Đề tài Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011

Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tự như tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, bao gồm: (1) Phải đo lường được nhằm tránh những suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) Phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; (3) Phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với mụcc tiêu trung gian được lựa chọn. Căn cứ vào tiêu chuẩn trên, các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW bao gồm: lãi suất liên ngân hàng và dự trữ ngân hàng.

pdf65 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/05/2014 | Lượt xem: 2575 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đến giao dịch GTCG cũng như cơ sở để xác định mức độ can thiệp thị trường của NHNN. 2.1.2.2. Quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở Sau một thời gian chuẩn bị, nghiệp vụ thị trường mở chính thức được NHNN khai trương và đưa vào vận hành vào ngày 12/7/2000, đánh dấu một bước tiến quan trọng của NHNN trong việc chuyển sang điều hành CSTT bằng các công cụ gián tiếp. Trong thời gian 5 năm triển khai thực hiện, NHNN cũng đã tiến hành sửa đổi kịp thời các văn bản nhằm thúc đẩy sự hoạt động của thị trường như sửa đổi quy chế hoạt động OMO vào các năm 2001, 2002, 2003 và 2004; quy chế lưu ký GTCG được sửa đổi năm 2004, ... 2.1.2.2.1. Quy chế về nghiệp vụ thị trường mở Để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai công cụ OMO tại Việt Nam, ngày 09/3/2000, Thống đốc đã ban hành Quy chế hoạt động nghiệp vụ thị trường mở kèm theo Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN (gọi tắt là Quy chế 85). Theo đó, OMO là nghiệp vụ mua bán các GTCG ngắn hạn giữa một bên là NHNN với một bên là các TCTD là thành viên của thị trường mở trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTT quốc gia. Các GTCG ngắn hạn được giao dịch ở thị trường mở bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các loại GTCG ngắn hạn khác do Thống đốc quy định. Quy chế 85 cũng quy định về các giao dịch trên thị trường mở, phương thức giao Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 41 dịch, phương thức đấu thầu, điều kiện tham gia thị trường mở, các loại GTCG được giao dịch thông qua thị trường mở, quy trình tham gia OMO. Tuy nhiên, việc quy định về hình thức giao dịch đấu thầu lãi suất, ngày thanh toán, lãi suất mua hoặc bán, khối lượng mua hoặc bán ... tại Quy chế 85 chưa phù hợp nên NHNN đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung bằng các Quyết định số 1439/2001/QĐ- NHNN ngày 20/11/2001 và Quyết định số 877/2002/QĐ-NHNN ngày 19/8/2002. Theo đó, “Đấu thầu lãi suất là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTD tham gia OMO trên cơ sở lãi suất dự thầu của các TCTD và khối lượng GTCG NHNN cần mua hoặc bán.” và “Ngày thanh toán là ngày đấu thầu, các TCTD trúng thầu thực hiện giao, nhận GTCG và thanh toán với NHNN.”. Bên cạnh đó, NHNN cũng quy định thẩm quyền của “Ban điều hành OMO quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng GTCG NHNN cần mua hoặc cần bán trước mỗi phiên đấu thầu”trong phương thức đấu thầu lãi suất. Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN được ban hành, NHNN đã ban hành Quyết định số 1085/2003/QĐ-NHNN ngày 16/9/2003 và công văn số 1511/NHNN-TD ngày 28/12/2004 để sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Quy chế nghiệp vụ thị trường mở. Theo đó, “NHNN thực hiện OMO thông qua việc mua bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các loại GTCG khác với TCTD trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTT quốc gia.” Bên cạnh đó, cuối năm 2005, Thống đốc ban hành Quyết định số 1909/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005 cho phép trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu Quỹ hỗ trợ phát triển được phép giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở. Chủng loại GTCG được giao dịch trên thị trường mở cũng được mở rộng, ngoài những GTCG ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN còn bao gồm cả những GTCG dài hạn như trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái, trái phiếu công trình trung ương và các loại GTCG khác do Thống đốc quy định. Ngoài ra, NHNN cũng đã sửa đổi các quy định liên quan đến thời gian thực hiện nghiệp vụ, các mẫu biểu đi kèm … nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các TCTD khi tham gia thị trường mở. Để khắc phục những hạn chế và tiến dần tới chuẩn hóa các quy định của Ngân hàng Nhà nước trong các giao dịch liên quan đến GTCG, Thống đốc đã ban hành Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 về ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở, thay thế tất cả các quy định trước đó. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 42 2.1.2.2.2. Quy chế quản lý vốn khả dụng Để quyết định việc “bơm”, “hút” tiền qua thị trường mở, NHNN cần phải căn cứ vào thực trạng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng. Vì vậy việc quản lý và dự báo vốn khả dụng nhằm phục vụ cho điều hành CSTT là hết sức cần thiết. Theo Quy chế quản lý vốn khả dụng kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ- NHNN ngày 24/01/2000 của Thống đốc, vốn khả dụng là số tiền gửi của các TCTD (gồm tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác) tại NHNN. Trên cơ sở tính toán, phân tích và dự báo sự thay đổi về vốn khả dụng, NHNN sẽ xác định mức vốn khả dụng cần duy trì của các TCTD để đảm bảo thực hiện CSTT, từ đó đưa ra các giải pháp để can thiệp đến vốn khả dụng của các TCTD thông qua các công cụ CSTT. NHNN dự báo vốn khả dụng của các TCTD trên cơ sở xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vốn khả dụng, như: cung cầu ngoại tệ trên thị trường tiền tệ và sự can thiệp của NHNN; diễn biến thu chi ngân sách nhà nước; doanh số phát hành và thu hồi tiền mặt của NHNN; nhu cầu vay và khả năng huy động vốn của các NTHM, … Kết quả dự báo vốn khả dụng của các TCTD được sử dụng làm cơ sở thực hiện OMO và dự đoán cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ để điều hành CSTT. Như vậy, việc tính toán và dự báo diễn biến vốn khả dụng là cơ sở cho việc điều hành OMO nói riêng và CSTT nói chung của NHNN. 2.1.3. Bộ máy tổ chức điều hành nghiệp vụ thị trường mở Để tổ chức và điều hành OMO, NHNN cũng đã hình thành được một bộ máy tổ chức và triển khai hoạt động thị trường mở tại NHNN bao gồm Ban điều hành OMO do một Phó Thống đốc làm trưởng ban. Bên cạnh đó, một số bộ phận tại các Vụ Cục cũng được thiết lập và hoàn thiện nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực về con người, trang thiết bị để xây dựng và hoàn thiện hoạt động thị trường mở. 2.1.3.1. Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở Ban điều hành OMO trực tiếp chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động OMO tại Việt Nam. Trưởng ban điều hành là 1 Phó Thống đốc. Ban điều hành có 1 phó trưởng ban thường trực là Vụ trưởng Vụ CSTT, 1 phó trưởng ban là Giám đốc Sở giao dịch NHNN. Các uỷ viên Ban điều hành OMO là đại diện lãnh đạo các Vụ Tín dụng, Vụ Quản lý ngoại hối và Sở Giao dịch. Thư ký ban là chuyên viên của Vụ CSTT và Sở giao dịch. Mọi vấn đề từ chủ trương định hướng đến các quyết định cụ thể trong từng phiên hay các sáng kiến cải tiến cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật đều được Ban điều hành bàn bạc tập thể và Trưởng ban quyết định trên cơ sở các ý kiến đã thống nhất. Việc điều hành OMO đã ngày càng mang tính thị trường, các quyết định mua Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 43 và bán GTCG với các phương án đấu thầu, xét thầu cụ thể đối với từng phiên đều được Ban điều hành cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở xem xét tình hình vốn khả dụng của hệ thống các TCTD, xu hướng lãi suất thị trường và mục tiêu điều hành CSTT của NHNN. Bên cạnh việc chỉ đạo sát sao các Vụ, Cục liên quan chủ động nghiên cứu đổi mới cơ chế, quy chế về OMO, Ban điều hành đã tổ chức một số đợt tập huấn, hội nghị sơ kết hàng năm để hướng dẫn các văn bản mới, tiếp thu kịp thời các kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện công cụ OMO. Đồng thời thông qua một số đợt khảo sát trong nước và nước ngoài, Ban điều hành đã kịp thời có các đề xuất về đổi mới hoạt động OMO, phát triển các nghiệp vụ thị trường tiền tệ và việc điều hành CSTT của NHNN nói chung. 2.1.3.2. Các phòng, bộ phận liên quan Để triển khai những nghiệp vụ mới phục vụ cho OMO, một số bộ phận tại các Vụ, Cục của NHNN đã được thiết lập và hoàn thiện. 2.1.3.2.1. Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc Vụ Chính sách tiền tệ Xây dựng và hoàn thiện Quy chế quản lý vốn khả dụng; trực tiếp thu thập các thông tin để dự báo sự biến động về vốn khả dụng trên thị trường, đề xuất với Ban điều hành về định hướng hoạt động OMO, cũng như khối lượng, lãi suất và phương thức giao dịch của từng phiên đấu thầu, qua đó hỗ trợ đắc lực cho Ban điều hành đưa ra những quyết sách phù hợp. 2.1.3.2.2. Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ thuộc Sở Giao dịch Xây dựng các quy trình thực hiện OMO, trực tiếp thực hiện các quy trình thủ tục đấu thầu, xét thầu theo quyết định của Ban điều hành. 2.1.3.2.3. Phòng Thị trường tiền tệ và bảo lãnh thuộc Vụ Tín dụng Thực hiện xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, quy chế cho hoạt động OMO và các thị trường tiền tệ liên quan. 2.1.3.2.4. Một số phòng ban khác - Phòng Kế toán, Phòng Thanh toán điện tử liên ngân hàng, Phòng Ngân quỹ … tại Sở Giao dịch thực hiện các nghiệp vụ hạch toán, thanh toán, lưu ký GTCG … - Phòng Kỹ thuật I, Phòng Kỹ thuật II, Phòng Quản lý thông tin thuộc Cục Công nghệ tin học ngân hàng thực hiện thiết kế cài đặt chương trình phần mềm ứng dụng, trang bị phần cứng, đường truyền kết nối, xử lý các vấn đề kỹ thuật trong việc thực hiện OMO qua mạng máy tính. 2.1.4. Các thành viên tham gia thị trường mở Các thành viên tham gia thị trường mở tại Việt Nam bao gồm NHNN và các TCTD có đủ điều kiện theo quy định của NHNN. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 44 2.1.4.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam NHNN tham gia thị trường mở với tư cách vừa là người tổ chức và điều hành thị trường mở vừa là thành viên. NHNN là cơ quan xem xét và chứng nhận tư cách thành viên cho các TCTD đủ điều kiện. 2.1.4.2. Các đối tác của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo quy định hiện hành về OMO, thành viên tham gia OMO chỉ là các TCTD thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD và có đủ các điều kiện sau: (i) Có tài khoản tiền gửi tại NHNN, (ii) Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia OMO, và (iii) Có đăng ký tham gia OMO. Trong điều kiện (ii), đòi hỏi các TCTD phải có đầu tư cơ sở vật chất ban đầu để tham gia giao dịch trên thị trường mở như máy tính để giao dịch, nối mạng với Sở giao dịch NHNN, chương trình phần mềm giao dịch … Đối với các TCTD có quy mô lớn thì có thể đầu tư các thiết bị mạng theo kỹ thuật tiên tiến để giao dịch. Đối với những TCTD có quy mô nhỏ thì có thể giao dịch với NHNN thông qua việc truyền file với chi phí thấp. Khi OMO bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, có 20 TCTD được công nhận là thành viên tham gia OMO. Số lượng thành viên thị trường mở tăng dần qua các năm, nhưng với tốc độ chậm, chỉ 1-2 thành viên mỗi năm. Đến ngày 31/12/2005 đã có 29 TCTD được công nhận là thành viên tham gia OMO, gồm 05 NHTMNN, 14 NHTMCP, 07 chi nhánh NHNg, 01 ngân hàng liên doanh, 01 công ty tài chính và Quỹ Tín dụng nhân dân trung ương. Đây có thể coi là những thành viên năng động nhất trên thị trường tiền tệ, góp phần quan trọng vào việc điều hoà vốn cho thị trường, truyền dẫn vốn từ NHTW đến các TCTD thiếu vốn nhưng không có đủ các điều kiện để tham gia OMO. Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Số lượng thành viên OMO Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 1. NHNN 1 1 1 1 1 1 2. NHTM nhà nước 4 4 4 5 5 5 3. NHTM cổ phần 9 10 10 11 13 14 4. NH nước ngoài 4 4 5 5 6 7 5. NH liên doanh 1 1 1 1 1 1 6. TCTD phi ngân hàng 1 1 1 1 1 1 7. Quỹ TDNDTW 1 1 1 1 1 1 Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 45 Tổng 21 22 23 25 28 30 Như vậy, hiện nay chỉ có các TCTD mới có thể là thành viên thị trường mở. Quy định về điều kiện thành viên OMO hiện nay là phù hợp với giai đoạn phát triển đầu của thị trường mở tại Việt Nam, điều kiện phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam và năng lực quản lý điều hành của NHNN. 2.1.5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở Khi thị trường mở bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, các loại GTCG được giao dịch trên thị trường mở là tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các loại GTCG ngắn hạn khác do Thống đốc quy định cụ thể trong từng thời kỳ. Đây là những GTCG có tính an toàn rất cao và hầu như không bị rủi ro. Để có thể giao dịch được trên thị trường mở, các GTCG này phải thoả mãn các điều kiện sau: (i) Có thể giao dịch được; (ii) Được phát hành bằng đồng Việt Nam; (iii) Đã đăng ký tại NHNN theo quy định và (iv) GTCG được mua, bán hẳn phải có thời hạn còn lại tối đa là 90 ngày. Các quy định về GTCG như trên là rất chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa các rủi ro trên thị trường mở. Điều này phù hợp với thời kỳ phát triển ban đầu của thị trường mở tại Việt Nam. Để phù hợp với quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN, NHNN đã bổ sung các GTCG được giao dịch trên thị trường mở. Theo đó, các loại GTCG dài hạn như trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái, trái phiếu công trình trung ương đã được chấp thuận giao dịch. Hàng hoá giao dịch của thị trường mở lúc này bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái, trái phiếu công trình trung ương và các loại GTCG khác do Thống đốc quy định. Việc mở rộng các loại GTCG được chấp thuận giao dịch đã tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động của thị trường mở sôi động hơn và khối lượng mua bán GTCG nhiều hơn. Nhìn chung, các loại hàng hoá (GTCG) giao dịch trên thị trường mở được "lựa chọn" cẩn thận nhằm đảm bảo độ an toàn và tính thanh khoản cao. Hiện nay chỉ các GTCG do ngân sách trung ương hoặc NHNN thanh toán mới được giao dịch trên thị trường mở. Bất kỳ một loại GTCG nào khác, kể cả chứng chỉ tiền gửi hay GTCG do TCTD, chính quyền địa phương phát hành, đều chưa được giao dịch. 2.1.6. Phương thức giao dịch trên thị trường mở 2.1.6.1. Phương thức mua bán Giao dịch OMO giữa NHNN và các thành viên được thực hiện theo 2 phương thức sau: Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 46 2.1.6.1.1. Giao dịch mua và bán hẳn: NHNN sẽ mua hoặc bán các GTCG với toàn bộ thời hạn còn lại của chúng. Sau khi giao dịch, quyền sở hữu GTCG sẽ được chuyển giao từ bên bán sang bên mua và không kèm thoả thuận mua bán lại các GTCG. 2.1.6.1.2. Giao dịch bán và cam kết mua lại (giao dịch có kỳ hạn) được NHNN thực hiện như sau: - Trường hợp NHNN bán các GTCG mà mình đang nắm giữ cho các thành viên kèm theo một cam kết sẽ mua lại các GTCG này sau một thời gian nhất định. Đến thời hạn NHNN sẽ mua lại GTCG và thanh toán tiền mua cho các TCTD. - Ngược lại, các thành viên bán GTCG cho NHNN kèm theo cam kết sẽ mua lại GTCG này sau một thời gian nhất định. Đến thời hạn các thành viên sẽ mua lại các GTCG và thanh toán tiền mua cho NHNN. Như vậy, quyền sở hữu GTCG tạm thời chuyển giao giữa NHNN và các TCTD thành viên trong một thời gian nhất định. Thực chất đây là một hình thức tín dụng giữa NHNN và các TCTD có bảo đảm bằng GTCG. 2.1.6.2. Phương thức đấu thầu Các giao dịch mua bán trong OMO giữa NHNN và các thành viên đều được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu. Việc tổ chức đấu thầu các giao dịch trên thị trường mở thể hiện rõ tính thị trường trong quan hệ giữa NHNN và các TCTD. NHNN áp dụng 2 hình thức đấu thầu sau: 2.1.6.2.1. Đấu thầu khối lượng Khi thực hiện đấu thầu khối lượng, việc mua bán GTCG thực hiện như sau: Thứ nhất, NHNN sẽ thông báo khối lượng và lãi suất các loại GTCG cần mua cần bán cho các thành viên thị trường mở. Thứ hai, Các thành viên đặt thầu khối lượng các loại GTCG cần mua hoặc cần bán theo lãi suất do NHNN thông báo. Thứ ba, NHNN xét thầu và phân bổ khối lượng trúng thầu theo nguyên tắc: - Trường hợp khối lượng dự thầu của các thành viên nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHNN cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên là khối lượng mà các thành viên đó đặt thầu. - Trường hợp khối lượng dự thầu của các thành viên lớn hơn khối lượng NHNN cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các thành viên đó và được làm tròn đến 10 triệu đồng. 2.1.6.2.2. Đấu thầu lãi suất Khi thực hiện đấu thầu lãi suất, việc mua bán GTCG thực hiện như sau: Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 47 Thứ nhất, Ban điều hành OMO sẽ dự kiến khối lượng GTCG cần mua/bán trong phiên đấu thầu. Khối lượng dự kiến cần mua/bán có thể thông báo hoặc không thông báo trước mỗi phiên đấu thầu cho các thành viên tham gia dự thầu. Thứ hai, TCTD dự thầu theo các mức lãi suất và khối lượng GTCG cần mua/bán ứng với các mức lãi suất đó. Lãi suất đặt thầu được tính theo tỷ lệ %/năm. Thứ ba, NHNN tổ chức xét thầu theo các bước và nguyên tắc sau: - Các mức đặt thầu được xếp theo thứ tự lãi suất giảm dần (trường hợp NHNN mua GTCG) và theo thứ tự tăng dần (trường hợp NHNN bán GTCG). - Lãi suất trúng thầu là lãi suất đặt thầu thấp nhất (trường hợp NHNN mua GTCG) hoặc lãi suất đặt thầu cao nhất (trường hợp NHNN bán GTCG). - Khối lượng trúng thầu của thành viên là khối lượng của các mức dự thầu có lãi suất bằng hoặc cao hơn mức lãi suất trúng thầu (trường hợp NHNN mua) hoặc có lãi suất bằng hoặc thấp hơn lãi suất trúng thầu (trường hợp NHNN bán). - Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu, tổng khối lượng đặt thầu của các TCTD vượt quá khối lượng GTCG mà NHNN cần mua/bán thì khối lượng GTCG trúng thầu của các TCTD tại mức lãi suất trúng thầu được tính theo tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của TCTD tại mức lãi suất đó và được làm tròn đến 10 triệu đồng. Nếu tại mức lãi suất trúng thầu, TCTD có nhiều loại GTCG cần mua/bán thì NHNN xét thầu xác định theo thứ tự ưu tiên như sau: + GTCG đăng ký bán hoặc mua có khối lượng lớn hơn, + GTCG có thời hạn bán hoặc mua ngắn hơn (trường hợp mua hoặc bán hẳn), + Thời hạn còn lại của GTCG ngắn hơn. Để xác định lãi suất áp dụng từng mức trúng thầu cho TCTD sau khi đã xác định được khối lượng trúng thầu, NHNN áp dụng 2 phương pháp xác định lãi suất như sau: - Phương pháp tính lãi suất trúng thầu theo lãi suất thống nhất (phương pháp Hà Lan): Toàn bộ khối lượng GTCG trúng thầu được tính thống nhất theo mức lãi suất trúng thầu. - Phương pháp tính lãi suất trúng thầu theo lãi suất riêng lẻ (phương pháp Mỹ): Từng mức khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với mức lãi suất TCTD đặt thầu. TCTD dự thầu ở mức lãi nào thì khi trúng thầu ở mức lãi suất đó sẽ được áp dụng để tính giá mua bán GTCG. 2.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NĂM 2011. Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào hoạt động. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo hướng từ Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 48 sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình. Công cụ OMO liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN. Phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, trong khoảng thời gian gần 5 năm qua, từ năm 2007 đến năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có những biện pháp khá linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) từ “thắt chặt” cho đến “nới lỏng” trong khoảng thời gian 2007 - 2008 nhằm giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Sau đó, CSTT được chuyển sang thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, từ tháng 11/2010 đến nay, được tiếp tục điều hành theo hướng thắt chặt, thận trọng. Trong Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã kết luận mục tiêu phát triển của năm 2012 là: Về chỉ tiêu lạm phát: phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10%.Về chỉ tiêu tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP): tăng GDP khoảng 6 - 6,5%. Để chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của tình hình và tập trung cho nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ đề nghị điều hành theo phương án tăng trưởng khoảng 6%, khi có điều kiện thuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức 6,5%. Về bội chi ngân sách nhà nước và nợ công: bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 dự kiến tăng khoảng 12 - 13% so với năm 2011; nhập siêu 11,5 - 12% tổng kim ngạch xuất khẩu.- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: Năm 2012 bằng khoảng 33,5 - 34% GDP. Để thực hiện các mục tiêu trên NHNN đã có hàng loạt các biện pháp quyết liệt và đúng đắn để ngăn ngừa suy thoái kinh tế và dần lấy lại đà phục hồi cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn hiện nay. Đối với riêng năm 2011, thực hiện Nghi quyết 11 của Chính phủ, NHNN đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 16%; ưu tiên vốn tín dụng cho phát triển sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với đó, NHNN điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo kiềm chế lạm phát, trong đó đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở đã được sử dụng khá có hiệu quả để đảm bảo mục tiêu thực hiện chính sách, trực tiếp là lãi suất, thanh khoản cho các TCTD và cho nền kinh tế,... Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 49 2.2.1. Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở Thống kê từ đầu năm nay đến hết tháng 3/2011, NHNN đã bơm ra thị trường mở 1.285.146 tỷ đồng, trong khi hút về 1.202.214,1 tỷ đồng. Như vậy, mức bơm ròng đạt 82.931,9 tỷ đồng. Số liệu cụ thể được thể hiện tổng hợp qua bảng dưới đây: (Xem bảng 1). Qua bảng 1 cho thấy trong tháng 4/2011, NHNN cũng đã bơm ra thị trường mở 519.695,7 tỷ đồng và hút về 453.002,7 tỷ đồng. Mức bơm ròng là 66.693 tỷ đồng. Trong 2 tuần đầu tháng 4/2011 (từ 4/4 đến 15/4), sau khi nâng lãi suất thị trường mở từ 12% lên 13%, NHNN liên tục bơm tiền qua thị trường này nhưng với khối lượng dè chừng. Nhu cầu vay trên thị trường mở vẫn lớn khi tỷ lệ đăng kí/ chào thầu ở mức gần 230%. Bảng 2.2: Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 Đơn vị tính: Tỷ đồng (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước) Trong tháng 5/2011, NHNN đã hút ròng khoảng 71.757,6 tỷ đồng.Việc hút ròng trên thị trường mở ngoài thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát như bình thường, còn để trung hòa một khối lượng lớn tiền mà NHNN đã bỏ ra mua khoảng trên 2 tỷ USD bổ sung cho quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Cụ thể, chỉ riêng trong khoảng thời gian cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2011, thông qua mua thêm 1 tỷ USD Tháng Cung ứng Hút về Cung ứng ròng 1 501.749 345.483 156.266 2 314.493 345.338,8 -30.845,8 3 468.904 511.392,3 -42.488,3 4 519.695,7 453.002,7 66.693 5 353.381,9 425.139,5 - 71.757,6 6 141.838,4 206.649,7 - 64.811,3 Tổng 2.300.062 2.287.006 13.056 Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 50 bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Về mặt lý thuyết, NHNN đã cung ứng thêm ra lưu thông gần 21.000 tỷ đồng. Việc trung hòa, hay hút bớt tiền từ lưu thông về sau khi cung ứng ra mua ngoại tệ được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, nhưng chủ lực vẫn là thị trường mở. NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ với quyết tâm kiềm chế lạm phát, thể hiện đó là trong tháng 6/2011, NHNN bơm 141.838,4 tỷ đồng và hút về 206.649,7 tỷ đồng, như vậy, NHNN đã hút ròng 64.811,3 tỷ đồng qua kênh ngiệp vụ thị trường mở. Điều đáng chú ý tuần thứ 2 từ 6/6 đến 10/6, NHNN hút ròng về tới 20.334 tỷ đồng, mức cao nhất kể từ giữa tháng 2 đến nay. Như vậy, trong quý 2 năm 2011, NHNN đã bơm ra thông qua nghiệp vụ thị trường mở: 1.014.916 tỷ đồng và hút về: 1.084.791,9 tỷ đồng, NHNN đã hút ròng 69.875,9 tỷ đồng. Tổng hợp 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã bơm ra thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở là 2.300.062 tỷ đồng, hút về 2.287.006 tỷ đồng, mức bơm ròng là 13.056 tỷ đồng. Tính từ 4/5 đến hết 1/7 /2011, NHNN đã có 9 tuần hút ròng liên tục trên OMO với số tiền lên đến 482.165,5 tỷ đồng. Biểu đồ 2.1 cho thấy rõ vấn đề này. Biểu đồ 2.1: Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5 đến hết 1/7 /2011 (tỷ đồng) (Nguồn: NHNN) Với quy mô, doanh số và tính linh hoạt trong hoạt động của thị trường mở như nói trên, nên tính đến cuối tháng 6/2011, nhìn chung, thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn trong trạng thái ổn định và khá dồi dào. Thanh khoản ngân hàng tốt là một cơ sở để giảm lãi suất, tuy vậy, muốn lãi suất có thể thực sự giảm thì cần tín hiệu rõ ràng của giảm lạm phát. Qua bảng 2 cho thấy từ năm 2008, NHNN đã bơm ròng 100.685 tỷ đồng; năm 2009, cũng bơm ròng tới 122.830 tỷ đồng; năm 2010, bơm ròng 294.304 tỷ đồng, trong khi đó, 6 tháng đầu năm 2011, chỉ bơm ròng 13.056 tỷ đồng. Điều này Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 51 thể hiện NHNN quyết tâm thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhằm mục đích kiềm chế lạm phát. Bảng 2.3: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở Đơn vị tính: tỷ đồng Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Biểu đồ 2.2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở (đvt: tỷ đồng) Nguồn Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Nhìn vào biểu đồ 2 ta có thể thấy lượng tiền NHNN bơm ra giảm dần trong 6 tháng đầu năm 2011. Lãi suất NVTTM (hay lãi suất OMO) tính đến hết tháng 6/2011, vẫn được giữ nguyên ở mức 15%/năm. Việc thắt chặt tiền tệ thông qua hút ròng trên nghiệp vụ thị trường mở của NHNN cùng các chính sách điều tiết vĩ mô khác đã có những kết quả bước đầu khi CPI tháng 6/2011 CPI tăng 1,09%, giảm so với mức tăng 2,21% của tháng 5/2011 đã mang lại tín hiệu đáng mừng cho nền kinh Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 52 tế. Bảng 2.4: Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm Đơn vị: tỷ đồng Qua bảng số liệu 3 cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã thực hiện 241 phiên giao dịch mua có kỳ hạn. Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các TCTD nên NHNN chỉ chào các phiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu là kỳ hạn ngắn, chỉ có 7 ngày và tất cả các phiên đều đấu thầu khối lượng. Các chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011cũng tăng mạnh, gần như các chủ thể đăng ký tham gia thị trường, nếu có đủ điều kiện đều được giao dịch và đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Các chủ thể tham gia gồm: 05 NHTM Nhà nước, 32 NHTMCP, 01 ngân hàng liên doanh, 07 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 công ty tài chính. Doanh số giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước theo cả hai chiều mua và bán. Năm 2008, tổng doanh số trúng thầu là 1.036.066 tỷ đồng, đến cuối năm 2010, tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷ đồng. Trong các hình thức giao dịch thị trường mở thì hình thức NHNN mua các GTCG - “bơm” tiền ra là chủ yếu, có thời điểm là 100% trong tổng doanh số trúng thầu như 6 tháng đầu năm 2009 và năm 2010. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2011, NHNN lại “hút” là chủ yếu, (tháng 5 và 6); NHNN chỉ bơm ra khoảng 13.056 tỷ đồng. Điều này cho thấy thị trường mở là một “kênh” cung ứng hoặc thu hút tiền về quan trọng của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu của CSTT. Khối lượng giao dịch trong từng phiên cũng ngày càng tăng từ bình quân 2.577 tỷ đồng/phiên năm 2008 lên 3.240 tỷ đồng/phiên năm 2010 và 9.544 tỷ đồng/phiên năm 2011. Trong năm Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 53 2008, trước những biến động bất thường của thị trường, nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho các TCTD doanh số giao dịch có phiên là 10.000 15.000 tỷ đồng, sang năm 2010, gần đến thời điểm cuối năm, doanh số giao dịch, có phiên là 20.000 tỷ đồng, những tháng đầu năm 2011, có phiên giao dịch lên đến 25.000 tỷ đồng. Như vậy, khi các TCTD thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng thì thị trường mở thực sự là “phao” hỗ trợ cho các TCTD này, bảo đảm khả năng thanh toán cho các TCTD trong trường hợp thị trường có những biến động đột xuất. Điều này đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ ngay tức thì, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả dụng của các thành viên tham gia thị trường mở. Biểu đồ 2.3 : Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng (tỷ đồng) Sang tháng 8 năm 2011, NHNN thực hiện bơm – hút cân bằng trên thị trường mở. Mỗi ngày chỉ có 1 phiên, vừa bơm vừa hút trung bình 1000 tỷ đồng. Thị trường mở không còn là kênh huy động vốn ngắn hạn của các NHTM giữ giấy tờ có giá. Trong tháng Chín, việc NHNN liên tục bơm ròng trên thị trường mở đồng thời kéo dài kỳ hạn lên gấp đôi được xem như biện pháp hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM sau khi phải hạ lãi suất huy động. Kết quả là khoảng 28 ngàn tỉ đồng đã được bơm ròng qua OMO trong tháng 9. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 54 Biểu đồ 2.4: Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012 (Nguồn: Vietcombank) Trong tháng đầu năm 2012, NHNN đã kiểm soát lượng cung tiền M2 với mức tăng chỉ 0,74% so với cuối năm 2011, trong khi đây luôn là tháng có nhu cầu cao về tiền mặt. Trên thị trường mở, sau khi bơm ròng hơn 83 nghìn tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng trong tháng 1 nhằm tăng tính thanh khoản cho các ngân hàng trong dịp Tết, qua đó khiến số dư trên thị trường này tăng lên tới hơn 145 nghìn tỷ đồng. Trong gần 3 năm trở lại đây, NHNN chủ yếu thực hiện đấu thầu khối lượng với khối lượng được công bố trước trong những phiên chào mua. Khối lượng giao dịch bình quân trong từng phiên tăng dần trong các năm chứng tỏ nghiệp vụ thị trường mở ngày càng đóng vai trò quan trọng tác động đến tổng lượng tiền trong nền kinh tế (M2). Lãi suất trên thị trường mở cũng có nhiều biến động: nếu năm 2008, mua có kỳ hạn 7 ngày lãi suất bình quân là 12,82%/năm, 14 ngày là 13,12%/năm, thì năm 2009, đã giảm xuống tương ứng là 7,23%/năm và 7,51%/năm và năm 2010 tương ứng 8,35%/năm và 7,69%/năm. Trong tháng 1/2011, lãi suất mua có kỳ hạn 7 ngày đã tăng lên 10%/năm, từ ngày 22/2, tăng lên 12%, 1/4 là 13%, ngày 4/5, đã được đẩy lên mức 14%/năm, không dừng ở đó, ngày 17/5, NHNN đã nâng lãi suất trên thị trường mở lên 15%. Đây là lần thứ 8, NHNN điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường mở kể từ tháng 1/2010. Từ ngày 4/7/2011, lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở đã giảm nhẹ xuống 14%/năm. Điều này cho thấy năm 2008 và 2011 nền kinh tế có lạm phát cao, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình hình thanh khoản của các NHTM khó khăn, đặc biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ. Trước diễn biến đó, NHNN sử dụng linh hoạt thị trường mở, kết hợp với cho vay tái Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 55 cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản. Như vậy, tất cả những sự điều chỉnh trên đều cho thấy quyết tâm kiềm chế lạm phát mà hiện nay đang được Chính phủ đang ưu tiên hàng đầu. Có thể nói, trong năm 2011, NHNN đã sử dụng linh hoạt, thận trọng, có hiệu quả các công cụ CSTT trong đó có nghiệp vụ thị trường mở, phục vụ tốt mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của mình. 2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 2.3.2.1 Kết quả đạt được: Thứ nhất, trong năm 2011 nói riêng và giai đoạn 2008- 2011 nói chung, NHNN điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả công cụ nghiệp vụ thị trường mở. cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác, bước đầu đã kiềm chế lạm phát và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của CSTT. Lượng tiền cung ứng và rút về của thị trường mở có sự phối hợp chặt chẽ với các công cụ khác của CSTT nhằm phát tín hiệu điều hành CSTT. Cùng với thị trường mở, NHNN vẫn duy trì các công cụ khác của CSTT như chính sách tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc. Do vậy, trong các thời điểm cụ thể, thị trường mở được điều hành linh hoạt, góp phần tạo sự phối hợp chặt chẽ với các công cụ CSTT khác nhằm đạt được mục tiêu CSTT. Thứ hai, qua nghiệp vụ thị trường mở; NHNN đã điều tiết linh hoạt vốn khả dụng cho các TCTD. Nghiệp vụ thị trường mở có vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu về vốn ngắn hạn cho các TCTD nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế. Có thể nhận thấy nghiệp vụ thị trường mở Việt Nam đã góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong điều kiện hiện nay. Sau khi thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và Nghị quyết 11 của Chính phủ, kết quả ban đầu đạt được rất khả quan. Tăng trưởng tín dụng đang đi đúng với mục tiêu đề ra. Đặc biệt, trong điều kiện phải thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát thì tín dụng đã được tập trung ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất. Riêng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu tăng trưởng tín dụng đã đạt 25% (trong khi tăng chung chỉ là 6,92%). Đối với khu vực phi sản xuất, nếu như cuối năm 2010, tỷ trọng tín dụng chiếm 18,87% thì đến cuối năm 2011, chỉ còn chiếm 16,91%. Rõ ràng, kết quả thực hiện nhiệm vụ đang đi đúng hướng theo mục tiêu điều hành của Chính phủ và NHNN. Thứ ba, sự thay đổi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở làm tăng khả năng điều tiết lãi suất thị trường của NHNN Việt Nam Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động đến lượng tiền cung ứng, từ đó Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 56 tác động đến lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường mở được điều hành linh hoạt trong khoảng giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường, phát tín hiệu về quan điểm điều hành CSTT trong từng thời kỳ thể hiện rõ vai trò của lãi suất thị trường mở trong việc hỗ trợ NHNN điều tiết lãi suất thị trường. Sự thay đổi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở trong năm 2011 thể hiện sự bám sát lãi suất thị trường và vận động cùng chiều, phối hợp chặt chẽ giữa lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu là cơ sở để các chủ thể trong nền kinh tế đưa ra quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh phù hợp... Thứ tư, công tác dự báo vốn khả dụng của NHNN đã có nhiều cải thiện, kết quả dự báo trong kì dự báo là 1 tháng không có nhiều sai lệch về tổng thể, nhưng trong dự báo biến động hàng ngày còn nhiều sai số. Tuy nhiên, do việc thực hiện chào mua được thực hiện 2 phiên một ngày, nên việc chỉnh sửa sai lệch dự báo được tiến hành nhanh chóng. Thứ năm, các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở đã tăng lên về số lượng và đa dạng về loại hình, xuất phát từ nhu cầu vốn khả dụng năm 2011 và các điều kiện tham gia thị trường của các TCTD, cho thấy các TCTD có đủ điều kiện đã tham gia và đều có khả năng trúng thầu. Điều này càng khuyến khích các TCTD nắm giữ GTCG và tăng tính cạnh tranh trên thị trường. 2.3.2.2 Một số hạn chế Thứ nhất: NHNN còn gặp nhiều khó khăn trong điều hành nghiệp vụ thị trường mở nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng, điều này ảnh hưởng bởi: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở không mang tính bắt buộc, vì vậy, số lượng thành viên tham gia thị trường mỗi phiên cũng khiêm tốn: hai năm 2008 - 2009 khoảng 50 - 60% các TCTD được công nhận là thành viên thị trường mở; năm 2010, các thành viên tham gia tích cực hơn, có phiên số lượng thành viên tham gia là 40; năm 2011, các thành viên tham gia cao nhất trong một phiên đã lên tới 44 thành viên. Thứ hai: Chính sách tiền tệ đa mục tiêu kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, do vậy, việc bơm tiền qua nghiệp vụ thị trường mở vẫn phải nằm trong chỉ tiêu lượng tiền cung ứng tăng thêm được Chính phủ phê duyệt. Do đó, phần nào làm giảm tính chủ động trong điều hành nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam. Thứ ba: Dự báo cung - cầu vốn khả dụng của NHNN đôi khi chưa thật chính xác. Sai số trong dự báo thường không đồng đều nên khó khắc phục. Các dự báo có thời gian trên 1 tháng tuy đã được thực hiện, nhưng không thường xuyên và chỉ Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 57 mang tính dự báo về xu hướng và ước đoán theo dãy số liệu lịch sử và NHNN chưa có hệ thống theo dõi kịp thời, đầy đủ. Thư tư: Khả năng hỗ trợ vốn khả dụng chưa đáp ứng được yêu của tất cả các TCTD tham gia thị trường. Thực tế năm 2011, đã có 49 thành viên tham gia thị trường, song tham gia giao dịch thường xuyên chủ yếu là các TCTD có quy mô lớn với ưu thế về điều kiện giao dịch. Các TCTD quy mô nhỏ hoặc chưa quan tâm, hoặc điều kiện tham gia thị trường yếu nên không thường xuyên tham gia thị trường. Do vậy, khi thiếu vốn khả dụng tạm thời họ phải vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng với lãi suất cao, từ đó gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ. Còn nhiều bất cập trong việc điều hành lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Thời gian qua, NHNN Việt Nam đã điều hành linh hoạt lãi suất nghiệp vụ thị trường mở gắn với lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường, phát tín hiệu trong điều hành chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy vẫn có thời điểm, NHNN lúng túng trong việc điều tiết lãi suất trên thị trường mở trong mối quan hệ với các loại lãi suất khác. Những năm gần đây và đặc biệt trong năm 2011, NHNN thực hiện đấu thầu khối lượng với lãi suất công bố, điều này cũng hạn chế phần nào khả năng cạnh tranh của các TCTD. 2.3.2.3. Nguyên nhân 2.3.2.3.1. Thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Hiệu quả của chính sách tiền tệ cần dựa trên cơ sở có sự phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa. Mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế phụ thuộc vào việc xây dựng và điều hành các chính sách của quốc gia. Việc bội chi ngân sách có xu hướng gia tăng qua các năm đã tác động, làm hiệu quả của chính sách tiền tệ bị sụt giảm. 2.3.2.3.2 Giấy tờ có giá tham gia thị trưởng mở chưa đa dạng. Theo Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 06/01/2010 đã có sự thay đổi quy định tỉ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá (GTCG) tại thời điểm định giá và giá thanh toán trong giao dịch mua bán có kì hạn giữa NHNN và các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trong Quyết định này, danh mục giấy tờ có giá tham gia thị trường mở chưa được mở rộng. Việc quy định thứ tự ưu tiên GTCG trong xét thầu nhằm khuyến khích các TCTD đầu tư dự trữ thanh khoản vào các GTCG có tính thanh khoản cao đã gây khó khăn cho các TCTD nhỏ nắm không nhiều trái phiếu Chính phủ. 2.3.2.3.3. Cơ chế điều hành lãi suất còn có những hạn chế nhất định. Tháng 6/2001, NHNN cho phép tự do hóa lãi suất tín dụng ngoại tệ; tháng Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 58 6/2002, tự do hóa lãi suất nội tệ. Tuy nhiên, NHNN Việt Nam vẫn điều hành chính sách lãi suất theo cơ chế kiểm soát trực tiếp, ban hành nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu,... Trong năm 2011, các loại lãi suất này đã tăng và đã phát tín hiệu điều hành CSTT thắt chặt, nhưng chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò kích thích giảm nhu cầu tiền tệ. Mặt khác, các loại lãi suất trên do NHNN công bố nên mang nặng tính hình thức, vì vậy, tất yếu ảnh hưởng đến lãi suất thị trường mở. Mặt khác, trong giao dịch trên thị trường mở, số lượng thành viên tham gia giao dịch còn hạn hẹp nên lãi suất thị trường mở chưa phản ánh đúng quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường. 2.3.2.3.4 Thu thập và xử lý thông tin còn nhiều khó khăn. Với tần suất giao dịch bình quân 1 - 2 phiên/ngày đòi hỏi thông tin về nhu cầu vốn khả dụng của các TCTD, nhu cầu vay vốn, mặt bằng lãi suất phải được cập nhật liên tục hàng ngày, hàng giờ tới ban điều hành thị trường. Tuy nhiên, NHNN vẫn chưa có hệ thống theo dõi kịp thời và đầy đủ các hoạt động trên thị trường tiền tệ. Việc theo dõi, dự báo vốn khả dụng còn có những khó khăn nhất định nên độ chính xác chưa cao. Điều này xuất phát chủ yếu từ thị trường tiền tệ liên ngân hàng chưa phát triển. 2.3.3 Một số đề xuất Một là: Về cơ sở pháp lý: NHNN nên giải quyết một số vấn đề hiện đang cản trở sự phát triển nghiệp vụ thị trường mở, đó là: cho phép đa dạng hóa kỳ hạn giao dịch, tiến tới đưa ra giao dịch mua, bán kỳ hạn qua đêm để thúc đẩy thị trường mở hoạt động linh hoạt và kịp thời, sau đó bổ sung phương thức giao dịch hoán đổi ngoại tệ nhằm linh hoạt hơn trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng. Đối với quy chế quản lý vốn khả dụng, cần điều chỉnh theo hướng cho phép linh hoạt các hình thức thu thập thông tin, nội dung thông tin phù hợp với chế độ báo cáo thông tin, lộ trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng,những thay đổi trong hoạt động ngân hàng và nền kinh tế và trách nhiệm của đơn vị cung cấp thông tin. Hai là: Nên xác định nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò chủ yếu trong điều tiết tiền tệ của NHNN, được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các công cụ khác của CSTT nhằm đạt mục tiêu CSTT. Mặt khác, nghiệp vụ thị trường mở xác định rõ mục tiêu là điều tiết linh hoạt vốn khả dụng cả toàn hệ thống TCTD. Muốn thực hiện được yêu cầu này cần phải: + Đảm bảo qui định của nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thị trường tiền tệ Việt Nam trong từng thời kỳ . Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 59 + Từng bước thử nghiệm việc hình thành lãi suất định hướng để nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ của nghiệp vụ thị trường mở. + Tăng cường sự phối hợp đồng bộ hơn nữa với các công cụ khác của CSTT để có những ứng phó phù hợp trước diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế. + Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận thị trường nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở. Ba là: Đa dạng hóa và tăng tính hấp dẫn của các hàng hóa giao dịch trên thị trường mở. + Trong điều kiện nghiệp vụ thị trường mở ngày càng tham gia nhiều hơn trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, do đó, cần đa dạng hóa các hàng hóa giao dịch trên thị trường mở nhằm tạo những cơ hội tốt cho các thành viên trong việc lựa chọn GTCG để tham gia giao dịch. Muốn vậy, cần bổ sung các qui định vào chứng chỉ tiền gửi vào trong Luật Các công cụ chuyển nhượng để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển loại GTCG này. Cần hoàn thiện cơ sở pháp lý để thương phiếu có thể được giao dịch trên thị trường mở. Bổ sung thêm các loại GTCG khác tham gia giao dịch trên thị trường mở như trái phiếu do NHNN phát hành, trái phiếu do công ty có uy tín phát hành. Việc bổ sung này đòi hỏi phải có bước đi phù hợp trong cơ sở xây dựng các quy định chặt chẽ để đảm bảo lợi ích của các bên tham gia + Cần tăng tính hấp dẫn các GTCG đang giao dịch. Đối với tín phiếu Kho bạc Nhà nước, có thể bổ sung thêm các kỳ hạn phát hành là 30, 60 ngày thay vì chỉ có các kỳ hạn đang phát hành hiện nay là 91,183 và 273 và 364 ngày, với lãi suất linh hoạt, sát lãi suất thị trường nhằm tăng tính thanh khoản cho hàng hóa khi tham gia thị trường. Bốn là: NHNN cần hoàn thiện công tác dự báo hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở. Từ thực tiễn điều hành hoạt động nghiệp vụ thị trường mở cho công tác dự báo hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở là rất quan trọng đảm bảo được độ chính xác cao khi điều tiết lượng tiền cung ứng. Công tác dự báo hiệu quả phải đảm bảo nguồn số liệu chính xác, đầy đủ bao gồm: số lượng tiền cung ứng, dự trữ, nhu cầu vốn của các TCTD, cho vay chính phủ, cho vay các TCTD, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế,... Hệ thống số liệu phải được thu thập theo ngày, xác định cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nguồn số liệu từ NHNN, Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính và các TCTD,... Phải xây dựng mô hình dự báo, tuy nhiên, việc quyết định mô hình cần có sự tham vấn và có kiểm định để đảm bảo đưa ra kết quả phân tích tốt nhất, cần phải có Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 60 đội ngũ chuyên gia đảm nhiệm công tác thống kê, phân tích, xử lý mô hình và đưa ra kết quả báo cáo ban điều hành phục vụ cho công tác điều hành hoạt động nghiệp vụ thị trường mở trong ngắn và dài hạn. Đội ngũ chuyên gia phải là những cán bộ có kiến thức về kinh tế lượng, kinh tế vĩ mô, công nghệ tin học để có thế đưa ra các kết quả đáp ứng yêu cầu. Năm là: Rà soát lại các lỗ hổng trong hệ thống thông tin của NHNN Để tăng tính bảo mật dữ liệu, từ đó hướng tới chấp nhận hoàn toàn các chữ kí điện tử. Hiện nay, mặc dù bản đăng ký mua bán GTCG và hợp đồng, phụ lục hợp đồng đều được ký duyệt chữ ký điện tử trên mạng nhưng Sở Giao dịch NHNN yêu cầu phải có chữ ký của lãnh đạo NHTM trên bản in để chuyển tiền, không chấp nhận chữ ký điện tử và chữ ký cấp phòng của NHTM được uỷ quyền. Tất nhiên, quy định này còn cần ở cấp độ cao hơn như Luật phải cho phép thực hiện chữ ký điện tử! Sáu là: Phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ giỏi để điều hành thị trường. Trước tiên cần phân định rõ cán bộ triển khai công việc mang tính nghiệp vụ hàng ngày, đội ngũ chuyên gia là người trực tiếp điều hành, hoạch định chiến lược làm công tác tham mưu lãnh đạo. Đối với cán bộ nghiệp vụ, cần tuyển chọn cán bộ từ khâu thi tuyển, sau đó có kế hoạch bồi dưỡng chuyên sâu, phân công vị trí công tác phải đảm bảo số lượng và chất lượng công việc. Đối với cán bộ quản lý cần sắp xếp, quy hoạch, bồi dưỡng theo từng vị trí công tác. Muốn vậy, NHNN phải có quỹ hỗ trợ đào tạo với nguồn kinh phí cố định hàng năm được phê duyệt các nguồn tài trợ khác từ bên ngoài. Bảy là: Định kỳ nên tổng kết, đánh giá tình hình hoạt động của các thành viên tham gia thị trường mở. Để hoạt động thị trường mở đảm bảo khả năng điều tiết lượng tiền cung ứng, đáp ứng yêu cầu mục tiêu CSTT cũng như khả năng hỗ trợ vốn khả dụng cho các TCTD NHNN cần: Hàng quý, 6 tháng, 1 năm, nên lấy ý kiến thành viên tham gia thị trường về: kế hoạch tham gia thị trường trong tương lai, kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tham gia thị trường mở và những đề xuất đối với nghiệp vụ thị trường mở. Định kỳ hàng năm, NHNN chủ động xem xét, đánh giá kỹ hơn, cụ thể hơn với ý kiến tham gia rộng rãi về tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của các thành viên tham gia thị trường. Việc đánh giá có thể chia ra các nhóm TCTD tham gia với các tiêu chí phù hợp Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 61 KẾT LUẬN Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ gián tiếp linh hoạt và hữu hiệu trong thực thi CSTT. Tại các nước phát triển, OMO có ý nghĩa hết sức quan trọng và được sử dụng chủ yếu trong điều tiết lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường. Ở các nước đang phát triển, OMO ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng khi các điều kiện thực hiện đã và đang chín muồi. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện công cụ OMO có ý nghĩa thực tiễn tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với kết cấu gồm 2 chương và 64 trang, đề án “ NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2011” đã tập trung nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở và thực tiễn hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian từ năm 2007 đến nay. Đề án đã hoàn thành các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, đề án đã hệ thống hoá một số nội dung cơ bản về chính sách tiền tệ, các công cụ CSTT nói chung và công cụ OMO nói riêng. Ngoài ra, tác giả còn đề cập một số kinh nghiệm vận hành OMO của NHTW một số nước với các trình độ phát triển kinh tế khác nhau, từ đó rút ra các kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và sắp tới. Thứ hai, đề án đã tiến hành phân tích, đánh giá hoạt động OMO của NHNN Việt Nam từ khi đưa vào hoạt động đến nay và trên nhiều khía cạnh như: khuôn khổ pháp lý, tổ chức và điều hành nghiệp vụ, hàng hoá giao dịch trong thị trường mở, các thành viên thị trường, lãi suất thị trường mở, tần suất giao dịch, doanh số giao dịch …. Thứ ba, bên cạnh đó, tác giả cũng đã đánh giá những ưu điểm và những hạn chế của hoạt động OMO từ khi triển khai đến nay; phân tích những nhân tố ảnh hưởng và các nguyên nhân hạn chế để từ đó rút ra những vấn đề nổi bật cần phải nghiên cứu giải quyết trong thời gian tới và khẳng định cần có giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở để đảm bảo thực hiện hiệu quả các mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia. Do kiến thức còn hạn hẹp, nhất là về NHTW và CSTT, nên đề án không thể tránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế. Rất mong được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng trung ương – Học viện ngân hàng. 2. Tiền tệ và hoạt động ngân hàng – Lê Vinh Danh – NXB chính trị quốc gia 1997. 3. Phân tích thị trường tài chính – David Blacke – NXB Tp Hồ Chí Minh. 4. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại – David Cox. 5. Tiền tệ ngân hàng và hoạt động tài chính – Frederic S. Mishkin. 6. Tạp chí ngân hàng số 9/2001, 6/2001, 10/2002, 3/2003. 7. Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số 2, số 3, số 4 năm 2001. 8. 9. 10. hang 11. 12. Các đề tài, luận án, bài báo,...khác có liên quan . Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 63 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 64 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfomo_121116204540_phpapp01_0834.pdf
Luận văn liên quan