít tin tưởng vào sản phẩm. KINH TẾ. Việt Nam trong năm 2009 đã liên tục tăng trưởng GDP dương. Kinh tế thế giới cũng đang phục hồi chung. Các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ năm 2009 vẫn tiếp tục được triển khai vào năm tới. Việt Nam cũng có nhiều kinh nghiệm khi đã vượt qua hai cơn bão lớn: lạm phát cao 2008 và suy giảm kinh tế 2009. Do đó, năm sau là thời điểm Việt Nam sẽ vận hành trơn tru hơn guồng máy phát triển kinh tế. Các nguồn vốn FDI và ODA tiếp tục đổ vào Việt Nam, bên cạnh những nguồn vốn trong nước. Lợi thế này sẽ góp phần tạo ra một sức mạnh tổng thể về vốn nội lực và ngoại lực, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển. Đồng thời, cộng với tinh thần lạc quan của người Việt thì đặt mục tiêu chỉ số tăng trưởng kinh tế 6,5% vào năm 2010 không phải là điều quá khó. Phần lớn giá trị của ngành may Việt Nam là đến từ hoạt động xuất khẩu nên những biến động về tỷ giá, lạm phát và sự ổn định hay suy thoái của nền kinh tế Mỹ sẽ có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu của ngành. Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam. Sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu Mỹ tìm đến những nguồn hàng nhập khẩu có giá rẻ hơn. Việc này có thể sẽ khiến cho hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ khiến cho đồng USD bị mất giá so với đồng tiền của các nước khác. Sự giảm giá của đồng USD khiến cho doanh thu xuất khẩu - nguồn thu chính của các doanh nghiệp may mặc giảm sút. Trong khi đó, yếu tố đầu vào của ngành may hiện nay phần lớn vẫn phải nhập khẩu và chịu ảnh hưởng của sự biến động giá dầu trên thế giới. Sự tăng giá của các yếu tố đầu vào sẽ khiến cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Điều này cũng ảnh huởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp may. Lạm phát tăng khiến cho giá cả hàng hoá tiêu dùng trong nước tăng lên. Để đảm bảo cho cuộc sống của người lao động, các doanh nghiệp may cũng sẽ phải thực hiện tăng lương để có thể giữ chân nhân viên. Hành động này sẽ góp phần làm tăng chi phí của doanh nghiệp và tất yếu làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, khi giá thành sản phẩm tăng lên thì doanh nghiệp may lại gặp khó khăn trong hoạt động xuất khẩu. Nguyên nhân là vì sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu may mặc là rất gay gắt. Nếu giá hàng may mặc của Việt Nam tăng lên thì các đối tác nhập khẩu sẽ ngay lập tức chuyển hướng sang các nước khác có giá thấp hơn, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sẽ bị giảm sút. Đất nước đang trên đường phát triển=>đời sống nâng cao=>tâm lý giá cao thì sản phẩm có chất lượng tốt=>nâng cao lợi nhuận Ngành công nghiệp dệt may phát triển, lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ=>chi phí thấp Tuy nhiên, chênh lệch giàu nghèo khá cách biệt, người có thu nhập thấp thường quan tâm giá cả =>cạnh tranh giá cả gay gắt. PHÁP LUẬT. Thuận lợi 15/12/2007, quyết định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi trên xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường=>một số bất lợi khi mang khẩu trang Sản phẩm vành che gắn liền với nón bảo hiểm giá khá đắt =>sản phẩm chúng tôi là sự lựa chọn đúng đắn để bảo vệ làn da và sức khỏe mà giá tương đối mềm Khó khăn Quy định của pháp luật, sản xuất phải đảm bảo vệ sinh môi trường =>chi phí sản xuất tăng ảnh hưởng giá thành sản phẩm. CÔNG NGHỆ, Khoa học kỹ thuật tiến bộ => cho ra nhiều máy móc tiên tiến =>tiết kiệm sức lao động, thời gian hao phí ít, năng suất lao động tăng cao Tuy nhiên, thời gian đầu tốn một khoản vốn khá lớn để đầu tư công nghệ. MÔI TRƯỜNG VI MÔ. 1. Tổng quan về ngành dệt may của Việt Nam Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các sản phẩm về may mặc ngày càng hoàn thiện. Từ những nguyên liệu thô sơ, con người đã sáng tạo ra những nguyên liệu nhân tạo để phục vụ cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm may mặc ngày càng phổ biến. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với những phát minh khoa học trong lĩnh vực công nghiệp đã giúp cho ngành dệt may có sự phát triển vượt bậc. Quá trình phát triển của ngành dệt may trên thế giới gắn liền với sự phát triển của các nước công nghiệp. Do đó, các nước công nghiệp vẫn luôn thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các nước đang phát triển. Cùng với đó, dệt may cũng luôn là một lĩnh vực nhạy cảm khi đàm phán và giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Ở Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động. Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể với tốc độ trên dưới 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may trong năm 2007 tăng 17,9% so với năm 2006. Các sản phẩm chủ yếu đều tăng như sợi toàn bộ tăng 11%; vải lụa thành phẩm tăng 8,9%; sản phẩm quần áo dệt kim tăng 8,8%; quần áo may sẵn tăng 12,6%. Sự phát triển ấn tượng của ngành may mặc đã góp phần đưa Việt Nam trở thành mộttrong chín nước xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất trong số 153 nước xuất khẩu hàng dệt may trên toàn thế giới. Dệt may đang vươn lên và tham gia vào những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của Việt Nam, bên cạnh những mặt hàng khác như dầu thô, giày dép, thuỷ sản v.v. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 7,8 tỷ USD, tăng 33,4% so với năm 2006 và bằng khoảng 16% giá trị xuất khẩu hàng hoá năm 2007. Hơn nữa, trong năm 2007, dệt may đã vượt qua dầu thô và trở thành mặt hàng mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Kể từ sau Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và đặc biệt khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO, thị trường và thị phần xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ngày càng phát triển. Trong đó, thị trường Mỹ đứng đầu với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 4,5 tỷ USD (chiếm khoảng 57,7% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2007); tiếp theo là EU với 1,5 tỷ USD (chiếm khoảng 19,2%) và Nhật Bản. Ngoài ra còn các thị trường khác như: Đài Loan, Canada, Hàn Quốc v.v. Đặc biệt sau khi Mỹ đã xóa bỏ hạn ngạch cho hàng may mặc của Việt Nam vào đầu năm 2007 thì hàng may mặc củaViệt Nam xuất khẩu vào Mỹ đã tăng mạnh, tăng 46,7% so với năm 2006, lớn hơn nhiều so với hàng Trung Quốc (chỉ tăng 23% so với năm 2006 khi xuất sang thị trường Mỹ). 2. Công ty may Viettien   Bước sang năm 2010, mặc dù còn nhiều khó khăn thách thức, nhưng đã xuất hiện những tín hiệu lạc quan đối với ngành dệt may Việt Nam nói chung và của Tổng công ty nói riêng. Thách thức lớn nhất thị trường xuất khẩu của ngành dệt may sẽ có rất nhiều cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh ...      Tuy nhiên, Tổng công ty đã cố gắng phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch các chỉ tiêu ngay trong 06 tháng đầu năm 2010 cụ thể như sau : STT Chỉ tiều ĐVT Thực hiện Kế hoạch Thực hiện So sánh 6T/ 2009 năm 2010 6T/ 2010 TH 6T/ KH Cùng kỳ 1 Doanh thu Tỷ đồng 912.00 2,100.00 1,007.00 48% 110% 2 Lợi nhuận trước thuế Tỷ đồng 43.00 105.00 55.00 52% 128% 3 Thu nhập BQ người LĐ Đồng 2,655,000 4,000,000 3,399,000 85% 128% Khả năng hoạt động của Công Ty:           Nguồn lực: STT ĐƠN VỊ Lao động MMTBỊ các loại D.Tích nhà xưởng (m2) Mặt hàng Năng lực(SP/Năm) 1. MAY 1 960 665 6.672 Shirt 3.000.000 2. MAY 2 990 655 6.672 Shirt 3.000.000 3. SIG-VTEC 1.010 861 5.700 Jacket, sportwear 2.000.000 4. DUONGLONG 510 512 2.133 Dress pants 1.800.000 5. VIỆT LONG 900 1.083 2.532 Khaki,dresspants,.. 3.000.000 6. VIMIKY 500 395 2.780 Suit 3.000.000                                   Năng lực sản xuất           Vốn điều lệ : 230 tỷ đồng Nhà xưởng:          55.709.32 m2 Thiết bị:                5.668 bộ Lao động:            trên 20.000 lao động PHÂN TÍCH SWOT CÔNG TY 1. Điểm mạnh - Nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù, chịu khó; - Tiền gia công sản phẩm rẻ, chi phí nhân công thấp; - Chất lượng các sản phẩm may mặc của Việt Nam được các nước nhập khẩu đánh giá cao; - Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam ngày càng tăng và thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng; - Các doanh nghiệp may đang dần chú trọng và có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực thiết kế, năng suất lao động, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm giảm lãng phí về nguyên vật liệu. 2. Điểm yếu Công nghệ của các doanh nghiệp trong ngành vẫn còn lạc hậu; - Lao động có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Bên cạnh đó, mức độ ổn định của nguồn lao động trong ngành may mặc không cao khiến cho các doanh nghiệp may thường xuyên phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao động mới; - Chủ yếu là thực hiện may gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp; - Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành may của Việt Nam tại thị trường nước ngoài nên không chủ động được kênh phân phối và thị trường tiêu thụ, - Phần lớn nguyên liệu cho ngành may mặc hiện nay vẫn phải nhập khẩu dẫn đến giá trị thực tế thu được của ngành chưa cao, - Ngành may mặc Việt Nam hiện chưa chú trọng nhiều đến thị trường nội địa; - Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu. 3. Cơ hội - Dân số Việt Nam đông sẽ cung cấp một nhu cầu lớn cho ngành may mặc Việt Nam; - Mức sống và thu nhập của người dân ngày càng tăng lên sẽ khiến cho nhu cầu đối với các sản phẩm may mặc ngày càng tăng, đặc biệt là các sản phẩm trung và cao cấp; - Hàng may mặc của Việt Nam ngày càng nhận được sự tín nhiệm của các nước nhập khẩu (Mỹ, EU, Nhật Bản…) do chất lượng sản phẩm cao nên sẽ có thể mở rộng hơn thị phần xuất khẩu cũng như tăng giá trị xuất khẩu; - Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế suất khi xuất khẩu hàng may mặc vào các nước khác; - Ngành may mặc trong thời gian tới được coi là ngành ưu tiên và khuyến khích phát triển nên sẽ nhận được những nguồn vốn đầu tư lớn cả trong và ngoài nước. 4. Thách Thức - Các quốc gia nhập khẩu thường có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với chất lượng của hàng may mặc nhập khẩu vào, bao gồm cả hàng hóa của Việt Nam.; - Hàng hóa Việt Nam cũng như của một số quốc gia khác có nguy cơ bị kiện bán phá giá và áp mức thuế chống bán phá giá nhằm bảo vệ ngành may mặc của nước nhập khẩu; - Để thu được lợi nhuận cao thì Việt Nam cần phải đầu tư các sản phẩm thiết kế thời trang để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như để xuất khẩu.; - Những biến động bất lợi về giá dầu thế giới, giá lương công nhân có thể làm tăng giá thành sản xuất của doanh nghiệp may. Nếu giá sản phẩm may mặc của Việt Nam tăng lên và cao hơn các nước khác thì các nước nhập khẩu sẽ chuyển hướng sang những nước có giá thành rẻ hơn và không nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam nữa, do đó sẽ làm giảm sút kim ngạch xuất khẩu ; - Sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng, phù hợp với thu nhập của người dân Việt Nam và các nước trên thế giới. C. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU. *8 Xu hướng người tiêu dùng 1. Xu hướng lớn nhất và quan trọng nhất là công nghệ đã thay đổi nhiều đến thói quen giao tiếp và tiêu dùng thông qua điện thoại di động, Internet... Hai yếu tố này đã làm thay đổi cuộc sống nhanh vô cùng. Nếu ai hay bất cứ DN nào không theo kịp sự phát triển này đồng nghĩa với tự giới hạn cuộc sống và vuột mất cơ hội. VN lại có tỉ lệ dân số trẻ, họ dùng điện thoại và Internet hằng ngày với nhiều mục đích khác nhau vì nhanh, tiện lợi và rẻ. Ở Philippines, mỗi ngày có hơn 22 triệu tin nhắn qua điện thoại được chuyển đi và điện thoại di động trở thành một ngành kinh doanh béo bở. 2. Số người sử dụng dịch vụ của các ngân hàng tăng lên là một tiềm năng rất lớn trong tương lai Ba năm trước VN có khoảng 20 ngân hàng nhưng nay con số này sẽ là 75 vào cuối năm 2008. Thử nghĩ xem VN - nước có GDP thấp thứ ba trong ASEAN - tại sao có nhiều ngân hàng đến thế? Những năm trước muốn mua một chiếc xe máy, ngoài tiền để dành bạn phải vay mượn người thân, gia đình... Nay nếu muốn mua nhà bạn chỉ cần chọn một trong những ngân hàng đang cho vay để mượn tiền mua nhà và trả dần theo thời gian. Số lượng người dân dùng ATM, thẻ tín dụng trong các giao dịch đã tăng lên nhanh chóng. Mười năm trước nếu bạn là người thành công, bạn sẽ giấu, nhưng nay người ta tự hào thể hiện mình là người thành đạt thông qua số lượng của những chiếc thẻ nhựa này. 3. Khát vọng sở hữu tài sản lớn gia tăng. Ở TP.HCM, Hà Nội và nhiều TP lớn, mỗi gia đình có ít nhất một chiếc xe máy trong nhà. Giờ đây lượng người có ôtô đã tăng mà sở hữu ôtô có nghĩa là phải chi thêm một khoản tiền khá lớn cho tài xế, nhiên liệu, chỗ đậu xe... Ai cũng muốn mua nhà, chung cư. Người dân dường như bị thuyết phục rằng mình đang giàu và họ rất tự tin. Khi họ tự tin và nghĩ rằng mình giàu có họ sẽ xài nhiều tiền. Ngày trước người ta có thể để dành 80% những gì họ kiếm được, nay người ta chỉ để dành 20% số tiền kiếm được mà thôi. 4. Người tiêu dùng VN đã quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe. Trước kia người VN ít quan tâm đến vấn đề này nhưng nay công việc đã nhiều hơn, công việc khó hơn, thời gian ngủ ít hơn, nên phần lớn người tiêu dùng VN đã xem sức khỏe là điều cần phải được quan tâm. Đặc biệt phụ nữ quan tâm nhiều đến việc liệu mình đã sử dụng đúng loại thực phẩm có đầy đủ dưỡng chất chưa, nhìn có mạnh khỏe không..., vì nếu nhìn bạn khỏe khoắn đồng nghĩa với bạn thành công. Người VN đã bận rộn hơn và ít thời gian rảnh rỗi hơn. Hãy nhìn sự tăng trưởng của các nhãn hiệu cà phê pha sẵn như G7, Vinacafe, Nestcafe... sẽ thấy lượng người muốn uống cà phê nhỏ từng giọt qua phin đã giảm dần vì họ không còn nhiều thời gian. 5. Cuộc sống của người dân ở nông thôn cũng bắt đầu thay đổi theo hướng thành thị rất nhanh. Lượng người sở hữu tivi, điện thoại di động tăng lên nhiều. 75% dân số VN ở nông thôn, 60% GDP cũng đến từ đây và các DN cũng bắt đầu để ý nhiều đến thị trường này và cơ hội kinh doanh cũng đang tăng lên đáng kể. Khảo sát cho thấy 15% người dân nông thôn sở hữu hàng hiệu (hiện có khoảng 65 triệu người dân sống ở nông thôn và dân số khu vực này đông hơn gấp đôi thành thị). Vì dân số VN còn trẻ, kinh tế VN trong mấy năm qua khá thành công nên người dân được hưng phấn để thể hiện mình thành đạt hơn, giàu có hơn... Chính vì vậy với họ, việc đang dùng điện thoại gì, uống loại bia gì rất quan trọng vì nó giúp bạn cho mọi người thấy bạn là ai. Điều này cũng thay đổi khá nhanh trong vòng ba năm qua. Có thể một anh A nào đó rất thích uống bia hơi, nhưng vì có nhiều người xung quanh hoặc trong một dịp đặc biệt nào đó anh ta lại chọn một loại bia có thương hiệu để uống vì bia hơi chỉ dành cho người có thu nhập thấp hoặc dân nông thôn. 6. VN có lượng phụ nữ đi làm đứng thứ ba ở châu Á. VN có khoảng 77,3% dân số phụ nữ đi làm và phần lớn họ còn có việc làm tốt. Họ có thể kiếm tiền đủ cho những nhu cầu riêng cho mình để đi spa, shopping những món hàng hiệu đắt tiền... Phụ nữ VN giờ đã trở thành những người tiêu dùng có nhiều quyền năng. Bạn có thể nhìn thấy những DN VN làm ăn thành công trên thương trường mà khách hàng chủ yếu của họ là phụ nữ. Sự thay đổi này làm thay đổi cả cách mua sắm, quảng cáo và thiết kế sản phẩm dành riêng cho phụ nữ. Rồi thị trường mỹ phẩm, chăm sóc da, ngay cả nước uống cũng có những sản phẩm dành riêng cho phụ nữ... Phụ nữ biết cách làm thế nào tự chăm sóc mình, số tiền mà phụ nữ chi cho nhu cầu về mỹ phẩm, chăm sóc da, tóc, quần áo đẹp... là vô cùng lớn và những thứ mà họ mua thường sang trọng. 7. Thị trường hàng hóa, dịch vụ cho trẻ em cũng là một xu hướng lớn. Hằng năm có hơn 1,2 triệu trẻ em sinh ra và trẻ em muốn gì thì đều có. Tã lót, quần áo, sữa, thực phẩm, đồ chơi... toàn là những ngành kinh doanh có tiềm năng vô cùng lớn. Ngày trước người ta chỉ mua những gì mà họ có thể mua nổi, nhưng nay cha mẹ thường mua những gì tốt nhất cho con của họ bởi họ đã không thể có được nó khi họ còn trẻ. Chính vì vậy thị trường đồ dùng dành cho trẻ em VN là vô cùng lớn. Trẻ em bây giờ không thích uống sữa mà mẹ mới mua thì ngay lập tức các bà mẹ mua thứ khác, điều này chẳng thể nào xảy ra ở thời kỳ trước. Tăng trưởng của hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) ở các nước châu Á (%) 2006 8. Truyền thông cũng có xu thế mới. Trong khoảng thời gian từ năm 2006-2007, lượng thời gian xem tivi trung bình đã giảm xuống mặc dù số lượng tivi bán ngày càng tăng. Điều này có nghĩa quảng cáo bằng tivi đã không còn ảnh hưởng nhiều như trước nữa. Các DN bỏ tiền ra quảng cáo trên tivi chẳng muốn nằm cuối trong danh sách chương trình quảng cáo. Quảng cáo trên radio đang phát triển nhanh và mạnh. Quảng cáo trên báo in phát triển bền vững và đều. Quảng cáo trên Internet cũng quan trọng và có tiềm năng bởi 80% những người trong độ tuổi 15-24 đều lên mạng hằng ngày. Nói chung, thị trường tiêu dùng VN rất tiềm năng trong nhiều năm tới vì VN có tỉ lệ dân số trẻ thứ hai sau Philippines trong khu vực châu Á. Họ là những người tiêu dùng tiềm năng sẽ quyết định tương lai tiêu dùng của VN bởi khi trẻ không có tiền, họ dùng tiền của cha mẹ. Khi những người này lớn hơn, họ tốt nghiệp ĐH, đi làm, có tiền thì nhu cầu tiêu dùng của họ tăng lên rất lớn. Thị trường tiêu dùng của VN là vô cùng tiềm năng vì mọi thứ chỉ mới bắt đầu. Những người trẻ này ngoài nhu cầu bắt buộc như ăn uống, họ còn có nhu cầu mua điện thoại di động, xe máy, tivi, máy nghe nhạc và nhiều đồ dùng khác... Tiêu dùng VN sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Chính vì vậy, DN nước ngoài phải có kế hoạch để phát triển trong vòng 10 năm tới chứ đừng nhìn ngắm thị trường hiện nay. Và điều này bắt DN phải thay đổi cách họ bán hàng hay marketing. Giờ đây họ sẽ phải bán cái mà người ta cần. Muốn như thế họ phải tiến hành khảo sát nhu cầu của người tiêu dùng thật kỹ (giá bao nhiêu thì người tiêu dùng có thể mua được? Mua được ở đâu? Mua sản phẩm kiểu gì? Chất lượng thật tốt với giá cả thật đắt hay giá cả vừa phải với chất lượng vừa phải...?), cái gì họ cần và muốn thì hãy cung cấp cho người tiêu dùng cái đó. Khi biết rồi thì hãy phục vụ họ. VN là nước xuất khẩu và nhiều DN VN xuất khẩu, nhưng những gì mà VN xuất khẩu hiện nay: gạo, đường, cà phê, tiêu... chỉ bán sản phẩm thô ở các trung tâm bán sỉ ở Mỹ, phải dần nghĩ đến việc bán những gì trực tiếp đến người tiêu dùng và giải quyết được nhu cầu của họ. Ở từng độ tuổi khác nhau có sở thích về màu sắc và kiểu dáng khác nhau. Ở mỗi giai đoạn của cuộc đời người, chuộng màu sắc, có sở thích, suy nghĩ và vị trí khác nhau mà trang phục là thứ được xem là nét phản ảnh gần như trung thực nhất. Ở lứa tuổi 12 đến 25 như một đóa hoa vừa hé trong ánh nắng ban mai. Tính năng động, vẻ đẹp tự nhiên, đó là lợi thế của tuổi này. Vì vậy có thể kết hợp vải co hoa văn, màu sắc nhạt và kiểu dáng thể thao. Trắng và đen dành cho các bạn trẻ thích sự sang trọng và nữ tính. Ở lứa tuổi 26 đến 45 chững chạc hơn, có thể cũng đã có địa vị nào đó ngoài xã hội thích màu trắng hoặc đen, các màu ánh kim, các màu phấn nhạt tạo cá tính lịch thiệp, thư thái và lịch sự, kiểu dáng đẹp. Từ 46 trở lên thích kiểu dáng ưa nhìn, màu sắc nhã nhặn, không cầu kì, chất lượng sản phẩm phải tốt. Ở từng đối tượng có thu nhập khác nhau. Học sinh, sinh viên là những người có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập , chủ yếu dựa vào gia đình nên sẳn sang lựa chọn mặt hàng khá rẻ, họ đồng ý bỏ ra từ 5000-7000đ để mua sản phẩm này. Công nhân viên chức là những người đã có thu nhập ổn định nên giá cả không là vấn đề. Công nhân, người có thu nhập thấp như, nông dân,……. giá cả là một vấn đề , họ chỉ đồng ý bỏ ra từ 5000-8000đ để mua sản phẩm này. D. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC. 1. CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM. Mục tiêu chiến lược: Không ngừng nghiên cứu, phát triển sản phẩm để bắt kịp nhu cầu khách hang, làm hài lòng khách hàng đến mức có thể với châm ngôn “ khách hàng là thượng đế”. Đưa ra những mẫu sản phẩm mới phù hợp cho các khách hàng đội mũ bảo hiểm cũng như khách hang khác. Đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu và thị hiếu khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận. Nhằm có thể đạt được mục tiêu kinh doanh trên thị trường, xây dựng thương hiệu của minh thành một thương hiệu được khách hàng ưa chuộng. Cải tiến mẫu mã hàng hóa. Đây là yếu tố quan trọng giúp các DN có thể đứng vững trên thị trường nội địa và vươn ra thị trường cả nước. Chúng ta cũng cần nhận thấy rằng đây là quy trình có giá trị gia tăng rất cao. Thứ hai là chất lượng và tính ổn định của chất lượng hàng hóa. DN hiện nay đã có chiến lược cụ thể nhắm tới các phân khúc trung và cao cấp. DN tiếp tục chiến lược phát triển sản phẩm cụ thể đối với các vùng ngoại thành, nông thôn, vùng sâu vùng xa. Xây dựng liên kết giữa mạng lưới phân phối bán lẻ và các nhà sản xuất hàng hóa nội địa. Chiếm lĩnh và phát triển thị trường nội địa. Trong tương lai, hướng tới khái niệm “hàng VN - chất lượng quốc tế” Tính năng sản phẩm: Thiết kế thời trang, tiện dụng. Sử dụng vật liệu vi lọc công nghệ cao, sản xuất bằng công nghệ Nano, tấm lọc được sản xuất với vật liệu vải than cacbon hoạt tính,. KING- A01 là loại khẩu trang lọc bụi phổi Silic, khẩu trang chống H1N1, Sars, H5N1…phòng tránh lây nhiễm qua đường hô hấp. Độ thoáng tốt, không tạo cảm giác khó thở khi đeo khẩu trang. Dây đeo có thể điều chỉnh vừa vặn so với từng người bằng cách thay đổi nút buộc nên người đeo không bị đau. Khẩu trang sẽ được tạo ôm sóng mũi để tăng độ khít giúp cho những người đeo kính sẽ không bị mờ kính khi đeo khẩu trang. Che được cả vùng mặt và cổ với vai đeo thuận lợi khi tháo gỡ và có độ đàn hồi giúp bạn thoải mái khi tham gia giao thông trên đường. Loại khẩu trang này có khả năng ngăn chặn tối thiểu 95% vi khuẩn, bụi bẩn khuếch tán trong không khí. Có thêm lớp than hoạt tính giúp khử các hoá chất độc hại như xăng, dầu, thuốc trừ sâu và được sử dụng ở vùng độc hại cao. CHIẾN LƯỢC GIÁ CẢ. Xây dựng và quản lý chiến lược giá đúng đắn là điều kiện quan trọng đảm bảo doanh nghiệp có thể xâm nhập và chiếm lĩnh được thị trường và hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao. Tuy nhiên giá cả chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Sự hình thành và vận động của nó rất phức tạp. Việc quản trị chiến lược giá hợp lý đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp và đồng bộ. Giá là một trong 4 biến số quan trọng của marketing mix. Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với người tiêu thụ. Đối với công ty giá có vị trí quyết định cạnh tranh trên thị trường. Việc định giá sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận. Những yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định về giá: Phân tích chi phí sản xuất sản phẩm. Theo phân tích, nếu công ty sản xuất được trên 2000 sản phẩm thì chi phí sản xuất sản phẩm mới ước tính là 5000VND/sản phẩm. Dẫn đầu thị phần: công ty muốn đạt thị phần cao nhất. Chúng tôi tin rằng công ty có thị phần lớn nhất sẽ có phí tổn thấp nhất và lợi nhuận về lâu dài là cao nhất. chúng tôi đeo đuổi thị phần bằng cách định giá thấp, với chất lượng và một chương trình phối hợp hoạt động marketing đồng bộ thì chúng tôi sẽ đạt được mục tiêu này. ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẺ: 8.000 VNĐ/1CAI. ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN SĨ: 7.000 VNĐ/1 CAI Dưới đây là giá sản phẩm mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho sản phẩm khẩu trang của chúng tôi: Nhỏ hơn 5.000 đ Từ 10.000 – 15.000đ Trên 20.000đ 60% 33% 7% (bảng khảo sát 100 người với các nhóm tuổi khác nhau) Tình hình cạnh tranh. Chưa có công ty nào đưa ra sản phẩm khẩu trang cho người sử dụng mũ bảo hiểm. Sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là các lọai khẩu trang bình thường với giá cả rẻ hơn nhưng tính năng không đa dạng. Các sản phẩm khẩu trang như của Remask KBD-8212, kissty, khẩu trang y tế…… giá cả đắt. Phân tích tiềm năng thị trường cho sản phẩm mới. Doanh nghiệp có những lợi thế về việc hiểu rõ văn hoá tiêu dùng của người dân, và có nhiều sự lựa chọn cách tổ chức thị trường phù hợp với khả năng và lợi thế vì là doanh nghiệp tại chỗ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng dễ dàng thiết lập các mối liên kết giữa doanh nghiệp phân phối và doanh nghiệp sản xuất với nhau, hình thành những kênh lưu thông ổn định. Với dân số 1,2 triệu người và đặc thù dân số trẻ, trong đó trên 50% là dưới 30 tuổi và tỷ lệ những người trong độ tuổi tạo ra thu nhập-có mức chi tiêu nhiều nhất (22-55 tuổi) chiếm 70%, Quảng Ngãi được biết tới là một trong những địa phương hấp dẫn xét về chỉ số phát triển bán lẻ. Cũng cần phải nói rằng đây là một chỉ số tổng hợp trong đó mức độ bão hòa của thị trường được tính tới với trọng số là 30%. Các chỉ số khác là rủi ro, độ hấp dẫn thị trường và áp lực thời gian có các trọng số tương ứng là 25%, 25% và 20%. Là một thị trường mới nổi có mức tăng trưởng nhanh và cơ cấu dân số thuận lợi như đã nói trên nên thị trường bán lẻ Quảng Ngãi trở nên hấp dẫn trong con mắt của các nhà đầu tư và bán lẻ nước ngoài. Chúng ta cũng phải nhấn mạnh rằng tập quán tiêu dùng và hành vi mua sắm của người dân đã thay đổi đáng kể trong ít năm trở lại đây. Doanh số bán lẻ tăng trung bình ở mức 10%/năm trong thời gian gần đây. Khả năng chiếm giữ thị trường sản phẩm hoàn toàn tùy thuộc vào giá. Dựa trên việc tính toán chi phí sản xuất, giá sản phẩm phân phối từ 7000-8000VND/sản phẩm. Trong từng trường hợp cụ thể như những tháng mùa mưa, khi sản phẩm có đối thủ cạnh tranh, chúng tôi sẽ có chiến lược điều chỉnh giá cho phù hợp. 3. CHIẾN LƯỢC PHÂN PHỐI. Về hiện trạng hệ thống phân phối thì thương mại hiện đại chiếm xấp xỉ 15% doanh số và kênh mua sắm truyền thống chiếm 50%. Một điểm có thể nhận thấy rõ là sự thiếu liên kết mang tính chiến lược giữa các nhà sản xuất – phân phối và bán lẻ. Về cơ sở hạ tầng chúng ta còn thiếu các đại siêu thị, các tổng kho, mặt bằng bán lẻ được quy hoạch hợp lý. Hiện nay các nhà phân phối và bán lẻ với các quy mô khác nhau đã có mặt ở Quảng Ngãi: THÀNH NGHĨA, CO-MART ... và các nhà bán lẻ khác cũng đang thể hiện sự quan tâm. Giới trung gian marketing, qua những tiếp xúc, kinh nghiệm, sự chuyên môn hóa và quy mô hoạt động của họ đã đem lại cho nhà sản xuất nhiều điều lợi hơn so với việc nhà sản xuất tự phân phối. Sử dụng giới trung gian phân phối có thể đem lại những sự tiết kiệm khá lớn (hình 11.1) Ký hiệu quy ước: SX: Nhà sản xuất KH: Khách hàng Hình 11.1: Trung gian phân phối có thể đem lại sự tiết kiệm như thế nào? Như hình vẽ cho thấy: Bốn nhà sản xuất trực tiếp làm marketing để phân phối cho bốn khách hàng đòi hỏi tới 16 lần tiếp xúc. Nhưng nếu sử dụng trung gian phân phối số lần tiếp xúc giảm xuống chỉ còn 8. Các loại kênh marketing: Các loại kênh marketing thường dùng nhất được trình bày trong hình 11.2 Hình 11.2. Các loại kênh marketing Kênh trực tiếp không có trung gian, nhà sản xuất bán hàng thẳng cho người tiêu dùng. Có ba cách bán hàng trực tiếp: Bán đến từng nhà, bán tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm và bán theo thư hoặc điện thoại đặt hàng Kênh 1 cấp chỉ có một trung gian bán hàng trong thị trường hàng tiêu dùng, đó là người bán lẻ. Trong thị trường hàng công nghiệp, đó là người môi giới hay đại diện bán hàng. Kênh 2 cấp có 2 trung gian marketing. Trong thị trường hàng tiêu dùng, đó thường là nhà bán sỉ và bán lẻ. Trong thị trường kỹ nghệ thì đó là bộ phận phân phối của công ty và các nhà buôn. Kênh 3 cấp có 3 trung gian phân phối. Thí dụ: Trong ngành nước ngọt, rượu bia có thể có thêm tổng đại lý hay đại lý bán buôn-người bán sỉ và người bán lẻ. Các chức năng của kênh marketing Các thành viên của kênh marketing thực hiện các chức năng sau đây: Điều nghiên: Thu thập thông tin cần thiết để hoạch định chiến lược và tạo thuận lợi cho sự trao đổi. Cổ động: Triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết phục cao về những món hàng đang kinh doanh và các sản phẩm mới. Tiếp xúc: Tìm ra và thông tin được với khách hàng tương lai. Phân chia, đóng gói, phân loại hàng hóa. Thương lượng: Cố gắng đi tới thoả thuận về giá cả và các vấn đề khác quanh món hàng mà khách định mua để có thể bán được. Tài trợ: Huy động và phân chia tiền bạc để thanh toán chi phí của kênh, cấp tín dụng cho khách hàng. Chịu may rủi: Chấp nhận các rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của kênh. Tổ chức kênh phân phối Trước đây, các kênh phân phối là tập hợp ngẫu nhiên, các thành viên độc lập về chủ quyền vào quản lý, đồng thời mỗi thành viên ít quan tâm tới hoạt động của cả kênh. Sự phát triển của hệ thống marketing dọc VMS (Vertical Marketing System) Một hệ thống marketing dọc VMS hoạt động như một thể thống nhất, gồm các nhà sản xuất, nhà bán sỉ và nhà bán lẻ. Hoặc thành viên này là chủ của thành viên khác hoặc cho họ độc quyền kinh tiêu hoặc có quyền lực mạnh đến nỗi các thành viên kia phải hợp tác. Một VMS có thể do một nhà sản xuất, một nhà bán lẻ hay một nhà bán sỉ thống trị. VMS xuất hiện nhằm kiểm soát hoạt động của kênh và điều giải xung đột do mỗi thành viên chỉ chạy theo lợi ích riêng của mình. So sánh kênh marketing thông thường với hệ thống marketing dọc được trình bày trong hình 11.3 H 11.3. So sánh kênh marketing thông thường với hệ thống marketing dọc. Tổ chức hệ thống bán lẻ Bán lẻ là tất cả những hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng cho bản thân chứ không phải để kinh doanh. Bán lẻ là một ngành quan trọng. So với các cơ sở sản xuất và bán sỉ, họ đông gấp 7 lần và là nguồn cung cấp việc làm rất lớn. Các hình thức bán lẻ : a.1. Theo mức độ phục vụ, gồm có: - Bán tự phục vụ - Bán phục vụ có giới hạn - Bán phục vụ toàn phần a.2. Theo mặt hàng kinh doanh, có các loại: - Cửa hàng chuyên doanh - Cửa hàng bách hóa - Các siêu thị và đại siêu thị a.3. Bán lẻ không dùng cửa hiệu, gồm có: - Bán qua bưu điện - Bán qua catalog - Bán qua điện thoại - Bán lẻ tận nhà a.4. Tổ chức hệ thống bán sỉ Bán sỉ bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán hàng hóa và dịch vụ cho người mua và để bán lại hoặc để kinh doanh. Các nhà bán sỉ, giao dịch chủ yếu đối với khách hàng buôn bán hơn là khách tiêu dùng trực tiếp. Họ chủ yếu mua hàng từ nhà sản xuất, bán cho người bán lẻ, cho các cơ sở kỹ nghệ và các nhà bán sỉ khác. Nhà bán sỉ thực hiện nhiều chức năng bao gồm việc bán hàng và quảng cáo, mua hàng và làm công việc phân phối, bốc dỡ hàng với khối lượng lớn, tồn kho, chuyên chở, tài trợ, chấp nhận rủi ro, cung ứng tin tức thị trường, cung cấp các dịch vụ về quản trị và làm tư vấn. Giới bán sỉ được phân phối thành bốn nhóm: a.4.1. Nhà bán sỉ thương nghiệp a.4.2. Các nhà môi giới và đại lý a.4.3. Chi nhánh và văn phòng của nhà sản xuất a.4.4. Các nhà bán sỉ tạp loại 4. CHIẾN LƯỢC XÚC TIẾN. Đây là số liệu cho thấy số lượng người biết đến sản phẩm, dự doán thị phần của công ty sẽ đạt được: - Công ty phát triển một chuỗi sâu rộng những công cụ truyền thông đại chúng để đến với giới quần chúng. Dùng quảng cáo liều lượng cao để xây dựng và duy trì tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường cho nhãn hiệu . Chi phí quảng cáo cho mặt hang khoảng 50 triệu. Sử dụng phối hợp việc quảng cáo khuyến mại và tuyên truyền để tạo nên chiến dịch mới “KING – sự lựa chọn tối ưu”. Thực hiện hàng lọat các chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, tham gia hội chợ, thực hiện các chương trình khuyến mãi. Tặng thêm sản phẩm cho các đại lý đặt hàng với số lượng lớn. Khuyến mãi thêm một cặp dây đeo cho mỗi sản phẩm.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCD285.doc
Luận văn liên quan