Đề tài Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện Như Thanh

Trong cuộc chiến chống đói nghèo còn nhiều khó khăn gian khổ không thể giải quyết một sớm, một chiều mà cần xác định lâu dài và quyết tâm thực hiện. Bằng mọi biện pháp trong đó cho vay hộ nghèo là biện pháp cần thiết để người nghèo suy nghĩ, trăn trở tìm cách sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đảm bảo khả năng trả nợ. Từ đó rèn luyện cho người nghèo cách tự lập chống lại với nghèo đói, vươn lên thoát nghèo. Việc Ngân hàng Chính sách xã hội cấp các khoản tín dụng và thực hiện chính sách cho người nghèo vay là một biện pháp tích cực, tác động tốt tới việc xoá đói giảm nghèo. Cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Như Thanh đã cho thấy mô hình này mới đi vào hoạt động và đang còn trong giai đoạn hoàn thiện, nhưng bước đầu khẳng định vai trò trách nhiệm cộng đồng giữa người nghèo rất thiết thực.

pdf48 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 25/02/2014 | Lượt xem: 4791 | Lượt tải: 64download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện Như Thanh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
XH . Bước 4: Cán bộ tín dụng tập hợp đơn và danh sách xin vay trình lên Giám đốc huyện, thị xã ký duyệt cho vay và ra thông báo về lịch giải ngân, địa điểm giải ngân cho các xã. Bước 5: Tổ TK&VV nhận danh sách hộ được vay vốn , thông báo cho hộ biết thời gian và địa điểm giải ngân . Bước 6: NHCSXH huyện, thị xã giải ngân trực tiếp tới hộ nghèo. Bước 7: Tổ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, đôn đốc cho các hộ nghèo vay vốn trả nợ đúng hạn. Có thể nói đây là phương thức cho vay khá hợp lý. Việc hình thành các tổ nhóm để gắn trách nhiệm liên đới tới từng thành viên trong tổ, bởi vì các thành viên trong tổ hiểu rõ hoàn cảnh của các hộ nghèo được vay vốn thuộc tổ mình. Đảm bảo chắc chắn tiền đến tay hộ nghèo và không trùng với các nguồn vốn khác đã cho vay. Điều này làm giảm bớt gánh nặng giám sát món vay của cán bộ tín dụng.  Điều kiện vay vốn Thực hiện theo Quyết định số 316 của NHCSXH Việt Nam, điều kiện để cho vay hộ nghèo phải là hộ có trong danh sách được tổ TK&VV lập, được UBND xã xét duyệt và đối chiếu hộ không có dư nợ tại NHNo&PTNT, NHCSXH và các chương trình khác. Như vậy khi xét duyệt sẽ đảm bảo cho vay đúng người, đúng đối tượng và đúng với chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra.  Lãi suất cho vay Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Thống đốc ngân hàng tại từng thời kỳ và các chính sách ưu đãi của nhà nước đến với từng hộ dân.  Thời hạn cho vay Căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi nên dựa trên chu kỳ phát triển của cây trồng, vật nuôi để định thời hạn nợ, nhưng ở huyện Như Thanh đối tượng cho vay chủ yếu là cho vay chăn nuôi trâu, bò, trồng cây ăn quả, do vậy thời hạn cho vay thường là 36 tháng đến 60 tháng. Ngắn hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ lệ rất nhỏ vào khoảng 0,7 %.  Mức cho vay Theo quy định của Hội đồng quản trị NHCSXH, mỗi hộ được vay tối đa là 30 triệu đồng, nhưng thực tế ở Ngân hàng chính sách Như Thanh mức Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 29 - cho vay bình quân 1 hộ trong những năm gần đây thường từ 10 đến 15 triệu đồng, mức vay như vậy là phù hợp với mỗi hộ nghèo vay vốn tại địa phương. 2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với cho vay hộ nghèo Cho vay hộ nghèo không vì mục đích lợi nhuận mục tiêu chính là xoá đói giảm nghèo. Trong cho vay hộ nghèo còn mang những đặc điểm riêng biệt, do đó chất lượng tín dụng được xem như khả năng cam kết về pháp lý và độ tín nhiệm của hộ nghèo đối với Ngân Hàng. Với quan điểm cho vay hộ nghèo như trên, vấn đề chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo ở Ngân hàng Chính sách xã hội không thể hiểu theo nghĩa chất lượng tín dụng thông thường như ở các Ngân hàng thương mại khác (tức là được định lượng bằng doanh số cho vay, doanh số thu nợ, lợi nhuận). Chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo được định lượng thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ nghèo của NHCSXH (khả năng tiếp cận hộ nghèo). Kết quả mà đồng vốn đem lại như số hộ thoát khỏi nghèo đói, trình độ sản xuất, kinh doanh của hộ nghèo được nâng lên. Để đảm bảo chất lượng tín dụng NHCSXH phải có nguồn vốn đủ lớn, ngoài cân bằng thu, chi còn bổ sung tăng trưởng và bảo toàn vốn tự có cho chính mình . Trong những năm qua, NHCSXH huyện Như Thanh đã phục vụ tốt chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo. Đáp ứng nguồn vốn kịp thời phục vụ hộ nghèo phát triển sản xuất và chăn nuôi…. NHCSXH đã góp sức cùng các ban ngành, đoàn thể xã hội và bà con nông dân nghèo trong huyện làm hạ tỷ lệ hộ nghèo đói. Ngân hàng Chính sách Xã hội Như Thanh trong hơn 8 năm qua đã giúp cho hộ nghèo trên địa bàn vay vốn kết quả 2341 hộ thoát nghèo, nguồn vốn đã giải ngân tới tận tay hộ nghèo, không thông qua tổ chức trung gian, vốn đầu tư đúng đối tượng, chủ yếu là cho vay sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tạo điều kiện cho hộ nghèo có việc làm, đời sống vì thế mà ngày càng được cải thiện, góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương cũng như trong cả nước. Qua các lớp tập huấn do NHCSXH tổ chức trình độ hiểu biết về chính sách, quy trình nghiệp vụ cho vay đối với tổ trưởng được nâng lên, thực hiện tốt trách nhiệm trong hợp đồng đã ký với NHCSXH . Có thể nói rằng chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện Như Thanh nhìn chung còn có những mặt hạn chế. Do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu nhất vẫn là do khí hậu khắc nghiệt dẫn đến mất mùa, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp. Có nhiều hộ vay vốn bị thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng gây ra nhưng chưa được các cấp, các ngành quan tâm xử lý theo chế độ quy định như: giản nợ, khoanh nợ ... Do hoạt động của một số tổ vay vốn còn mang tính hình thức, chỉ quan tâm đến Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 30 - vấn đề giải ngân, chưa quan tâm đến việc kiểm tra sử dụng tiền vay không đôn đốc thu lãi, thu nợ khi đến hạn. Trong khi lực lượng cán bộ tín dụng của NHCSXH lại quá mỏng chưa đủ để dàn trải quản lý các món vay theo quy định. 2.2.3 Một số các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay hộ nghèo 2.2.3.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho vay hộ nghèo  Tổng số lượt hộ được vay vốn Bảng 2.1: Bảng thống kê doanh số cho vay hộ nghèo(Nguồn: Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh) Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010/2009 2011/2010 +/- % +/- % 1. Tổng doanh số cho vay Triệu 79.842 92.273 101.243 12.431 15,6 8.970 9,7 2. Doanh số cho vay hộ nghèo Triệu 37.152 40.471 49.115 3.319 8,9 8.644 21,3 2. Số lượt hộ nghèo vay vốn Triệu 7.920 9.245 10.658 1325 16,7 1413 15,3 3. Dư nợ bình quân 1 hộ Triệu 11,36 14,27 16,43 2,91 25,6 2,16 15,1 4. Tổng số hộ nghèo, đói Hộ 10.562 10.156 12.718 -406 - 2562 - 5. Số hộ thoát nghèo Hộ 297 406 105 - - - - Qua bảng số liệu trên cho ta thấy từ năm 2009 đến 2010 là giai đoạn thực hiện chương trình dự án xoá đói giảm nghèo của huyện Như Thanh là rất tốt hiệu quả cho vay vốn đối với hộ nghèo, kết quả cho thấy là có tới 406 hộ thoát nghèo. Năm 2010 đến năm 2011 qua bảng số liệu ta thấy nguồn vốn cho vay hộ nghèo tăng lên rất lớn nhưng số hộ thoát nghèo không tương xứng và số hộ nghèo lại tăng lên. Nhưng thực chất lại không phải như vậy, lý do khiến cho số hộ thoát nghèo không cao và số hộ nghèo lại tăng lên một cách nhanh chóng như vậy là bởi vì theo tiêu chí mới để đánh giá lại hộ nghèo tăng lên một cách đáng kể so với chỉ tiêu củ. Số hộ đói nghèo cả tỉnh theo số liệu điều tra chuyển sang năm 2009 là: 10.562 hộ/ 98.943 hộ toàn tỉnh và năm 2011 là: 12.718 hộ/ 182.439 hộ toàn tỉnh. Nhìn chung, qua bảng số liệu ta nhận thấy Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 31 - doanh số cho vay hộ nghèo của phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh đến với các hộ nghèo qua các năm không ngừng tăng lên, điều đó thể hiện sự quyết tâm của Đảng bộ, Chính quyền Huyện trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Có được kết quả như trên là do phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh đã phối kết hợp cùng các ban ngành trong tỉnh tham gia đồng bộ, từ khâu chuẩn bị tài liệu tập huấn nghiệp vụ đến khâu giải ngân, hướng dẫn các tổ trưởng về quản lý, sử dụng vốn, nâng cao trách nhiệm của từng ngành, từ đó đảm bảo từng món vay có hiệu quả. 2.2.3.2 Khả năng đôn đốc thu lãi, thu nợ gốc  Tỷ lệ thu lãi trong năm Bảng 2.2: Tỷ lệ thu lãi qua các năm 2009-2011(Nguồn:Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh) Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010/2009 2011/2010 +/- % +/- % 1. Lãi đã thu trong năm Triệu 9.602 13.218 15.477 3.616 37,6 2259 17,1 2. Tổng lãi phải thu trong năm Triệu 10.012 13.976 16.007 3.964 39,6 2.031 14,5 3. Tỷ lệ thu lãi % 95,9 94,57 96,68 - - - - Số lãi phải thu tăng lên qua hằng năm, điều đó cho thấy quy mô nguồn vốn cho vay ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện giúp cho các hộ nghèo tiếp cận được với nguồn vốn vay lớn hơn. Từ đó có thể lựa chọn các phương án tốt nhất và hiệu quả nhất để phát triển kinh tế. Từ đó giúp gia tăng nguồn thu của các hộ vay vốn và các hộ vay vốn sẻ có thu nhập để trả lãi và trả tiền gốc vốn vay cho ngân hàng, điều đó giúp cho hoạt động cho vay của ngân hàng cũng như công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả ngày càng cao. Qua bảng trên ta nhận thấy tỷ lệ lãi đã thu trong năm so với tổng lãi phải thu trong các năm không quá trênh lệch nhau giao động từ 94% - 96%. Điều đó cho thấy khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng là rất tốt. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 32 -  Tỷ lệ thu nợ đến hạn Bảng 2.3: Tỷ lệ thu nợ đến hạn các năm 2009-2011(Nguồn: Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh) Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010/2009 2011/2010 +/- % +/- % 1. Doanh số thu nợ đến hạn Triệu 35.240 33.852 61.102 -1.388 - 27.250 - 2. Tổng dư nợ đến hạn Triệu 36.439 35.677 40.335 -762 - 4.658 - 3. Tỷ lệ thu nợ đến hạn % 96,71 94.88 96,94 - - - - Tổng dư nợ đến hạn ở các năm là không đồng đều và cũng không tăng lên hàng năm mà có thể thấp hơn năm trước, như năm 2010 dư nợ đến hạn thấp hơn năm 2009 là: 762 triệu. Điều này do cơ cấu nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo là nguồn vốn trung và dài hạn, dựa trên nhu cầu vay của hộ nghèo mà quyết định thời hạn cho vay nên. Cho nên vấn đề dư nợ đến hạn qua các năm khác nhau. Nhưng qua bảng trên ta nhận thấy doanh số thu nợ đến hạn trong năm so với tổng dư nợ đến hạn trong năm không quá trênh lệch nhau, tỷ lệ thu nợ này giao động từ 94% - 97%. Điều đó cho thấy khả năng đôn đốc, thu hồi nợ đến hạn và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng là rất tốt.  Tỷ lệ nợ quá hạn Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn các năm 2009-2011(Nguồn: Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh ) Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010/2009 2011/2010 +/- % +/- % 1. Nợ quá hạn Triệu 1.199 1.825 1.233 626 - -592 - 2. Tổng dư nợ Triệu 129.633 178.452 205.345 48.819 37,6 26.893 15,1 3. Tỷ lệ nợ quá hạn % 0,92 1.02 0,6 - - - - Trong 3 năm từ năm 2009-2011 ta thấy rằng năm 2010 là năm có tình trạng nợ quá hạn cao nhất nhưng nó cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng dư nợ là 1,02 %. Có thể nói tình khả năng đôn đốc thu lãi trong năm 2010 kém hơn so với năm 2009 và năm 2011 nhưng nhìn chung qua thống kê nợ Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 33 - quá hạn tại Phòng giao dịch NHCSXH Huyện qua 3 năm từ năm 2009 – 2011 là không quá 1,02%. Điều đó cho thấy khả năng đôn đốc thu hồi nợ của cán bộ tín dụng là rất tốt, cũng như khả năng quản lý và sử dụng vốn của các hộ nghèo có hiệu quả cao, nên có tiền trả nợ đúng hạn, tình trạng chây ì, không có thu nhập để trả nợ giảm. Điều đó cho ta thấy sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền tại địa phương đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt để cán bộ Ngân hàng có thể cung ứng vốn cho người dân và ngược lại người dân có cơ hội để tiếp cận với các nguồn vốn, từ đó phát huy tối đa hiệu quả sử dụng vốn. Giúp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo ngày càng trở nên nhanh chóng hơn. 2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh 2.3.1 Những thành công Với những chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ giao, được tổ chức thực hiện trên địa bàn đã từng bước đi vào cuộc sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đã phát huy hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế , xã hội mà còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn. 2.3.1.1 Hiệu quả về kinh tế Theo số liệu thống kê của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện,sau hơn 8 năm hoạt động Phòng giao dịch NHCSXH Huyện đã góp phần giúp cho hơn 2.400 hộ thoát khỏi ngưỡng nghèo đói theo chuẩn mực của Bộ Lao động Thương binh xã hội và hàng ngàn hộ khác đang vươn lên thoát khỏi nghèo đói trong vài chu kỳ sản xuất tới. Với mô hình tổ chức hiện tại NHCSXH huyện Như Thanh thực hiện cho vay thông qua 04 tổ chức nhận uỷ thác. Bên nhận uỷ thác là người thu lãi trực tiếp đến người vay và thực hiện nhiều công đoạn trong quy trình cho vay do đó tiết giảm được chi phí quản lý của Ngân hàng, tiết kiệm chi phí xã hội do tận dụng con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của bên nhận uỷ thác nên vốn tạo lập được dành để cho vay hộ nghèo trên phạm vi toàn quốc. Phân định rõ ràng nguồn vốn và sử dụng vốn, quản lý hạch toán theo hệ thống riêng của NHCSXH. Vốn của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện đã trực tiếp đến với hộ nghèo cần vốn. Hầu hết vốn vay đã được sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh, đã và đang phát huy hiệu quả kinh tế. Một số địa phương đã lồng ghép chương trình kinh tế xã hội khác như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, kế hoạch hoá gia đình, nâng cao dân trí, xoá mù chữ nên vốn vay đã phát huy hiệu quả thiết thực. Hình thức cho vay hộ nghèo thông qua ủy thác cho 4 tổ chức hội, NHCSXH huyện Như Thanh đã tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa nhân Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 34 - dân với các cấp chính quyền, đoàn thể, hạn chế và dần xóa bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội. Thêm vào đó đã giúp cho các hộ nghèo có nguồn vốn để phát triển kinh tế nâng cao đời sống, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân. Kết quả cụ thể như sau:  Đối với người nghèo Góp phần nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn, đạt 2.000.000 đồng/1 nhân khẩu/năm, tăng 17,2% so với năm 2010. Thông qua nguồn vốn quỹ quốc gia về việc làm, trong năm 2011 đã cho vay 280 dự án với số tiền 205.345 triệu đồng. Chương trình cho vay học sinh sinh viên đã tạo điều kiện cho hơn 2.894 hộ có học sinh sinh viên được vay vốn để học tập. Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường đã phát huy hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, với hơn 1500 công trình vệ sinh được xây dựng trong năm, 2.273 hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn cũng đều được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng. Hoạt động cho vay của Phòng giao dịch NHCSXH đã thực hiện xã hội hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới, gắn bó với chính quyền. Các đoàn thể tập hợp được hộ viên ngày càng nhiều, lồng ghép được các chương trình khuyến nông, khuyến lâm và hướng dẫn tạo điều kiện cho hộ nghèo biết sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi…theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đã tạo cho hộ nghèo có cơ hội phát triển kinh tế vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, điển hình như cô Lê Thị Mỳ, chị Quách thị Dơn ở thôn Thanh Sơn xã Phú Nhuận. Trước đây gia đình các chị là những hộ nghèo đặc biệt thiếu vốn làm ăn, bế tắc trong thu nhập, song từ khi được vay vốn ưu đãi của Phòng giao dịch NHCSXH kết hợp với tiếp thu các kiến thức khoa học và kinh nghiệm làm ăn của các chị em khác về chăn nuôi bò sinh sản, bò vỗ béo đã đem lại lợi nhuận cho gia đình từ 8 đến 10 triệu đồng/năm. Đến nay, các chị đã vươn lên thoát nghèo, tu sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện sinh hoạt trong gia đình, trang trải cho con ăn học đến nơi đến chốn. Những kết quả to lớn ấy đạt được là nhờ vào những giải pháp điều hành của ban giám đốc Sở giao dịch NHCSXH tỉnh Thanh Hóa, ban đại diện hội đồng quản trị NHCSXH Huyện, ban giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH Huyện và nhất là đã thực hiện xã hội hoá hoạt động Phòng giao dịch NHCSXH Huyện thông qua phương thức cho vay uỷ thác từng phần qua các tổ chức hội đoàn thể. Xây dựng hệ thống điểm giao dịch đến tận khắp các xã, thị trấn, đưa hoạt động của NHCSXH đến "gần nhà" người nghèo và các đối Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 35 - tượng chính sách. Đây là mô hình đặc thù riêng chỉ có ở NHCSXH, đã tạo nên động lực, điều kiện tiên quyết đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đi vào cuộc sống của nhân dân.  Đối với Phòng giao dịch NHCSXH Huyện Từ những kết quả của hoạt động cho vay đã làm cho hoạt động tài chính của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh luôn đảm bảo thu lớn hơn chi, mức chênh lệch thu chi không ngừng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, góp phần nâng cao thu nhập của cán bộ công nhân viên, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước. Từ hiệu quả đạt được trong hoạt động tài chính, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh cũng đã đóng góp to lớn vào việc cải thiện đời sống của những người nghèo và gia đình chính sách tại địa phương. Cụ thể Phòng giao dịch NHCSXH Huyện đã tiến hành góp tiền xây nhà tình nghĩa cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sở dĩ đạt được kết quả như trên là vì ban lãnh đạo Phòng giao dịch NHCSXH Huyện luôn chú trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết nội bộ bền vững trong toàn đơn vị, tạo nên sự đồng thuận cao trong điều hành. Ngoài ra NHCSXH Huyện cũng có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn, trẻ và tràn đầy nhiệt huyết, có thái độ và tinh thần làm việc tích cực, hiệu quả. 2.3.1.2 Hiệu quả về mặt xã hội Việc ra đời NHCSXH huyện Như Thanh là một chủ trương sáng suốt của Đảng, phù hợp với lòng dân. Do đó đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp. Kết quả hơn 8 năm hoạt động đã tạo được lòng tin và ấn tượng tốt đẹp trong nhân dân, đặc biệt là nông dân nghèo rất phấn khởi và ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước Nguồn vốn tín dụng đã phát huy hiệu quả, góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 10,67% năm 2009 xuống còn 10,19% năm 2010, giảm 0,48% so với năm trước. Năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo tăng lên do chỉ tiêu đánh giá mới( theo Bảng 2.1). Nhưng vốn tín dụng đã đến hộ nghèo đạt 108% (trong đó bao gồm số hộ đã thoát nghèo năm 2010 nhưng vẫn còn dư nợ tại ngân hàng), hộ chính sách đạt 48,9% đã tạo điều kiện cho cuộc sống của người dân nghèo và các đối tượng chính sách ngày càng được cải thiện, góp phần ổn định tình hình an ninh - xã hội trên địa bàn. Thực hiện kênh tín dụng cho vay hộ nghèo đã thể hiện tính nhân văn, nhân ái, lương tâm và trách nhiệm của cộng đồng đối với hộ nghèo, góp phần củng cố khối liên minh công nông và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN Việt Nam. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 36 - NHCSXH Huyện đã thực hiện tốt dịch vụ tín dụng đối với hộ nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, một chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, nâng cao uy tín và vị thế của NHCSXH. Với phương châm hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, việc cho vay thực hiện theo nguyên tắc công khai, dân chủ, tổ chức giao dịch tại các điểm giao dịch xã…Hoạt động của NHCSXH trong những năm qua đã được sự đồng tình, hưởng ứng rất cao của nhân dân. Qua đó đã xuất hiện những cá nhân, hội đoàn thể xã, tổ TK&VV thực hiện tốt công tác ủy thác như: Hội phụ nữ xã Mậu Lâm, Xuân Phúc; Hội nông dân xã Mậu Lâm, Phúc Đường, Xuân Du; Hội cựu chiến binh xã Phú Nhuận, Hải Vân… Đồng thời cũng góp phần nâng cao vai trò kiểm tra kiểm soát thông qua sự điều hành của ban đại diện hội đồng quản trị các cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự nguyện, tự giác của các tổ TK&VV thông qua việc bình xét công khai, dân chủ. Điều này bộc lộ rõ tính nhân dân sâu sắc tronghoạt động tín dụng của NHCSXH 2.3.1.3 Hiệu quả về góp phần an ninh- xã hội Do đặc thù của NHCSXH là sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước huy động để cho vay thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, do đó hoạt động của NHCSXH luôn có sự tham gia lãnh đạo của chính quyền các cấp và sự phối hợp đồng bộ của các tổ chức chính trị xã hội. Trong đó lãnh đạo các ngành quản lý nhà nước tham gia Ban đại diện HĐQT huyện gồm 9 cơ quan, với 10 thành viên, 4 hội đoàn thể tham gia làm nhiệm vụ ủy thác từ huyện đến xã, với hơn 60 thành viên tham gia, và mạng lưới tổ TK&VV lên đến 372 tổ để phục vụ kịp thời nhu cầu tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Xây dựng mô hình hoạt động gần dân, thông qua 17 điểm giao dịch xã, chất lượng hoạt động của NHCSXH Huyện ngày càng được nâng cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn.Với mạng lưới hoạt động rộng khắp, đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn và tâm huyết với công việc, luôn sẵn sàng phục vụ nhân dân nên hoạt động của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện trong những năm qua luôn được các cấp ủy, chính quyền dịa phương ghi nhận và đánh giá cao, xem NHCSXH như là một công cụ tích cực thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị nâng cao năng lực hoạt động. Tóm lại, từ thực tiễn cho thấy chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo có hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế xã hội, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước với chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 37 - 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục  Hoạt động cho vay Một là, Nguồn vốn cho vay chưa đáp ứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn của hộ nghèo trên địa bàn toàn Huyện. Các hộ nghèo hầu như không có tích lũy nên muốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh thì họ đều lệ thuộc gần như hoàn toàn vào vốn vay. Tuy nhiên thủ tục xét duyệt để cấp vốn hiện nay còn tốn nhiều thời gian. Hơn nữa nguồn vốn còn bị hạn chế, người sau muốn vay phải chờ vốn thu hồi của người vay trước và chính vì vậy số lượng vốn vay ban đầu thường được tổ TK&VV bình xét cho vay quá nhỏ chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Trong khi đó đến hạn, có những người nghèo vẫn đang sử dụng vốn vào việc sản xuất chăn nuôi chưa đến kỳ thu hoạch nên chưa trả được nợ, đồng thời vẫn có nhu cầu vốn đầu tư thêm để phát triển. Nếu phải trả nợ để vay thêm nhiều hơn theo yêu cầu thì buộc họ phải đi vay ngoài với lãi suất cao hoặc bán sản phẩm với giá thấp sẽ bị thua thiệt nhiều. Hai là,về đối tượng vay vốn. Nguyên tắc đặt ra là NHCSXH cho hộ nghèo vay vốn theo chuẩn mực phân loại hộ đói nghèo do Bộ Lao động thương binh và xã hội công bố từng thời kì, song phải là hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất. Nhưng trong thực tế việc xác định đối tượng hộ nghèo vay vốn còn nhiều bất cập. Theo cơ chế phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất nhưng việc lập danh sách hộ nghèo vay vốn ở địa phương do cộng đồng dân cư thực hiện được ban xóa đói giảm nghèo xã bình xét nên phụ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng địa phương bởi vậy mang tính tương đối và có sự khác nhau về chuẩn mực đói nghèo giữa các địa phương. Ở nhiều địa phương, việc xét chọn từ ủy ban nhân dân xã chỉ là việc lập danh sách hộ nghèo không có đủ điều kiện và năng lực tổ chức sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc những hộ không phải là hộ nghèo. Ba là,việc thực hiện các công đoạn nhận ủy thác của các tổ chức chính trị xã hội cấp cơ sở ở một số nơi chưa đầy đủ, nhất là công tác kiểm tra sau khi cho vay, công tác xử lý nợ đến hạn, nợ quá hạn, đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi… Bốn là,hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo là hoạt động có tính rủi ro cao. Ngoài những nguyên nhân như thiên tai bão lụt, dịch bệnh cây trồng vật nuôi…thường xảy ra trên diện rộng, thiệt hại lớn còn có những nguyên nhân khác từ bản thân hộ nghèo như thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được…ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư. Năm là, về phương thức cho vay: Phương thức cho vay đối với hộ nghèo khá đơn giản tuy nhiên vẫn còn bị hạn chế về số lượng vốn và phải đủ số thành viên để thành lập tổ nhóm mới được vay. Khi người này cần vốn thì Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 38 - không đủ người để thành lập nhóm, khi đã đủ người thành lập nhóm rồi thì họ lại không cần vốn nữa. Chính vì vậy đã tạo nên sự “khập khiễng” trong khi cho vay, vốn không đáp ứng được kịp thời cho nông dân nghèo đúng thời điểm. Hoặc quy định trả nợ xong lần trước mới cho vay lần sau là quá cứng, bởi vì lượng vốn được vay ban đầu là quá nhỏ chưa đáp ứng đủ nhu cầu, người nghèo đang sử dụng vào chăm sóc cây trồng hoặc vật nuôi nên không trả được nợ. Nếu phải trả nợ để vay thêm nhiều hơn theo yêu cầu thì buộc họ phải đi vay ngoài với lãi suất cao hoặc bán sản phẩm với giá thấp sẽ bị thua thiệt nhiều. Sáu là,về mức phân loại hộ nghèo: Nếu như theo đúng tiêu chuẩn phân định hộ nghèo thì chính những người nghèo nay lại không mấy khi được vay vốn. Ngay cả tiêu chí mới nhất theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg “Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015” ngày 30/1/2011 của Thủ tướng chính phủ. Tiêu chí mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày, còn rất nhiều nhu cầu khác như đi lại, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần…chưa được tính đến (thực chất đó chỉ là những hộ đói). Trong thực tế những hộ nghèo có thể vay vốn và có đủ điều kiện vay vốn lại rất lớn và thậm chí không nằm trong danh sách hộ nghèo theo phân định. Hiện nay, NHCSXH chỉ căn cứ vào danh sách mà ban xóa đói giảm nghèo của xã, huyện lập ra còn bị ràng buộc bởi nhiều vấn đề như chỉ tiêu thi đua xã văn hóa, tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, khả năng ngân sách của từng địa phương dành cho công tác xóa đói giảm nghèo…chứ không căn cứ và tiêu thức phân định hộ nghèo đã qui định và xác định một cách khách quan. Đây là vấn đề cần xem xét lại.  Về hoạt động thu lãi, thu nợ gốc đến hạn quá hạn Một là, Mức thu lãi từ hoạt động tín dụng chưa cao do hiệu quả của nguồn vốn vay còn hạn chế. Với trình độ có hạn, nhiều khi những hộ nghèo vay vốn rồi nhưng chưa biết sử dụng vào mục đích gì để cho có hiệu quả, nếu có thì chỉ là chăn nuôi nhỏ, nhưng điều kiện thực tế của gia đình lại rất tốt nếu như biết quy hoạch lại. Bên cạnh đó ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm chỉ đạo công tác cho vay xóa đói giảm nghèo nên khi triển khai thành lập tổ nhóm vay vốn còn gặp nhiều khó khăn, việc phối hợp chỉ đạo còn nhiều hạn chế. Từ đó làm cho hiệu quả cho vay giảm xuống. Công tác tuyên truyền vận động, tổ chức tập huấn đào tạo cho đội ngũ tổ trưởng tổ TK&VV chưa làm tốt dẫn đến tình trạng hiểu nhầm vốn cho vay của NHCSXH như một khoản trợ cấp xã hội, nên nhiều hộ sử dụng sai mục đích, chi tiêu cho các nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thiếu ý thức trả nợ gốc và lãi. Hai là, Cho vay hộ nghèo với đặc điểm về đối tượng là những hộ Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 39 - nghèo thiếu kiến thức, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa lý tự nhiên khó khăn nên tính rủi ro trong cho vay cao. Nợ quá hạn đang có xu hướng ngày càng gia tăng, đây là một vấn đề cần phải nghiên cứu và quan tâm trong quản trị điều hành. Vấn đề cần nói đến là khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải có vốn để bù đắp. 2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh 2.4.1 Quan điểm cho vay hộ nghèo tại NHCSXH NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, cho vay hộ nghèo là giải pháp hỗ trợ vốn nhằm giải quyết công ăn việc làm tiến tới thoát nghèo vươn lên làm giàu. Hiện nay, NHCSXH thực hiện cho vay hộ nghèo với lãi suất ưu đãi. Đây là nguồn vốn tín dụng với tính chất hoàn trả cả gốc và lãi, khác cơ bản so với nguồn vốn cấp phát mang tính trợ cấp xã hội. Cho vay hộ nghèo đòi hỏi phải có thời gian tương đối dài để hộ nghèo từng bước thích nghi với sản xuất hàng hoá, làm quen với hạch toán kinh tế và tạo được một nguồn thu nhập vững chắc đảm bảo khả năng trả nợ và tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập . Trên cơ sở những định hướng hoạt động và quán triệt quan điểm trên , việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Như Thanh cần tập trung vào các giải pháp nhằm đưa chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao. 2.4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện Như Thanh 2.4.2.1 Thực hiện đúng các quy định cho vay Thực hiện đúng, nghiêm túc quy trình tín dụng từ khâu xét duyệt cho vay và cuối cùng là thu nợ có ý nghĩa quan trọng, quyết định chất lượng tín dụng của NHCSXH. Nó tạo điều kiện thực hiện chế độ tín dụng công khai và dân chủ trong cộng đồng người nghèo, đồng thời cung ứng vốn kịp thời đúng đối tượng. Hiện nay, nhìn chung công tác cho vay đã thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ cho vay (theo Quyết định số 136/QĐ-NHCSXH). Tuy nhiên, để vốn tín dụng của NHCSXH được cung ứng kịp thời tới đúng đối tượng, phù hợp với nhu cầu sản xuất, chăn nuôi của hộ nghèo thì NHCSXH huyện Như Thanh cần phải chú trọng hơn nữa những mặt sau:  Xác định đối tượng cho vay Trong địa bàn tỉnh có một số địa phương chưa xác định rõ ràng được Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 40 - đối tượng vay vốn, nên đã đưa cả những hộ đói tuy có sức lao động nhưng không có khả năng sử dụng vốn tín dụng hoặc những hộ già cả neo đơn không có sức lao động… vào danh sách hộ nghèo được vay vốn. Điều này đã dẫn đến quan niệm sai lầm coi tín dụng đối với hộ nghèo là hình thức cấp phát, mang tính trợ cấp xã hội làm cho hiệu quả sử dụng vốn thấp. Theo quy định chung về cho vay hộ nghèo của NHCSXH, thì NHCSXH cấp tín dụng trên nguyên tắc “cho vay hộ nghèo có sức lao động , có khả năng sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn”. Như vậy cho vay hộ nghèo cần lựa chọn người vay có điều kiện sử dụng vốn, có điều kiện hoàn trả, tránh biến họ thành các con nợ không lối thoát.  Xác định mức vay, thời hạn cho vay và kỳ hạn nợ Mức cho vay phải được xác định dựa vào nhu cầu sản xuất, chăn nuôi của hộ nghèo (giống, cây, con…) và giá cả trên thị trường, nguồn vốn của Ngân hàng chính sách, nguồn trả nợ của người vay. Thời hạn cho vay và kỳ hạn thu nợ phải xác định rõ dựa vào chu kỳ sản xuất của cây trồng, vật nuôi. Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ sản xuất theo công thức sau: Thời hạn cho vay = Chu kỳ sản xuất + thời gian tiêu thụ sản phẩm. Áp dụng chính xác công thức trên thì các hộ nghèo mới đảm bảo được thời gian thu hồi vốn để trả nợ. Điều kiện để thực hiện giải pháp: Cán bộ tín dụng phải có kiến thức, kinh nghiệm về cây trồng, vật nuôi… đồng thời phải tâm huyết với hộ nghèo.  Nâng cao chất lượng tín dụng tổ nhóm NHCSXH huyện Như Thanh cho vay trực tiếp tới hộ nghèo thông qua mô hình tổ nhóm, hoạt động của tổ nhóm vay vốn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác cấp tín dụng cho hộ nghèo. Hộ nghèo muốn vay vốn của NHCSXH thì phải là thành viên của tổ TK&VV, việc bình xét hộ nào được vay, số tiền là bao nhiêu, thời gian vay,thời gian trả nợ đề được thực hiện tại tổ. Nếu trong quá trình sử dụng vốn hộ vay gặp rủi ro thì tổ chính là nơi lập biên bản đề nghị cấp trên để xử lý. Do đó, cũng cố tổ chức lại các tổ TK&VV tại các thôn, bạn là một trong những khâu trọng yếu, quyết định chất lượng hoạt ddoogj của tín dụng chính sách. Vì vậy, NHCSXH huyện Như Thanh cần phối hợp với chính quyền địa phương các cấp để chỉ đạo, nâng cao chất lượng hoạt động tổ nhóm, để tổ nhóm thực sự trở thành “cầu nối” giữa NHCSXH và khách hàng thì cần phải tiếp tục sắp xếp lại các tổ vay vốn như sau: Thành lập tổ phải theo địa bàn xóm, bản mỗi xóm, bản tối thiểu phải 01 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 41 - tổ; số lượng thành viên một tổ từ 25-50 người; nhất thiết không thành lập tổ theo liên xóm; số lượng tiền vay trong một tổ duy trì thường xuyên 200 triệu đồng trở lên, duy trì việc sinh hoạt đều đặn theo quy định (01 quý/01 lần). Nội dung sinh hoạt tổ phải thiết thực và bổ ích. Trong sinh hoạt tổ có thể kết hợp tập huấn các nghiệp vụ như: Khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm để tăng cường năng lực SXKD cho người vay; tăng cường sự tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống giữa các thành viên trong tổ. NHCSXH cần kết hợp với các tôt chức nhận ủy thác cấp huyện, xã tăng cường công tác đào tạo tập huấn đối với ban quản lý tổ. Ban quản lý tổ có 3 người, tốt nhất là người làm kinh tế giỏi, không phải hộ nghèo. Thành viên ban quản lý tổ phải là người có sức khỏe tốt, có uy tín với nhân dân, có khả năng làm việc lâu dài cho tổ và không phải là ban chấp hành hội cấp xã. Việc theo dõi, quản lý nợ, hạch toán ghi chép và lưu trữ hồ sơ sổ sách của ban quản lý tổ phải khoa học, đầy đủ, đúng theo quy. Thực hiện bình xét công khai, dân chủ để lựa chọn tổ trưởng và lãnh đạo tổ là những người có năng lực, có đạo đức và tâm huyết đối với hộ nghèo. Duy trì và củng cố các tổ nhóm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bằng cách thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho tổ nhóm, để tăng nhận thức và nâng cao trách nhiệm. Chi trả đầy đủ kịp thời hoa hồng cho tổ trưởng nhằm động viên họ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Tăng cường kiểm tra giám sát tổ trưởng tránh tình trạng tổ trưởng thu nợ, thu lãi không nộp vào Ngân hàng. 2.4.2.2 Đẩy mạnh cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội Do đặc điểm đối tượng phục vụ của NHCSXH là ngân hàng phục người nghèo và các đối tượng chính sách nằm ở khắp mọ miền đất nước. Nhất là khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để tạo điều kiện giảm chi phí cho người vay, NHCSXH thực hiện phát tiền vay trực tiếp đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại các điểm giao dịch tại trung tâm xã(UBND Xã). Do biên chế cán bộ ít và nhằm tiết giảm chi phí nên NHCSXH đã thực hiện cơ chế ủy thác từng phần qua các tổ chức chính trị - xã hội(hội Nông dân, hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên); Có 9 công đoạn trong quy trình tín dụng thì NHCSXH ủy thác 6 công đoạn: từ việc tuyên truyền chính sách cảu chính phủ đến người dân; hướng dẫn thành lập tổ vay vốn và họp bình xét hộ được vay vốn; thông báo kết quả cho vay đến người vay; kiểm tra giám sát và đôn đốc người vay trả nợ; phối hợp với NHCSXH để xử lý rủi ro; thực hiện thu lãi; tổ chức tập Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 42 - huấn cho cán bộ hội và ban quản lý tổ vay vốn. Trong thời gian qua công tác ủy thác cho vay thông qua các tổ chức hội của phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh vẫn cò một số tồn tại. Do đó phải tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phương thức cho vay ủy thác từng phần qua các tổ chức chính trị - xã hội trong thời gian tới, cần thực hiện một số việc sau: Duy trì thường xuyên lịch giao ban giữa ban lãnh đạo Phòng giao dịch NHCSXH Huyện với lãnh đạo tổ chức hội nhận ủy thác theo định kỳ(2 tháng/ lần). Nội dung giao ban: Các tổ chức hội có báo cáo đánh giá kết quả hoạt động ủy thác của tỏ chức mình trong quý, rút ra những việc làm tốt và những tồn tại, nguyên nhân. Từ đó đề ra các giải pháp khắc phục, đồng thời đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. NHCSXH có báo cáo tổng hợp về tình hình giải ngân, thu lãi, thu gốc, trả tiền hoa hồng và phí ủy thác...Đồng thời, cung cấp cho các tổ chức nhận ủy thác các văn bản nghiệp vụ liên quan đến hoạt động cho vay của NHCSXH. Ngoài ra, hàng tháng giữa NHCSXH và tổ chức hội các cấp thường xuyên trao đỗi thông tin cho nhau về tình hình cho vay, thu nợ, nợ quá hạn...Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức nhận ủy thác. 2.4.2.3 Cấp tín dụng phải kết hợp với các hình thức chuyển giao kỹ thuật Nếu chỉ đáp ứng vốn cho hộ nghèo mà không tập huấn các công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thì việc sử dụng vốn của hộ nghèo thấp, không muốn nói là không coa hiệu quả. Do đó, việc cấp tín dụng cho hộ nghèo muốn đạt được hiệu quả thì cần phải nâng cao trình độ sản xuất, chăn nuôi của hộ nghèo. Thực tế cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện Như Thanh cho thấy: việc cấp tín dụng cho hộ nghèo không được kết nối các chương trình chuyển giao kỹ thuật do vậy đem lại hiệu quả chưa cao. Vì vậy đồng thời với việc cấp tín dụng cho hộ nghèo cần phải chú ý đến những vấn đề sau: Trước khi cho hộ nghèo vay vốn thì phải tập huấn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, có thể là tập huấn theo quy mô xã hoặc tập huấn tại thôn, bản. Với phương thức “Cầm tay chỉ viêc” nội dung tập huấn phải rất cụ thể và phù hợp với đặc điểm, tập quán sản xuất canh tác và trình đọ dân trí từng vùng; Ngoài ra các tổ chức nhận ủy thác mở các lớp tập huấn cho các hội viên của mình, hoặc các hội tổ chức cùng nhau tập huấn. Công tác tập huấn phải có sự phối hợp của các phòng ban chuyên môn ở tỉnh, huyện, ban chấp hành các tổ chức nhận ủy thác cho vay ở huyện, xã duy trì và tổ chức thường xuyên. Nhằm giúp hộ nghèo có đủ điều kiện sử dụng vốn hiệu quả. Thực hiện đồng bộ các chính sách xoá đói giảm nghèo, lồng ghép chương trình tín dụng với chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 43 - ngư… và một trong những giải pháp có hiệu quả nhất là: Thực hiện chuyển vốn cho nông dân nghèo qua các dự án khả thi, các dự án này phải phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương. 2.4.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, tâm huyết với nghề nghiệp Con người là yếu tố quan trong quyết định đến mọi vấn đề nói chung chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo nói riêng; giải pháp đối với cán bộ cần phải thực hiện như sau:  Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về chuyên môn nghiệp vụ: Ngoài trình độ về nghiệp vụ chuyên môn thì cán bộ tín dụng cũng như các cán bộ Ngân hàng cần phải hiểu biết về quy trình sản xuất nông nghiệp, hiểu biết về kỹ thuật canh tác; cây trồng, vật nuôi… Để có được một cái nhìn sâu sắc nhất về tình hình sử dụng vốn của người dân. Từ đó đưa ra những quyết định tốt nhất giúp cho người dân sử dụng đồng vốn hiệu quả.  Từng bước đào tạo đội ngũ cán bộ có tâm huyết với công tác xoá đói giảm nghèo, chuyên tâm tới hoạt động cho vay hộ nghèo. Thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ, đặc biệt là có tâm huyết và khả năng làm việc lâu dài đó là điều kiện tốt để mở rộng tín dụng cũng như nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo. 2.4.3 Các giải pháp khác Để nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo NHCSXH phải có được nguồn vốn đủ lớn. Tự lập và chủ động nguồn vốn vì đây là điều kiện không thể thiếu để thực hiện công tác cho vay hộ nghèo. Bên cạnh đó, NHCSXH Huyện Như Thanh phải có màng lưới sâu rộng, để tiếp cận thị trường (khách hàng). 2.4.3.1 Tăng cường nguồn vốn cho vay hộ nghèo Nguồn vốn tại NHCSXH huyện Như Thanh trong những năm qua đã phản ánh một đặc điểm thực tế đó là nguồn vốn Trung ương chiếm tỷ trọng quá lớn (94 – 97%) . Những năm tới, để tăng cường nguồn vốn cho vay hộ nghèo NHCSXH huyện Như Thanh cần tập trung theo hướng sau: - Tiếp nhận, bảo tồn và phát triển nguồn vốn Trung ương giao. - Đẩy mạnh công tác huy động vốn tại địa phương, từng bước tự chủ về nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu cho vay hộ nghèo. - Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động làm cho mọi tầng lớp dân cư hiểu được chức năng của Ngân hàng Chính sách xã hội trong đó có chức năng huy động vốn . - Tích cực vận động, huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 44 - bằng hình thức tổ tiết kiệm vay vốn. - Tiến hành huy động vốn của các đơn vị kinh tế và tiết kiệm trong dân cư. - Chủ động tìm kiếm các nguồn uỷ thác và thực hiện các dự án lồng ghép. Trong những nội dung trên, việc tiến hành huy động vốn trong dân cư là một việc mới, nên rất khó khăn và phức tạp bởi vì NHCSXH cho vay với lãi suất ưu đãi nên lãi suất huy động cũng sẽ là rất thấp so với các ngân hàng thương mại khác nên rất khó để huy động, ngoài ra người dân còn chưa có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng. Mặt khác cơ sở vật chất của Ngân hàng chính sách xã hội còn thiếu thốn, tâm lý khách hàng thiếu an tâm khi gửi tiền. 2.4.3.2 Mở rộng mạng lưới dịch vụ Phát triển dịch vụ là một trong những yêu cầu hàng đầu của các Ngân hàng. Dịch vụ phát triển mạnh giúp cho NHCSXH có thêm nguồn vốn trong thanh toán, tăng nguồn thu đảm bảo khả năng tài chính, ngoài ra phát triển dịch vụ còn là cầu nối giữa NHCSXH và hộ vay vốn. Dịch vụ phát triển mạnh, lượng khách hàng tăng lên, thành phần khách hàng cũng đa dạng hơn, từ đó tạo thuận lợi cho NHCSXH trong việc tiếp thị, phát triển các nghiệp vụ của mình ra nhiều đối tượng khách hàng hơn. 2.5 Kiến nghị 2.5.1 Kiến nghị với nhà nước Đề nghị Nhà nước cấp đủ vốn điều lệ cho NHCSXH để có đủ tiềm lực tài chính để có thể chủ động thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Đề nghị Nhà nước sớm điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, có các chính sách phù hợp đảm bảo hội đủ 3 yếu tố cơ bản: Phù hợp thông lệ quốc tế, có tính thực tiễn cao và thực sự đi vào cuộc sống, phù hợp pháp luật. Xoá đói giảm nghèo có tính nhạy cảm cao, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài trách nhiệm không chỉ của riêng ai mà phải có sự phối hợp trách nhiệm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương; đề nghị Nhà nước có sự chỉ đạo chặt chẽ để các Bộ, Ngành liên quan nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình trong việc phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay xoá đói giảm nghèo, từng bước và tiến tới xã hội hoá việc cho vay hộ nghèo. Có chính sách đồng bộ trong việc phát triển kinh tế xã hội gắn với xoá đói giảm nghèo. Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ phạm vi quốc gia và quốc tế do vậy Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 45 - khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia hoặc vùng lãnh thổ phải coi trọng vị trí, nhiệm vụ công tác xoá đói giảm nghèo. Đối với từng giai đoạn lịch sử khác nhau, từng địa phương khác nhau phải có từng kế hoạch, từng chương trình xoá đói giảm nghèo cụ thể và hiệu quả; phải đặt công tác cho vay hộ nghèo trong tổng thể nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo ,bên cạnh cho vay phải hỗ trợ người nghèo về công nghệ, kỹ thuật, thuế… 2.5.2 Kiến nghị với Hội đồng quản trị và NHCSXH Việt Nam Sớm hoàn thiện cơ chế cho vay đồng bộ đối với hộ nghèo, đảm bảo hành lang pháp lý giúp các Chi nhánh cho vay thuận lợi đúng pháp luật có hiệu quả. Đặc biệt nghiên cứu cung cấp các phần mềm tiện ích phục vụ giao dịch thuận tiện, sớm kết nối mạng thanh toán toàn quốc để thực hiện các dịch vụ thanh toán nhằm tăng nguồn vốn trong thanh toán mở rộng quy mô hoạt động, tăng thu nhập đảm bảo tài chính. Đề nghị tăng biên chế cho các Phòng giao dịch tối thiểu 12 người để chuẩn bị cho việc nhận bàn giao vùng II,III vùng được giảm lãi. Nâng cấp phòng giao dịch lên Chi nhánh huyện, thị để thực hiện đầy đủ chức năng của một Ngân hàng theo yêu cầu nhiệm vụ được giao. Để tăng nguồn vốn cho vay hộ nghèo với lãi suất đầu vào thấp giảm cấp bù lãi suất, Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội đề xuất với Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan chỉ đạo Kho bạc Nhà nước mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Thực hiện được nội dung này Ngân hàng Chính sách sẽ có hàng ngàn tỷ đồng với lãi suất đầu vào thấp có điều kiện đáp ứng nhu cầu vay vốn đối với hộ nghèo. Đề nghị thực hiện khoán cơ chế tiền lương theo kết quả lao động (ưu tiên những huyện nghèo, xã nghèo ) để tăng động lực làm việc, khuyến khích mọi người hăng say lao động, cải tiến tăng năng suất và hiệu quả lao động. 2.5.3 Kiến nghị với UBND huyện Như Thanh Hiện nay trên địa bàn tỉnh còn nhiều nguồn vốn thuộc chương trình cho vay xoá đói giảm nghèo nằm rải rác ở một số ban, ngành, tổ chức xã hội. Các tổ chức này dùng nguồn vốn đó để cho các hội viên vay với lãi suất khác nhau. Tình trạng cho vay với lãi suất khác nhau khó đạt hiệu quả cao. UBND huyện sớm chỉ đạo các ngành, đoàn thể tập trung các nguồn vốn này vào NHCSXH để tăng cường nguồn vốn cho vay người nghèo, thực hiện cho vay theo một chế độ thống nhất. Chỉ đạo các cấp, các ngành có liên quan điều tra, thống kê chính xác số hộ nghèo để NHCSXH cho vay đúng đối tượng, có hiệu quả. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 46 - UBND huyện hàng năm trích một phần ngân sách địa phương tiết kiệm chi tiêu chuyển NHCSXH bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo - giải quyết việc làm. Chỉ đạo các cấp, các ngành quy hoạch các vùng, ngành tổ chức tốt việc khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao công nghệ kỹ thuật... giúp người vay vốn của NHCSXH có cơ hội đầu tư các dự án có hiệu quả. Đảm bảo an toàn đồng vốn cho vay đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành có liên quan phối, kết hợp tốt với NHCSXH trong việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân, tham ô, lợi dụng, vay ké, chây ì cố tình không trả nợ Ngân hàng. 2.5.4 Kiến nghị đối với Phòng giao dịch NHCSXH huyện Như Thanh - Thường xuyên mở các khóa tập huấn nâng cáo trình độ nghiệp vụ, trình độ tin học cho các cán bộ NHCSXH Huyện trực tiếp giao dịch với khách hàng. - Phòng giao dịch NHCSXH Huyện cần bổ sung thêm máy móc, thiết bị, công nghệ lưu động cho các phòng ban, nhất là phòng kế hoạch nghiệp vụ tín dụng bởi nó là phòng ban trực tiếp thực hiện giao dịch với khách hàng tại các điểm giao dịch, để tránh tình trạng không thể giao dịch tại các điểm giao dịch gây mất thời gian và gây khó khan cho các tổ trưởng và người dân. -Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở các đơn vị cấp xã, và các tổ chức hội được ủy thác để tránh tình trạng xâm tiêu, nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ mất trắng.... - Các cán bộ ở NHCSXH Huyện cần thông báo nhanh chóng, kịp thời đến các xã và các tổ chức hội khi nhận được các văn bản, thông báo từ Chính phủ, NHCSXH Tỉnh, ban HĐQT, ban giám đốc để tránh xảy ra tình trạng nộp báo cáo tổng kết sai, làm chậm tiến độ bàn giao số liệu ra Trung ương. 2.5.5 Kiến nghị đối với tổ chức Hội nhận ủy thác Thực hiện đầy đủ nội dung văn bản liên tịch, hợp đồng ủy thác đã ký kết, cần thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra đơn vị trực thuộc cấp huyện, cấp xã; các Tổ TK&VV, hộ vay vốn theo nội dung hướng dẫn tại Văn bản 251/NHCSXH-KTNB ngày 29/4/2009 của NHCSXH tỉnh Thanh Hoá, chỉ đạo thực hiện tốt việc bình xét đối tượng cho vay, giám sát việc sử dụng vốn vay và đôn đốc thu hồi nợ, giảm nợ quá hạn, tăng tỷ lệ thu lãi, phân loại nợ đảm bảo vốn đầu tư cho các đối tượng chính sách phát huy hiệu quả. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 47 - KẾT LUẬN Trong cuộc chiến chống đói nghèo còn nhiều khó khăn gian khổ không thể giải quyết một sớm, một chiều mà cần xác định lâu dài và quyết tâm thực hiện. Bằng mọi biện pháp trong đó cho vay hộ nghèo là biện pháp cần thiết để người nghèo suy nghĩ, trăn trở tìm cách sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đảm bảo khả năng trả nợ. Từ đó rèn luyện cho người nghèo cách tự lập chống lại với nghèo đói, vươn lên thoát nghèo. Việc Ngân hàng Chính sách xã hội cấp các khoản tín dụng và thực hiện chính sách cho người nghèo vay là một biện pháp tích cực, tác động tốt tới việc xoá đói giảm nghèo. Cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Như Thanh đã cho thấy mô hình này mới đi vào hoạt động và đang còn trong giai đoạn hoàn thiện, nhưng bước đầu khẳng định vai trò trách nhiệm cộng đồng giữa người nghèo rất thiết thực. Qua nghiên cứu thực trạng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Như Thanh, chuyên đề đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với cho vay hộ nghèo. Kết quả cho vay hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội thực sự có hiệu quả khi đời sống hộ nghèo được nâng lên, hộ đói nghèo giảm. Nghiên cứu chuyên đề này còn mới mẻ và phức tạp giữa lý luận, thực tiễn. Với nhận thức và trình độ còn hạn chế, nội dung thể hiện trong bài viết này chắc chắn còn có nhiều khiếm khuyết, bản thân em mong nhận được sự đóng góp quý báu của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Như Thanh, các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế, trường Đại Học Vinh và mọi người quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu trên để có tính thực tiễn cao, góp phần nhỏ bé này để sớm thực hiện thành công, công cuộc xoá đói giảm nghèo như mong muốn của toàn Đảng, toàn dân./. Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường đại học Vinh SV: Nguyễn Hoàng Giang 49B2 Tài chính ngân hàng - 48 - DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính của Fredric S-Misbkis – NXB khoa học và kỹ thuật 2002. 2. Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam – NXB Chính trị quốc gia 2001-2002. 3. Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay NXB Chính trị quốc gia. 4. Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 14/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ. 5. Điều lệ Ngân hàng Chính sách xã hội năm 2003. 6. Báo cáo thống kê huyện Như Thanh năm 2009. 7. Báo cáo kết quả xoá đói giảm nghèo hàng năm của huyện Như Thanh. 8. Báo cáo kết quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Như Thanh từ năm 2005 – 2011. 9. Tạp chí Ngân hàng hàng năm. 10. Trang chủ báo điện tử của NHCSXH Việt Nam: www.vbsp.org.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbao_cao_hoang_giang_6444.pdf
Luận văn liên quan