Đề tài Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh sông Nhuệ

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Muốn tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, ngân hàng phải đảm bảo cả về quy mô và chất lượng tín dụng. Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng ở ngân hàng cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Sông Nhuệ” đã nêu lên một số những lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng, tìm hiểu và vận dụng vào việc phân tích để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Đồng thời khoá luận đã giới thiệu hoạt động của Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ trong giai đoạn 2011-2013, phân tích chất lượng tín dụng tại chi nhánh, phát hiện những điểm mạnh và điểm yếu của hoạt động này, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại đây. Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn đề lớn, cần có hệ thống các giải pháp và các điều kiện thực hiện đồng bộ. Do đó trong bài khoá luận này, em chỉ mong muốn đóng góp nhỏ trong tổng thể các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng. Để giải pháp được thực thi và phát huy tác dụng thì cần có sự nỗ lực từ bản thân ngân hàng, có sự quan tâm phối hợp hỗ trợ của Chính phủ và NHNN cũng như các cấp, các ngành có liên quan.

pdf92 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 08/08/2017 | Lượt xem: 1951 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh sông Nhuệ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ết và không thể thiếu để ngân hàng xem xét và quyết định cho vay. Nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của DN mà ngân hàng bỏ vốn cho vay. Thực tế, hầu hết các DN không thể tự viết được các dự án đầu tư trong dài hạn, thậm chí cả kế hoạch ngắn hạn. Nhiều DN còn chưa đáp ứng được yêu cầu lập kế hoạch hoặc lưu chuyển tiền mặt trong năm để ngân hàng biết khối lượng tiền chu chuyển hàng tháng nhằm cân đối thu chi trong tháng. + Đa số khách hàng là DN của Chi nhánh là khách hàng có uy tín, tuy nhiên trong quá trình hoạt động do cơ chế thị trường đã thay đồi làm cho một số khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ cho Chi nhánh hoặc cũng có khách hàng, do muốn chiếm dụng vốn của Chi nhánh để phục vụ cho mục đích khác nên dù vẫn đủ tiền trả nợ nhưng họ vẫn xin gia hạn nợ, do vậy đã gây ra nợ quá hạn của Chi nhánh, ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của Chi nhánh. + Ở một số DN năng lực quản lý tài chính, trình độ kỹ thuật yếu kém, không theo kịp đòi hỏi của cơ chế thị trường dẫn đến SXKD chịu nhiều áp lực cạnh tranh, sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được, sản xuất đình trệ không có khả năng trả nợ. Các chủ DN nói chung và nhất là của các DN ngoài quốc doanh thiếu kinh nghiệm, kiến thức, trình độ và bản lĩnh của những nhà SXKD trong cơ chế thị trường. 62 + Các DN còn quá phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng. Thực tế nhiều DN có quá ít vốn chủ sở hữu, quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng, không vay được vốn ngân hàng thì không thực hiện được phương án, chưa chủ động tạo vốn tự có như cổ phần hóa, liên doanh liên kết.... - Nguyên nhân khách quan + Xuất phát từ môi trường kinh tế vĩ mô là hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa đầy đủ, các cơ quan chịu trách nhiệm cấp giấy tờ sở hữu tài sản, bất động sản còn chưa rõ ràng. Do đó việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp nhiều khi bị ách tắc do giấy tờ không hợp pháp, hợp lệ. Việc thực hiện pháp lệnh kế toán, thống kê chưa nghiêm túc, đa số các số liệu quyết toán và báo cáo tài chính chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc, nên số liệu phản ánh không trung thực tình hình sản xuất kinh doanh của DN. Vì thế việc thẩm định khách hàng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn và giảm bớt tính chính xác. + Hiện nay, việc hoạt động kinh doanh của các DN bị điều hành bởi rất nhiều luật và chính sách nhưng hiệu quả, hiệu lực của các chính sách còn chưa cao, chưa đầy đủ và đồng bộ. Chưa có quy định cụ thể trong việc ban hành những quy định riêng về tín dụng đối với từng loại hình DN. Bên cạnh đó hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được yêu cầu về giải quyết tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản cầm cố, thế chấp chưa bảo vệ chính đáng quyền lợi của người cho vay. Thông thường khi điều tra, xét xử hành vi gây thất thoát vốn, các cơ quan pháp luật hay tìm cách khép tội cho cán bộ tín dụng nên cán bộ tín dụng có tâm lý e ngại khi quyết định cho vay. + Môi truờng kinh tế xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh doanh của DN: Ảnh hưởng của lạm phát, những cuộc đua cạnh tranh lãi suất, sự gia nhập của hàng ngoại, sự bấp bênh của thị trường chứng khoán cũng như thị trường bất động sản đang trở thành một mối đe dọa to lớn tới các DN, gây khó khăn cho tình hình SXKD của các DN và khả năng trả nợ cho Chi nhánh. Không những vậy tình hình tài chính này còn gây khó khăn cho ngân hàng trong lĩnh vực huy động vốn và cho vay. + Thị trường ngân hàng phát triển ngày càng sôi động và lớn mạnh. Giai đoạn gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội xuất hiện rất nhiều Chi nhánh mới của các ngân hàng TMCP tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn đòi hỏi Chi nhánh phải có những biện pháp, chính sách thay đổi phù hợp và có tính cạnh tranh cao để thu hút khách hàng. Thang Long University Library 63 Kết luận chương 2 Chương 2 đã giới thiệu sơ qua về lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam-chi nhánh Sông Nhuệ. Bên cạnh đó, chương 2 đã nêu lên những số liệu, thông tin tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ về công tác huy động vốn, công tác sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay), một số hoạt động kinh doanh khác và kết quả kinh doanh qua ba năm 2011, 2012 và 2013. Từ việc dẫn chứng những cơ sở lý luận, số liệu, và những phân tích dựa trên số liệu đó, chương này đã khái quát về tình hình chất lượng tín dụng và phân tích thực trạng chất lượng tín dụng của Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ qua một số chỉ tiêu căn bản như: Chỉ tiêu về doanh số cho vay, doanh số thu nợ và hệ số thu nợ, dư nợ cho vay, chất lượng cho vay vòng quay vốn cho vay hay các chỉ tiêu nợ xấu, nợ quá hạn Qua việc phân tích đó, ta có thể thấy được một phần chất lượng tín dụng của ngân hàng và tìm ra những hạn chế còn tồn tại cũng như những nguyên nhân gây ra hạn chế ấy. Đó cũng là cơ sở để có thể đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với hy vọng nâng cao được chất lượng tín dụng của ngân hàng TMCP Vietinbank chi nhánh Sông Nhuệ trong chương 3. 64 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VN 3.1. Định hướng của NHTMCP Công Thương VN trong thời gian tới Nhận định tình hình năm 2013 là năm tiếp tục khó khăn với thị trường Tài chính - Ngân hàng Việt Nam, cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên quyết liệt hơn, nguồn vốn nhàn rỗi trong các doanh nghiệp thì ngày càng giảm, yêu cầu của khách hàng ngày càng cao. Do đó, trong thời gian tới ngân hàng TMCPCTVN- chi nhánh Sông Nhuệ đã đưa ra một số chỉ tiêu tài chính cụ thể trong năm 2014 để phấn đấu và tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển của chi nhánh như sau : Tổng nguồn vốn huy động tăng khoảng 10% - 20% so với cùng kì năm ngoái. Tổng dư nợ đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 18% - 27% so với cùng kì năm ngoái, trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 55%/tổng dư nợ, dư nợ trung và dài hạn 40%/ tổng dư nợ. Nợ quá hạn chiếm dưới 4%, tăng trưởng vốn điều lệ đạt 24%, thu nhập thuần từ lãi tăng 30%, tăng tỷ trọng thu dịch vụ phí 1,5%. Để thực hiện được mục tiêu này, ngân hàng đưa ra các định hướng cụ thể sau: - Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với xây dựng & phát triển văn hóa doanh nghiệp. Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có phẩm chất, năng lực, phát huy và kế thừa văn hóa tốt đẹp của Ngân hàng. - Tăng cường công tác quản trị rủi ro, áp dụng từng bước thông lệ quốc tế vào công tác quản lý rủi ro của ngân hàng để phát triển bền vững. Nâng cao các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đề cao vai trò của công tác kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội bộ. - Tập trung đầu tư phát triển công nghệ thông tin thích ứng và đáp ứng yêu cầu kinh doanh. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào trong công tác quản trị và hoạt động của Ngân hàng. Lấy công nghệ làm cơ sở, nền tảng để có thể triển khai các nghiệp vụ, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. - Đa dạng hóa sản phẩm. Phát triển, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, Cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Hướng tới trở thành nhà Thang Long University Library 65 cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng hàng đầu cho mọi đối tượng khách hàng với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt, giá cạnh tranh. - Nâng cao chất lượng tín dụng thông qua những biện pháp: thu nợ, xóa nợ xấu, nợ khó đòi, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn đảm bảo an toàn cho các khoản tín dụng 3.2. Một số giải pháp chủ yếu Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kinh nghiệm thực tế của các thế hệ đi trước đồng thời xuất phát từ những hạn chế, vướng mắc và phương hướng hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới, từ những hiểu biết của bản thân, em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại NHCTVN – chi nhánh Sông Nhuệ như sau: 3.2.1. Đẩy mạnh công tác huy động vốn Huy động vốn là công việc đầu tiên mà ngân hàng cần thực hiện để tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nguồn vốn ngân hàng có dồi dào thì mới đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp. Vì vậy, tổ chức tốt công tác huy động vốn cũng là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng cho vay của NHTM. Để làm được điều đó, Chi nhánh cần thực hiện tốt một số biện pháp sau: Thứ nhất, mở rộng mạng lưới huy động vốn đến các địa bàn mới: Việc mở rộng huy động vốn tới các địa bàn mới không chỉ đơn thuần là việc mở rộng thêm các phòng giao dịch mới. Bởi việc mở thêm các phòng giao dịch mới sẽ tốn rất nhiều chi phí như chi phí thuê địa điểm, chi phí nhân sự, chi phí truyền thông quảng bá,Trong khi đó với số lượng phòng giao dịch của Chi nhánh hiện nay, hoàn toàn có thể mở rộng mạng lưới huy động vốn bằng các biện pháp như tuyên truyền, quảng cáo kết hợp với phong cách phục vụ chu đáo. Dân cư tại địa bàn mà Chi nhánh Sông Nhuệ đang hoạt động có rất nhiều các khu chung cư dành cho những người có thu nhập ở mức trung bình khá, đa số là các thành phần tri thức và đời sống tương đối cao. Do vậy lượng tiền trong dân cư là khá dồi dào, chi nhánh nên nhận ra thế mạnh này tại địa bàn mình đang hoạt động để khai thác hết tiềm năng trong khu vực. Để thu hút được lượng tiền gửi nhiều hơn, ngân hàng nên hiện đại hóa các phương thức giao dịch, áp dụng công nghệ thông tin vào trong việc huy động vốn như mở thêm các loại hình tiết 66 kiệm online, dịch vụ ngân hàng điện tử để khách hàng có thể chủ động và thuận tiện hơn trong việc gửi tiền. Thứ hai, duy trì và phát triển thêm nhiều mối quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp truyền thống: Một trong những nhược điểm vẫn còn tồn tại ở Chi nhánh đó là quá coi trọng việc tìm kiếm khách hàng mới mà đôi khi lơ là việc chăm sóc khách hàng cũ. Khách hàng cũ, đặc biệt là các khách hàng có quan hệ lâu năm mới ngân hàng là các khách hàng rất quan trọng và mang lại lợi ích kinh tế lớn cho ngân hàng mà Chi nhánh cần đặc biệt quan tâm hơn nữa. Bởi vì khi quan hệ với các khách hàng này, ngân hàng đã phần nào hiểu được uy tín và khả năng tài chính, kinh doanh của khách hàng; nắm bắt được các đối tác đầu vào đầu ra của khách hàng đó. Nhờ sự nhận biết này có thể khai thác nhiều hơn nguồn vốn từ đối tượng này. Đó có thể là các khoản tiền gửi không kỳ hạn như tiền lương của cán bộ nhân viên chưa đến kỳ trả, hay là tiền nguyên vật liệu chưa thanh toán. Ưu điểm của nguồn vốn này chính là chi phí thấp, vì là các loại tiền gửi không kỳ hạn. Củng cố và duy trì được mối quan hệ với các khách hàng truyền thống sẽ giúp ngân hàng có một nguồn vốn ổn định, lâu dài. Thứ ba, xây dựng chính sách lãi suất mềm dẻo, linh hoạt. Có thể nói lãi suất chính là yếu tố quan trọng trong quyết định của khách hàng đối với việc có sử dụng các sản phẩm của ngân hàng hay không. Khách hàng thường có sự so sánh lãi suất giữa các ngân hàng với nhau để mong tìm kiếm một lợi ích cao nhất cho mình. Do vậy, chi nhánh cần có những đề xuất với hội sở về chính sách lãi suất sao cho vừa đảm bảo được lợi ích cho người gửi tiền, vừa đảm bảo tuân thủ theo đúng quy định về trần lãi suất của ngân hàng nhà nước. Một chính sách lãi suất mềm dẻo, linh hoạt sẽ tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng. Sự mềm dẻo và linh hoạt ở đây được thể hiện ở việc lãi suất huy động áp dụng cho mỗi mức tiền gửi hoặc đối tượng gửi tiền cần cụ thể. Đưa ra các hình thức lãi suất khác nhau, đa dạng hơn và phù hợp với tâm lí của khách hàng. Ví dụ thay vì đưa ra mức lãi suất 8% theo trần lãi suất của NHNN, Chi nhánh có thể hạ lãi suất thấp hơn một chút nhưng bù lại khách hàng có cơ hội cào trúng thưởng các giải thưởng có giá trị tiền mặt, hiện vật,Sự linh hoạt về chính sách lãi suất giúp ngân hàng phục vụ được nhiều khách hàng với những đặc trưng khác nhau. Thang Long University Library 67 3.2.2. Chính sách cho vay Chính sách cho vay bao gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, quy định chỉ đạo hoạt động cho vay và đầu tư của NHTM. Chính sách cho vay cung cung cấp cho các nhà quản lý cũng như cán bộ ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay, tạo nên sự thống nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cần thiết phải xây dựng một chính sách vay nhất quán, linh hoạt và hợp lý, thích ứng với môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm và điều kiện hoạt động của ngân hàng để có thể phát huy được thế mạnh, hạn chế và khắc phục điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi. Các chính sách đó bao gồm: Thứ nhất, hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách khách hàng Chính sách khách hàng là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách cho vay của ngân hàng, nhằm xác định chính xác đối tượng khách hàng mục tiêu. Việc xây dựng chính sách khách hàng linh hoạt và hợp lý sẽ giúp ngân hàng tăng cường khả năng tiếp cận khách hàng, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp và mở rộng thị phần. Chính sách khách hàng cần chú trọng những vấn đề sau: - Cần nghiên cứu nhu cầu khách hàng, nghiên cứu thị trường và phát triển các sản phẩm dịch vụ; bởi càng hiểu rõ về khách hàng, về thị trường thì ngân hàng càng dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để đưa ra được các sản phẩm dịch vụ phù hợp, ngân hàng cần tiến hành phân đoạn thị trường cho các đối tượng khách hàng khác nhau. Với mỗi đối tượng khách hàng, ngân hàng có thể phân đoạn theo tiêu chí quy mô, ngành nghề kinh doanh, hình thức sở hữu...để biết đặc thù của mỗi doanh nghiệp theo từng nhóm là gì, có lợi thế gì và khó khăn gì. Từ đó phát triển sản phẩm đáp ứng tốt nhất của từng nhóm khách hàng này. - Chủ động tìm kiếm và đa dạng hóa đối tượng khách hàng để có được cơ cấu cho vay hợp lý. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, để nâng cao vị thế của mình, ngân hàng phải chủ động tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường, đặc biệt với đối tượng là doanh nghiệp. Ngân hàng nên kết hợp các hình thức marketing, truyền thông các thông tin cần thiết về ngân hàng để thiết lập hình ảnh đẹp về ngân hàng trong khách hàng, từ đó nhằm thiết lập duy trì mối quan hệ bền vững tốt đẹp với khách hàng. 68 - Tăng cường các hoạt động tư vấn, hỗ trợ khách hàng nhằm đẩy nhanh quá trình hợp tác với khách hàng. Ngân hàng có thể mở rộng các hoạt động tư vấn không chỉ dừng lại ở mức độ giải thích các quy định, yêu cầu của ngân hàng trong quá trình cho vay mà còn cùng khách hàng xem xét tính khả thi của dự án để lập phương án/ dự án SXKD hiệu quả. Ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng các thông tin về công nghệ, thị trường, tình hình kinh tế xã hội.. Ngoài ra, ngân hàng do có nhiều mối quan hệ với nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau nên có thể giới thiệu các đối tác làm ăn uy tín, hiệu quả cho các khách hàng của mình, giúp các doanh nghiệp có thêm dự án hoặc công việc mới, ngân hàng có nguồn thu mới ổn định với chính những khách hàng truyền thống của mình. Thứ hai, tăng tỷ lệ cho vay Trên thực tế trong giao dịch với ngân hàng, có những khách hàng truyền thống đã có uy tín với khách hàng nhiều năm và có nhiều lịch sử giao dịch với ngân hàng. Hoặc những khách hàng có phương án sản xuất kinh SXKD tốt, kế hoạch trả nợ tốt hoặc bên bảo lãnh thứ 3 là bên có uy tín lớn, rủi ro rất thấp. Đối với các đối tượng này nếu cứng nhắc áp dụng mức cho vay tối đa 70% giá trị phương án xin vay thì chưa thỏa đáng. Bởi sự thiếu hụt này có thể chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay của khách hàng, khách hàng buộc phải sử dụng nguồn tín dụng bên ngoài với lãi suất cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Vì thế, để trợ giúp khách hàng có uy tín và có kế hoạch SXKD tốt, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác, Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ nên xem xét nâng cao mức cho vay tối đa có thể là 75% - 80% giá trị xin vay đối với các đối tượng doanh nghiệp nêu trên. Thứ ba, thời hạn cho vay vốn đa dạng và phù hợp Ngân hàng cần đa dạng hóa các thời hạn cho vay để đảm bảo các nguyên tắc cho vay như khả năng hoàn trả, đảm bảo được mục đích sử dụng vốn và có điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ vay cũng như tạo điều kiện kiểm tra theo dõi khoản vay. Ngân hàng cần xem xét định kỳ trả nợ gốc và lãi vốn vay cho phù hợp với chu kỳ SXKD, thời gian luân chuyển vốn lưu động và kế hoạch dòng tiền vào ra của doanh nghiệp. Thang Long University Library 69 Tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà ngân hàng sẽ có các mức thời gian trả nợ khác nhau như trả lãi, gốc hàng tháng, trã lãi hàng tháng trả gốc theo quý, trã lãi hàng tháng trả gốc cuối năm. Đối với loại hình doanh nghiệp thương mại dịch vụ chỉ là trung gian mua bán hàng hoá và cung ứng ra thị trường thì áp dụng trã lãi và gốc hàng tháng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì áp dụng phương pháp trả lãi hàng tháng trả gốc theo quý hoặc năm. Đối với các khoản vay dự án đầu tư trung và dài hạn, hay các khoản vay trung và dài hạn đầu tư tài sản cố định áp dụng cách thức tính lãi nhập gốc cho giai đoạn đầu tư và sản xuất thử. Khi các phương án tạo ra doanh thu thì sẽ yêu cầu khách hàng trả lãi hàng tháng, trả gốc theo quý hoặc năm. Thời hạn cho vay được tính từ thời điểm giải ngân khoản vay đầu tiên cho tới khi phương án kinh doanh chấm dứt hoạt động. 3.2.3. Đẩy mạnh hoạt động marketing ngân hàng. Đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, nhất là dịch vụ thì marketing là hết sức cần thiết. Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức và quản lý của ngân hàng từ việc phát hiện ra nhu cầu của khách hàng đến việc thỏa mãn nhu cầu đó về nguồn vốn cũng như các dịch vụ ngân hàng khác thông qua các chính sách cụ thể, các giải pháp cụ thể, linh hoạt và thích ứng với các mục tiêu đề ra. Có thể nói, marketing ngày nay là lý thuyết của kinh doanh hiện đại, tuy nhiên nhiều NHTM chưa có hoạt động marketing hoàn thiện với đầy đủ quy trình, cách thức tiến hành marketing mà chỉ dừng lại ở công việc truyền thông quảng cáo. Hoạt động kinh doanh tại Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ cũng ở trong tình trạng như vậy và khá bị động, tức là chỉ khi có công việc cần mới tiến hành marketing mà không tổ chức thường xuyên. Trên thực tế, để hoạt động marketing có hiệu quả cần thực hiện một cách khoa học các giai đoạn của hoạt động marketing từ việc ngiên cứu sản phẩm thị trường, lựa chọn thị trường, tìm hiểu khách hàng đến việc lựa chọn cách thức marketing hợp lí với mỗi phân khúc thị trường khác nhau. Do vậy, để nâng cao chất lượng cho vay thì cần một số giải pháp cụ thể như sau: Trước khi quyết định một khoản tín dụng, Ngân hàng cần phải nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập thông tin có liên quan tới khoản tín dụng và điều tra xem xét các thông tin thu thập được có chính xác hay không, nhằm biết được thông tin về khách hàng 70 hiện tại cũng như tiềm năng của ngân hàng, hiểu được thực chất họ cần cái gì, theo phương thức như thế nào. Đồng thời, ngân hàng cũng đánh giá được khả năng của các đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất so với đối thủ cạnh tranh. Tiếp cận nhu cầu của khách hàng: Ngân hàng phải luôn quan tâm cải tiến hình thức đầu tư, hình thức giải ngân, đối tượng vay vốn. Tích cực tìm kiếm và khai thác khách hàng để mở rộng tín dụng, tiếp cận khách hàng tùy theo tầm quan trọng và đặc tính của họ để có cách tiếp cận hiệu quả nhất. Để đẩy mạnh hoạt động Marketing, chi nhánh Sông Nhuệ cần cho ra đời phòng marketing với đầy đủ các chức năng và ý nghĩa của nó, có như vậy mới thu hút được nhiều khách hàng vay vốn cũng như sử dụng nhiều sản phẩm khác và điều quan trọng là nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của chi nhánh. 3.2.4.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Con người là yếu tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay trong thời gian qua là do trình độ bất cập của đội ngũ cán bộ cho vay không theo kịp yêu cầu của nền kinh tế thị trường, ý thức chấp hành thể lệ, chế độ nghiệp vụ của một số cán bộ chưa nghiêm túc, thậm chí còn có biểu hiện vi phạm về đạo đức. Do vây, để nâng cao trình độ, năng lực, trách nhiệm của cán bộ cho vay thì cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: Thứ nhất, về tư cách đạo đức: Việc thẩm định dự án và ra quyết định cho vay đều chứa đựng những nhận định mang tính chủ quan của cán bộ tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng Vietinbank – chi nhánh Sông Nhuệ cần có các biện pháp nhằm đảm bảo tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng, tránh tình trạng cán bộ tín dụng cấu kết với kẻ gian nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho ngân hàng. Nguyên nhân của hành động trên một phần do sự suy giảm về tư cách đạo đức, một phần vì cán bộ nhân viên cảm thấy chưa hài lòng với chế độ đãi ngộ của ngân hàng nên đã tìm cho mình nhiều cách kiếm tiền khác nhau, dẫn tới các hành động trái với đạo đức nghề nghiệp. Do vậy, để cán bộ nhân viên toàn tâm toàn ý với công việc, Chi nhánh cần phải xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, có chính sách lương bổng, thưởng phạt hợp lý nhằm thoả mãn những nhu cầu chính đáng của nhân viên. Đồng thời phải biết nhận biết người tài, trọng dụng người tài để khuyến khích những nhân viên có tâm huyết với ngân hàng. Thang Long University Library 71 Thứ hai, hoàn thiện công tác đào tạo lao động Đối với một tổ chức dù là tư nhân hay quốc doanh hay bất cứ một loại hình nào khác thì công tác đào tạo lao động luôn là một nhiệm vụ quan trọng quyết định đến sự sống còn của tổ chức. Ý thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, Ngân hàng TMCPCTVN đã tổ chức những khoá bồi dưỡng, cập nhật và nâng cao kIến thức cho cán bộ. Trong thời gian tới, ngân hàng vẫn nên duy trì việc làm này nhằm nâng cao trình độ của các chuyên viên trong ngân hàng. Nội dung của các khóa đào tạo có thể bao gồm:  Đào tạo về kĩ năng, cách thức phương pháp làm việc, tương tác giữa các bộ phân trong Ngân hàng. Khi nhân viên chuyển sang các đơn vị kinh doanh khác vẫn nhanh chóng thích nghi và hòa nhập vào môi trường mới nhờ kĩ năng được đào tạo qua khóa học.  Đào tạo thường xuyên cho cán bộ nhân viên cách thức thực hiện công việc một cách đúng quy trình kĩ thuật, ngăn ngừa các trường hợp rủi ro, mất an toàn hệ thống đáng tiếc xảy ra. Ngoài những hình thức đào tạo ngân hàng TMCPCTVN cần thực hiện thêm các giải pháp sau nhằm có những định hướng và phát triển nghề nghiệp phù hợp cho từng cán bộ, nhân viên để đạt được hiệu quả mong muốn trong công tác tổ chức:  Thường xuyên cung cấp các thông tin về các cơ hội nghề nghiệp trong Ngân hàng, thực hiện hỗ trợ nhân viên về nghề nghiệp. Tạo động lực cho nhân viên để họ luôn có những cơ hội thăng tiến và xây dựng môi trường làm việc cạnh tranh công bằng giữa các nhân viên.  Tạo cơ hội cho cán bộ, nhân viên thường xuyên được thay đổi công việc, giúp họ nắm vững được nhiều kĩ năng ở các vị trí khác nhau để từ đó phát hiện ra khả năng thực sự của họ để sắp xếp, bố trí vị trí phù hợp nhằm tận dụng tối đa những năng lực của họ. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho họ thay đổi môi trường làm việc nhằm đưa lại những tác động tốt về tâm lý lao động nhằm cho họ hoạt động trong môi trường mà họ thấy phù hợp nhất. Thứ ba, chế độ đãi ngộ Đãi ngộ người lao động tốt là một trong những phương pháp hữu hiệu nhằm thu hút những lao động về với tổ chức và cũng là phương pháp hữu hiệu nhằm duy trì sự gắn kết giữa người lao động với tổ chức, giữ chân những người lao động giỏi hay huy 72 động tối đa năng lực làm việc của người lao động trong tổ chức. Ngân hàng cần đưa ra những giải pháp sau nhằm xây dựng một chế độ đãi ngộ hiệu quả :  Tổ chức định kỳ các đợt tham quan, nghỉ mát cho cán bộ, nhân viên.  Tổ chức khám sức khoẻ định kì, nhằm chăm sóc thường xuyên sức khẻo của cán bộ, nhân viên.  Đối với các cán bộ, nhân viên có thành tích tốt bên cạnh việc tuyên dương trước tổ chức, nhận phần thưởng về vật chất có thể thưởng cho một kì nghỉ dài tại những địa đIểm đẹp nhằm khuyến khích lao động phát huy năng lực, hết lòng cho công việc. Thứ tư, về chính sách tuyển dụng: Tuyển dụng luôn là một hoạt động quan trọng của ngân hàng. Bởi chính nhân sự tại ngân hàng là những người thực hiện các công việc trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Công việc đó được làm thế nào và hiệu quả có tốt không phụ thuộc chính vào khả năng của nhân sự. Do đó, Ngân hàng cần tuyển được những cán bộ giỏi chuyên môn, có kĩ năng nghiệp vụ tốt. Để làm được điều này, công tác tuyển dụng của ngân hàng cần được tiến hành một cách minh bạch, rõ ràng. Các thông tin tuyển dụng nên được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và gửi trực tiếp về các trường đại học khối kinh tế nhằm thu hút đông đảo hồ sơ dự tuyển. Việc thi tuyển, xét tuyển cần được tiến hành một cách minh bạch. Nên áp dụng hình thức thi online để thí sinh biết được kết quả ngay và tiết kiệm thời gian chấm bài, thu bài. Hiện tại, ngân hàng quân đội chỉ ưu tiên tuyển sinh viên đến từ các trường đại học lớn như: Đại học kinh tế quốc dân, học viện ngân hàng, đại học ngoại thương,mà không nhận hồ sơ dự tuyển của nhiều trường ngoài công lập. Trong khi đó, các sinh viên ngoài công lập được đào tạo khá bài bản, có kĩ năng tốt hơn một số sinh viên ở các trường công lập. Sự phân biệt này sẽ khiến ngân hàng mất đi cơ hội tuyển chọn những nhân lực phù hợp với công việc, đặc biệt là các vị trí cần giao tiếp với nhiều khách hàng và tìm hiểu thị trường như cán bộ tín dụng, giao dịch viên, phát triển sản phẩm,.Trong thời gian tới ngân hàng nên thay đổi quan niệm này trong công tác tuyển dụng. Bên cạnh đó, đối với những sinh viên mới ra trường, chưa được nhận bằng tốt nghiệp, Ngân hàng có thể hỗ trợ bằng cách chấp nhận giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời của sinh viên. Các thủ tục tuyển dụng cần tiến hành nhanh chóng, để các ứng viên trúng tuyển nhanh chóng được tiếp cận với công việc. 3.2.5. Công tác thẩm định tín dụng Thứ nhất, thẩm định khách hàng Thang Long University Library 73 Yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất trong quá trình thẩm định khách hàng là thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và hợp lệ của hồ sơ khách hàng mang đến. Cán bộ ngân hàng phải thẩm định xem xét tư cách pháp lý của khách hàng thông qua các giấy tờ có liên quan như: giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy xác nhận của chính quyền địa phương nơi khách hàng tham gia SXKD. Đồng thời cần nắm được các quy định của pháp luật về những ngành nghề kinh doanh của khách hàng. Bên cạnh tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ khách hàng; ngân hàng cần xem xét tới mục đích vay vốn cụ thể của khách hàng. Mục đích đó có hợp pháp hay không, có thiết thực hay không, có hiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế để đảm bảo được cho khả năng trả nợ của khách hàng hay không. Đây chính là căn cứ quan trọng để ngân hàng đánh giá khách hàng về cơ hội phát triển cũng như là một yếu quan trọng giúp ngân hàng nhận ra những thách thức, khó khăn mà khách hàng gặp phải nếu thực hiện phương án sản xuất kinh doanh đó. Nếu mục đích vay vốn của khách hàng nằm trong danh mục các khoản vay được ưu tiên và khách hàng có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý của mình thì vấn đề tiếp theo ngân hàng cần quan tâm đó chính là việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng. Việc đánh giá này được dựa trên hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính hàng kỳ của các DN. Đồng thời cán bộ ngân hàng cần thu thập thông tin qua các tổ chức, cá nhân có liên quan như: cơ quan thuế, nhà cung cấp, khách hàng, đối tác,của các DN. Việc đánh giá phân tích năng lực tài chính của khách hàng đòi hỏi các cán bộ ngân hàng phải có nền tảng kiến thức tốt về kế toán, kiểm toán, thường xuyên cập nhật các quy định mới về hệ thống kế toán tài chính. Bên cạnh đó, cán bộ ngân hàng cần đánh giá tình hình tài chính của khách hàng thông qua các chỉ tiêu như vốn tự có của khách hàng (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động), nguồn hình thành, nợ phải trả (nếu có), tài sản khách hàng đang sở hữuTừ đó, mới đánh giá được chính xác và trung thực những con số mà các doanh nghiệp gửi đến ngân hàng. Có một yếu tố quan trọng khi đánh giá khách hàng nhưng rất nhiều ngân hàng hiện nay lại bỏ qua, đó chính là việc đánh giá đội ngũ quản lý doanh nghiệp. Người quản lý là người nắm vai trò chủ đạo trong quá trình định hướng hoạt động của doanh nghiệp. Tư cách, đạo đức và năng lực của người lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và vững mạnh của chính doanh nghiệp đó. Do vậy, ngân hàng cần đề cao vấn đề đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp trong quá trình thẩm định khách hàng. Đây là việc làm không hề đơn giản, đòi hỏi sự khéo léo, nhạy bén và khả năng nắm bắt thông tin tốt của các cán bộ ngân hàng, 74 Thứ hai, thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh Trước tiên, muốn biết phương án SXKD này có khả thi hay không, cần dựa vào việc đánh giá nhu cầu thị trường. Thông qua mục đích sử dụng vốn vay, ngân hàng cần xem xét thị trường mà DN đang hướng tới có tiềm năng hay không. Để đánh giá được tiêu chí này, cán bộ ngân hàng cần tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh của khách hàng, các chỉ tiêu chung của ngành, xu hướng phát triển ngành trong tương lai. Sau khi xem xét nhu cầu thị trường về lĩnh vực kinh doanh mà khách hàng tham gia, cán bộ ngân hàng cần tiếp tục đánh giá khả năng xâp nhập thị trường của sản phẩm đó có tốt hay không. Cần xem xét và nghiên cứu về kế hoạch chi tiết của khách hàng trong từng bước như sản xuất, quảng bá cũng như kênh phân phối sản phẩm (đối với các doanh nghiệp sản xuất) và cách thức marketing để khách hàng biết đến sản phẩm của mình (đối với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ). Dựa vào bản kế hoạch chi tiết đó, ngân hàng sẽ xem xét tính hợp lí về mặt thời gian, cách thức và chiến lược thâm nhập thị trường cho sản phẩm của DN. Bên cạnh đó là các biện pháp tư vấn, hỗ trợ để phương án SXKD của khách hàng khả thi, hiệu quả hơn. Một trong những hạn chế của các DN ở Việt Nam hiện nay chính là thiếu những hiểu biết và kinh nghiệm về công nghệ, dẫn tới việc tiêu tốn tiền của nhưng công nghệ của về lại lạc hoặc không phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp. Do vậy, việc đánh giá về thiết bị dây chuyền sản xuất của khách hàng là rất quan trọng, thông qua đó ngân hàng có thể biết được với thực trạng về công nghệ hiện nay của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể đảm bảo được việc sản xuất kinh doanh diễn ra đúng với kế hoạch đã định và cho năng suất cao hay không. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng. Thứ ba, thẩm định tài sản đảm bảo Ngoài việc kiểm tra tình hình thực tế của TSĐB, CBNV của chi nhánh cần có sự tham khảo và hiểu biết về một số tài sản mà các doanh nghiệp vay vốn thường mang đi cầm cố, thế chấp để vay vốn. Hoặc chi nhánh có thể cử CBNV đi học các lớp nghiệp vụ về vấn đề này để họ có thêm kiến thức trong việc đánh giá chính xác giá trị thực tế của TSĐB, tính thanh khoản của TSĐB và giá trị hao mòn của tài sản... Quan trọng hơn, CBNV phải kiểm tra rõ tính pháp lý, giấy tờ sở hữu của TSĐB xem có đúng đang thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp vay vốn không để tránh tình trạng tài sản không hợp pháp khi phát mại trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán cho ngân hàng. Thang Long University Library 75 3.2.6. Xử lý nợ quá hạn Ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản vay, kiểm tra hạn mức tín dụng, thường xuyên gặp gỡ khách hàng và thăm quan thực địa,... để kịp thời phát hiện ra những dấu hiệu bất thường ngay khi chúng mới phát sinh để kịp thời điều chỉnh, giải quyết kịp thời nhanh chóng, tránh trường hợp khi xảy ra rủi ro mới phát hiện ra, gây tổn thất cho ngân hàng. Các khoản nợ xấu của ngân hàng sẽ được ngân hàng chia làm hai loại, một loại là các khoản nợ xấu của các Doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ hay nhà nước yêu cầu ngân hàng cấp tín dụng nhưng không có khả năng trả nợ sẽ được ngân hàng đưa vào nợ khoanh và quản lý chặt chẽ ở ngoại bảng sau đó xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về các khoản vay đó. Loại thứ 2 là các khoản giải ngân do chính ngân hàng đánh giá cho khách hàng vay xảy ra nợ quá hạn. Đối với các khoản vay này thì bắt buộc ngân hàng phải chủ động trong việc xử lý nợ. Biện pháp đầu tiên mà các nhân viên tín dụng phải thực hiện là xác định tính nghiêm trọng của vấn đề bằng các quá trình thích hợp. Trước hết phải thẩm tra lại và thu thập thêm thông tin về người vay. Sau đó tùy thuộc vào sự nghiêm trọng của tình hình, ngân hàng có thể có những cách xử lý khác nhau. Cụ thể, đối với những trường hợp không quá nghiêm trọng ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp nhằm điều chỉnh tình huống và bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Có thể sử dụng một hoặc một số các biện pháp sau đây để cứu người vay và khôi phục sức mạnh tài chính của họ. - Tư vấn cho khách hàng nhằm khôi phục tình hình tài chính: Nhân viên ngân hàng có thể cùng trao đổi bàn bạc với khách hàng về các vấn đề doanh nghiệp đang gặp phải. Tìm hiểu xem nguyên nhân của những khó khăn đó bắt đầu từ đâu, việc làm nào chưa hiệu quả. Nhân viên ngân hàng có thể đưa ra những lời khuyên cho khách hàng như lời khuyên về cách thức bán hàng, cách thức tổ chức quản lý, cách thức sử dụng vốn và quay vòng vốn, quản lý hàng tồn khosao cho hợp lí và có hiệu quả hơn. Trong những trường hợp cần thiết, có thể giới thiệu cho doanh nghiệp các chuyên gia trong các lĩnh vực mà doanh nghiệp gặp khó khăn để nhận được sự tư vấn từ họ. - Giảm bớt kế hoạch mở rộng: Nếu ngân hàng cảm thấy quy mô hoạt động của doanh nghiệp, công suất hoạt động và số lượng nhân lực là quá lớn so với tình hình thực tế của doanh nghiệp về vốn, về kinh nghiệm quản lí và tại thời điểm hiện tại là quá sức đối với doanh nghiệp thì ngân hàng có thể khuyên doanh nghiệp xem xét đến vấn đề thu hẹp quy mô, tiết kiệm chi phí, tập trung vào các thế mạnh của mình, tránh đầu tư tràn lan và hiệu quả không cao. 76 - Khuyến khích thu hồi các khoản nợ chậm trả: Sự chậm trả tiền hàng từ phía các đối tác làm doanh nghiệp bị thiếu hụt vốn trong kinh doanh. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sự an toàn và ổn định nguồn vốn cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Ngân hàng có thể tư vấn cho các doanh nghiệp các cách thức thu hồi nợ, làm giảm giá trị các khoản phải thu để doanh nghiệp có nguồn vốn đảm bảo cho SXKD. - Gia hạn nợ: Khác với thời gian ân hạn, gia hạn nợ là việc thương lượng giữa khách hàng và ngân hàng về việc xin lùi thời hạn trả nợ của doanh nghiệp trong một thời gian nào đó nếu khách hàng gặp khó khăn chưa trả được nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo đúng hợp đồng kí kết ban đầu. Về mặt tài chính, gia hạn nợ sẽ giúp cho khách hàng tránh được sự kiện tụng, dẫn đến giảm bớt các chi phí cho hoạt động pháp lý. Mặt khác còn giúp doanh nghiệp duy trì uy tín trong hoạt động kinh doanh của mình. Việc áp dụng các biện pháp này có thể giúp cho ngân hàng thu hồi đầy đủ khoản tín dụng sau này, khi khách hàng có những cơ hội tốt để khôi phục lại các hoạt động kinh doanh để có điều kiện trả nợ. Cụ thể, khách hàng sẽ lập một tờ trình xin gia hạn nợ đối với ngân hàng. Đối với ngân hàng việc gia hạn nợ cho khoản vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng còn đối với các khoản vay trung và dài hạn sẽ gia hạn với thời gian tối đa là 1/2 thời gian cho vay. Dựa vào đề nghị của khách hàng và cán bộ tín dụng có tính toán lại các yếu tố tác động là từ bên ngoài doanh nghiệp liên quan đến nền kinh tế chưa ổn định thì cán bộ tín dụng có thể đề xuất thời gian gia hạn phù hợp. Việc gia hạn trả nợ phải có sự thỏa thuận tự nguyện giữa khách hàng và ngân hàng cho vay. Khi đã có sự thỏa thuận tự nguyện, phải đưa ra được một kế hoạch trả nợ chi tiết. Qua đó, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị tích lũy các khoản tiền để trả nợ. - Tiến hành xử lý các tài sản đảm bảo: Nếu khoản nợ của khách hàng bị chuyển sang nhóm 3 thì cán bộ tín dụng bắt đầu gặp trực tiếp khách hàng, tìm hiểu các thông tin thực tế của khách hàng và đánh giá lại khả năng trả nợ của khách hàng. Tiếp theo, cán bộ tín dụng sẽ gửi thông báo về việc yêu cầu khách hàng hợp tác trong công tác chuyển giao sở hữu tài sản cho ngân hàng. Khi có sự đồng ý chuyển giao của khách hàng về việc dùng tài sản đảm bảo để trả nợ, ngân hàng sẽ cùng với khách hàng đến các cơ quan chính quyền để trình báo về sự việc và nhờ cơ quan chính quyền đứng ra làm bên thứ 3 để chứng nhận sự chuyển giao sở hữu. Sau khi đã thực hiện quyền chuyển giao tài sản thì ngân hàng sẽ phát mại tài sản và sau đó thông báo lại toàn bộ các thông tin về việc phát mại tài sản đó cho khách hàng cũng như cơ quan chính quyền biết. Nếu vẫn chưa thu hồi đủ số vốn gốc thì yêu cầu khách hàng dùng nguồn khác để thanh toán số tiền còn thiếu. Nếu giá trị tài sản thanh lý lớn hơn số vốn cần thu hồi thì sẽ được trả lại cho khách hàng. Thang Long University Library 77 - Yêu cầu cơ quan pháp luật can thiệp: Trường hợp ngân hàng không thu hồi đủ khoản tín dụng đã cấp từ việc sử dụng các tài sản bảo đảm hoặc đối với những khoản cho vay không có bảo đảm ngân hàng có thể đề nghị tòa án phán quyết cho phép ngân hàng quyền thu thêm tài sản khác của người vay. Hoặc ngân hàng cũng có thể sử dụng quyền cao nhất của một chủ nợ không được người vay thực hiện thanh toán nợ theo đúng thỏa thuận là yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Tình huống này chỉ xảy ra khi khách hàng có thái độ không hợp tác đối với ngân hàng trong việc xử lý khoản vay. Cán bộ ngân hàng vẫn phải đi gặp các cấp chính quyền nơi có khách hàng đăng ký kinh doanh cũng như nơi có tài sản đảm bảo sau đó trình bày sự việc với cơ quan chính quyền nhờ cơ quan chính quyền phân định. Khi có kết quả phân định và xử lý của chính quyền địa phương, ngân hàng có quyền kiện khách hàng nếu khách hàng vẫn có thái độ không hợp tác đối với các biện pháp xử lý đó. Nhìn chung, đối với những khoản nợ khó đòi, ngân hàng cần cử cán bộ tín dụng xuống xem xét lại tình hình thực tế của khách hàng để đưa ra quyết định xiết nợ kịp thời tránh tình trạng để khách hàng không có khả năng trả nợ hoàn toàn mới xiết nợ. Hiện nay, nợ quá hạn của các DN tương đối cao, đối với mỗi khoản nợ quá hạn mà ngân hàng không thu hồi được đều gây ra những tổn thất nhất định cho ngân hàng. Do đó, việc xử lí nợ quá hạn thế nào để vẫn đảm bảo vừa thu hồi được nợ cho ngân hàng vừa không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề rất khó khăn đặt ra cho ngân hàng đòi hỏi ngân hàng phải có những biện pháp thích hợp. 3.3. Kiến nghị 3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước. Thứ nhất, Nhà nước cần phải ổn định môi trường vĩ mô của nền kinh tế. Nhà nước cần xác định rõ chiến lược phát triển kinh tế, hướng đầu tư, có chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần một cách ổn định, lâu dài, đúng định hướng. Cụ thể, mục tiêu ổn định thị trường, ổn định giá cả, duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý được coi là nhiệm vụ hàng đầu thường xuyên. Chính việc Nhà nước tạo ra một môi trường chính trị - kinh tế - xã hội ổn định và lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế, giúp cho các doanh nghiệp an tâm tiến hành sản xuất kinh doanh, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người dân. Thứ hai, Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Ngân hàng hoạt động. Do tình hình kinh tế - xã hội phát triển nhanh, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường thực sự cần có pháp luật điều chỉnh, tạo ra môi 78 trường pháp lý lành mạnh trong sự phát triển kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ làm chỗ dựa pháp lý cho Ngân hàng, cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Hơn nữa, hệ thống pháp luật nước ta chưa ổn định, thay đổi liên tục khiến các Ngân hàng khó có một cơ sở vững chắc để hoạt động. Việc luôn bị sửa đổi của các luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài, luật đất đai nhà cửa,khiến cho các giấy tờ liên quan như giấy phép kinh doanh, giấy sở hữu nhà đất không rõ ràng, rất khó khăn cho Ngân hàng xem xét dự án có thể cho vay. Thứ ba, tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp. Hoạt động của các doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa những rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Trong hoàn cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, năng lực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, ít có sự cạnh tranh, hoạt động của nhiều doanh nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, không có tầm nhìn chiến lược là một thách thức lớn đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp giải quyết kịp thời. Cần thực thi tốt kế hoạch phát triển tổng thể đã đề ra, có các ưu tiên đãi ngộ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế mũi nhọn, kinh tế trọng điểm. Ban hành và hướng dẫn chỉ đạo các ngành, các cấp thực thi các điều luật đã và sẽ ban hành. Đối với các doanh nghiệp, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bảo đảm các doanh nghiệp thực thi nghiêm túc các điều luật đó. Tiếp tục thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, gắn chặt quyền lợi và trách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp. 3.3.2. Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các văn bản pháp quy. Các văn bản này bao gồm: Nghị định của Chính phủ, Quyết định và thông tư của Thống đốc NHNN để hướng dẫn thi hành về hai luật ngân hàng: Luật NHNN và Luật các TCTD. Việc xây dựng và hoàn chỉnh các văn bản này cần được xây dựng với tinh thần khẩn trương, chất lượng, đảm bảo tuân thủ pháp luật và các yêu đầu đặt ra của nền kinh tế; giúp các NHTM tháo gỡ các vướng mắc, giảm bớt các thủ tục phiền hà, không cần thiết nhưng vẫ đảm bảo an toàn hoạt động. Góp phần nâng cao quyền tự chủ của các TCTD, của doanh nghiệp và nhân dân trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Thứ hai, NHNN nên áp dụng mức lãi suất khác nhau cho nợ quá hạn: phân theo nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Sẽ là không công bằng cho các doanh nghiệp phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn khi nguyên Thang Long University Library 79 nhân gây ra nợ quá hạn là các nguyên nhân khách quan như: hạn hán, lũ lụt,.. hay do những thay đổi của cơ chế chính sách của Nhà nước. Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo độ an toàn của hệ thống ngân hàng: Hiện nay, các NHTM đang cạnh tranh khốc liệt bằng nhiều hình thức. Do vậy, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM thì NHNN nên tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát NHTM; nâng cao hiệu lực Thanh tra và quản lý của NHNN để khắc phục những khuyết điểm, xử lý kiên quyết những sai phạm đã được phát hiện và chủ động có giải pháp đồng bộ với các ngành có liên quan. Công tác thanh tra cần được xác định trọng tâm, trọng điểm đối với hệ thống tổ chức tín dụng, trong đó đặc biệt chú trọng đến thanh tra quản trị điều hành và chất lượng tín dụng của NHTM. Việc kiểm tra, kiểm soát các NHTM sẽ đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng vì bất cứ một ngân hàng nào chạy đua để cạnh tranh bằng cách nới lỏng các quy định của NHNN dẫn đến mất khả năng thanh toán thì các ngân hàng trong toàn hệ thống sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. 3.3.3. Kiến nghị đối với NH Công Thương Việt nam - Ngân hàng Công Thương cần có sự chỉ đạo cụ thể về lãi suất trong toàn hệ thống tránh tình trạng các chi nhánh trong hệ thống cạnh tranh không lành mạnh. - Hiện nay các điều kiện về môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng còn nhiều thiếu sót, bất cập, chính vì vậy việc Chính phủ thường xuyên đưa ra những Nghị định để chỉ đạo hoạt động của ngành ngân hàng là sự cố gắng rất lớn của Nhà nước nhằm từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự phát triển của ngành. Khi các Nghị định này ra đời, ngân hàng TMCPCTVN cần hướng dẫn kịp thời các quy chế, quy định của NHNN, tránh tình trạng NHNN ban hành cơ chế, quy định mới nhưng rất lâu sau Hội sở mới có văn bản hướng dẫn gây khó khăn cho Chi nhánh trong quá trình thực hiện, giúp họ giải tỏa kịp thời những vướng mắc để nâng cao hiệu quả hoạt động. Đồng thời, ngân hàng TMCPCTVN khi ban hành các văn bản hướng dẫn cũng cần phải làm đồng bộ, phù hợp với thực tế, giảm việc chỉnh sửa, thay đổi thường xuyên. - Với tư cách là đơn vị chủ quản của toàn bộ hệ thống Ngân hàng TMCPCTVN và có các phòng ban chuyên trách đảm nhiệm công tác hoạch định chính sách cho vay và quản trị rủi ro cho vay, Ngân hàng TMCPCTVN cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện một hệ thống quản trị rủi ro định hướng thông lệ quốc tế. Cụ thể: + Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá kết quả áp dụng trong thời gian vừa qua, nghiên cứu nhằm bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Đây sẽ là tiền đề cho việc xây 80 dựng hệ thống xếp hạng cho vay của Ngân hàng TMCPCTVN, từ đó có thể áp dụng phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế. + Ngân hàng cần sớm nghiên cứu và xây dựng mô hình lượng hóa cụ thể mức độ rủi ro của doanh nghiệp cũng như mô hình định lượng để xác định giới hạn cho vay trên cơ sở mức độ rủi ro của doanh nghiệp, xây dựng mô hình đánh giá và cảnh báo sớm rủi ro để áp dụng cho toàn hệ thống. + Cần phát triển hệ thống thông tin quản lý đảm bảo cập nhật, chính xác và đầy đủ. Hệ thống thông tin này được tập trung tại trụ sở chính, kết nối trực tuyến với các chi nhánh trên cơ sở mạng máy tính nội bộ. Nội dung hệ thống này bao gồm tất cả các thông tin cần thiết cho hoạt động quản trị rủi ro cho vay của ngân hàng. - Định kỳ xây dựng bảng giá nhà đất từng khu vực và những diễn biến về tình hình biến động giá bất động sản trên thị trường để các Chi nhánh tham khảo cho vay cũng như điều chỉnh dư nợ một cách kịp thời phù hợp với xu hướng thị trường. - Cần ban hành quy định cụ thể, chặt chẽ; lưu trữ, bảo quản và quản lý hồ sơ cho vay, thực sự coi hồ sơ cho vay như một tài sản quan trọng của ngân hàng, là cơ sở khẳng định sở hữu của ngân hàng đối với phần tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Kết luận chương 3 Toàn bộ chương 3 đã nêu lên định hướng hoạt động kinh doanh cũng như mục tiêu cụ thể của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ trong những năm tới. Từ đó, chương 3 nêu lên sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng và nêu lên các giải pháp cụ thể. Đồng thời chương 3 cũng nêu lên một số kiến nghị đối với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đối với Ngân hàng Nhà nước và đối với NHTMCP Công thương Việt Nam với mong muốn có thể góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ. Thang Long University Library 81 KẾT LUẬN Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Muốn tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, ngân hàng phải đảm bảo cả về quy mô và chất lượng tín dụng. Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng ở ngân hàng cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Sông Nhuệ” đã nêu lên một số những lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng, tìm hiểu và vận dụng vào việc phân tích để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Đồng thời khoá luận đã giới thiệu hoạt động của Vietinbank-chi nhánh Sông Nhuệ trong giai đoạn 2011-2013, phân tích chất lượng tín dụng tại chi nhánh, phát hiện những điểm mạnh và điểm yếu của hoạt động này, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại đây. Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn đề lớn, cần có hệ thống các giải pháp và các điều kiện thực hiện đồng bộ. Do đó trong bài khoá luận này, em chỉ mong muốn đóng góp nhỏ trong tổng thể các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng. Để giải pháp được thực thi và phát huy tác dụng thì cần có sự nỗ lực từ bản thân ngân hàng, có sự quan tâm phối hợp hỗ trợ của Chính phủ và NHNN cũng như các cấp, các ngành có liên quan. Do hiểu biết bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nên bài khoá luận không thể tránh khỏi một số khiếm khuyết, em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cũng như bạn đọc quan tâm đến đề tài để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn. 82 Danh mục tài liệu tham khảo 1. PGS. TS. MAI VĂN BẠN (2009), Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài chính. 2. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê 3. Học viện ngân hàng (2010), Giáo trình tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê 4. TS. Phạm Hữu Hồng Thái, TS. Phạm Hoàng Ân và cộng sự (2011), Luận án “Đánh giá thực trạng Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay”. 5. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 6. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. 7. Ngân hàng Nhà nước (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. 8. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1999), Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng 9. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ (2011, 2012, 2013), Báo cáo tài chính. 10. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ (2011, 2012, 2013), Báo cáo thu nhập chi phí. Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa16949_8288.pdf