Đề tài Một số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta

Lời nói đầu Sự cần thiết của đề tài Vấn đề Lao động-Việc làm luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Giải quyết việc làm là chính sách xã hội cơ bản của đất nước nhằm mục tiêu phát triển bền vững vì con người. Qúa trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã mang lại những kết qủa rất quan trọng đưa nước ta bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Song trong qúa trình đổi mới cũng đặt ra nhiều vấn đề tạo việc làm giảm thất nghiệp cho người lao động. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là một vấn đề cấp bách. Trong bối cảnh hiện nay lực lượng lao động ngày một tăng do quá trình gia tăng dân số. Mặt khác giải quyết việc làm cho thanh niên cũng là một trong những nhu cầu đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa cho giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai. Mục đích nghiên cứu đề tài Thực trạng cung lao động trong nước và các yếu tố tác động Một số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta Qua đây em xin cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Bùi Dương Hải người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện chuyên đề này, các cô chú, anh chị trong vụ lao động-Việc làm thuộc bộ Lao động thương binh và xã hội đã giúp đỡ tài liệu và nhiều ý kiến để em hoàn thành chuyên đề này, đặc biệt là anh Nguyễn Vân Nghĩa và chú Vụ phó Lê Quang Trung. Do trình độ và thời gian có hạn nên chuyên đề này còn nhiều thiếu sót, em rất mong sự chỉ bảo góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc. Em xin chân thành cảm ơn!

doc44 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/05/2013 | Lượt xem: 1652 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Sự cần thiết của đề tài Vấn đề Lao động-Việc làm luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Giải quyết việc làm là chính sách xã hội cơ bản của đất nước nhằm mục tiêu phát triển bền vững vì con người. Qúa trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã mang lại những kết qủa rất quan trọng đưa nước ta bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Song trong qúa trình đổi mới cũng đặt ra nhiều vấn đề tạo việc làm giảm thất nghiệp cho người lao động. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là một vấn đề cấp bách. Trong bối cảnh hiện nay lực lượng lao động ngày một tăng do quá trình gia tăng dân số. Mặt khác giải quyết việc làm cho thanh niên cũng là một trong những nhu cầu đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa cho giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai. Mục đích nghiên cứu đề tài Thực trạng cung lao động trong nước và các yếu tố tác động Một số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta Qua đây em xin cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Bùi Dương Hải người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện chuyên đề này, các cô chú, anh chị trong vụ lao động-Việc làm thuộc bộ Lao động thương binh và xã hội đã giúp đỡ tài liệu và nhiều ý kiến để em hoàn thành chuyên đề này, đặc biệt là anh Nguyễn Vân Nghĩa và chú Vụ phó Lê Quang Trung. Do trình độ và thời gian có hạn nên chuyên đề này còn nhiều thiếu sót, em rất mong sự chỉ bảo góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc. Em xin chân thành cảm ơn! phần I Nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2001-2005 I. Nội dung đề ra 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm - Giải quyết việc làm cho người lao động là chính sách xã hội cơ bản cho mục tiêu phát triển bền vững, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách kinh tế và xã hội. Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân. - Giải quyết việc làm, đảm bảo cho người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc, đặc biệt là thanh niên, lao động nữ, các đối tượng chính sách xã hội, lao động là người tàn tật, là trách nhiệm của mọi người, mọi ngành, mọi cấp và toàn xã hội. - Mục tiêu tạo việc làm phải được cụ thể hoá thành chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch nhà nước hàng năm và năm năm, trong các chương trình, dự án của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và đơn vị cơ sở; trong đó phải khai thác và huy động mọi tiềm năng, nguồn lực để đảm bảo những điều kiện tương xứng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. 2. Định hướng của chương trình - Tăng chỗ làm việc mới, tăng thời gian sử dụng lao động; Ban hành, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật, các chủ trương, chính sách, cơ chế đồng bộ nhằm phát triển kinh tế để tạo mở việc làm, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động; Hoàn thiện các chính sách về lao động - việc làm theo hướng có các chính sách thích hợp tạo công bằng về cơ hội và bình đẳng trước pháp luật cho mọi công dân, mọi doanh nghiệp và nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tìm và tự tạo việc làm, trong tiếp cận với thông tin kinh tế, thông tin thị trường...; xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp; Thực hiện chế độ xây dựng, thẩm định và kiểm soát chỉ tiêu sử dụng lao động và tạo việc làm mới. Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm. - Tăng năng suất lao động và chất lượng việc làm; Phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhảy vọt và xu thế toàn cầu hóa kinh tế. - Phát triển thị trường lao động, tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường lao động, tạo điều kiện để phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực; tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc kiểm soát và điều chỉnh quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động thông qua hệ thống luật pháp nhằm đảm bảo công bằng xã hội và trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế; Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; - Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm. Phát triển và hiện đại hoá hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động. Phát triển việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động hỗ trợ trực tiếp của nhà nước và xuất khẩu lao động. - Phát triển và mở rộng hợp tác quốc tế. Tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, thu hút đầu tư và tham gia một cách chủ động vào phân công lao động quốc tế để liên doanh, liên kết tạo mở việc làm. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia. - Xã hội hoá giải quyết việc làm. II . Đánh giá kết quả hoạt động của chương trình So sánh với mục tiêu đặt ra 1.1. Mục tiêu chung Kế hoạch trong 5 năm cả nước giải quyết việc làm cho khoảng 7-7,5 triệu lao động, mỗi năm tạo việc làm cho 1,4-1,5 triệu Lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị xuống dưới 6% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80% vào năm 2005. 1.2. Kết quả thực hiện 1.2.1. Kết quả chung + Tính từ năm 2001 đến hết 2004, cả nước đã giải quyết việc làm cho 5,9 triệu lao động, đạt 78,7% so với kế hoạch, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,475 triệu người. Với tốc độ giải quyết việc làm như hiện nay, năm 2005 chúng ta có thể giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu người, nâng tổng số người được giải quyết việc làm trong 5 năm là 7,5 triệu người, đạt kế hoạch 5 năm đề ra. + Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm rõ rệt, theo số liệu điều tra 1/7/2004, tỷ lệ này đã giảm từ 6,28 năm 2001 xuống còn 5,6% năm 2004, giảm 0,68%, nếu duy trì nhịp tăng trưởng kinh tế như hiện nay và đảm bảo kế hoạch giải quyết việc làm đến hết năm 2005, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống còn 5,4% đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm ( dưới 6%). + Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn tăng 74,4% năm 2001 lên 79,34% năm 2004, tăng 4,94%. Dự kiến đến hết năm 2005 tỷ lệ này vượt trên 80%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra của chương trình. 1.2.2. Kết quả cụ thể * Tạo việc làm trong nước Dự kiến trong giai đoạn 2001-2005, tạo việc làm trong nước đạt 7,21 triệu người, trong đó: - Khu vực nông-lâm ngư nghiệp trong 5 năm qua đã thu hút thêm 4,320 triệu lao động, góp phần ổn định việc làm cho 24,51 triệu lao động. - Khu vực công nghiệp, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp thu hút thêm 1,538 triệu lao động, duy trì tạo việc làm ổn định cho 7,35 triệu lao động,. - Khu vực dịch vụ có bước phát triển mạnh 10,5 triệu lao động, tăng thêm 1,352 triệu lao động. Cơ cấu lao động đã có bước chuyển dịch rõ nét theo hướng tăng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng từ 16,7% năm 2000 lên 17,4% năm 2004, dự kiến đạt 19% vào năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 22% năm 2000 lên 24,7% năm 2004, dự kiến đạt 24-25% vào năm 2005, lao động khu vực nông- lâm- ngư nghiệp giảm từ 61,3% năm 2000 xuống còn 57,9% năm 2004 và dự kiến giảm xuống còn 56-57% vào năm 2005. * Tạo việc làm ngoài nước Trong 4 năm 2001-2004 cả nước đã đưa được 22 vạn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, dự kiến năm 2005 xuất khẩu lao động cho 7 vạn lao động, đưa tổng số người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài lên 29 vạn người. 2. Chương trình quốc gia về việc làm giai đoạn 2001-2005 2.1. Các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn - Nhà nước đã chỉ đạo tập trung thâm canh đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất cây trồng vật nuôi đặc biệt là ở những vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chú trọng đầu tư phát triển kinh tế trang trại, đảm bảo việc làm cho khoảng 22-22 triệu lao động - Phân bố lại lao động và dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới, khai thác các vùng đất trống, đồi núi trọc, phát triển trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, chỉ đạo và triển khai tốt chương trình trồng 5 triệu ha rừng và bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên để tạo và ổn định việc làm cho 4-5 triệu lao động. - Đầu tư, khai thác tiềm năng của các tỉnh đồng bằng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, khai thác tiềm năng biển, mở rộng nghề đánh bắt ngoài khơi, tạo việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu. Đảm bảo việc làm cho khoảng 2-3 triệu lao động; - Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi nhằm tăng thời gian sử dụng lao động. Nhờ kết quả đầu tư nên tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp bình quân hàng năm đạt 5,1%, do vậy, trong cả giai đoạn 2001-2005 đã ổn định việc làm cho khoảng 25 triệu người thu hút thêm 3,2 triệu lao động vào làm việc trong khu vực. 2.2. Các chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ - Chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. - Chương trình xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao, chủ yếu ở các vùng kinh tế động lực, các đô thị lớn, thu hút lao động có trình độ cao để tăng sức cạnh tranh; - Chương trình xây dựng và phát triển các trung tâm văn hoá, thể thao, các khu du lịch; - Các chương trình, công trình trọng điểm kinh tế-xã hội của Nhà nước: Đường Hồ Chí Minh, thuỷ điện Sơn la, hóa dầu Dung Quất, sân bay, bến cảng... thu hút nhiều lao động. Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng giá trị ngành công nghiệp-xây dựng bình quân hàng năm 15,4%, ngành dịch vụ trên 7,4%. Đến năm 2005, khu vực công nghiệp, xây dựng ổn định việc làm cho khoảng 7 triệu lao động, thu hút thêm 1,2triệu; khu vực dịch vụ có trên 11 triệu người lao động, thu hút thêm 1,4 triệu lao động. 2.3. Các chương trình mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, phố nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hoạt động phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chương trình mở rộng, phát triển làng nghề tạo việc làm mới và việc làm thêm cho trên 20 vạn lao động; từng bước rút dần lao động nông thôn ra khỏi khu vực nông nghiệp. 3. Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm và phát triển thị trường lao động + Dự án tổ chức cho vay vốn theo các dự án nhỏ giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm Quỹ quốc gia giải quyết việc làm được hình thành từ năm 1992 đến năm 2005 đã được nhà nước cấp khoảng 2.370 tỷ đồng, trong đó 2.200 tỷ từ ngân sách Nhà nước. Ước tính cả giai đoạn 2001-2005, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho vay trên 90 nghìn dự án với tổng số vốn 4.800 tỷ đồng, hỗ trợ tạo việc làm cho trên 1,68 triệu người. Cụ thể: trên 20 nghìn dự án sử dụng tổng số vốn mới 900 tỷ đồng, thu hút 55 vạn lao động, trên 70 nghìn dự án sử dụng 3.900 tỷ đồng từ nguồn vốn thu hồi cho vay quay vòng, thu hút tạo việc làm cho trên 1,13 triệu lao động. Tính bình quân, mức cho vay trên một lao động khoảng 2,8 triệu đồng, người lao động tự đầu tư khoảng 5 triệu đồng, tăng mức đầu tư trên 1 chỗ làm việc lên 7,8 triệu đồng, cao hơn thời kỳ 1998-2000 khoảng 4 triệu đồng. Tuy nhiên mức đầu tư vẫn còn thấp so với nhu cầu đã ảnh hưởng đến chất lượng việc làm, thu nhập chưa cao; nguyên nhân chủ yếu là nguồn vốn còn hạn hẹp. Số vốn khoanh nợ cho các dự án bị rủi ro bất khả kháng là 50 tỷ đồng (bằng 4,4% tổng nguồn quỹ), xóa nợ khoảng 4 tỷ đồng; nguồn quỹ dự phòng rủi ro hình thành từ lãi cho vay khoảng trên 100 tỷ đồng, có thể bù đắp cho những rủi ro này. Nguồn vốn cho vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đã tạo “cú huých” kích thích dân đầu tư vốn tạo việc làm. Theo ước tính từ các dự án vay vốn được phê duyệt, phần vốn đối ứng do dân bỏ ra gấp 2 lần vốn hỗ trợ của Quỹ, như vậy ước tính trong 5 năm qua dân đã đầu tư thêm khoảng 6.000 tỷ đồng. Có thể thấy rằng vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư cho Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm tuy nhỏ (2.370 tỷ bằng 0,55% vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội trong 5 năm) song đã có những tác động tích cực đến giải quyết việc làm, làm ổn định cả một lĩnh vực xã hội bức xúc. Nếu không có các hoạt động hỗ trợ trực tiếp này, số chỗ làm việc có thể chỉ đạt 75-80% mức kế hoạch, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động chỉ đạt 60-65%. - Dự án nâng cao năng lực và hiện đại hoá các Trung tâm dịch vụ việc làm Tổng nguồn vốn đầu tư cho 140 Trung tâm dịch vụ việc làm từ năm 1992 đến nay là 74 tỷ đồng. Từ năm 1996 đến năm 2000 hệ thống này đã tư vấn nghề và tư vấn đào tạo cho gần 2 triệu lượt người, dạy nghề gắn với việc làm và bổ túc nghề cho 80 vạn người, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho 120 vạn người. + Dự án điều tra, thống kê lao động và xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động Trong 5 năm, nhà nước đã dành 15 tỷ đồng cho công tác điều tra thống kê tình hình lao động việc làm trong cả nước. Nhờ hoạt động này các thông tin về biến động lao động, việc làm, tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn được năm bắt kịp thời, giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh kịp thời các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Các số liệu về tình hình lao động-việc làm trong các năm đã khẳng định vai trò quan trọng của chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm trong việc tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động giải quyết việc làm trong cả nước, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. + Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý lao động, việc làm. Cả giai đoạn 2001-2005, nhà nước đã dành 11,5 tỷ đồng để tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác giải quyết việc làm. Tổng số cán bộ được đào tạo trong 5 năm qua từ Trung ướng đến địa phương cơ sở là 67.300 người, trong đó cấp tỉnh thành phố là 6.000 lượt người, cấp quận huyện và xã là 61.300 lượt người. Thông qua các lớp tập huấn, cán bộ được nâng cao nhận thức về pháp luật lao động, các chính sách giải quyết việc làm, đặc biệt là công tác quản lý lao động ở địa phương và công tác tổ chức, triển khai thực hiện các dự án vay vốn giải quyết việc làm. * Các hoạt động phát triển thị trường đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài - Thực hiện đa dạng hoá thị trường và các tổ chức kinh tế tham gia xuất khẩu lao động; đa dạng hóa hình thức và ngành nghề đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Xúc tiến mạnh về thị trường lao động ngoài nước; có chính sách đối ngoại phù hợp với các nước và vùng lãnh thổ có khả năng tiếp nhận nhiều lao động và chuyên gia Việt nam. - Xây dựng và hoàn thiện chính sách đầu tư cho đào tạo lao động về tay nghề, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật phục vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia. Đưa đào tạo lao động và chuyên gia xuất khẩu vào trong chương trình đào tạo nghề của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ trong trường phổ thông. - Tổ chức cho vay vốn xuất khẩu lao động cho 1.000 người lao động với tổng số vốn trên 100 tỷ đồng. Trong 5 năm xuất khẩu 26 vạn lao động và chuyên gia. III. Kết quả thực hiện - Giai đoạn vừa qua nhà nước đã có cơ chế quản lý điều hành chương trình thống nhất trong toàn quốc. Công tác triển khai được các cấp chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội hưởng ứng tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm cao. - Các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện được ban hành kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế, đã tạo sự thông thoáng trong việc triển khai thực hiện ở tất cả các cấp, các khu vực, các dự án. - Nhà nước đã tăng cường nguồn lực cho hoạt động của chương trình, hỗ trợ kịp thời các hoạt động của các dự án, nhất là dự án cho vay vốn hỗ trợ giải quyết việc làm. Chương II Thực trạng giải quyết việc làm trong thời gian qua Thực trạng cung lao động trong nước và các yếu tố tác động Cung lao động là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội tức là tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động và số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động, nhưng đã chính thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, cung về lao động còn được xem xét từ giác độ chất lượng sức lao động. Trong đó trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỷ luật lao động, thể lực, sức khoẻ của người lao động là những yếu tố chính, quyết định chất lượng của loại hàng hóa đặc biệt này. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét yếu tố cung lao động trên thị trường lao động Việt Nam hiện nay từ những khía cạnh trên. I. Cung lao động xét về số lượng 1. Quy mô dân số và nguồn lao động Hiện nay, Việt Nam là một nước kém phát triển, đông dân (xếp thứ 13 thế giới và thứ 2 Đông Nam á, sau Indonesia) và thu nhập bình quân đầu người thấp. Thời kỳ 1960-1989, tốc độ tăng dân số đạt trên 3%/năm; Thời kỳ 1989-1999, đạt khoảng 1,86%/năm. Trong thời gian 40 năm (1960-1999), dân số đã tăng gấp hơn 2 lần, đạt 76,3 triệu người vào năm 1999. Ước tính năm 2003 dân số nước ta đạt 80,7 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,8%; dân số thành thị là 20,5 triệu người, chiếm khoảng 25,4% dân số cả nước. Tăng nhanh dân số đã có tác động lớn đến nguồn lao động. Năm 1996, có tổng số trên 48,45 triệu người từ 15 tuổi trở lên. Đến năm 2003, tăng lên 57,03 triệu người, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 1,2 triệu người, với tốc độ tăng 2,53%/năm. Dân số trong độ tuổi theo nghĩa rộng (15-64 tuổi), tăng khoảng 1,1 triệu người/năm. Trong những năm gần đây, nhờ thực hiện hiệu quả các chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình nên tốc độ tăng trưởng dân số bình quân của nước ta đã giảm dần. Năm 1989 là 2,1%, năm 1999 là 1,7%, năm 2002 là 1,32%; và năm 2003, dân số nước ta chỉ tăng 1,18%. Kết quả dân số Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình dân số trẻ sang mô hình dân số ổn định, với tỷ lệ dân số trên 15 tuổi ngày càng tăng. Do tỷ lệ sinh tự nhiên ở nông thôn cao hơn thành thị nên tỷ lệ dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị. Trong khi tỷ lệ này của thành thị đạt trên 70% thì ở nông thôn chỉ khoảng 61%. Biểu 01: Biến động dân số, nguồn lao động thời kỳ 1996 – 2003 Đơn vị: triệu người Nhóm tuổi Năm 1996 Năm 2003(*) Tổng số Cơ cấu (%) Tổng số Cơ cấu (%) Dưới 15 tuổi 24,71 33,77 23,67 29,33 Từ 15–60 tuổi 42,28 57,80 50,65 62,77 Trên 60 tuổi 6,17 8,43 6,38 7,90 Tổng số 73,16 100 80,70 100 (*) Ước tính năm 2003- Tổng cục Thống kế Lực lượng lao động chia theo Tỷ lệ lực lượng lao động theo nhóm tuổi 1996 nhóm tuổi năm 1996 Lực lượng lao động chia theo nhóm Tỷ lệ lực lượng lao động theo nhóm tuổi 2003 tuổi năm 2003 2. Lực lượng lao động Tính đến thời điểm 01/7/2003 lực lượng lao động cả nước là 41.313 nghìn người, so với năm 1996 tăng 15,19% (35.865 nghìn người). Trong giai đoạn 1996-2003, bình quân mỗi năm lực lượng lao động cả nước tăng thêm 778,3 nghìn người, với tốc độ tăng 2,17%/năm. Quy mô lực lượng lao động nữ năm 2003 đạt 20.248 nghìn người, năm 1996 chỉ số này là 18.151 nghìn người. Bình quân trong giai đoạn 1996-2003 tăng 299,57 nghìn người, với tốc độ tăng 1,65%/năm; Cơ cấu nữ trong lực lượng lao động có xu hướng giảm từ 50,6% năm 1996 xuống 49,01% năm 2003, bình quân giảm 0,23%/năm. Với quy mô lực lượng lao động như hiện nay Việt Nam được coi là nước có lực lượng lao động lớn. Không những thế, lực lượng này còn được bổ sung hàng năm với tỷ lệ cao. Điều đó được coi là lợi thế so sánh đối với một nền kinh tế thị trường đang trong thời kỳ chuyển đổi như ở nước ta. Lợi thế thể hiện ở chỗ với một lực lượng hùng hậu về số lượng như vậy, Việt Nam tránh được hiện tượng thiếu lao động trong thời gian trước mắt. Bên cạnh đó, giá cả sức lao động cũng được coi là tương đối rẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới. - Phân bố lực lượng lao động theo khu vực thành thị – nông thôn Năm 1996, lực lượng lao động thành thị là 6.838 nghìn người, chiếm 19,07%; năm 2003 đạt 10.014 nghìn người, chiếm 24,24%. Bình quân hàng năm trong giai đoạn 1996-2003 tăng 453,7 nghìn người, với tốc độ tăng 6,6%/năm. Trong khu vực nông thôn, năm 2003 có 31.299 nghìn người, chiếm 75,76% lực lượng lao động của cả nước; năm 1996 chỉ số này là 29.027 nghìn người, chiếm 80,93%. Bình quân hàng năm trong giai đoạn 1996-2003 tăng 324,4 nghìn người, tốc độ bình quân 1,1%/năm. Mặc dù tốc độ tăng của lực lượng lao động ở khu vực thành thị nhanh hơn nhiều (9,45 lần) so với tốc độ tăng lực lượng lao động ở khu vực nông thôn nhưng lực lượng lao động ở nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ lớn (gấp 3,13 lần) gây sức ép về giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nhìn chung, sự phân bố lực lượng lao động theo khu vực thành thị –nông thôn đang diễn ra theo hướng tích cực. Tỷ lệ lực lượng lao động ở nông thôn giảm từ 80,93% năm 1996 xuống 75,76% và tỷ lệ này tăng ở khu vực thành thị 19,07% năm 1996 lên 24,24% năm 2003. Biểu 03: Quy mô, cơ cấu lực lượng lao động khu vực thành thị – nông thôn giai đoạn 1996-2003 Đơn vị: nghìn người Năm Lực lượng lao động Cơ cấu lực lượng lao động (%) Thành thị Nông thôn Cả nước Thành thị Nông thôn Cả nước 1996 6.838 29.027 35.865 19,07 80,93 100 1997 7.333 28.964 36.297 20,20 79,80 100 1998 7.650 29.757 37.407 20,45 79,55 100 1999 8.420 29.364 37.784 22,28 77,72 100 2000 8.725 29.915 38.640 22,58 77,42 100 2001 9.188 30.302 39.490 23,27 76,73 100 2002 9.704 31.012 40.716 23,83 76,17 100 2003 10.014 31.299 41.313 24,24 75,76 100 Nguồn: Điều tra thực trạng lao động – việc làm 1996-2003 - Phân bố lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có quy mô lực lượng lao động lên tới 18.182 nghìn người (2003), chiếm 44,01% lực lượng lao động cả nước. Các vùng khác như Đông Bắc và Tây Nguyên chỉ ở mức 1.304 nghìn người và 2.212 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ 3,16% và 5,35% lực lượng lao động cả nước. Biểu 04: Quy mô, cơ cấu lực lượng lao động các vùng lãnh thổ 2001,2003 Đơn vị: nghìn người Vùng Năm 2001 Năm 2003 Tăng/giảm (%) Tổng số Tỷlệ (%) Tổng số Tỷlệ (%) Đồng bằng sông Hồng 9.034 22,88 9.242 22,37 2,3 Đông Bắc 4.749 12,03 4.938 11,95 3,98 Tây Bắc 1.180 2,99 1.304 3,16 10,41 Bắc Trung Bộ 4.869 12,33 5.007 12,12 2,83 Duyên hảI Nam Trung Bộ 3.348 8,48 3.437 8,32 2,66 Tây Nguyên 2.079 5,26 2.212 5,35 5,35 Đông Nam Bộ 5.806 14,70 6.233 15,09 7,37 Đồng bằng sông Cửu Long 8.425 21,33 8.940 21,64 6,11 Cả nước 39.490 100 41.313 100 4,62 Nguồn: Điều tra thực trạng lao động – việc làm 1996-2003 Sự phân bố lực lượng lao động theo các vùng không đồng đều. Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là những vùng có lực lượng lao động dồi dào và đó cũng chính là những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước có thế mạnh về nguồn nhân lực. Trong khi đó Tây Bắc và Tây Nguyên có tỷ trọng thấp về lực lượng lao động nhưng có ưu thế về đất đai và tài nguyên. - Lực lượng lao động theo nhóm tuổi Tính chung cho cả nước, năm 2003 nhóm lực lượng lao động trẻ (15-34) có 19.896 nghìn người, chiếm 48,16% so với tổng số, nhóm lực lượng lao động trung niên (35-54) là 18.413 nghìn người, chiếm 44,57% so với tổng số và lực lượng lao động cao tuổi (trên 55) là 3.004 nghìn người, chiếm 7,27% so với tổng số. Năm 1996 chỉ số này là: 20.022 nghìn người và 55,83%; 12.766 nghìn người và 35,59%; 3.077 nghìn người và 8,58%. Bình quân trong giai đoạn 1996-2003, lực lượng lao động trẻ của cả nước giảm 0,09%, với mức giảm tuyệt đối là 18 nghìn người và tỷ lệ chiếm trong tổng số giảm 1,09%; lực lượng lao động cao tuổi giảm 0,35%, với mức giảm tuyệt đối 10,43 nghìn người và tỷ lệ chiếm trong tổng số giảm 0,18%; lực lượng lao động trung niên tăng 0,9% với mức tăng tuyệt đối là 806,7 nghìn người và tỷ lệ chiếm trong tổng số tăng 1,28%. Có thể nhận thấy rằng biến động về cơ cấu lực lượng cả nước chia thành 3 nhóm tuổi qua các năm 1996-2003 đã diễn ra theo một xu hướng rõ rệt là: nhóm lực lượng lao động trung niên ngày một gia tăng cả về tương đối và tuyệt đối; nhóm lực lượng lao động trẻ và lực lượng lao động cao tuổi ngày một giảm, trong đó nhóm cao tuổi giảm nhanh hơn. Biểu 05: Quy mô, cơ cấu lực lượng lao động theo nhóm tuổi Đơn vị: nghìn người Năm Nhóm tuổi của LLLĐ Cơ cấu nhóm tuổi của LLLĐ (%) 15-34 35-54 Trên 55 Tổng 15-34 35-54 Trên 55 1996 20.022 12.766 3.077 100 55,83 35,59 8,58 1997 19.867 13.726 2.704 100 54,73 37,82 7,45 1998 19.669 15.080 2.658 100 52,58 40,32 7,10 1999 19.179 15.959 2.646 100 50,76 42,24 7,00 2000 19.335 16.716 2.589 100 50,04 43,26 6,70 2001 19.607 17.226 2.657 100 49,65 43,63 6,72 2002 20.215 17.761 2.740 100 49,65 43,62 6,73 2003 19.896 18.413 3.004 100 48,16 44,57 7,27 Nguồn: Điều tra lao động – việc làm 1996-2003 Mặc dù có xu hướng giảm trong những năm gần đây nhưng cơ cấu lực lượng lao động trẻ nước ta vẫn ở mức cao (48,16%). Thực tế cho thấy, bên cạnh lợi thế về thể chất, lao động trẻ thường là lớp người có học thức, năng động, sáng tạo, ham hiểu II. Mô hình về lao động của tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến việc làm Kết quả ước lượng GDP có ảnh hưởng đến việc làm * Nguồn số liệu: năm L(lao động) GDP 1996 35.87 202715.4 1997 36.3 219270.2 1998 37.41 232007.3 1999 37.78 244127 2000 38.64 397611.1 2001 39.49 439349.9 2002 40.72 498623 2003 41.31 574813 * Mô hình: * Xem xét tính dừng của các chuỗi trong mô hình: + Chuỗi L: Dựa vào kiểm định Dickey-Fuller ta thấy : Vậy chuỗi L là chuỗi dừng. +Chuỗi GDP : Ta thấy: Vậy chuỗi GDP là chuỗi dừng. Sở dĩ ta kiểm định tính dừng của chuỗi vì nếu xảy ra hiện tượng đồng liên kết thì các kiểm định không còn ý nghĩa thống kê. Ước lượng mô hình bằng phương pháp OLS: Dependent Variable: LOG(L) Method: Least Squares Date: 01/13/00 Time: 08:56 Sample: 1996 2003 Included observations: 8 Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob. LOG(GDP) 0.110065 0.011903 9.246718 0.0001 C 2.248646 0.151410 14.85140 0.0000 R-squared 0.934428 Mean dependent var 3.647922 Adjusted R-squared 0.923499 S.D. dependent var 0.051246 S.E. of regression 0.014174 Akaike info criterion -5.462506 Sum squared resid 0.001205 Schwarz criterion -5.442646 Log likelihood 23.85002 F-statistic 85.50180 Durbin-Watson stat 1.929346 Prob(F-statistic) 0.000090 * Kết quả ước lượng: LOG(L) = 0.1100647147*LOG(GDP) + 2.248646194 t-statistic 9.246718 14.8514 µ¹¥ 0.0001 0.0000 Với mức ý nghĩa µ=0.05 thì biến GDP chấp nhận khi được đưa vào mô hình. Phân tích ý nghĩa: Khi tổng sản phẩm quốc nội tăng 1% thì lượng lao động trong nền kinh tế tăng 9.246718%.Tác động của biến GDP đến biến L là cùng chiều, sở dĩ như vậy bởi vì GDP được đo bằng giá trị gia tăng của tất cả các ngành trong nền kinh tế. Khi lực lượng lao động tham gia càng đông đảo thì giá trị của các ngành trong nền kinh tế cũng gia tăng. Hạn chế của mô hình chỉ phân tích ảnh hưởng của GDP đến L và có thể đưa ra dự báo trong ngắn hạn, khi dự báo càng xa thì sai số càng lớn nhưng điều thuận lợi của mô hình ngoài mặt dự báo nguồn lao động trong thời kỳ ngắn hạn ta còn có thể thấy được mức sống của dân cư là cao hay thấp thông qua tỷ lệ GDP/L (tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người), tỷ lệ này càng cao thì mức sống càng khá giả... Nhưng việc đánh giá này có thể không chính xác do sự phân phối nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư là không đều, sự phản ánh này chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. * Dự báo nguồn lao động trong giai đoạn 2006-2010: Để đảm báo tính chính xác tương đối trong việc dự báo mô hình ta có thể dự báo chuỗi GDP theo dãy thời gian, rồi dựa vào kết quả dự báo của chuỗi GDP ta sẽ dự báo chuỗi L. + Dự báo chuỗi GDP theo thời gian Dependent Variable: GDP Method: Least Squares Date: 04/18/05 Time: 18:54 Sample: 1996 2003 Included observations: 8 Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob. @TREND 65201.90 9286.203 7.021374 0.0004 C 135358.0 38846.97 3.484389 0.0131 R-squared 0.891500 Mean dependent var 363564.6 Adjusted R-squared 0.873417 S.D. dependent var 169151.2 S.E. of regression 60181.47 Akaike info criterion 25.06043 Sum squared resid 2.17E+10 Schwarz criterion 25.08029 Log likelihood -98.24174 F-statistic 49.29969 Durbin-Watson stat 1.317692 Prob(F-statistic) 0.000417 * Dự báo nguồn lao động trong giai đoạn 2006-2010: YEAR GDP L 2004 722175.1 79486.2 2005 787377 86662.65 2006 852578.9 93839.1 2007 917780.8 101015.5 2008 982982.7 108192 2009 1048185 115368.4 2010 1113387 122544.9 Phần III Một số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta I. Cơ chế, chính sách 1. Tiếp tục tổ chức nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động của chủ trương chính sách vĩ mô đến tăng giảm việc làm - Nghiên cứu nội dung, thời điểm ban hành và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế,xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ. - Tổ chức phân tích đánh giá những tác động cụ thể đến khả năng làm tăng, giảm việc làm. - Đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chủ trương, chính sách đảm bảo giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu giải quyết việc làm trong từng giai đoạn. - Tổ chức xây dựng và thẩm định chỉ tiêu tạo việc làm mới và giảm chỗ làm việc trong các kế hoạch Nhà nước, các chương trình, các dự án phát triển kinh tế-xã hội - Tổ chức xây dựng và thẩm định các chỉ tiêu về sử dụnglao động và tạo việc làm mới trong kế hoạch Nhà nước, các chương trình, dự án của các ngành, các cấp. - Phân tích đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu tạo chỗ làm việc mới; suất đầu tư để tạo một chỗ làm việc mới, số chỗ làm việc bị mất đi trong từng thời kỳ, hàng năm và 5 năm đối với từng kế hoạch, chương trình, dự án. - Thu thập, phân tích nhu cầu lao động của các ngành, các lĩnh vực và diễn biến trong quá trình thực hiện đối với các kế hoạch Nhà nước, đối với từng chương trình, dự án, cập nhật chỗ làm việc trống và nhu cầu về lao động, các dịch vụ về lao động của người sử dụng lao động; tính toán và đưa ra các giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu về lao động của nền kinh tế trong từng thời kỳ. - Củng cố và hiện đại hoá hệ thống thông tin thị trường lao động để theo dõi và đánh giá diễn biến của thị trường lao động, nắm số lao động được giải quyết việc làm và số lao động bị mất việc làm hàng năm, đề xuất các giải pháp để xử lý. - Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chủ trương chính sách đồng bộ, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng phát huy nội lực, tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ để bảo đảm tính phát triển bền vững; - Hoàn thiện chính sách huy động các nguồn lực tài chính cho hoạt động của chương trình. 2. Về Nguồn lực tài chính của chương trình việc làm 2.1 Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước - Vốn đầu tư phát triển + Theo dự thảo phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2006-2010 trình Đại hội Đảng IX, dự kiến tổng đầu tư toàn xã hội là 114 tỉ USD (giá năm 2005), chiếm 37,6% GDP. + Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển này dự kiến dành cho khu vực nông nghiệp, nông thôn 15-18%; công nghiệp 42-48%; hạ tầng giao thông, bưu điện 14-18%; các ngành văn hóa xã hội khoảng 22-25% vốn đầu tư toàn xã hội. - Vốn Ngân sách Nhà nước hỗ trợ Quỹ quốc gia về việc làm + Ngân sách Nhà nước cấp mới, gồm Ngân sách Nhà nước trung ương cấp mới khoảng 1.750 tỷ trong kế hoạch ngân sách Nhà nước hàng năm do Chính phủ trình, Quốc hội quyết định và 250 tỷ từ Ngân sách địa phương trích lập Quỹ Giải quyết việc làm do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình, Hội đồng Nhân dân cùng cấp quyết định; + Quỹ quốc gia về việc làm đến năm 2005 có là 2.370 tỷ đồng, dự kiến trong 5 năm, ngân sách nhà nước cấp bổ sung vốn cho quỹ với tổng số tiền là 1.800 tỷ đồng (trong đó ngân sách trung ương bổ sung 1.500 tỷ, ngân sách địa phương bổ sung 300 tỷ), tăng tổng nguồn vốn lên 4.170 tỷ vào năm 2010. + Hằng năm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì với sự tham gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính lập dự toán ngân sách Nhà nước cấp mới cho Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, trình Chính phủ và Quốc hội quyết định. Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm do Ban Chủ nhiệm Chương trình thống nhất quản lý. + Quỹ được sử dụng để hỗ trợ các địa phương, ngành và tổ chức đoàn thể quần chúng thực hiện các hoạt động hỗ trợ người thất nghiệp, người thiếu việc làm theo nguyên tắc và điều kiện sau: - Cho vay các dự án giải quyết việc làm theo chương trình việc làm được qui định tại khoản 2 Điều 15 của Bộ Luật lao động. - Thực hiện cơ chế quản lý, điều hành hoạt động nguồn vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn. - Các dự án tạo việc làm phải có vốn đối ứng bao gồm vốn bằng tiền, tư liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của chủ dự án để thực hiện. - Trong 5 năm khả năng thu hồi được 8.000 tỷ đồng từ các dự án đến hạn thu hồi nợ, để tiếp tục cho vay quay vòng các dự án mới. 2.2. Các nguồn khác - Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động: Tăng cường nguồn vốn cho quỹ hỗ trợ xuất khẩu, mỗi năm tăng 50 tỷ đồng, trong 5 năm tăng 250 tỷ đồng, nâng tổng nguồn vốn cho vay xuất khẩu lao động lên 400 tỷ đồng. - Trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế cho các hoạt động đào tạo, tập huấn, hội thảo về việc làm và dự án tạo việc làm. Vốn, thiết bị tài trợ mới, kể cả bổ sung và vốn thu hồi từ các dự án tín dụng tạo việc làm. 3. Phát triển kinh tế - xã hội tạo mở việc làm 3.1. Các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn - Tập trung thâm canh hơn 8 triệu ha đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chú trọng đầu tư phát triển kinh tế trang trại, đảm bảo việc làm cho khoảng 23-25 triệu lao động. - Khai thác các vùng đất trống, đồi núi trọc, phát triển trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, tạo và ổn định việc làm cho 4-5 triệu lao động; - Đầu tư, khai thác tiềm năng của các tỉnh đồng bằng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản; khai thác tiềm năng biển, mở rộng nghề đánh bắt ngoài khơi, tạo việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu. Đảm bảo việc làm cho khoảng 2-3 triệu lao động. - Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi nhằm tăng thời gian sử dụng lao động. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp bình quân hàng năm trên 6%; đến năm 2010 khu vực này thu hút thêm 1,5-1,7 triệu lao động. 3.2. Các chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ Phát triển công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo định hướng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2005-2010, trong lĩnh vực việc làm cần chú trọng các chương trình: - Chương trình xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao, chủ yếu ở các vùng kinh tế động lực, các đô thị lớn, thu hút lao động có trình độ cao để tăng sức cạnh tranh; - Chương trình xây dựng và phát triển các trung tâm văn hoá, thể thao, các khu du lịch; - Các chương trình, công trình trọng điểm kinh tế-xã hội của Nhà nước: Đường Hồ Chí Minh, thuỷ điện Sơn la, hóa dầu Dung Quất, sân bay, bến cảng... thu hút nhiều lao động. Phấn đấu đạt tốc độ trưởng giá trị ngành công nghiệp-xây dựng bình quân hàng năm trên 15%, ngành dịch vụ trên 9%. Đến năm 2010, khu vực công nghiệp, xây dựng thu hút thêm 2,4-2,5 triệu; khu vực dịch vụ thu hút thêm 1,8-1,9 triệu lao động. 3.3. Các chương trình mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, phố nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ - Chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Luật Doanh nghiệp; - Chương trình phát triển các làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, tạo việc làm mới và việc làm thêm cho người lao động; - Chương trình phát triển việc làm phi nông nghiệp từng bước rút dần lao động nông thôn ra khỏi khu vực nông nghiệp. 4. Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm thông qua các dự án 4.1. Dự án tổ chức cho vay vốn giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm - Mục tiêu của dự án là cung cấp các món vay ưu đãi với lãi suất thấp cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thu hút người thất nghiệp, người chưa có việc làm nhằm tạo việc làm mới và giải quyết việc làm thêm cho người lao động. - Trong 5 năm, tổ chức cho vay từ Quĩ quốc gia hỗ trợ việc làm nhằm tạo việc làm mới và việc làm thêm cho 1,7 triệu người; Doanh số cho vay cả thời kỳ đạt 9.500 tỷ đồng, nâng mức vay bình quân cho một chỗ làm việc hiện tại từ 3 triệu đồng lên 5-6 triệu đồng, cộng với vốn đối ứng của người vay vốn để có chi phí cho một chỗ làm việc lên 15-20 triệu đồng nhằm chuyển đổi chất lượng việc làm. - Đối tượng vay vốn là người thất nghiệp, người thiếu việc làm có nhu cầu tự tạo việc làm; Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thu hứt và bố trí việc làm ổn định trên 1 năm cho người thất nghiệp, người chưa có việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu; Các cơ sở sử dụng nhiều lao động nữ đang gặp khó khăn, cần vay vốn để duy trì việc làm, tránh nguy cơ sa thải hàng loạt lao động nữ; Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, hoặc thu hút số lao động là người tàn tật cao hơn mức qui định. Các nội dung hoạt động - Duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay hỗ trợ việc làm trên cơ sở hoàn thiện cơ chế quản lý điều hành. - Tổ chức cho những người thất nghiệp, người thiếu việc làm vay vốn để tự tạo việc làm mới hoặc tự tạo thêm việc làm có hiệu quả hơn, gắn với chuyển giao công nghệ, hướng dẫn cách làm ăn cho nông dân và phát triển ngành nghề. - Tổ chức cho các cơ sở sử dụng lao động vay vốn để bố trí việc làm ổn định trên 1 năm cho người thất nghiệp, người chưa có việc làm, gắn với phát triển trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp chế biến hàng nông sản, hàng xuất khẩu và việc áp dụng phù hợp công nghệ sử dụng nhiều lao động. - Tổ chức cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ có khó khăn vay vốn để đảm bảo việc làm cho lao động nữ, tránh nguy cơ mất việc làm. - Tổ chức cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật; cơ sở dạy nghề có nhận người tàn tật vào học nghề; các doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ Nhà nước quy định vay vốn để dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật. Cơ quan điều hành hoạt động quỹ: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính Cơ quan trực tiếp quản lý nguồn quĩ được uỷ quyền: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức hội, đoàn thể quần chúng. Ngoài tổng nguồn quĩ hiện có là 2.370 tỷ đồng, dự kiến trong 5 năm, ngân sách nhà nước cấp bổ sung 1.800 tỷ đồng (trong đó ngân sách trung ương bổ sung 1.500 tỷ, ngân sách địa phương bổ sung 300 tỷ). 4.2. Dự án nâng cao năng lực và hiện đại hoá các Trung tâm giới thiệu việc làm - Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao năng lực và hiện đại hóa các Trung tâm dịch vụ việc làm; cung cấp các dịch vụ việc làm thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động; đào tạo ngắn hạn và bổ túc nghề cho người lao động nhằm đáp ứng được nhu cầu của công việc đòi hỏi. - Qui hoạch và xây dựng cơ sở vật chất Trung tâm dịch vụ việc làm cho 50 tỉnh, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho triển khai các hoạt động dịch vụ việc làm. Trong 5 năm, cung cấp các dịch vụ tư vấn miễn phí về đào tạo nghề và việc làm cho 1 triệu lượt người, đào tạo nghề ngắn hạn và bổ túc nghề cho 1 triệu người, giới thiệu và cung ứng lao động cho 140-150 vạn người. Bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dịch vụ việc làm; Nâng cấp trang thiết bị dạy nghề và bổ túc nghề cho các trung tâm dịch vụ việc làm. 4.3. Dự án hỗ trợ phát triển thị trường lao động - Xây dựng và từng bước hoàn thiện, hiện đại hoá hệ thống thông tin thị trường lao động; đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời những diễn biến của thị trường lao động, làm cơ sở cho việc hoạch định và điều chỉnh kế hoạch, chính sách việc làm và thị trường lao động. - Đến năm 2005 đảm bảo cung cấp được các thông tin về tình hình lao động, việc làm và thất nghiệp ở khu vực đô thị theo quí; tình hình lao động, việc làm và sử dụng thời gian lao động ở nông thôn theo năm; cung cấp được thông tin thị trường lao động tại các địa bàn trọng điểm định kỳ và đột xuất theo yêu cầu chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ. Các nội dung hoạt động - Nghiên cứu xây dựng đề án thông tin thị trường lao động, hệ thống thông tin quản lý lao động-việc làm. - Tổ chức điều tra, khảo sát, thu thập, xử lý và sử dụng các thông tin về thị trường lao động, thông tin về lao động-việc làm tại các địa bàn trọng điểm thông qua các cuộc điều tra mẫu, điều tra lặp lại. - Tổ chức các Hội chợ việc làm. Dự kiến trong 5 năm tổ chức khoảng 200 Hội chợ việc làm với tổng kinh phí khoảng 40 tỷ đồng, để người lao động, người sử dụng lao động, các trung tâm dịch vụ việc làm, cơ sở đào tạo gặp gỡ trực tiếp, nắm bắt thông tin, nhu cầu về lao động, việc làm, tuyển dụng trực tiếp; thông qua đó thúc đẩy sự nghiệp giải quyết việc làm. - Xây dựng đề án chuẩn bị cơ sở cho việc hiện đại hoá hệ thống thông tin việc làm và thị trường lao động. Đầu tư xây dựng hệ thống này vào năm 2006-2010. Nâng cao năng lực và hiện đại hóa các Trung tâm dịch vụ việc làm. Quy hoạch, đổi mới và áp dụng các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin trong hoạt động của các trung tâm để bảo đảm thực hiện nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm của Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm 2006-2010. Dự kiến sẽ tổ chức các trang Web cho khoảng 50 Trung tâm dịch vụ việc làm ở các địa bàn có thị trường sôi động; tổ chức nối mạng giữa các Trung tâm dịch vụ việc làm ở TP Hồ Chí Minh, Hà nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ và một vài địa phương khác. Kinh phí thực hiện khoảng 35 tỷ đồng. Cơ chế: Các cơ quan được giao chủ trì nghiên cứu hoặc triển khai hoạt động xây dựng đề án. Bộ Lao động-Thương binh xã hội phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan tư vấn thẩm định trình Chủ nhiệm Chương trình quyết định phê duyệt. Tổng kinh phí cho các hoạt động này dự kiến khoảng 75 tỷ đồng do Ngân sách Nhà nước cấp. 4.4. Dự án Hoàn thiện hệ thống chính sách việc làm và tuyên truyền, kiểm tra, đánh giá chương trình - Hoàn thiện hệ thống chính sách việc làm; tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách về việc làm, các hoạt động, mô hình, sáng kiến hay trong giải quyết việc làm; đánh giá hiệu quả của chương trình. - Đến năm 2006, các chính sách về việc làm tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ; Năm 2006 thử nghiệm chính sách bảo hiểm thất nghiệp tiến tới áp dụng rộng rãi vào năm 2007; Các cơ quan hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch lồng ghép các nhân tố lao động-việc làm trong các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển; Nhân viên các cơ quan quản lý và triển khai chương trình, các đối tượng của chương trình biết được các chủ trương, chính sách, cơ chế giải quyết việc làm; Định kỳ đánh giá được hiệu quả triển khai của chương trình việc làm Các hoạt động cần triển khai - Soát xét lại các chính sách việc làm đã và đang được thực hiện. Xây dựng, bổ sung và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách việc làm quốc gia. Tập trung vào những chính sách, chế độ sau: Chế độ sử dụng và kiểm soát chỉ tiêu tạo việc làm mới; Chính sách dịch vụ việc làm, nhất là dịch vụ việc làm tư nhân; Chính sách dạy nghề gắn với việc làm; Chính sách cho vay vốn tạo việc làm; Chính sách hỗ trợ tài chính tạo việc làm; Chính sách đối với các tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm; Chính sách bảo hiểm thất nghiệp. - Tổ chức thông tin, tuyên truyền về mục tiêu, đối tượng, các chính sách, các hoạt động của Chương trình; các mô hình, các sáng kiến giải quyết việc làm ở địa phương, đơn vị cơ sở thường kỳ và đột xuất trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức in ấn, phát hành các tài liệu, các ấn phẩm tuyên truyền giới thiệu về Chương trình. - Tổ chức kiểm tra, đánh giá, báo cáo theo định kỳ tháng, quý, năm và đột xuất về các hoạt động của Chương trình. Kinh phí: Kinh phí cho các hoạt động này dự kiến khoảng 25 tỷ đồng, lấy từ nguồn kinh phí quản lý chương trình. 4.5. Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý lao động, việc làm - Nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức và kỹ năng xây dựng, quản lý, điều hành và triển khai chương trình việc làm cho các cán bộ triển khai chương trình việc làm thuộc các Bộ, ngành, Tổng công ty, các khu công nghiệp, khu chế xuất,.các cán bộ thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội, các đoàn thể quần chúng, các trung tâm dịch vụ việc làm. Các hoạt động của dự án - Tổ chức hai khoá tập huấn về phương pháp xây dựng và triển khai chương trình việc làm cho cán bộ các bộ, ngành, tổng công ty, ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất, trung ương các tổ chức đoàn thể quần chúng; ba khoá tập huấn cho cán bộ các Sở Lao động-TBXH. - Hàng năm tổ chức tập huấn các văn bản mới và phương pháp triển khai chương trình việc làm cho cán bộ Sở/ phòng Lao động-TBXH nhằm thúc đẩy tiến độ triển khai chương trình. - Hàng năm tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp cơ sở về phương pháp xây dựng dự án, quản lý dự án vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm. - Tổ chức các khóa tập huấn sâu về nghiệp vụ dịch vụ việc làm cho cán bộ các trung tâm dịch vụ việc làm của các Sở, các tổ chức đoàn thể quần chúng. - Tổ chức cho cán bộ chuyên trách triển khai Chương trình việc làm của Bộ Lao động-TB và XH, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, một số Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Trung tâm dịch vụ việc làm tham quan học hỏi kinh nghiệm của một số nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm và dịch vụ việc làm. 5. Các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm ngoài nước 5.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách xuất khẩu lao động Xây dựng và hoàn thiện chính sách đầu tư cho đào tạo lao động về tay nghề, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật phục vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia. Đưa đào tạo lao động và chuyên gia xuất khẩu vào trong chương trình đào tạo nghề của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ trong trường phổ thông. Có chính sách khuyến khích người lao động tự đào tạo, doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo để tăng nguồn lao động và chuyên gia. Xây dựng và hoàn thiện chính sách ưu đãi về thuế trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia; thực hiện công khai và giảm tối đa các khoản người lao động đóng góp khi đi làm việc ở nước ngoài. Cải cách thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho người lao động và doanh nghiệp. Nghiên cứu ban hành Pháp lệnh xuất khẩu lao động và chuyên gia. 5.2. Phát triển thị trường lao động ngoài nước Thực hiện đa dạng hoá thị trường và các tổ chức kinh tế tham gia xuất khẩu lao động; đa dạng hóa hình thức và ngành nghề đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Xúc tiến mạnh về thị trường lao động ngoài nước; có chính sách đối ngoại phù hợp với các nước và vùng lãnh thổ có khả năng tiếp nhận nhiều lao động và chuyên gia Việt nam. Xây dựng các doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động và chuyên gia mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. 5.3. Hỗ trợ dạy nghề và cho vay xuất khẩu lao động. Dự kiến trong 5 năm cho 25.000 đối tượng vay khoảng 500 tỷ đồng đểxuất khẩu lao động. Phấn đấu trong 5 năm xuất khẩu 40 vạn lao động và chuyên gia. Phần kết luận Giải quyết việc làm cho người lao động là một vấn đề nan giải và bức thiết hiện nay, là một thách thức đối với Đảng và Nhà nước. Giải quyết việc làm cho người lao động chính là giải quyết vấn đề cơ bản của xã hội, đồng thời là sự đầu tư cho phát triển trong tương lai. Xuất phát từ lý thuyết về lao động việc làm , trên cơ sở tổng hợp, phân tích các đặc điểm kinh tế văn hoá, chính trị, xã hội, kết cấu nguồn lao động bài viết đi sâu phân tích thực trạng cung lao động việc làm và tạo việc làm cho nguồn lao động trong cả nước trong những năm sắp tới. Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác tạo việc làm cho người lao động, bài viết mong muốn được nêu cách nhìn nhận và đánh giá của mình về công tác tạo việc làm trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cho vấn đề và các khuyến nghị. Nhìn chung tạo việc làm cho người lao động là một vấn đề lâu dài nhưng trước mắt cần phải có những biện pháp, những chính sách cụ thể được thực hiện nhanh chóng và kịp thời mà một ít cá nhân và tổ chức thì không thể thực hiện được, mà cần phối hợp toàn thể các tổ chức kinh tế, xã hội cùng đóng góp, thực hiện đồng bộ tạo thêm việc làm, thực hiện mục tiêu chung của toàn xã hội. Đề tài rút ra một số kết luận nhằm đóng góp cho việc tạo và giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay, nhằm thực hiện kế hoạch giải quyết việc làm, phấn đấu đạt được mục tiêu mà hội nghị Trung ương IV của đảng đã đề ra. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình kinh tế lượng. Trường đại học kinh tế quốc dân. 2. Nguyễn Quang Hiển: “Thị trường lao động thực trạng và giải pháp” Nhà xuất bản Thống kê 1985. 3. Tạp chí lao động xã hội. 4. Thông tin thị trường lao động. 5. Niên giám thống kê 1991 đến 2003 6. Thực trạng lao động trên thị trường lao động trong nước 7. Báo cáo kết quả hoạt động 10 năm cho vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm. Bộ lao động thương binh và xã hội 2003

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 số biện pháp cơ bản góp phần giải quyết việc làm ở nước ta.DOC
Luận văn liên quan