Đề tài Một số biện pháp nhằm củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong công ty văn phòng phẩm Trà My

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP I. THỊ TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.Khái niệm và vai trò thị trường của doanh nghiệp: 1.1.Khái niệm về thị trường Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đơì và phát triển cuả nền sản xuất xã hội và được hình thành trong lĩnh vực lưu thông. Người có hàng hoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi dược gọi là bên bán, người có nhu cầu chưa thoả mãn và có khả năng thanh toán được gọi là bên mua. Trong quá trình trao đổi đã hình thành mối quan hệ nhất định đó là quan hệ giữa những người bán và quan hệ giữa những người mua với nhau. Vì vậy cũng có quan điểm cho rằng, thị trường là nơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người bán và người mua. Từ đó cho thấy sự hình thành của thị trường đòi hỏi phải có: - Đối tượng trao đổi sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ - Đối tượng tham gia trao đổi: bên bán và bên mua. - Điều kiện thực hiện trao đổi: Khả năng thanh toán Theo nội dung trên, điều quan tâm nhất của doanh nghịp là tìm ra nơi trao đổi, tìm ra nhu cầu và khả năng thanh toán của những sản phẩm, dịch vụ mà nhà sản xuất dự định cung ứng. Còn đối với người tiêu dùng, họ lại quan tâm tới việc so sánh những sản phẩm, dịch vụ mà sản xuất cung ứngthoả mãn đũng yêu cầu và thích hợp với khả năng thanh toán của họ. Tóm lại, các doanh nghiệp tìm kiếm trên thị trườngnhu cầu về hàng hoá dịch vụ của người tiêu dùng, còn người tiêu dùngthì tìm kiếm trên thị trườngnhững sản phẩm dịch vụ mà nhà sản xuất kinh doanh có khả năng đáp ứng. Theo góc độ Marketing, thị trường được định nghĩa như sau: Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Thị trường là nơi mà người bán và người mua tự tìm đến với nhau qua trao đổi, thăm dò, tiếp xúc để nhân lấy lời giải pháp mà mỗi bên cần biết.Các doanh nghiệp thông qua thị trường để tìm cách giải quyết các vấn đề: - phải sản xuất loại hàng gì ? cho ai? - Số lượng bao nhiêu? - Mẫu mã, kiểu cách, chất lượng như thế nào? Còn người tiêu dùng thì biết được - Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình? - Nhu cầu được thoả mãn tới mức nào? - Khả năng thanh toán ra sao? Tất cả những câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời chính xác trên thị trường. 1.2. Vai trò của thị trường Thị trưòng có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hoá, kinh doanh và quản lý kinh tế . Trong qua trình tái sản xuất hàng hoá, thị trường nằm trong khâu lưu thông. Thị trường là chiếc ' cầu nối' giữa sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hoá. Thị trường chính là nơi hình thành và xử lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác, giữa doanh nghiệp với nhà nước. Thị trường là bộ phận chủ yếu của môi trường kinh tế xã hội của doanh nghiệp, nó vừa là môi trường kinh doanh, vừa là tấm gương để các nàh sản xuất nhận biết nhu cầu của xã hội, vừa là thước đo để các doanh nghiệp đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình, kiểm nghiệm các chi phí sản xuất và chi phí lưu thông, góp phần thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm Trong quản lý nền kinh tế quốc dân, thị trường vừa là đối tượng, vừa là căn cứ của kế hoạch hoá, nó là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước. Thị trường là nơi mà thông qua đó nhà nước tác động vào quá trình kinh doanh của các đơn vị cơ sở. Đồng thời, thị trường sẽ kiểm nghiệm tính chất đúng đắn của các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành. 2. Phân loại thị trường Phân loại thị trường là cần thiết, khách quan để nhận thức cặn kẽ thị trường. Có thể có dựa và nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại thị trường. 2.1. Căn cứ vào hàng hóa lưu thông trên thị trường: Có thể chia thị trường làm 3 thị trường: Thị trường tư liệu sản xuất, thị trường hàng tiêu dùng và thị trường dịch vụ - Thị trường tư liệu sản xuất: trên thị trường tư liệu sản xuấtthường có những nhà kinh doanh lớn, cạnh tranh diễn ra mạnh hơn quy mô thị trường ( sức chứa) lớn và khả năng thống nhất thị trường trong toàn quốc lớn nhưng nhu cầu trên thị trường không phong phú, đa dạng như nhu cầu trên thị trường hàng tiêu dùng. Thị trường tư liệu sản xuất phụ thuộc nhiều vào thị trường hàng tiêu dùng. Thị trường lớp hàng này thường là thị trường bán buôn. -Thị trường hàng tiêu dùng: tính đa dạng và phong phú của nhu cầu tiêu dùng cuối cùng quyết định tính đa dạng, phong phú và sôi động của thị trường tiêu dùng. Mức độ cạnh tranh trên thị trường này không gay gắt như trên thị trườngtư liệu sản xuất. Hình thức mua bán trên thị trường này cũng rất phong phú: bán buôn, bán lẻ, đại lý . song hình thức bán lẻ vẫn là chủ yếu. - Thị trường dịch vụ: là những thị trường về sản phẩm phi vật thể. Do quá trình sản xuất và tiêu thụ các dịch vụ hoàn toàn thống nhất với nhau nên người sản xuất dịch vụ thường là người bán, người tiêu dùng dịch vụ thường là người mua trên thị trường. Thị trường dịch vụ mang tính chuyên môn hoá cao, với chủng loại ít, ổn định. Trên thị trường, trao đổi thường diễn ra theo phương thức trao đổi trực tiếp, bán lẻ cho người tiêu dùng. 2.2. Căn cứ vào tương quan số lượng và vị thế người mua và bán trên thị trường: Chia ra thành thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh và thị trường hỗn hợp giữa độc quyền và cạnh tranh. Đây là dạng phân định hình thái thị trường quan trọng nhất vì nó gắn liền với phương thức hình thái giá và phương thức ứng xử của những bên tham gia thị trường. - Thị trường độc quyền: là thị trường mà một bên tham gia chỉ có một người duy nhất. Bên độc quyền có quyền quyết định về giá cả, khối lượng, cơ cấu chủng loại hàng hoá trao đổi và các mối quan hệ khác. Thị trường độc quyền có thị trường độc quyền bán và thị trường độc quyền mua. - Thị trường cạnh tranh: là thị trường cạnh tranh mà ở đó có nhiều người bán và người mua tham gia. Trên thị trường cạnh tranh, các quan hệ kinh tế diễn ra tương đối khách quan và ổn định. Thị trường cạnh tranh có 2 loại: thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. - Thị trường hỗn hợp giữa độc quyền và cạnh tranh: gồm hai hình thái cơ bản là thị trường độc quyền cạnh tranh và thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền. + Thị trường độc quyền cạnh tranh: là thị trường vừa có yếu tố độc quyền lại vừa có các yếu tố cạnh tranh. Độc quyền hình thành do các doanh nghiệp có động cơ chung là tối đa hoá lợi nhuận nên tìm cách thoả hiệp bằng hiệp ước hoặc thoả hiệp ngầm với nhauđể hành động với nhau như một nhà độc quyền duy nhất. Mặt khác, các doanh nghiệp lại muốn có lợi nhuận của mình cao hơn doanh nghiệp khác nên tìm cách cạnh tranh với nhau bằng cách phân biệt hoá sản phẩm. + Thị trường cạnh tranh mang tính độc

doc55 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 20/05/2013 | Lượt xem: 1453 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp nhằm củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong công ty văn phòng phẩm Trà My, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, xu hướng chuyên môn hoá và cơ cấu phát triển kinh tế - Sự phát triển khoa học kỹ thuật và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất - cơ chế quản lý kinh tế, tình hình cạnh tranh trên thị trường - thu nhập quốc dân và việc phân phối thu nhập quốc dân 1.2.3. Ảnh hưởng của nhân tố dân cư Nhân tố dân cư ảnh hưởng đến thị trường gồm: - Dân số và mật độ dân số: ở những vùng mà dân cư dông đúc, tốc độ tăng dân số cao tất yếu làm cho nhu cầu thị trường tăng nhanh. Mặt khác dân số có ảnh hưởng đến người lao động và tác động vào sự phát triển của sản xuất kinh doanh. Từ đó cho phép có thể hình thành những thị trường có dung lượng lớn. Ngược lại ở những vùng dan số ít, phan bố thưa thớt không thể tạo điều kiện hình thành các thị trường lớn - Sự phân bố dân cư theo vùng lãnh thổ - Cơ cấu dân cư, đặc điểm về giai tầng xã hội, thu nhập và khả năng thanh toán của dân cư, các yếu tố đặc điểm tiêu dùng như thị hiếu tiêu dùng, tập quán và tâm lý tiêu dùng - Xu hướng biến động của dân cư, sự hình thành và phát triển các khu dân cư mới... 1.2.4. Ảnh hưởng của nhân tố văn hoá xã hội Tuy không ảnh hưởng mạnh mẽ như các nhân tố kinh tế và dân cư, song các nhân tố văn hoá xã hội cũng đõng vai trò rất quan trọng đến sự biến động và phát triển của thị trường. Đặc biệt là các yếu tố văn hoá xã hội có ảnh hưởng tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của nhu cầu thị trường.Trong số các nhân tố văn hoá xã hội có ảnh hưởng tới thị trường cần chú ý tới các nhân tố sau: - Trình độ văn hoá ý thức của dân cư. - Chính sách và kết quả đầu tư cho việc phát triển văn hoá xã hội đất nước, sự ra đời của các công trình, phương tiện thông tin văn hoá xã hội. - Các sự kiện văn hoá, xã hội, phong trào hoạt động văn hoá xã hội... 1.2.5. Ảnh hưởng của nhân tố chính trị Sự ổn định về chính trị pháp luật chính là nền tảng cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Môi trường kinh tế chính trị ổn định làm cho các nhà đầu tư sẽ đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhiều hơn làm tăng vùng hàng hoá trên thị trường. Khi nền kinh tế ổn định, thu nhập của dân cư ổn định sẽ làm cho cầu hàng hoá ổn định và diều này sẽ giúp cho thị trường sản phẩm của doanh nghiệp cũng ổn định Như ở nước ta hiện nay, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, sử dụng pháp quyền hành chính có thể buộc người mua, người bán phải tuân thủ theo một giới hạn nhất định. Thông qua các chính sách về thuế, đầu tư, tiết kiệm, lãi xuất xuất nhập khẩu...Nhà nước điều tiết tiêu dùng khuyến khích hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh đầu tư sản xuất của doanh nghiệp, đưa ra những chính sách để khắc phục những nhược điểm của thị trường. Nhà nước có khả năng thay đổi quan hệ cung cầu trên mọi thị trường: thị trường lao động, thi trường tiền tệ, thị trường lao động thông qua các doanh nghiệp quốc doanh, nhà nước sử dụng ngân sách quốc gia để thực hiện ý đồ của mình Có thể nói, các nhân tố chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến các mối quan hệ cũng như hoạt động của thị trường. Sự chi phối của các nhân tố này có thể diễn ra theo hai chiều hướng: hoặc là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, hoặc là kìm hãm và hạn chế sự phát triển của thị trường. Đó chính là sự can thiệp và ràng buộc của các thể chế và luật lệ. Chúng bao gồm những nhân tố chủ yếu sau: -Hệ thống luật pháp thể chế - Các chế độ chính sách kinh tế- xã hội của từng thời kỳ - Tình hình chính trị an ninh và những biến động xã hội Nói tóm lại, thời kỳ mở cửa của nền kinh tế, vạn vật thay đổi, để vững vàng trong cơ chế mới doanh nghiệp cần phải áp dụng mở rộng thị trường thông qua hoạt động chiếm lĩnh. Nhưng quy luật tự nhiên đã chứng minh rằng đã chấp nhận kinh doanh là chấp nhận rủi ro. Vì vậy ' máu' kinh doanh tiếp sức cho các doanh nghiệp luôn có tư tưởng làm' bá chủ', cạnh tranh ắt sẽ xảy ra. Để giành thắng lợi cần sáng suốt lựa chọn con đường tiếp cận nhanh chónh với khách hàng. Song để tiếp cận với khách hàng không phải công ty nào cũng làm được. Điều tra, nghiên cứu nhu cầu của khách hàng theo từng vùng , từng độ tuổi, mức thu nhập ...không phải dễ dàng. Cần phải mạnh dạn đầu tư lớn và biết cách lựa chọn những thông tin chính xác, kịp thời. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải biết khả năng của mình để lựa chọn những phần, những đoạn thị trường của mình, những loại sản phẩm cho phù hợp. Kinh doanh là phải biết chấp nhận mạo hiểm nhưng không có là ' liều mạng' và lợi nhuận chính là ' phần thưởng' cho những nhà kinh doanh giỏi. 2. Sự cần thiết phải củng cố và mở rộng thị trường Nền kinh tế càng ngày càng phát triển, làm cho đời sống xã hội của người dân ngày càng được nâng cao. Chính điều đó đã khiến cho người dân càng có nhu cầu cao cần được thoả mãn. Cho nên việc mở rộng thị trường là hoạt động cần thiết cho mỗi doanh nghiệp- là chìa khoá cho sự thành công của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nạy Việt Nam đang trên con đường để tiến lên Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Do vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp Việt nam là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, mở rộng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện thắng lợi với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong quá trình hội nhập. Do vậy, các doanh nghiệp Việt nam muốn hội nhập có hiệu quả tốt cần phải mở rộng thị trường tạo ra nhiều cơ hội trong kinh doanh , thâm nhập thị trường, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định từ đó có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, nâng cao thị phần, phát triển kinh tế không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho đất nước. Hơn nữa, để mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt nam cần phải đẩy mạnh hoạt động xúc tiến Thương mại, xúc tiến đầu tư lớn nhất với các đối tác lớn như EU, Mỹ , Nhật để mở rộng thị trường, tranh thủ công nghệ, nguồn kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Chính vì vậy, mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là rất cần thiết để các doanh nghiệp không chỉ nâng cao thị phần, tăng doanh thu, mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. CHỦ ĐỀ : MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY I. GIỚI THIỆU SƠ BỘ VỀ CÔNG TY VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY 1. Tóm lược sơ bộ về công ty Công ty TNHH văn phòng phẩm Trà My được thành lập theo quyết định số 0102000184 ngày 16 tháng 03 năm 1994 của sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội. Công ty được cho phép hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và xuất nhập khẩu các sản phẩm bằng nhựa, buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng ( chủ yếu là đồ dùng, thiết bị văn phòng phẩm, thiết bị máy móc phục vụ nông nghiệp và công nghiệp). Tên giao dịch: Công ty TNHH Văn Phòng Phẩm Trà My Trụ sở: Xã Tân Quang - Văn Lâm - Hưng Yên Văn phòng đại diện: 300 Bạch Đằng, Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại:(04)9321435, 9321418 Fax:(04)9325228 E-mail:Ctytramy@hn.vnn.vn Công ty văn phòng phẩm Trà My là một đơn vị kinh doanh độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có giấy phép đăng ký kinh doanh. Gần 10 năm xây dưng và phát triển , công ty đã có nhiều biện pháp để tìm kiếm thị trường cho mình, không ngừng cải tiến, nâng cao công tác quản lý, đầu tư chất xám công nghệ sản xuất, thiết bị... nhằm nâng cao uy tín của thương hiệu Trà My, đáp ứng đến mức tốt nhất nhu cầu của thị trường, tạo được sự tin tưởng trong và ngoài nước để việc sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao. 1.1.Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty Văn Phòng Phẩm Trà My Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hoá với những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có liên quan mật thiết với nhau và được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiện các chức năng quản lý của công ty. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phản ánh cơ cấu sản xuất kinh doanh, nó tác động tích cực đối với sự phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cơ cấu tổ chức tốt sẽ phối hợp tốt các hoạt động tác nghiệp của các bộ phận trong công ty hướng về mục tiêu chung, đồng thời có thể giúp công ty đối phó được sự biến động của môi trường, giúp cho công ty quản lý và sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực của mình từ đó nâng cao hoạt động của công ty. Cơ cấu tổ chức , bộ máy quản lý của công ty văn phòng phẩm Trà my chia thành: ban giám đốc , hệ thống các phòng ban, hệ thống các phân xưởng.Điều này được thể hiện rõ qua sơ đồ: GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC phòng kế toán các phân xưởng phòng kế hoạch phòng thị trường phòng tổ chức -hành chính phòng kỹ thuật ban bảo vệ Giám đốc công ty: là người diều hành cao nhất, có quyền ra mọi quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động, về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, có thể uỷ quyền cho phó giám công ty một số quyền hạn nhất định khi có việc đột xuất. Phó giám đốc: Thừa lệnhgiám đốc trực tiếp diều hành và quản lý phòng kỹ thuật và phòng kế hoạch. Ngoài ra, còn theo dõi mọi hoạt động của các phân xưởng và các phòng ban khác trong công ty. Phòng kỹ thuật: Quản lý quy trình công nghệ, quản lý các trang thiết bị về đo lường tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Kiểm tra hướng dẫn các phân xưởng theo đúng tiêu chuẩn, mẫu mã quy trình công nghệ . Các phân xưởng: Mỗi phân xưởng có một chức năng riêng nên họ được giao nhiệm vụ sảnn xuất từng mặt hàng theo đúng chức năng. Phòng kế hoạch: Là đơn vị tham mưu, giúp việc cho giám đốc trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và điều hành sản xuất của công ty. Phòng kế hoạch thường liên kết với các phòng ban khác để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng tháng,hàng qúy, hàng năm. Ngoài ra còn xây dựng kế hoạch giá, điều chỉnh giá cho phù hợp với nhu cầu thị trường đặc biệt là nhu cầu khách hàng. Phòng kế toán: Là đơn vị tham mưu, giúp việc cho giám đốc trong quản lý, điều hành công tác tài chính của công ty, phản ánh mọi hoạt động kinh tế thông qua việc tổng hợp, phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra phòng kế toán còn lập báo cáo tổng hợp cho công tác kiểm tra thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Phòng thị trường: Là đơn vị tham mưu, giúp việc cho giám đốc, chụ trách nhiệm trước giám đốc về các chỉ tiêu kế hoạch được giaovề doanh thu hay lợi nhuận đạt được trong năm của công ty. Phòng thị trường có nhiệm vụ nghiên cứu thị truờng, nghiên cứu kênh phân phối, mạng lưới tiêu thụ nhằm đạt được kết quả và hiệu quả cao. Phản ánh kịp thời nhu cầu thị trường để ban giám đốc và các phòng ban điều chỉnh sản xuất cho phù hợp và hiệu quả. Phòng tổ chức -hành chính: bao gồm nhiều bộ phận: Bộ phận tổ chức lao động: Bộ phận này bố trí nhân sự cho hợp lý và đảm bảo an toàn cho người lao động nhằm nâng cao năng suất lao động Bộ phận hành chính: Quản lý lưu trữ văn bản, tài liệu, con dấu của công ty. Bộ phận y tế: Theo dõi sức khoẻ, quản lý hồ sơ của cán bộ công nhân viên, xác lập hồ sơ theo dõi ngày nghỉ ốm của cán bộ công nhân, khám và cấp thuốc cho bệnh nhân ốm đau và có bảo hiểm y tế cho cán bộ công nhân viên. Ban bảo vệ: xây dựng nội quy bảo vệ công ty, quy đinh phòng cháy nổ đảm bảo an toàn cho mọi người. Thực hiện việc kiểm tra nội quy kỉ luật ra vào đối với công nhân viên. 1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty văn phòng phẩm trà my Chức năng: Thông qua kinh doanh các sản phẩm bằng nhựa, buôn bán tư liệu sản xuất, thiết bị văn phòng phẩm..., công ty đã hoạt dộng ổn định đảm bảo sản xuất phục vụ nhu cầu trong cả nước nhằm tăng thu ngân sách, góp phần phát triển đất nước. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Công ty chủ yếu là bán buôn các loại túi, cặp file, lưu trữ tài liệu, các sản phẩm bằng nhựa,...như cặp lá, kẹp file, kẹp càng cua, hộp gấp, kẹp ba dây ASI, file lồng...., các sản phẩm này rất cần cho mọi người vì nó tiện sử dụng. Nhiệm vụ: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh các sản phẩm được Nhà nước cho phép. Nâng cao chất lượng hàng hoá kinh doanh và mở rộng thị trường. Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đảm bảo đầu tư, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và đảm bảo đời sống cho người lao động trong công ty. Tuân thủ các chế độ quản lý kinh tế theo qui định của Nhà nước. Làm tốt công tác bảo hộ và an toàn lao động, trật tự xã hội, đảm bảo môi trường, đảm bảo an ninh. Làm tốt công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá, tay nghề cho người lao động. 2. Môi trường kinh doanh của công ty: Trong xã hội nói chung và trong hoạt động kinh tế nói riêng cho thấy, không một ai, không một công ty nào có thể tồn tại biệt lập. Tất cả đều là sự tổng hoà các mối quan hệ ràng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau. Một công ty muốn thành đạt không chỉ nắm vững các nguồn lực bên trong mà phải nắm vững cả nguồn lực bên ngoài để trên cơ sở đó tận dụng những cơ hội trong kinh doanh cho mình.Các nguồn lực đó chính là các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh. Như vậy có thể thấy môi trường kinh doanh của công ty rất đa dạng và phong phú , vì thế để kiểm soát nó cần có sự đánh giá và phân tích chúng. Để rõ hơn, người ta phân thành 2 loại:Môi trường kinh doanh bên trong và môi trường kinh doanh bên ngoài. 2.1. Môi trường kinh doanh bên trong công ty Môi trường kinh doanh bên trong công ty được hiểu là nền văn hoá tổ chức của công ty, được hình thành và phát triển cùng với quá trình vận hành trong công ty. Nó gồm nhiều yếu tố như nhân sự , vốn ,mặt hàng kinh doanh,... Về nhân sự: Con người là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, việc sử dụng con người, phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và nề nếp tổ chức luôn được đặt hàng đầu trong công ty văn phòng phẩm Trà My.Với một lượng công nhân viên khá đông, một đội ngũ lãnh đạo có năng lực, công ty đã nâng cao được thị phần, tăng doanh số và có mặt trên thị trường một cách nhanh chóng. Không những thế, hàng năm công ty thường tổ chức lớp tập huấn để đào tạo, phát triển nhân sự, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên. Về nguồn vốn: Công ty văn phòng phẩm trà my luôn chú trọng việc sử dụng vốn có hiệu quả để không gây lãng phí về chi phí ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty. Mặt hàng kinh doanh: Trước khi bắt tay vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản trị phải nắm bắt được thông tin thị trường, tìm hiếu cái mà thị trường cần để từ đó có những kế hoạch cho việc việc giới thiệu, phát triển sản phẩm. Chính vì lý do đó mà công ty văn phòng phẩm Trà My đã nghiên cứu thị trường để đi đến quyết định lựa chọn các sản phẩm bằng nhựa, các đồ dùng, thiết bị văn phòng phẩm văn phòng phẩm, thiết bị máy móc phục vụ công nghiệp và nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu trong cả nước. Sản phẩm chủ yếu của công ty là:cặp lá,kẹp file, kẹp càng cua, kẹp một khoá, hai khóa, kẹp ba dây ASI, file lồng, hộp gấp, các loại túi da và giả da.. 2.2 Môi trường kinh doanh bên ngoài Môi trường kinh doanh bên ngoài là hệ thống toàn bộ các tác nhân bên ngoài công ty, có liên quan và có ảnh hưởng tới quá trình tồn tại và phát triển của công ty. Môi trưòng kinh doanh bên ngoài công ty có rất nhiều nhưng ở đây ta chỉ xét về thị trường, nguồn cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, môi trường chính trị , pháp luật. Thị trường: Trong một vài năm gần đây, công ty văn phòng phẩm Trà My đã khắc phục những khó khăn và phát triển với tốc độ nhanh. Doanh thu năm 2003 đạt 23765826 (nghìn đồng), tăng 3420044 ( nghìn đồng), tăng 16,81%so với năm 2002. Thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty là phía bắc và một số tỉnh thành. Công ty đang nỗ lực mở rộng thị trường trên cả nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Công ty chủ yếu là bán buôn cho các cửa hàng đại lý, các tổ chức hay các cá nhân mua với số lượng lớn. Điều đó chứng tỏ công ty đã tìm được chỗ đứng cho mình trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Đó là một thành công của công ty . Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động, họ luôn tìm tòi, nghiên cứu thị trường, tổ chức mạng lưới tiêu thụ, đưa ra các hình thức quảng cáo, khuyến mại phù hợp để ngày càng phát triển sản phẩm trên thương trường. Với phương châm chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng, công ty đã có mối quan hệ với các đầu mối tiêu thụ, phân phối trong các tỉnh thành và sản phẩm công ty ngày càng mở rộng tiêu thụ trên thị trường cả nước. Hiện nay công ty chỉ áp dụng phương pháp bán trực tiếp dưới dạng bán buôn nghĩa là sản phẩm phải được khách hàng đặt trước hoặc cá nhân mua hàng với một số lượng lớn , khi đó công ty và khách hàng sẽ kí kết hợp đồng , hàng sẽ vận chuyển đễn tận nơi người nhận, ngoài ra khách hàng nào có nhu cầu vận chuyển trực tiếp có thể liên hệ với công ty để đặt hàng theo ý muốn sở thích của mình. Công ty áp dụng 2 hình thức thanh toán trả ngay và trả chậm. Hình thức thanh toán trả chậm thường áp dụng trong trường hợp bán buôn với khách hàng có quan hệ thường xuyên với công ty Nguồn cung cấp : công ty văn phòng phẩm Trà My là một công ty chuyên sản xuất nên công ty luôn chú trọng nguồn cung cấp máy móc trang thiết bị để đảm bảo cho tiến trình sản xuất kinh doanh của công ty. Nguồn cung cấp cho công ty phải đảm bảo số lượng, kịp thời về thời gian.Do vậy công ty luôn tìm nguồn cung cấp tin cậy, ổn định để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Khách hàng: Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất , quyết định sự sống còn của công ty. Chính vì vậy, công ty luôn đề cao việc tìm hiêủ nhu cầu thị trường, thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Nhất là trong điều kiện hiện nay nền kinh tế của ta đang trên con đường tiến lên công nghiệp hoá hiện đại hoá, vì vậy việc thoả mãn nhu cầu khách hàng là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận , mở rộng thị trường trong và ngoài nước, góp phần phát triển đất nước. Đối thủ cạnh tranh: Trên thị trường hiện nay, ngoài công ty vă phòng phẩm Trà My còn có công ty văn phòng phẩm Hồng Hà, nhưng công ty văn phòng phẩm Trà My không lấy đó làm điều quan trọng mà điều quan trọng trong công ty là làm cách nào để tạo ra sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn để phục vụ khách hàng. Đó là một trong những yếu tố thành công trong cạnh tranh của công ty. Môi trường chính trị, pháp luật: Nhà quản trị trong công ty văn phòng phẩm trà my luôn nắm bắt kịp thời luật pháp, chính sách, cơ chế của nhà nước để có những quyết định đúng đắn trong kinh doanh như nộp thuế đúng hạn, không trốn thuế, lậu thuế, không làm hàng giả ảnh hưởng đến uy tín của công ty. II. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY: 1.MẶT HÀNG KINH DOANH VÀ THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY 1. Mặt hàng kinh doanh Các sản phẩm cơ khí: Các loại khoá, kẹp móc, nẹp dài, khuy tròn, khuy ô van.. được sản xuất tại nhà máy góp phần quyết định trong việc hạ giá thành và thường xuyên thay đổi mâũ mã nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường. Các sản phẩm nhựa Đây là yếu tố quyết định về chất lượng và mẫu mã sản phẩm, là khâu quan trọng bậc nhất của nhà máy, màng cán hoặc thổi chất lượng càng cao thì sản phẩm cuối cùng của nhà máy càng được hoàn thiện, tanưg sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh được nâng cao. Sản phẩm chủ đạo: các loại túi, cặp file, lưu trữ tài liệu Đây chính là sản phẩm cuối cùng và là mục tiêu sản xuất của nhà máy. Các sản phẩm này phục vụ cho công tác lưu trữ tài liệu, sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực khác của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội. Đây là nhu càu vô cùng lớn và ngày càng tăng của xã hội đặc biệt là trong xu thế phát triển hiện nay của nền kinh tế đất nước ta. Sản phẩm cặp, túi đeo , ba lô da và giả da Đây là dòng sản phẩm mới đang được thị trường chấp nhận và luôn có nhu cầu lớn ở trong nước và xuất khẩu. 1.2. Nguyên vật liệu để sản xuất Nguồn nguyên vật liệu chính để sản xuất bao gồm: + hạt nhựa + Giấy Kráp, Giấy Duplex +Tôn mỏng, thép lá, thép phôi + Hoá chất kết dính + Vải giả da, dây kéo khoá 1.3. Thị trường của công ty Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay tại nước ta, nhà nước tăng cường các biện pháp quản lý kinh tế tài chính. Nhà nước thực hiện việc định hướng và quản lý nền kinh tế bằng công cụ quản lý vĩ mô, bằng các chính sách và pháp luật từng ngành và cho toàn xã hội. Để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, theo dõi và phân tích kịp thời những biến động những xu hướng phát triển mới của nền kinh tế đất nước và của từng ngành kinh tế nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản hướng đẫn, các quy định bắt buộc để quản lý mọi mặt hoạt động của đất nước ngày một hiệu quả hơn. Để đáp ứng mọi yêu cầu đó mọi thành phần, mọi tế bào kinh tế của đất nước đều thực hiện công tác lưu trữ các cơ sở dữ liệu của mình dưới rất nhiều hình thức trong đó phổ biến là dạng văn bản viết. điều này đặt ra cho nền kinh tế một nhu cầu rất lớn về các trang thiết bị , đồ dùng, văn phòng phẩm phục vụ cho công tác văn phòng. Đặc biệt là ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung nhu cầu về sản phẩm văn phòng vô cùng lớn và rất đa dạng. Chính vì vậy, công ty Văn phòng phẩm Trà My đã chọn hướng sản xuất kinh doanh văn phòng phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng và hơn nữa góp phần giảm chi phí đáng kể nguồn ngoại tệ của đất nước cho nhu cầu dần tiến tới xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế. Hiện nay công ty đang có dự án đầu tư , mở rộng năng lực của nhà máy sản xuất đồ dùng văn phòng phẩm để tăng cao sản lượng, nâng cao chất lượng, tạo ra nhiều mẫu mã mới. 2. Phân tích các chính sách Marketing của công ty để củng cố và mở rộng thị trường: 2.1. Chính sách sản phẩm Phát triển sản phẩm là việc đưa các sản phẩm vào thị trường hiện tại của mình. Đây là chính sách cơ bản mà công ty ứng dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc ứng dụng này đòi hỏi công ty phải có các điều kiện để phát triển sản phẩm như điều kiện về kỹ thuật tài nguyên, tài chính, nguồn vốn xây dựng cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Đa dạng hoá sản phẩm: là việc doanh nghiệp đưa ra sản phẩm mới vào thị trường, rồi từ đó phát triển sản phẩm. Hiện tại mặt hàng kinh doanh của công ty khá đa dạng và phong phú . Nhưng nhu cầu của con người ngày càng tăng , yêu cầu tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao. Nắm bắt được điều đó, công ty phải mở rộng thị trường cả chiều rộng và chiều sâu để đáp ứng khách hàng khó tính nhất. Công ty đang thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm để mở rộng thị trường. Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty chứa đựng sự mạo hiểm và rủi ro lớn. Nếu sản phẩm dược thị trường chấp nhận thì doanh thu cao, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường dễ dàng. Còn ngược lại, nếu sản phẩm không được thị trường chấp nhận, công ty sẽ bị thất thu về tài chính. Bởi vì khi áp dụng chiến lược này đòi hỏi công ty phải có khả năng về tài chính, phải bỏ nhiều chi phí cho việc nghiên cứu thị trường để sản phẩm có thể thâm nhập thị trường tốt hơn. Với hai chiến lược này, công ty sẽ đưa ra những sản phẩm mới của mình ra thị trường khi công ty đã có thị phần trên thị trường. Sản phẩm của công ty muốn ngày càng phát triển thì phải luôn có mẫu mới tung ra thị trường và công ty phải quản lý hàng hoá của mình trên thị trường không để cho hàng hoá đi vào suy thoái mà chưa có sản phẩm mới thay thế. Khi công ty đưa ra thị trường một sản phẩm mới thì công ty phải định giá cao hơn giá thị trường gọi là chiến lược tăng giá và cứ từ từ giảm xuống cho đến khi sản phẩm đi vào suy thoái thì không còn hàng tồn và tung ra một sản phẩm khác. Tóm lại, công ty cần xác định đúng sản phẩm kinh doanh trên thị trường hiện đang ở giai đoạn nào để công ty lựa chọn mặt hàng kinh doanh có hiệu quả để từ đó phát triển sản phẩm một cách nhanh chóng và kịp thời. Hơn nữa chất lượng sản phẩm phải thoả mãn nhu cầu tiêu dùng để công ty có thể mở rộng quy mô thị trường tiêu thụ. 2.2. Chính sách giá Cũng như sản phẩm, giá cả là một yếu tố cấu thành quan trọng marketing-mix ở bất kỳ công ty kinh doanh nào. Giá cả là yếu tố trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế, còn các yếu tố khác tạo nên giá thành. Đối với người mua, giá cả hàng hoá luôn là chỉ tiêu đầu tiên để họ đánh giá những chi phí bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng sản phẩm. Trên thị trường, không những cạnh tranh về chất lượng sản phẩm mà cạnh tranh về gía cũng diễn ra gay gắt. Có nhiều cạnh tranh định giá theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng đối với công ty Văn phòng phẩm Trà My, để đảm bảo cho sản xuất cuả công ty đứng vững trên thị trường và thu hút khách hàng, công ty đã áp dụng một vài cách định giá sau: - Định giá theo quy luật cung cầu trên thị trường Công ty đã áp dụng cách thức này trong trường hợp một số sản phẩm của công ty có sự nhạy cảm với giá. Sản phẩm chủ yếu của công ty là các lọai túi, kẹp file, lưu trữ tài liệu, ba lô da và giả da, các sản phẩm nhưạ...nên sản phẩm của công ty cũng luôn cạnh tranh với nhiều đối thủ trên thị trường. Do vậy, công ty thường xuyên chú ý tới việc điều chỉnh giá sao cho thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng, làm cho quá trình tiêu thụ hàng hoá lưu thông một cách thuận tiện, tăng khối lượng hàng hoá và mở rộng được thị trường. -Định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh Với cách định giá này công ty sẽ áp dụng trong trường hợp công ty thâm nhập vào thi trường mới như các vùng nông thôn mà công ty muốn chiếm lĩnh thị trường để thu được lợi nhuận lâu dài nhờ hiệu quả tăng quy mô và mở rộng thị trường vì mục tiêu của công ty là mở rộng thị trường không chỉ trong nước mà còn ngoài nước, nhất là thị trường EU và thị trường Mỹ, vì đây là hai thị trường có nhu cầu tiêu dùng lớn, do vậy cần phải mở rộng thị trường để tăng thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần phát triển kinh tế của đất nước. 2.3. Chính sách phân phối Để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, tăng doanh thu bán hàng đòi hỏi công ty phải mở rộng mạng lưới bán hàng và việc đa dạng hoá kênh tiêu thụ. Công ty thường có kế hoạch cung ứng hàng hoá cụ thể thông qua các đơn đặt hàng có được, nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng về số lượng, chủng loại, địa điểm, thời gian giao hàng, giảm bớt chi phí không cần thiết. Chính sách phân phối có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng của chính sách mặt hàng kinh doanh và chính sách định giá bán. Khi lựa chọn kênh phân phối, công ty văn phòng phẩm Trà My luôn lựa chọn sao cho hàng hóa bán ra phải thu được hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi mua hàng cuả công ty nhằm thu hút khách hàng. Hình thức bán hàng chủ yếu của công ty là bán buôn nên công ty luôn chú trọng mạng lưới phân phôí sao cho có hiệu quả nhất. Để thiết lập kênh phân phối có hiệu quả , công ty đã căn cứ vào chiến lược tiêu thụ mà công ty đang theo đuổi, khả năng nguồn lực của doanh nghiệp ( sức mạnh tài chính, danh tiếng kinh nghiệm trong phân phối...) vào đặc tính của khách hàng(số lượng khách hàng, thói quen tiêu dùng...) vào đặc tính sản phẩm (tuổi thọ, tính phức tạp về mặt kỹ thuật...)để làm sao có khả năng chuyển tải và thực hiện hàng hoá một cách cao nhất, với chi phí thấp nhất mà có hiệu quả nhất. Mục tiêu của phân phối gắn liền với mục tiêu chung của công ty .Tuy nhiên, còn có những yếu tố tác động đến quá trình phân phối như tình hình thị trường và khách hàng, hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và tổ chức của công ty.Do vậy, công ty đã xác định mục tiêu của chiến lược phân phối như là: + Định hướng vào người tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu của họ. +Thị phần và số lượng khách hàng mà công ty có được. +Tăng cường khả năng sử dụng, khai thác, kiểm soát các kênh phân phối, thâm nhập kênh phân phối mới, thị trường mới. + Lợi nhuận cần đạt được qua doanh thu của mỗi năm. Chính vì vậy, Công ty muốn mở rộng thị trường cần phải nghiên cứu thị trường,thu thập những thông tin cần thiết để lựa chọn chiến lược phân phối phù hợp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phân phối và lập kế hoạch, để hàng hoá lưu thông một cách thuận tiện, sản phẩm không bị tồn kho ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ hàng hoá. 2.4. Chính sách quảng cáo, khuếch trương sản phẩm Các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc xây dựng và thiết kế thương hiệu sản phẩm mà còn cần thường xuyên quan tâm đến sự phát triển quảng bá hình ảnh sản phẩm của mình để thu hút sự chú ý của mọi người nhằm đem lại hiệu quả cao. Hiện nay quảng cáo ngày càng phổ biến và rất tốn kém. Do vậy cần làm quảng cáo có hiệu quả cao. Có rất nhiều hình thức và phương tiệ quảng cáo . - Quảng cáo trên vô tuyến: hiệu quả cao nhờ hình ảnh màu sinh động, nhưng rất đắt. Thông thường người ta hay quảng cáo trên đó những mặt hàng thiết yếu, tiêu thụ thường xuyên và rộng khắp. - Quảng cáo trên báo , tạp chí: hiệu quả tốt nhờ hình ảnh và màu sắc. giá cũng khá đắt. các doanh nghiệp nên chọn những báo tạp chímà nhóm khách hàng mục tiêu hay đọc để đăng quảng cáo. -Quảng cáo trên đài , phát thanh: phương tiện này có lã hiệu quả cho các khách hàng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. - Quảng cáo trên danh thiếp, thư mời: doanh nghiệp dùng để giao dịch, thư mời có thể gửi đến cơ quan đông người hoặc đến những địa chỉ cá nhân chọn lọc kỹ từ nhóm khachs hàng mục tiêu. Có thể nói , không hình thức quảng cáo nào rẻ hơn hay tốt hơn là chính sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với chất lượng và phong cách phục vụ ' đi vào lòng người'. Các khách hàng sẽ là người quảng cáo không công , đắc lực nhất cho mỗi doanh nghiệp. Chính vì quan tâm đến chất lượng sản phẩm phục vụ khách hàng mà hiện nay Công ty Văn phòng phẩm Trà My ít chú ý đến quảng cáo sản phẩm nên nhiều người còn chưa biết đến sản phẩm của công ty. Đây cũng là một thiếu xót mà Công ty cần phải xem xét để sản phẩm của mình không chỉ khách hàng trong nước mà ngoài nước cũng biết đến, từ đó không ngừng cải tiến chất lượng đem lại sự thoả mãn tối đa cho người tiêu dùng. Quảng cáo là cách thích hợp nhất cho Công ty trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường tạo ra nhiều cơ hội trong hinh doanh. 3. Kết quả tiêu thụ sản phẩm theo doanh thu và kết cấu mặt hàng Công ty văn phòng phẩm Trà My là một công ty đã hoạt động trên thị trường được gần 10 năm. Trải qua không ít khó khăn thăng trầm, ngày nay công ty đã và đang khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Trong những năm gần đây tình hình sản xuất kinh doanh của công ty tương đối tốt. Biểu 1 phản ánh cho ta thấy kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty theo doanh thu và kết cấu mặt hàng. Phân tích đánh giá tình hình bán ra của công ty theo cơ cấu mặt hàng giúp cho công ty thấy được mặt mạnh mặt yếu của từng loại sản phẩm, từ đó có thể đầu tư vào những mặt hàng chủ đạo, có triển vọng đã, đang và sẽ được thị trường chấp nhận, có thể đưa ra các chính sách, chiến lược phù hợp. Qua bảng 1 ta thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty tương đối tốt. Tổng doanh thu năm 2001 đạt 16320942(nghìn đồng), năm 2002 đạt 19541979 (nghìn đồng), tăng 3221037 (nghìn đồng) so với năm 2001, tương ứng với tỷ lệ tăng là 19.74%. Tổng doanh thu năm 2003 đạt 24147619 (nghìn đồng) tăng 23.57% so với năm 2002, với số tanưg tuyệt đối là 4605640 (nghìn đồng). Ta có thể thấy tình hình doanh thu biến động doanh thu từng mặt hàng cụ thể qua các năm như sau: + Sản phẩm các loại kẹp Năm 2001, doanh thu các loại kẹp đạt được là 5530000 (nghìn đồng) năm 2002 đạt 6096000 (nghìn đồng ) so với năm 2001 với tỷ lệ tăng là 10.24%. Năm 2003, doanh thu các loại kẹp đạt được 8103310 (nghìn đồng ) tăng so với năm 2002 là 2007310 (nghìn đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng là 32.93%. Như vậy, doanh thu các loại kẹp đều tăng và tăng tương đối nhanh trong những năm gần đây. Đây là một điểm đáng chú ý để từ đó công ty có thể đưa ra các chiến lược sản phẩm một cách chính xác để từ đó mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ. + Các loại nhựa Năm 2001, doanh thu các loại nhựa đạt được là 4125687 ( nghìn đồng ), chiếm25.28%. Năm 2002, doanh thu các loại nhựa đatk được là 4863153 (nghìn đồng ), tăng so với năm 2001 là 737466( nghìn đồng ), tỷ lệ tăng là 17.87% Năm 2003, doanh thu của sản phẩm này đạt 6542189 (nghìn đồng ) tăng so với năm 2002 là 1679036 (nghìn đồng ), tỷ lệ tăng là 34.53%. + Các loại túi da và giả da Doanh thu các loại túi da và giả da cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng doanh thu. Năm 2001 doanh thu các loại túi da và giả da đạt 4875632 (nghìn đồng ), chiếm 29.87%. So với năm 2001 doanh thu các loại túi da và giả da năm 2002 tăng 811910 (nghìn đồng ), tương ứng với tỷ lệ tăng là 16.65%. Năm 2003, doanh thu cá loại túi da và giả da đạt 6378120 (nghìn đồng) tăng 12.14% so với năm 2002, với số tăng tuyệt đối là 690578 (nghìn đồng ). Các loại túi da và giả da là một trong những mặt hàng chính, chủ đạo của công ty. Qua các năm doanh thu của sản phẩm đều tăng và tăng với tỷ lệ tương đối cao. Điều này chứng tỏ công ty thực hiện tương đối tốt và hợp lý việc tiêu thụ sản phẩm. Công ty nên cố gắng duy trì tình hình này trong năm tới để đạt được doanh thu cao hơn nữa góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh để nhanh chóng mở rộng thị trường . 4. Kết quả tiêu thụ sản phẩm theo khu vực địa lý Chuyển sang nền kinh tế thị trường, công ty Văn phòng phẩm Trà My đã đứng vững trên thương trường và có trách nhiệm bảo toàn vốn, kinh doanh có lãi, thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước. Trên thực tế, thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trải khắp ba miền Bắc- Trung -Nam. Tuy nhiên sản phẩm cung cấp chủ yếu vấn là miền Bắc đặc biệt là ở Hà nội như ở hàng chiếu, hàng khay... Qua bảng 2 ta thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm cuả công ty ở ba khu vực Bắc -Trung - Nam là tương đối lớn. Đi phân tích từng khu vực ta sẽ thấy rõ điều đó. ở miền Bắc, doanh thu năm 2001 đạt 8796540 (nghìn đồng), doanh thu năm 2002 tăng so với năm 2001 là 1036500 (nghìn đồng), tương ứng với tỷ lệ 11.78%.Mặc dù tỷ lệ của khu vực miền Bắc chiếm tỷ trọng thấp song doanh thu của nó lại đạt số tiền cao nhất, chứng tỏ quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty ở khu vực miền bắc tương đối tốt. Doanh thu năm 2003 đạt 11245782(nghìn đồng), tăng so với năm 2002 là 1412742(nghìn đồng), chiếm tỷ lệ là 14.37%. Sang năm 2003 tỷ lệ không chỉ chiếm khá cao nhất mà doanh thu cũng đạt mực cao nhất, chứng tỏ quá trình lưu thông hàng hoá ở khu vực miền Bắc là tốt. Công ty nên duy trì tình hình này trong những năm tiếp theo. ở khu vực miền Nam, doanh thu năm 2001 đạt 5741230(nghìn đồng) doanh thu năm 2002 tăng so với năm 2001 là 846191 (nghìn đồng), tương ứng với 14.74%, tỉ trọng giảm 0.30% Doanh thu năm 2003 so với 2002 là 997340 (nghìn đồng) với tỷ lệ là 15.14% tỷ trọng tăng 0.32%. Mặc dù tỉ trọng tăng nhưng vẫn thu được một khoản tiền tương đối cho công ty. Tuy nhiên, công ty cũng nên mở rộng thị trường ở miền Nam hơn nữa để thu được doanh thu cao hơn những năm trước. ở khu vực miền Trung, doanh thu năm 2002 so với năm 2001 tăng 799073(nghìn đồng ), chiếm tỉ lệ 32.5%. Đây là một tỉ lệ khá cao nhưng doanh thu đem về cho công ty không lớn lắm. Do đó năm 2003 doanh thu đạt 4045105(nghìn đồng) tăng so với năm 2002 là 787274(nghìn đồng), tương ứng với tỷ lệ 24.16%. Như vậy,doanh thu đạt được trong năm 2003 không lớn lắm do doanh thu tăng chậm ở khu vực miền Trung, công ty cần phải xem xét, đánh giá xem tại sao doanh thu năm 2003 lại tăng chậm như vậy để có biện pháp điều chỉnh hợp lý. Trong thời gian tới, công ty có thể hạ thấp chi phí một số mặt hàng để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng ở đó. Hơn nữa cần có chính sách quảng cáo rộng khắp để tất cả mọi nơi đều biết sản phẩm của công ty, làm cho quá trình tiêu thụ sản phẩm được lưu thông nhanh chóng, hàng hoá không bị tồn kho gây ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, công ty cũng không vì doanh thu thấp mà loại bỏ khu vực miền Trung. Công ty nên đẩy mạnh hơn nữa quá trình tiêu thụ sản phẩm ở khu vực miền Trung và cả miền Bắc lẫn miền Nam, nhất là miền Bắc- nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, là khu vực có thị trường trọng điểm quan trọng nhất của công ty, là nơi tập trung đông dân cư. Khi xã hội ngày càng phát triển thì đời sống nhân dân ngày càng cao, nhu cầu phục vụ mọi người ngày càng lớn. Do vậy, công ty cần mở rộng thị trường hơn nữa để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của mọi người, góp phần phát triển kinh tế của đất nước. 5.Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm 2001,2002,2003: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty là chỉ tiêu số lượng phản ánh khả năng hoàn thành kế hoạch và là chỉ tiêu đạt được thông qua hoạt động kinh doanh của công ty trong một năm. Thông qua kết quả hoạt động kinh doanh, ta sẽ thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cuả công ty tốt hay xấu để từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước góp phần mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm 2001, 2002, 2003 được thể hiện qua bảng 3 như sau: Nhìn vào bảng 3 ta thấy, lợi nhuận của công ty ngày càng tăng với tỷ lệ tăngkhá cao. Cụ thể: So sánh năm 2002 với năm 2001 Năm 2002, tổng doanh thu đật 20345782 (nghìn đồng) tăng 2987361(nghìn đồng ) so với năm 2001, tương ứng với tỷ lệ tăng là 17.21%, trong đó doanh thu bán hàng tăng 19.74%. Điều này do công ty đã hạ giá bán với những khách hàng mua nhiều, đồng thời công ty mở rộng thị trường tiêu thụ nên việc tiêu thụ hàng hoá được đẩy mạnh. Các khoản giảm trừ năm 2002 so với năm 2001 cũng tăng một lượng đáng kể. Năm 2002 tăng 44.44% các khoản giảm trừ. Chính vì vậy mà doanh thu thuần năm 2002 đạt 19786545(nghìn đồng) tăng 2772270(nghìn đồng) so với năm 2001 với tỷ lệ tăng là 16.29%. Cùng bảng số liệu trên khi xem xét mức độ biến động của các chỉ tiêu so với doanh thu thuần (coi doanh thu thuần là gốc) thì ta thấy cứ 1000 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng giá vốn, chi phí ,lợi nhuận. Năm 2001, cứ 100 đồng doanh thu có 21.18 đồng lợi nhuận, 12.68 đồng chi phí, 6.58 đồng lợi nhuận trước thuế; 1.64 đồng lợi nhuận sau thuế. Đến năm 2002 cứ 100 đồng doanh thu thuần có 23.38 đồng lợi nhuận gộp, 13.42 đồng chi phí , 7.37 đồng lợi nhuận trước thuế, 1.73 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy tỉ suất về chi phí giảm 0.27% trong khi đó tỷ suất lợi nhuận gộp tăng 2.3%, lợi nhuận trước thuế tăng 0.78%. Điều này làm cho tỷ suất lợi nhuận sau thuế tăng 0.08%. Lợi nhuận sau thuế tăng về số tuyệt đối năm 2002 so với năm 2001 là 62286(nghìn đồng), với số tăng tương đối là 22.27%. Ta đi phân tích cụ thể các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty . Năm 2002, trị giá vốn hàng bán là 11058741(nghìn đồng) tăng 1384616(nghìn đồng) so với năm 2001 tương ứng với tỷ lệ tăng là 14.31%. Trong khi đó doanh thu thuần năm 2002 so với năm 2001 lại tăng 1707100(nghìn đồng) với tỷ lệ tăng cao hơn là 15.44%. Chính vì vầy làm cho lợi nhuận gộp tăng lên một lượng là 1038811(nghìn đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng là 28.96%. tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần tăng 2.42% so với năm 2001. Tổng chi phí năm 2002 đạt 2456782(nghìn đồng ) tăng 298891(nghìn đồng) so với năm 2001 với tỷ lệ tăng là 13.85%. Trong khi đó chi phí bán hàng năm 2002 tăng lên là do sự quản lý tốt của ban lãnh đạo . Như vậy, việc tăng tổng chi phí lên là hợp lý và công ty đã sử dụng có hiệu quả chi phí này và tỷ suất chi phí trên doanh thu thuần năm 2002 so với năm 2001 giảm 0.20%. Nhờ vậy, công ty đã tiết kiệm được một khoản tiền : 0.20%*19678325 = 39356.65(nghìn đồng ) Lợi nhuận trước thuế năm 2001 là 1120346(nghìn đồng), năm 2002 là 1457813(nghìn đồng), tăng 337467(nghìn đồng) so với năm 2001 tương ứng với tỷ lệ tăng là 30.12%. Sau khi nộp thuế thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, công ty thu về một khoản lợi nhuận là 279728(nghìn đồng) năm 2001, năm 2002 lợi nhuận sau thuế tăng 62286(nghìn đồng) so với năm 2001 tương ứng với tỷ lệ tăng là 22.27%. Vì tốc độ tăng của lợi nhuận nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, của trị giá vốn nên tỷ suất lợi nhuận của công ty luôn mang dấu dương, năm 2002 tỷ suất lợi nhuận sau thuế / doanh thu thuần của công ty tăng 0.08% so với năm 2001. Điều này chứng tỏ Công ty làm ăn có hiệu quả . So sánh năm 2003 với năm 2002 Năm 2003 , tổng doanh thu của toàn công ty đạt 23765826(nghìn đồng) tăng 3420044(nghìn đồng) so với năm 2002 tương ứng với tỷ lệ tăng là 16.81%. Trong đó doanh thu bán hàng tăng 4605640(nghìn đồng) với tỷ lệ tăng là 23.57%. Đây là một tỷ tăng khá cao, điều này chứng tỏ hoạt động của công ty tương đối tốt và hiệu quả. Tỷ lệ tăng của các khoản giảm trừ năm 2003 so với năm 2002 là 14.53%, tỷ lệ tăng này nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ lệ tăng của năm 2002 so với năm 2001. Đây là điều đáng mừng cho công ty vì như thế hàng bán bị trả lại giảm đi nhiều. Doanh thu thuần năm 2003 đạt 22986442(nghìn đồng) tăng 3200197(nghìn đồng) so với năm 2002 tương ứng với tỷ lệ tăng là 16.17%. Trị gía vốn hàng hoá năm 2003 tăng 1707100(nghìn đồng) so với năm 2002 tương ứng với tỷ lệ tăng là 15.44%. Nhưng vì tỷ lệ tăng của trị giá vốn hàng bán tăng chậm hơn tỷ lệ tăng của doanh thu thuần nên lơị nhuận gộp năm 2003 đạt 5968743(nghìn đồng) tăng 1342516(nghìn đồng) so với năm 2002 với tỷ lệ tăng là 29.02%. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần năm 2003 tăng 2.59% so với năm 2002. Xét về tổng chi phí năm 2003 , tổng chi phí của công ty là 2814763(nhìn đồng) tăng 357981(nghìn đồng) so với năm 2002, tương ứng với tỷ lệ tăng là 14.57%. Năm 2003 chi phí tăng khá nhiều và tăng với tỷ lệ tương đối cao trong đó chủ yếu là tăng về chi phí bán hàng. Điều này hợp lý vì Công ty phải tăng cường hoạt động hoạt động quảng cáo , khuếch trương sản phẩm, đồng thời tạo mọi điêù kiện thuận lợi cho các đại lý , các chi nhánh của Công ty ở các thị trường hoạt động thúc đẩy hoạt động tiêu thụ. Vì tốc độ tăng của chi phí thấp hơn tốc độ tăng doanh thu thuần nên lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2003 là 1743258(nghìn đồng) tăng 285445(nghìn đồng) so với năm 2002 tương ứng với tỷ lệ tăng là 19.58%. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu thuần cũng tăng 0.22%. Năm 2003, công ty phải nộp thuế là 1297831(nghìn đồng) tăng 229037(nghìn đồng) so với năm 2002. Điều này chứng tỏ công ty đã thực hiện nghiêm chỉnh việc nộp thuế cho nhà nước .Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình sau khi trừ đi khoản thuế phải nộp ngân sách, lợi nhuận mà Công ty đạt được là 415305(nghìn đồng) tăng 73291(nghìn đồng) so với năm 2002 tương ứng với tỷ lệ tăng là 21.43%. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần của Công ty năm 2003 là 1.81% tăng 0.08% so với năm 2002. Như vậy, năm 2003 Công ty đã đạt được kết quả kinh doanh tương đối tốt mặc dù đã gặp không ít những khó khăn. Tổng kết lại kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong 3 năm qua ta thấy Công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Lợi nhuận cả 3 năm của Công ty tăng đều và không năm nào công ty bị lỗ. Tỉ lệ tăng của doanh thu và lợi nhuận đều tăng với tốc độ cao. Mặc dù chi phí mà Công ty bỏ ra nhiều nhưng vì sử dụng có hiệu quả chi phí và sử dụng hợp lý nên Công ty đã không lãng phí chi phí, điều này thể hiện qua tỷ suất chi phí trên doanh thu thuần. Tỷ suất chi phí trên doanh thu thuần đều giảm qua các năm, cụ thể là năm 2002 so với năm 2001, tỷ suất chi phí giảm 0.27% ,năm 2003 giảm 0.17% so với năm 2002. Không chỉ đạt được kết quả kinh doanh tốt mà việc kinh doanh của công ty cũng có hiệu quả cao, lợi nhuận đều tăng qua các năm và tăng với tỷ lệ tương đối cao. Tỷ suất lợi nhuận cũng tăng đều qua các năm. Có thể nói bằng sự nỗ lực của mình, Công ty đã không ngừng phấn đấu vươn lên để đứng vững trên thị trường. Công ty đã tìm hướng đi đúng đắn trong xu thế phát triển nền kinh tế nước ta.Với những gì đạt được Công ty đã góp một phần vào việc phát triển kinh tế của đất nước. 6.Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về thị trường tiêu thụ của công ty văn phòng phẩm Trà My 3.1. Thuận lợi Trong những năm gần đây, công ty có mức tăng trưởng cao như doanh thu và lợi nhuận tăng, đã tạo đà phát triển cho việc thực hiện kế hoạch trong năm 2004 tới. Kết quả kinh doanh của công ty tương đối tốt. Doanh thu tăng đều qua các năm, lợi nhuận cũng tăng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty tập trung chủ yếu vẫn là các tỉnh ở khu vực miền Bắc, nơi tập trung dân cư đông đúc và cũng là nơi tập trung các khu Công nghiệp. Sản phẩm của công ty được tiêu thụ chủ yếu bằng hình thức bán buôn. Mặc dù phương thức này giá thấp nhưng lại tiêu thụ với số lượng nhiều hơn so với bán lẻ, tốc độ chu chuyển hàng hoá diễn ra nhanh hơn, từ đó thúc đẩy vòng quay của vốn. Ngoài các sản phẩm đang sản xuất, công ty còn sản xuất thêm sản phẩm mới góp phần tăng trưởng hơn nưã doanh thu của công ty, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ,tạo không khí phấn khởi yên tâm làm việc cho cán bộ công nhân viên Ngoài ra, công ty luôn chú ý đến máy móc, trang thiết bị làm việc cho người lao động nên tránh được rủi ro trong lao động. Hiện nay, công ty đang có chủ trương đầu tư phát triển thêm hệ thống máy móc và thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất, xuất khẩu ra nước ngoài. Hàng năm công ty còn mở lớp tập huấn cho cán bộ công nhân viên để nâng cao năng lực, trình độ quản lý,công ty luôn coi trong việc đào tạo phát triển con người - yếu tố quyết định sự thành bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Do nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao nên công ty luôn cố gắng đáp ứng mọi mong đợi của khách hàng để tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa phục vụ tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng. Từ đó không ngừng nâng cao thị phần, doanh thu và khối lượng tiêu thụ hàng hoá bán ra càng ngày càng tăng không chỉ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng ngân sách quốc gia mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. 3.2. Khó khăn: Tình hình tài chính trong năm còn nhiều khó khăn, do đó vốn phải vay nhiều. Do vậy cũng ảnh hưởng đến qúa trình tiêu thụ sản phẩm của công ty. Hiện nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty còn chật hẹp, chưa mở rộng trên toàn quốc. Công ty cần phải mở rộng thị trường hơn nữa để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Công ty còn gặp khó khăn do mặt bằng hiện nay của công ty còn chật hẹp chỉ đủ cho sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước. Hơn nữa, còn một số sản phẩm của công ty do chất lượng chưa tốt, hàng bán ra bị lỗi, thậm chí nhiều khi bị trả lại,nên cũng ảnh hưởng đến uy tín của công ty. Mức độ cạnh tranh hiện nay của công ty còn thấp do hàng hoá trên thị trường chưa được nhiều người biết đến. Hoạt động khuếch trương, quảng cáo chưa được quan tâm nên nhiều người chưa biết về sản phẩm của công ty. Để đáp ứng nhu cầu của mọi người trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay ở nước ta, công ty sẽ cố gắng khắc phục những khó khăn trong những tháng cuối năm 2004 để sản lượng sản xuất ra đủ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng tiến tới thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước và không ngừng mở rộng thị trường . Từng bước nâng cao thêm sự ổn định về chất lượng, mẫu mã để có thêm xuất khẩu thu ngoại tệ. TÌNH HÌNH DOANH THU BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY THEO KẾT CẤU MẶT HÀNG Măt hàng 2001 2002 2003 So sánh 2002/2001 So sánh 2003/2002 Số tiền tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ lệ Tỉ trọng Số tiền Tỉ lệ Tỉ trọng Các loại kẹp 5530000 33.88% 6096000 31.19% 8103310 33.56% 566000 10.24% -2.69% 2007310 32.93% 2.36% Các loại nhựa 4125687 25.28% 4863153 24.89% 6542189 27.09% 737466 17.87% -0.39% 1679036 34.53% 2.21% Các loại túi da và giả da 4875632 29.87% 5687542 29.10% 6378120 26.41% 811910 16.65% -0.77% 60578 12.14% -2.69% Các sản phẩm khác 1789623 10.97% 2895284 14.82% 3124000 12.94% 1105661 61.78% 3.85% 228716 7.90% -1.88% Tổng cộng 16320942 100.00% 19541979 100.00% 24147619 100.00% 3221037 19.74% 0.00% 4605640 23.57% 0.00% TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CHI PHÍ CỦA CÔNG TY VĂN PHÒNG PHẨM TRÀ MY Măt hàng doanh thu Chi phí Tỉ suất chi phí So sánh 2003/2002 2002 2003 tỉ lệ 2002 2003 tỉ lệ 2002 2003 mức độ tăng giảm chi phí tốc độ tăng giảm chi phí mức tiết kiệm hay vượt chi Các loại kẹp 6096000 8103310 32.93% 998000 1135200 13.75% 16.37% 14.01% -2.36% -14.43% -191425 kẹp file 2521000 3120000 23.76% 356000 378960 6.45% 14.12% 12.15% -1.98% -13.99% -61627 kẹp càng cua 1187000 1997000 68.24% 268900 398752 48.29% 22.65% 19.97% -2.69% -11.86% -53643 kẹp lá 2388000 2986310 25.05% 373100 389541 4.41% 15.62% 13.04% -2.58% -16.51% -77039 Các loại nhựa 4863153 6542189 34.53% 652100 765410 17.38% 13.41% 11.70% -1.71% -12.75% -111832 Các loại túi da và giả da 5687542 6378120 12.14% 550123 687541 24.98% 9.67% 10.78% 1.11% 11.45% 70622 Các sản phẩm khác 2895284 3124000 7.90% 123000 136587 11.05% 4.25% 4.37% 0.12% 2.92% 3870 Tổng cộng 19541979 24147619 23.57% 2323223 2724738 17.28% 11.89% 11.28% -0.60% -5.09% -146021 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY Đơn vị: 1000đ Các chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 So sánh 2002/2001 So sánh 2003/2002 chênh lệch tỷ lệ (%) chênh lệch tỷ lệ (%) Tổng doanh thu 17358421 20345782 23765826 2987361 17.21% 3420044 16.81% Các khoản giảm trừ 167864 242464 277685 74600 44.44% 35221 14.53% Doanh thu thuần 17014275 19786545 22986742 2772270 16.29% 3200197 16.17% Trị giá vốn 9674125 11058741 12765841 1384616 14.31% 1707100 15.44% Lợi nhuận gộp 3587416 4626227 5968743 1038811 28.96% 1342516 29.02% TSLN gộp/DTT(%) 21.08% 23.38% 25.97% 2.30% 2.59% Tổng chi phí 2157891 2456782 2814763 298891 13.85% 357981 14.57% TSCP/DTT(%) 12.68% 12.42% 12.25% -0.27% -0.17% Lợi nhuận trớc thuế 1120346 1457813 1743258 337467 30.12% 285445 19.58% TSLNTT/DTT(%) 6.58% 7.37% 7.58% 0.78% 0.22% Thuế 874126 1068794 1297831 194668 22.27% 229037 21.43% Lợi nhuận sau thuế 279728 342014 415305 62286 22.27% 73291 21.43% TSLNTST/DTT(%) 1.64% 1.73% 1.81% 0.08% 0.08%

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số biện pháp nhằm củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong công ty văn phòng phẩm trà my.DOC