Đề tài Nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng, dầu và áp dụng tại Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ PHÒNG VỆ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU 1. Các vấn đề cơ bản về phòng vệ rủi ro 1.1. Đặc điểm của thị trường dầu lửa 1.2. Rủi ro biến động giá xăng dầu 1.3. Tại sao phải phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu 2. Ứng dụng các công cụ phái sinh vào phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu 2.1. Forwards 2.2. Futures 2.3. Options 2.4. Swaps 2.5. Các công cụ khác 3. Kinh nghiệm về phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu của Trung Quốc CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH VÀO PHÒNG VỆ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM 1. Vai trò của xăng dầu đối với nền kinh tế 1.1. Nhu cầu dầu thế giới 1.2. Biến động giá xăng dầu thế giới 1.3. Nhu cầu dầu Việt Nam 1.4. Biến động giá xăng dầu ở Việt Nam 2. Phân tích hiện trạng sử dụng các công cụ phòng vệ giá xăng dầu tại Việt Nam 2.1. Cơ chế quản lý giá xăng dầu ở Việt Nam 2.2. Hiện trạng của việc phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu tại Việt Nam 2.3. Đánh giá tình hình kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp Việt Nam 2.4. Tồn tại, nguyên nhân và phương hướng 3. Phân tích khả năng ứng dụng công cụ phái sinh vào phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu tại Việt Nam CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI 1. Các giải pháp vĩ mô 2. Các giải pháp vi mô KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

pdf84 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 2405 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng, dầu và áp dụng tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giá xăng A92 trong nước 400 đ/lít, từ 10500 đ/lít xuống còn 10100 đ/lít, đây là lần giảm giá xăng thứ ba liên tiếp tính từ thời điểm giá bán lẻ xăng trong nước đạt mức cao kỷ lục 12000 đ/lít từ vào đầu tháng 8/2006. Hai lần giảm gần nhất diễn ra vào tháng 9 và tháng 10/2006, với mức giá xăng A92 tương ứng là 11000 và 10500 đ/lít. Khi trên thị trường thế giới, giá dầu đang có xu hướng đi xuống, một phần quan trọng do thời tiết mùa đông giai đoạn này tương đối ấm, khiến nhu cầu nhiên liệu tại các nước phát triển giảm sút, giá dầu WTI tại New York giảm xuống còn 52,99 $/thùng. Cùng thời gian này, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 04/2007QĐ–BTC, theo đó thuế nhập khẩu xăng dầu tăng từ mức phổ biến 10% lên 15%, xăng máy bay giữ nguyên mức thuế 15%, dầu hoả, dầu thắp sáng chịu mức thuế nhập khẩu 5% thay cho 0% trước đó. 51 Ngày 6/3/2007, theo quyết định 0374 của Bộ thương mại, giá bán lẻ xăng A92 tăng 900 đ/lít, lên mức 11000 đ/lít, thuế nhập khẩu xăng dầu cũng thay đổi từ 15% xuống 10%. Việc điều chỉnh có thể được coi là lỡ đà so với tình hình chung trên thị trường thế giới khi giá dầu thế giới đang trong xu hướng giảm. Ngày 7/5/2007, giá xăng A92 tăng 800 đ/lít lên mức 11800 đ/lít, giá các loại dầu hoả, mazút, diesel vẫn giữ nguyên, đây là lần đầu tiên mặt hàng xăng tăng giá kể từ thời điểm các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu được tự quyết định giá xăng (1/5). Trên thế giới, giá dầu thô cũng ở xu hướng tăng nhanh, có thời điểm chạm mức 67 $/thùng, tại Singapore giá xăng 95 ngày 2/5 lúc mở cửa cũng đạt tới 87,01 $/thùng, tăng 6,1% so với tuần trước đó. Cuối tháng 5, cùng với động thái nhằm giảm lỗ cho doanh nghiệp và khả năng tăng giá xăng cũng đã được giảm đi trước mắt, Bộ Tài chính đã quyết định giảm thuế nhập khẩu xăng từ 5% xuống 0%, giúp các doanh nghiệp có thời gian theo dõi và tính toán lại các phương án giá của mình. Ngày 16/8/2007, giá xăng A92 được giảm 500 đ/lít còn 11300 đ/lít, thông tin về việc giảm giá xăng khi đó không còn là bất ngờ với người tiêu dùng trong nước khi các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập liên tục đến vấn đề này và còn được Chính phủ nhất trí thông qua nhằm kiềm chế giá tiêu dùng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp còn chần chừ vì họ sẽ chỉ hoà vốn do có lượng hàng tồn kho được nhập về với mức giá cao trước đó, cộng thêm hàng mới nhập về thì mức lãi không còn ở mức 800 đ/lít theo tính toán của liên bộ Công thương – Tài chính, mà chỉ khoảng 500 đ/lít. Đợt tăng giá xăng ngày 22/11/2007 được coi là khá bất ngờ khi trước đó, giá mặt hàng này tin tưởng sẽ được bình ổn để hỗ trợ mục tiêu kiềm chế đà tăng chỉ số giá tiêu dùng, vì tháng 12 là tháng cao điểm tiêu dùng, cộng thêm ảnh hưởng của giá xăng dầu vào giá của hàng hoá, dịch vụ, sẽ làm tình hình giá tiêu dùng đáng lo ngại hơn. Mức tăng giá khá cao, khoảng 15% (tăng 1700 đ/lít), mức tăng cụ thể của xăngA92 là từ 11300 đ/lít lên 13000 đ/lít. Giá dầu hoả và diesel cũng lần lượt tăng từ 8600 đ/lít và 8700 đ/lít lên 10200 đ/lít, mazút tăng thêm 2500 đ/kg (từ 6000 đ/kg lên 8500 đ/kg). Ngoài nguyên nhân trực tiếp từ 52 biến động giá trên thị trường thế giới, tư tưởng chỉ đạo của Chính phủ là ổn định giá cả trong nước nhưng ổn định tương đối theo thị trường, yêu cầu “chấp nhận và thích ứng với mặt bằng thế giới” trong lộ trình hội nhập của nền kinh tế một lần nữa được đặt ra. Hiện tại, sau lần tăng mạnh hơn 30% từ 14.500 lên 19.000 đ/lít thì giá xăng đã được điều chỉnh giảm 2 lần, còn 17.000 đ/lít. Qua những diễn biến trên cho ta thấy, giá xăng dầu ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi biến động giá trên thế giới, nhưng có tính ổn định hơn do chính sách trợ giá của Chính Phủ. Giá thường được cố định trong khoảng thời gian dài rồi mới thay đổi, điều này có thể mang đến tâm lý “sốc”, ngại thích ứng cho người tiêu dùng, tạo ra những suy nghĩ bất cập. Cũng như phân tích trong chương I, chính sách trợ giá cũng tạo ra nhiều sự không tích cực cho nền kinh tế và trong hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, không phù hợp về dài hạn. Biểu đồ 2.9: Giá dầu thế giới và giá xăng ở Việt Nam cùng thời điểm 0 20 40 60 80 100 120 140 3/7 /20 05 17 /8/ 20 05 22 /11 /20 05 27 /4/ 20 06 9/8 /20 06 12 /9/ 20 06 6/1 0/2 00 6 13 /1/ 20 07 6/3 /20 07 7/5 /20 07 16 /8/ 20 07 22 /11 /20 07 25 /2/ 20 08 21 /7/ 20 08 14 /8/ 20 08 27 /8/ 20 08 USD/thùng 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 nghìn đồng/lít Giá dầu thế giới Giá xăng Việt Nam Từ bảng số liệu trên, ta có thể tính toán mức độ biến động của giá xăng Việt Nam so với giá dầu thế giới bằng cách tính toán độ lệch chuẩn (mức lệch trung bình của giá tại các thời điểm so với giá trung bình) và hệ số nhọn của giá dầu thế giới và của giá xăng Việt Nam. Gọi T là giá dầu thế giới, V là giá dầu Việt Nam Ta tính được giá dầu trung bình của thế giới trong giai đoạn từ 03/07/1005 đến 27/08/2008 là 70.86$ và giá xăng trung bình của Việt Nam là 11.270đ. 53 Phương sai của T là Var(T) = 351.83  Độ lệch chuẩn Se(T)=18.76, từ đó tính được hệ số nhọn 26.0 86.70 76.18)( )( T TSe T Phương sai của V là Var(V) = 4.47  độ lệch chuẩn Se(V)=2.11 (nghìn đồng), từ đó tính được hệ số nhon 19.0 27.11 11.2)( )( V VSe V 2. Phân tích hiện trạng sử dụng các công cụ phòng vệ giá xăng dầu tại Việt Nam. 2.1. Cơ chế quản lý giá xăng dầu ở Việt Nam. Theo Nghị định 55/2007/NĐ-CP, các DN xăng dầu được tự quyết định giá bán xăng theo cơ chế thị trường, trên cơ sở giá thế giới, thuế nhập khẩu, các chi phí đầu vào... đảm bảo đúng quy định của Nhà nước, lợi nhuận hợp lý để tái đầu tư, phát triển sản xuất và các hoạt động kinh doanh của DN. Nhà nước chỉ quản lý gián tiếp bằng các quy định về điều kiện kinh doanh xăng dầu; điều hòa cung cầu; mua, bán hàng dự trữ quốc gia và thực hiện kiểm soát các yếu tố hình thành giá khi có dấu hiệu liên kết độc quyền về giá hay đầu cơ nâng giá. Theo cơ chế hiện tại, hằng năm Bộ Tài chính vẫn dự trù một khoản ngân sách để bù lỗ cho giá xăng dầu khi giá xăng dầu thế giới liên tục tăng cao. Nguồn bù lỗ này thường được trích một phần từ xuất khẩu dầu thô. Giá và thuế nhập khẩu xăng dầu được Nhà nước thực hiện linh hoạt theo biến động thị trường. Tuy vậy, trong thời gian qua, các doanh nghiệp gọi là có quyền tự quyết định giá bán xăng theo cơ chế thị trường nhưng quyết định của doanh nghiệp vẫn phải trình lên cơ quan quản lý xem xét và thông qua. Những quyết định về tăng giảm giá bán xăng hiện nay chủ yếu vẫn do liên bộ Tài chính – Công thương ban hành. Thời gian qua, giá xăng dầu trên thế giới có những biến động mạnh mẽ vượt xa mọi dự đoán, do vậy cơ chế quản lý này vẫn dễ gây nên những xáo trộn trên thị trường, dẫn đến những cơn sốc thị trường như trong thời gian vừa qua đã thấy. Cùng với chính sách Nhà nước, thị trường thế giới biến động mạnh trong khoảng thời gian qua đã bộc lộ những bất cập tồn tại của chính sách cũ và yêu cầu bức thiết ứng dụng của chính sách mới. 54 2.2. Hiện trạng sử dụng các công cụ phòng vệ ở Việt Nam Tại Việt Nam hiện nay, trong lĩnh vực tài chính cũng như trong kinh doanh xăng dầu, việc sử dụng các công cụ phòng vệ đã được nhắc đến nhiều nhưng có một thực tế trái ngược là lại rất ít được sử dụng. Ứng dụng các công cụ chống rủi ro đang gặp rất nhiều khó khăn và vướng phải sự ngập ngừng e ngại của nhiều doanh nghiệp. Theo Ngân hàng nhà nước (SBV) các công cụ tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp đã có tương đối đầy đủ trên thị trường Việt Nam. Các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro tương đối phong phú như công cụ hoán đổi lãi suất, công cụ hoán đổi tiền tệ, các hợp đồng tương lai hàng hoá, hợp đồng quyền chọn tiền tệ... Tuy nhiên kết quả không thu được như mong muốn, không nhiều DN biết đến và sử dụng options, nghiệp vụ này không những ra đời muộn màng ở Việt Nam mà còn chưa hấp dẫn các DN. Ngay cả trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chứng khoán phái sinh vẫn còn là những sản phẩm mới lạ, đang ở giai đoạn đầu áp dụng, mới chỉ có sản phẩm phái sinh ở dạng đơn giản được áp dụng đó là quyền mua cổ phần, chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi và Repo chứng khoán. Giá bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam hiện tại do Nhà nước quy định, quy mô các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam, kể cả Petrolimex cũng chưa tham gia thị trường giao sau. Tổng giám đốc Petrolimex Bùi Ngọc Bảo cho biết: “Thời gian qua, Petrolimex vẫn thực hiện phương thức chọn mua theo các hình thức giá cố định để tự bảo hiểm cho mình, nhưng với số lượng không nhiều. Các nghiệp vụ hedging chỉ có thể thực thi khi kinh doanh xăng dầu đã chuyển sang cơ chế thị trường hoàn toàn đầy đủ”. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể chọn lựa đi mua các hợp đồng giao sau xăng dầu nhưng những công ty nước ngoài chỉ chấp nhận bảo hiểm giá xăng dầu cho Việt Nam khi nào Việt Nam có một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, những công ty nước ngoài không dám nhận bảo hiểm giá cho Việt Nam bởi họ chỉ bù lỗ cho doanh nghiệp khi giá thế giới biến động chứ không bù giá lỗ do Nhà nước tạo ra để bình ổn giá. Chỉ khi Nhà nước thực hiện cơ chế thị trường đầy đủ, thì DN mới có thể mua hàng có bảo hiểm giá để cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro. Một cách mua giá rẻ tốt nhất 55 hiện giờ đang được các đầu mối nhập khẩu sử dụng là chọn nhiều công ty đấu thầu, ví dụ trung bình để mua một lô hàng, Saigon Petro phải chọn hơn 20 công ty đấu thầu để cung cấp. Có thể nhận định rằng, đối với một nền kinh tế non trẻ như Việt Nam thì các công cụ phái sinh này còn rất mới và xa lạ với tư duy kinh tế bấy lâu nay. Việc sử dụng các công cụ phòng vệ giá xăng dầu ở Việt Nam hiện nay hầu như chưa có gì, hiện trạng sử dụng vướng phải rất nhiều điều bất cập từ những lý do khách quan của nền kinh tế lẫn lý do chủ quan từ phía các chủ thể tham gia. Khả năng ứng dụng công cụ phái sinh vào phòng vệ giá xăng dầu trong thời điểm hiển nay có thể thành công được hay không thì còn phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề, đặc biệt là vai trò ra quyết định của Nhà nước. 2.3. Đánh giá tình hình kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, thị trường xăng, dầu của Việt Nam được nhập khẩu bởi 11 doanh nghiệp đầu mối. Đứng đầu là trên thị trường xăng, dầu là Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex, thành lập năm 1956, cũng là doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh vực nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu ở nước ta. Chiếm khoảng 60% thị phần trong nước. Công ty TNHH dầu khí TP. HCM-Saigon Petro sản lượng nhập khẩu của doanh nghiệp này khoảng 1 triệu tấn/ năm. Công ty thương mại kỹ thuật và đầu tư PETEC nguyên là công ty PETECHIM. Công ty xăng dầu hàng không là công ty cung cấp nhiên liệu hàng không duy nhất cho các hãng hàng không nội địa và quốc tế tại các sân bay dân dụng Việt Nam và các sản phẩm hóa dầu trên thị trường Việt Nam. Công ty xăng dầu quân đội là doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu. Công ty thương mại xăng dầu đường biến. Công ty thương mại dầu khí Đồng Tháp. Công ty Petechim. Công ty liên doanh dầu khí Mekong. Công ty vật tư tổng hợp Phú Yên. Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ. Về cách thức nhập khẩu xăng, dầu của các doanh nghiệp. Theo tâp quán mua bán xăng, dầu thì các doanh nghiệp nhập khẩu thường mua theo C&F căn cứ giá PLATT’S Singapore. Vào thời điểm ký hợp đồng cả bên mua và bên bán 56 đều chưa xác định được giá của lô hàng, chỉ đến ngày giao hàng giá này mới được xác định bằng chỉ số Platts của ngày hôm đó. Trong khi đó giá xăng, dầu trên thị trường thế giới biến động rất lớn, thường là vài chục cent cho đến trên dưới 1 USD trong một ngày, vào những thời kỳ chiến tranh hoặc khủng hoảng chính trị ở các nước xuất khẩu dầu thì giá dầu có thể biến động đến 5 USD trong một ngày. Với cách làm như vậy các doanh nghiệp của chúng ta hoàn toàn thụ động trước những biến động của giá xăng, dầu thế giới. Việc để giá hợp đồng thả nổi theo giá thị trường, các công ty không thể kiểm soát được lợi nhuận của mình cũng như là việc định giá bán. Biểu đồ 2.10: Giá xăng dầu nhập khẩu từ thị trƣờng Singapore và giá bán trong nƣớc. (Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tại SaPa; 5,6 tháng 6 năm 2008 xây dựng giá FOB Singapore dựa theo bộ năng lượng Mỹ) Tuy nhiên các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam được trợ cấp bù lỗ từ chính phủ đề ổn định giá bán trong nược. Theo thống kê của của các công ty tư vấn quốc tế thì trong năm 2004 số tiền mà chính phủ dùng để bù lỗ cho xăng,dầu là 680 USD (Báo tuổi trẻ). Theo lời của thứ trưởng bộ công thương Nguyễn Cấm Tú, hai tháng đầu năm 2008 các doanh nghiệp nhập khẩu đã lỗ 3.561 tỷ đồng, riêng Petrolimex lỗ tới 2700 tỷ đồng không kể đến việc lỗ từ xăng. Tính trong 6 tháng năm nay giá xăng, dầu luôn ở mức cao, 57 có lúc giá dầu lên tới 140$/thùng . Kết thúc phiên giao dịch ngày 1/7/08 tại thị trường New York Mỹ, giá dầu thô tiếp tục tăng nhẹ và lên ngưỡng gần 137$/thùng. Còn tại Singapore - nơi cung cấp nguồn hàng chính cho các nhà nhập khẩu Việt Nam, giá xăng dầu vẫn đứng ở mức cao với 167,45$/thùng đối với dầu diezel và 139,27$/thùng đối với xăng A92 thành phẩm. Với giá xăng, dầu trên thị trường thế giới như vậy sau khi cộng thêm các khoản như lệ phí giao thông 500 đồng một lít, chi phí bến bãi, bán hàng khấu hao... giá thành bán lẻ phải gần 19.000 đồng. Như vậy với giá bán 14.500 đồng, mỗi lít xăng A92 doanh nghiệp lỗ khoảng 4.500 đồng. Còn với giá dầu 13.900 đồng hiện tại, doanh nghiệp lỗ khoảng 6.000 đồng. Theo liên bộ Tài chính – Công thương tính trung bình trong 6 tháng năm nay các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu lỗ 1.900 đồng cho mỗi lít xăng A92. 2.4. Tồn tại, nguyên nhân và phƣơng hƣớng. 2.4.1 Cơ chế quản lý và chính sách của Nhà nƣớc thực sự chƣa hợp lý và thiếu đồng bộ. Xét trên tổng thể thì cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu của Nhà nước còn bộc lộ các điểm yếu về nhiều mặt. Sự quản lý chưa tốt này dẫn đến việc thị trường xăng dầu trong nước trở nên kém phát triển, quá trình chuyển sang cơ chế thị trường hoàn toàn đầy đủ diễn ra chậm chạp và gặp nhiều vướng mắc. Dưới đây là một số mặt quản lý chưa tốt nếu không khắc phục kịp thời sẽ gây khó khăn cho việc phòng vệ rủi ro:  Việc sử dụng các công cụ thuế, giá và chỉ tiêu nhập khẩu chưa đồng bộ. Đặc biệt là quan hệ giữa thuế nhập khẩu và giá bán lẻ tối đa đã làm giảm thu ngân sách nhiều tỷ đồng khi giá thế giới có xu hướng giảm mạnh mà không tận thu tức thời. Ngược lai, Nhà nước đã không nuôi dưỡng được nguồn thu từ doanh nghiệp do sự điều chỉnh giảm thuế quá chậm trễ dẫn đến sự thua lỗ của doanh nghiệp không phải do lãng phí nguồn lực của chính họ.  Cơ chế phối hợp giữa các Bộ ngành còn thiếu đồng bộ và không kiên quyết, chẳng hạn: khi giá xăng dầu thế giới giảm vượt quá mức thu của khung thuế cho phép, không tìm ra công cụ để tận thu, cũng không xử lý giảm giá nếu 58 thấy cần thiết (do tâm lý ngại điều chỉnh mặt bằng giá) dẫn đến thiệt hại cho cả Nhà nước và người tiêu dùng, khi mà lãi gộp quá lớn. Xu thế tiêu thụ qua nhiều trung gian càng tăng làm cho lãi gộp bị chia nhỏ qua nhiều giai đoạn lưu thông, người tiêu dùng vẫn phải chịu mức giá cao so với giá thành thực tế.  Về quản lý điều kiện kinh doanh xăng dầu : đây có thể là mảng hoạt động bị buông lỏng trong nhiều năm, là nguyên nhân chủ yếu làm cho thị trường phát triển lộn xộn, không tuân thủ quy hoạc phát triển ngành hàng xăng dầu, không đảm bảo an toàn. Công tác quản lý thị trường xăng dầu tại các địa phương chưa thực sự được các cơ quan chức năng liên ngành quan tâm đầy đủ đã góp phần gây mất ổn định thị trường.  Khi thực hiện kiểm tra bù lỗ, các đoàn không có sự gắt gao, kỹ lưỡng trong việc kiểm tra chấp hành chính sách giá, hoa hồng của Nhà nước tại các doanh nghiệp đầu mối, kiểm tra chênh lệch giá vốn mua vào giữa các doanh nghiệp. Việc bù lỗ được thực hiện cào bằng giữa các doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp kém.  Trong chính sách của Nhà nước có sự xung đột giữa hai mục tiêu giá bán linh hoạt theo giá thế giới và ổn định giá cả của mặt hàng chiến lược có quy mô lớn nhất trong nền kinh tế hiện nay, vì thế việc chuyển sang cơ chế thị trường hoàn toàn đầy đủ đế thực hiện nghiệp vụ hedging là khó. 2.4.2. Bất cập và khó khăn từ phía các doanh nghiệp Tình trạng độc quyền vẫn đang diễn ra trên thị trường xăng dầu trong nước, nếu chỉ có một số công ty được độc quyền kinh doanh xăng dầu thì hiệu ứng phòng ngừa rủi ro cho người tiêu dùng sẽ không đạt được. Chỉ có một số ít doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu như vậy thì rõ ràng có thể xảy ra chuyện giá dầu thế giới lên thì giá xăng dầu ở Việt Nam lên, giá dầu thế giới giảm thì giá xăng dầu ở Việt Nam đứng yên. Một khi đã có sự độc quyền ngành thì dù có thành lập thị trường giao sau các doanh nghiệp cũng có thể tham gia thao túng giá, khiến giá thay đổi theo hướng có lợi cho họ. Ngay cả trong lĩnh vực tài chính cũng như trong kinh doanh xăng dầu, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa sử dụng các phương pháp phòng vệ rủi ro 59 vì nhiều lý do. Trong đó mức độ am hiểu về sản phẩm phái sinh chính là rào cản lớn nhất cho việc sử dụng các sản phẩm này. Kế tiếp là khung pháp lý. Khung pháp lý bao gồm những yếu tố cụ thể:  Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh  Chưa có quy định về hạch toán kế toán đối với các giao dịch và phí phải trả cho việc sử dụng sản phẩm phái sinh.  Tâm lý lời thì không ai khen nhưng lỗ thì hội đồng quản trị hoặc chủ doanh nghiệp kỷ luật. Ngoài ra, cũng còn một số lý do khác đáng quan tâm như:  Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm phái sinh. Đây là thực trạng ở Việt Nam. Các chuyên gia đào tạo về sản phẩm phái sinh hiện còn quá ít, hơn nữa số đơn vị cung cấp và tham gia giao dịch phái sinh không bao nhiêu. Chính vì vậy, số chuyên gia có cơ hội tiếp cận với thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh ở Việt Nam là rất hạn chế.  Phí thực hiện sản phẩm phái sinh cao. Chính rào cản này đã hạn chế doanh nghiệp đến với sản phẩm phái sinh. Tuy các hợp đồng kỳ hạn và giao sau không phải trả phí trực tiếp, nhưng quyền chọn hiện có phí “khá cao” (theo đánh giá của nhiều cá nhân và doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh).  Còn nhập nhằng giữa phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Doanh nghiệp không nghĩ rằng sử dụng sản phẩm phái sinh là trả một khoản tiền để mua một giấc ngủ ngon cho mình, đồng thời chủ động trong các kế hoạch kinh doanh và kiểm soát được chi phí của mình trong tương lai. Thay vào đó, họ chỉ mong muốn kiếm được lợi nhuận và không muốn lỗ.  Thiếu nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh. Đây là một trở ngại khá lớn làm cho các doanh nghiệp tuy thấy những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất sắp tới tác động rất lớn đến kết quả kinh doanh của mình, thậm chí nhiều doanh nghiệp nhập khẩu còn thấy rõ ràng nguy cơ phá sản do tỷ giá tăng nhưng họ không biết tìm đâu ra nhân sự ở cơ quan mình để thực hiện các chương trình quản trị rủi ro bài bản. 60  Thông tin về sản phẩm phái sinh khó tiếp cận. Điều này liên quan đến mức độ “khó hiểu” và không đầy đủ của các hướng dẫn về sản phẩm phái sinh của tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh và của các tài liệu đào tạo. Sở dĩ như vậy là vì sản phẩm phái sinh là một chủ đề khó, đòi hỏi trình độ chuyên môn đáng kể. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn thiếu chuyên gia am hiểu sâu về sản phẩm phái sinh có thể giải thích một cách đơn giản dễ hiểu vấn đề này cho doanh nghiệp.  Tâm lý ỷ lại. Chính sách bảo hộ ngầm của Nhà nước như việc để cho tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam và lãi suất cơ bản của tiền đồng Việt Nam liên tục ổn định trong nhiều năm đã khiến cho các doanh nghiệp hoàn toàn không chú ý đến phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất. Bảng 2.5: Thống kê các nguyên nhân cản trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh Nguồn: Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang (Đại học Kinh tế TPHCM) 2.4.3. Phƣơng hƣớng của phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu tại Việt Nam. Như đã nêu ở các phần trước, xăng dầu có vai trò rất lớn vời mỗi nền kinh tế. Với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay là một nước hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung xăng, dầu từ bên ngoài và nền kinh tế của chúng ta đã tham gia hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới thì mỗi biến động về giá xăng, dầu đều ảnh hưởng tới sự ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội. 61 Chính vì vậy phương hướng của việc phòng vệ giá xăng, dầu là tạo ra bình ổn về giá trong nước và thế chủ động trước những biến động của giá xăng dầu. Làm giảm nguy cơ lạm phát, giảm gánh nặng ngân sách, tạo sự chủ động trong việc quản lý mở cửa thị trường theo như các cam kết quốc tế. Đối với doanh nghiệp sản xất kinh doanh việc phòng vệ giá xăng, dầu mang lại sự ổn định, bảo đảm lợi nhuận, hạn chế các rủi ro, tạo cơ chế thông thoáng cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh. Đối với xã hội mang lại sự ổn định trong đời sống, giảm khoảng cách giàu nghèo. Tựu chung lại phương hướng của việc phòng vệ giá xăng, dầu là cân bằng được sự biến động về giá, tránh cho nên kinh tế những cú “ sốc”. tạo tâm lý yên tâm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, thế chủ động trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng, ổn định xã hội, tạo điều kiện để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. 3. Nghiên cứu khả năng ứng các công cụ phái sinh để phòng vệ giá xăng, dầu ở Việt Nam Theo phân tích của hãng BP Anh, với giá bán trong nước và giá thành nhập khẩu các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu hoàn toàn có thể giảm lỗ nếu sử dụng các cộng cụ phái sinh để phòng vệ giá. Theo tính toán của BP Anh. 1.giá thành 2.giá nhập 3.giá bán trong nứơc Sơ đồ 2.4: Khi chƣa thực hiện hedging 62 Khi chưa hedging trung bình trong tháng 4/2006 lỗ trung bình của các doanh nghiệp nhập khẩu là 494VND/lít, lỗ trung bình cả năm 2007 là 1188VND/lít. Cũng theo tính toán của BP Anh, nếu doanh nghiệp thực hiện hedging với các công cụ phái sinh: Sơ đồ 2.5 : Hedge bằng swap Nếu hedging bằng hoán đổi swap thì trong tháng 4/2006 lỗ 1094VND/lít nhưng trung bình trong cả năm 2007 doanh nghiệp chỉ lỗ 465VND/lít. 1.giá thành 2.giá nhập 3.giá bán trong nứơc 1.giá thành 2.giá nhập 3.giá bán trong nứơc Sơ đồ 2.6: Hedge bằng quyền chọn mua (call) 63 Thực hiện hedging bằng quyền chọn mua với giá thực hiện(strike) cho năm 2006 là 80$/thùng, năm 2007 là 75$/thùng thì trong tháng 4/2006 doanh nghiệp lỗ trung bình là 795VND/lít, lỗ trung bình năm 2007 là 769 VND/lít. Còn nếu doanh nghiệp thực hiện hedging bằng collar với giá thực hiện của quyền chọn mua là 80$/thùng và giá thực hiện của quyền chọn bán là 60$/thùng trong cả 2006 và 2007 thì tháng 4/2006 lỗ trung bình của doanh nghiệp chỉ là 295VND/lít và năm 2007 lỗ trung bình cũng chỉ là 622VND/lít. Như vậy so với mức lỗ 1188VND/lít doanh nghiệp đã có lợi 566VND/lít. Theo như phân tích lỗ trước và sau khi thực hiện hedging thấy rằng nếu các doanh nghiệp sử dụng hedging thì sẽ giảm khá nhiểu tổn thất. Qua những phân tích trên, cho thấy chắc chắn có thể ứng dụng được các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu tại Việt Nam. Những nghiệp vụ này sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn và hiệu ứng tích cực cho thị trường xăng dầu trong nước, nó hoàn toàn nằm trong khả năng thực hiện của các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp. Mới đây nhất, sự ra đời của công ty TNHH Kinh doanh và Dịch vụ năng lượng BIDV (BIDV Energy) với chức năng chính là loại bỏ rủi ro trong kinh doanh xăng dầu, đây như là một minh chứng điển hình của việc sẽ dần xuất hiện những nghiệp vụ phòng vệ rủi ro tại Việt Nam trong thời gian tới. Vấn đề thực hiện những nghiệp vụ phòng vệ rủi ro chỉ còn là loại bỏ tâm lý ngại ngần từ phía các chủ thể tham gia và xử lý dần dần 1.giá thành 2.giá nhập 3.giá bán trong nứơc Sơ đồ 2.7: Hedge bằng collar 64 những vướng mắc trong vấn đề này mà tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải. Các giải pháp trong chương III được đề cập sau đây sẽ giúp cho việc tiếp cận và thực hiện những nghiệp vụ này diễn ra trong thời gian sớm nhất. Kết luận chƣơng II. Chương II tập trung phân tích diễn biến giá xăng dầu, kết quả hoạt động kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp Việt nam và khả năng ứng dụng các công cụ phái sinh vào phòng vệ rủi ro giá xăng dầu ở Việt Nam. Các phân tích cho thấy, vai trò của việc kiểm soát giá xăng dầu có một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn chưa có những nghiệp vụ phòng rủi ro giá xăng dầu; điều này hoàn toàn trái ngược với sự lên xuống thất thường của giá thế giới và biến động giá xăng dầu ở Việt Nam do nhiều yếu tố như địa chính trị, kinh tế - xã hội, thời tiết...ảnh hưởng đến. Việc ứng dụng các công cụ phái sinh vào phòng vệ giá xăng dầu vướng phải rất nhiều khó khăn đến từ phía quản lý Nhà nước và bản thân các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Để ứng dụng tốt các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro cần hoàn thiện các điều kiện cần thiết như: ổn định phát triển ngành dầu khí, nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước, hoàn thiện môi trường pháp lý, hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp. 65 CHƢƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ RỦI RO GIÁ XĂNG DẦU TRONG THỜI GIAN TỚI Nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu trong hoạt động kinh doanh xăng dầu trong nước hầu như không có, việc áp dụng thì vẫn bị hạn chế bởi các yếu tố nội tại của chính các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, những chủ thể tham gia khác và những ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài như các yếu tố vĩ mô và tầm phát triển của thị trường tài chính phái sinh. Các giải pháp được luận giải dưới đây nhằm khắc phục những nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó. 1. Nhóm giải pháp vĩ mô 1.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu của Nhà nƣớc Nhà nước nên đặt hệ thống cung ứng xăng dầu là một bộ phận trong tổ hợp năng lượng của đất nước để xây dựng cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh xăng dầu theo đúng tính chất của tổ hợp năng lượng quốc gia, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, đúng chất lượng cho các nhu cầu của nền kinh tế. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh mặt hàng xăng dầu phải hợp lý, khoa học, có hiệu quả và đồng bộ; đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu cần phải đổi mới “cả gói”, nghĩa là đổi mới đồng bộ về: quyền nhập khẩu, chỉ tiêu nhập khẩu, giá cả, thuế, quyền phân phối và tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. 1.2. Hoàn thiện khung pháp lý cho các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu Hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường phái sinh, tiền đề cho việc áp dụng nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu. Thị trường phái sinh là một thể chế bậc cao của thị trường tài chính, được chi phối bởi các quy luật phức tạp. Do đó, thị trường phái sinh cần được vận hành trong một khuôn khổ pháp luật thống nhất, hoàn chỉnh và đồng bộ. Nếu không có sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật đồng bộ và chặt chẽ thì việc tổ chức thị trường cũng như tiến hành sử dụng các công cụ phái sinh không thể thuận lợi. Các chủ thể chỉ hào hứng tham gia nghiệp vụ phòng vệ rủi ro khi họ nhận thấy quyền lợi và trách nhiệm của họ được đảm bảo. Cho đến nay, trong Luật chứng khoán năm 2006 và nghị định 14/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành là những văn bản pháp lý cao nhất 66 quy định về các sản phẩm phái sinh trên TTCK nhưng chưa nêu cụ thể về các sản phẩm nào, còn hiện tại chưa có một văn bản nào của Nhà nước quy định cụ thể việc sử dụng các công cụ phái sinh, các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro giá xăng dầu. Do đó khi chỉnh sửa và hoàn thiện khung pháp lý cần phải quy định cụ thể về khái niệm, tính chất, phân loại, chủ thể tham gia, quyền và nghĩa vụ của những người sở hữu các hợp đồng giao dịch công cụ phái sinh. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong thời gian trước mắt, Nhà nước và liên bộ Tài chính - Công thương cần nghiên cứu, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật độc lập về cách thức thực hiện, biện pháp để khuyến khích doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh, quy định về hoạch toán kế toán đối với các giao dịch và phí phải trả cho việc sử dụng sản phẩm phái sinh…làm cơ sở cho hoạt động cấp phép, giám sát rủi ro và kiểm tra, thanh tra của liên bộ Tài chính – Công thương đối với hoạt động phòng vệ rủi ro của doanh nghiệp. Trong tương lai, Nhà nước phải xem xét ban hành Luật giao dịch công cụ tài chính phái sinh điều chỉnh thống nhất về nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu theo như thông lệ của nhiều quốc gia khác trên thế giới. 1.3. Lập quỹ bình ổn giá Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã sử dụng quỹ bình ổn như Venezuela, Nga, Kazakhstan, Norway... giải pháp này đã mang lại cho họ nhiều hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế.  Những điều kiện của việc tổ chức hình thành và quản lý quỹ bình ổn giá: Chiến lược hoạt động của quỹ là bình ổn giá xăng dầu trong nước, về dài hạn quỹ có thêm cả chức năng tiết kiệm (khi có các nhà máy lọc dầu đi vào hoạt động thì Việt Nam sẽ dự trữ được nhiều xăng dầu hơn) và chức năng đầu tư, đầu tư tài sản của quỹ vào các tài sản tài chính khác nhau, tạo ra hiệu suất sử dụng cho lượng vốn trong quỹ. Điều cấp thiết của việc quản trị quỹ là phải thành lập một bộ máy tổ chức quản lý có cấu trúc và tính chuyên biệt hoá với những mức độ độc lập khác nhau từ phía Chính phủ để giảm bớt sự hành chính và cưỡng chế trong việc điều hành vì điều này sẽ hạn chế sự vận hành quỹ không đúng những mục đích đặt ra, 67 những quyết định của Nhà nước đôi khi sẽ mâu thuẫn với chiến lược hoạt động của quỹ. Nhà nước phải coi việc quản lý quỹ bình ổn là một chính sách thuộc chính sách tài chính hoặc chính sách tài khoá của Nhà nước. Chính vì thế, nhóm nghiên cứu kiến nghị tổ chức quản lý phải là đơn vị riêng biệt có tính đầu tư được thành lập trực thuộc bộ Tài chính hoặc Ngân hàng trung ương, trong dài hạn quỹ có thể có thêm cả chức năng đầu tư, có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như kinh nghiệm ở nhiều nước, nhằm tăng cường lượng vốn của quỹ và tránh tình trạng số tiền trong quỹ bị “nằm im”. Thời điểm hiện tại, Chính phủ nên cho doanh nghiệp tạm vay lượng quỹ ban đầu, đó là hướng tốt để khuyến khích doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ thực thi phương án này có hiệu quả. Nhóm nghiên cứu kiến nghị thành lập Uỷ ban phòng vệ rủi ro giá xăng dầu, uỷ ban hoạch định các chính sách và có trách nhiệm giải trình kết quả hoạt động với cơ quan cấp trên (bộ Tài chính hoặc Ngân hàng trung ương), uỷ ban này sẽ được một cơ quan khác của Chính phủ giám sát (có thể là Kiểm toán nhà nước).  Cơ chế hoạt động và tác dụng của quỹ bình ổn giá: Để quỹ bình ổn có thể hoạt động vững chắc và ổn định, nhóm nghiên cứu kiến nghị 3 hướng giải pháp nhằm huy động lượng vốn hoạt động cho quỹ. Có thể tiến hành 1 trong 3 hướng giải pháp này hoặc kết hợp các hướng với nhau. Thứ nhất, trích lợi nhuận của các doanh nghiệp có được khi giá dầu thế giới giảm để cho vào quỹ và sẽ bù ra khi các doanh nghiệp lỗ. Thứ hai, sử dụng số tiền có được từ xuất khẩu dầu thô để hỗ trợ cho quỹ bình ổn giá xăng dầu. Thứ ba, bộ Tài chính thực hiện việc điều tiết thuế nhập khẩu xăng dầu bám sát với diễn biến của giá dầu thế giới. Tăng thuế khi giá dầu thế giới giảm và dùng nguồn thu từ thuế đưa vào quỹ bình ổn, giảm thuế khi giá dầu thế giới giảm cộng với việc bù lỗ cho các doanh nghiệp từ quỹ bình ổn giá. Quỹ được lập ra cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu dưới sự quản lý của Nhà nước. Quỹ bình ổn giá sẽ được sử dụng để giảm tần suầt và biên độ điều chỉnh giá so với giá biến động thực tế của thế giới diễn ra hàng ngày, khi áp 68 dụng theo nguyên lý này sẽ không xảy ra việc giá tích tụ trong thời gian dài rồi biến động đột biến như đã diễn ra. Áp dụng phương án này có nghĩa là khi giá thế giới thay đổi, người tiêu dùng sẽ chưa mua được xăng dầu theo giá thực tế lúc đó, vì đã có van điều tiết quỹ, nhưng quan trọng là người tiêu dùng cũng sẽ được hưởng đúng mức giá bình quân của thế giới tính trên chu kỳ 1 năm. 1.4. Doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu tự quyết định giá bán xăng dầu theo giá định hƣớng dựa vào giá của thị trƣờng nƣớc ngoài. So với quy chế cũ, giá bán lẻ mặt hàng xăng dầu sẽ do Liên bộ Tài chính - Công Thương tự xây dựng và công bố. Trên cơ sở này, doanh nghiệp được đề xuất giá bán mới khi thị trường biến động, không vượt quá 10% đối với mặt hàng xăng và 5% đối với dầu. Còn theo quy chế mới này, giá bán định hướng sẽ do doanh nghiệp tự xây dựng và ban hành trên cơ sở giá cả các hợp đồng nhập khẩu xăng dầu và đăng ký liên bộ Tài chính – Công thương để áp dụng cho cả năm. Liên bộ sẽ xem xét và cũng định hướng theo giá của một số thị trường nước ngoài để định hướng lại cho doanh nghiệp. Trong trường hợp giá nhập khẩu vượt quá giá định hướng, doanh nghiệp mới được đề xuất phương án tăng giá bán lẻ đối với mặt hàng xăng trong nước. Ngược lại khi dầu thế giới giảm so với giá định hướng trên, doanh nghiệp phải giảm giá bán lẻ trong nước cho người tiêu dùng. Áp dụng theo kinh nghiệm của Trung Quốc, chính sách giá định hướng do Nhà nước công bố ổn định trong 1 năm, thay cho cơ chế giá tối đa đối với mazut, dầu diesel và dầu hoả hiện nay đang áp dụng là rất cần thiết nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong nước, bảo đảm ổn định giá cả, góp phần ổn định kinh tế - xã hội trong một thời gian nhất định. Giá định hướng của Nhà nước nên định hướng theo giá trên một vài thị trường giao dịch lớn như Singapore, New York…Chính sách giá định hướng sẽ giúp từng bước xoá bỏ dần việc phải bù lỗ nhiều tỷ đồng cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, thực hiện theo chủ trương xây dựng cơ chế thị trường hoàn toàn đầy đủ của Nhà nước. 69 1.5. Tăng dần khối lƣợng xăng dầu dự trữ quốc gia, quy hoạch phát triển hệ thống kho dự trữ quốc giá hợp lý và khoa học; nghiên cứu dự trữ quốc gia về xăng dầu bằng ngoại tệ với một tỷ lệ nhất định Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, hoạt động dự trữ quốc gia cũng sẽ được tăng cường và phát triển; quy hoạch tổng thể cả về lực lượng dự trữ cùng các điều kiện vật chất kèm theo, đảm bảo cho quá trình này thực sự tương xứng với ý nghĩa chiến lược của nó. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn, cần phải xây dựng lộ trình thời gian cho phù hợp với khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng và vốn ngoại tệ đảm bảo dự trữ quốc gia. Các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và giao định mức hợp lý để quản lý nguồn xăng dầu dự trữ quốc gia (định mức hao hụt, chi phí bảo quản xăng dầu…). Ngoài việc dự trữ quốc gia bằng hàng hoá cần phải dự trữ bằng ngoại tệ để giảm bớt sức ép về đầu tư kho chứa, chi phí bảo quản: có như vậy mới chủ động đối phó được khi có diễn biến phức tạp. Nghiên cứu cơ chế chính sách về dự trữ quốc gia phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt lưu ý thời điểm năm 2009, khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cho phép sau 7 năm thực hiện, các thương nhân Mỹ được quyền tham gia nhập khẩu xăng dầu vào thị trường Việt Nam. 1.6. Phát triển đồng bộ các nhóm giải pháp, hƣớng tới thành lập thị trƣờng giao sau các sản phẩm xăng dầu tại Việt Nam Sau khi phân tích những nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng mô hình thị trường hàng hoá giao sau ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã đề xuất dự kiến các bước đi để hình thành thị trường hàng hoá Giao sau của Việt Nam. Giai đoạn 1: Là giai đoạn chuẩn bị các cơ sở khoa học và thực tiễn cần thiết để hình thành mô hình có qui mô hợp lý, có cơ sở khoa học và thực tiễn, tiến tới triển khai xây dựng thị trường hàng hoá giao sau của Việt Nam. Soạn thảo được các tài liệu, ấn phẩm để nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp trong xã hội, đào 70 tạo được một đội ngũ bao gồm các nhà quản lý, các nhà chuyên môn và các đối tượng khác. Hình thành được một khuôn khổ pháp lý để hướng dẫn các hoạt động của thị trường hàng hoá giao sau ở Việt Nam. Giai đoạn 2: Theo mô hình đã có của giai đoạn 1 tiến hành xây dựng, vận hành thử và tiếp tục hoàn thiện các trung tâm giao dịch, chuẩn bị các điều kiện để chuyển trung tâm giao dịch thành Sở giao dịch hàng hoá giao sau của Việt Nam (Sở giao dịch hoàn chỉnh) với các sàn giao dịch tương đối hiện đại, một đội ngũ các nhà quản lý, các nhà chuyên môn đủ trình độ có thể tham gia giao dịch bằng điện tử với các trung tâm giao dịch khác của khu vực và thế giới. Giai đoạn 3: Tiếp tục nâng cao và hoàn thiện về mọi mặt: + Nâng cao hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị giao dịch. + Tiếp tục mở rộng các chủng loại hàng hoá và thành phần cho các thương nhân nước ngoài tham gia giao dịch. + Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển các Sở giao dịch từ sở hữu Nhà nước thành các Sở giao dịch cổ phần. Như vậy kết thúc giai đoạn này là Việt Nam đã có một thị trường hàng hoá giao sau với 2 - 3 Sở giao dịch đủ tầm hoạt động cho các thương nhân của Việt Nam, khu vực và quốc tế. Đồng thời Nhà nước cũng xóa bỏ nghĩa vụ bao cấp của mình đối với một số Sở giao dịch. Tóm lại, thị trường hàng hoá giao sau đã được nhiều nước trên thế giới triển khai xây dựng từ lâu và đã thể hiện được vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Thị trường hàng hoá giao sau là một tầng phát triển bậc cao của sự trao đổi hàng hoá tập trung, phương tiện làm cho sản xuất gắn với thị trường, thực hiện xã hội hóa rủi ro trong sản xuất và kinh doanh, tức là san sẻ bớt rủi ro từ các nhà sản xuất trực tiếp sang các nhà kinh doanh chuyên nghiệp, đồng thời là một công cụ để dự báo thị trường. Ở Việt Nam cho đến nay khái niệm về thị trường hàng hoá giao sau còn là mới mẻ, mặc dù thị trường này là một công cụ thích hợp và rất quan trọng phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. 71 2. Nhóm giải pháp hƣớng tới các doanh nghiệp Các giải pháp hướng tới các doanh nghiệp nhằm vào việc tăng năng lực hoạt động của các doanh nghiệp tạo thế chủ động tự phòng vệ rủi ro về giá xăng, dầu. Điều này là rất quan trọng, đối với các doanh nghiệp trên thế giới việc tự phòng vệ trước các rủi ro rất được coi trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc sống còn của công ty. Tuy nhiên ở Việt Nam do ảnh hưởng của nền kinh tế bao cấp kéo dài, trình độ phát triển ở mức thấp cho nên việc tự phòng vệ cho mình trước các rủi ro nói chung và rủi ro giá xăng, dầu nói riêng của các doanh nghiệp hiện rất thấp, các doanh nghiệp vẫn còn tâm lý ỉ lại, trông chờ vào chính sách bù lỗ, trợ giá của nhà nước. Trong cam kết hội nhập kinh tế quốc các doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của mình, chủ động trước các biến động của giá cả thế giới. Trong đó có giá xăng, dầu đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Thiết nghĩ để làm tốt việc phòng vệ rủi ro về giá xăng, dầu các doanh nghiệp Việt Nam cần làm ngay là: Một là: Nâng cao nhận thức một cách đầy đủ về sản phẩm phái sinh, nhất là các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng, dầu. Doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về tác dụng của công cụ phái sinh trong việc phòng vệ rủi ro (hedging) biến động động giá xăng dầu. Hai là: Nâng cao mức độ am hiểu của doanh nghiệp về các loại hợp đồng, sản phẩm phái sinh. Việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh và hoạt động của thị trường tài chính phái sinh cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng. Thậm chí, khi rủi ro sảy ra rất có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản hay khủng hoảng tài chính nếu hoạt động của thị trường, của doanh nghiệp không hiệu quả. Vì vậy, khi thực hiện phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu doanh nghiệp phải xác định đúng công cụ - đúng mục đích. Trong điều kiện như hiện nay để thực hiện được điều đó doanh nghiệp cần: + Chủ động hợp tác với kinh tế thế giới + Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên am hiểu nghiệp vụ phòng vệ rủi ro biến động giá xăng dầu. 72 4. Thực Hiện Lệnh. Thực hiện lệnh mua bán theo thẩm quyền. Bám theo thị trường danh mục. Quản lý các mỗi quan hệ. 2. Ban Quản Lý Rủi Ro Họp hàng quý quyết định khái quát chung. Phân bổ thẩm quyền. 1. Phân Tích Chuẩn bị tổng quan thị trường. Bao quát rủi ro. Đề đạt chiến lược Hedging. 3. Cán Bộ Quản Lý Rủi Ro. Hàng tháng- Hàng tuần. Theo dõi thị trường. Hoàn thiện chiến lược Hedging. + Các doanh nghiệp phải có tư tưởng chủ động tự phòng vệ các rủi ro. Có môi trường để cởi bỏ tâm lý e ngại khi sử dụng các công cụ tài chính phái sinh với lý do được không ai khen lỗ thì bị phê bình. Ba là: Thiết lập ban quản lý rủi ro biến động giá xăng dầu. Các công ty doanh xăng dầu của chúng ta nên sắp xếp cơ cấu tổ chức – Thiết lập một ban quản lý rủi ro biến động giá xăng, dầu. Theo kinh nghiệm trên thế giới thì ban này sẽ hoạt động như sau. Về cấu tổ chức: Ban gồm đại diện từ phòng tài chính, phòng xuất nhập khẩu. phòng hợp tác quốc tế. Cách thức hoạt động: Ban này sẽ năm dưới quyền của giám đốc tài chính CFO hoặc trưởng phòng xuất nhập khẩu. Khi thực hiện phòng vệ rủi ro biến động giá xăng, dầu doanh nghiệp cần quan tâm một số điều sau. 73 Kết luận chƣơng 3. Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu có vai trò chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Việc phòng vệ giá xăng dầu sẽ làm giảm nguy cơ lạm phát, gánh nặng ngân sách, tạo sự chủ động trong việc quản lý mở cửa nền kinh tế thị trường, là cơ sở phục vụ cho việc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra. Áp dụng các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu tại Việt Nam còn là giải pháp để mang lại sự ổn định, bảo đảm lợi nhuận, hạn chế các rủi ro, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Để áp dụng nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế tại Việt Nam, các giải pháp của nhóm nghiên cứu được luận giải theo hai hướng: Các giải pháp vĩ mô nhằm cải tạo và phát triển môi trường hoạt động cho các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro và các giải pháp vi mô nhằm hoàn thiện và phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các nghiệp vụ này. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp là điều kiện quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của đề tài nghiên cứu. Những yêu tố quan tâm trước khi hedging Hướng dẫn nội bộ của công ty về hedging Cạnh tranh Số lượng (tỷ lệ hedge hiện tại) Mức biến động Giá và biến động trong quá khứ Thời gian giữa lúc bắt đầu hedge và thời điểm hiện tại Nghiên cứu về kinh tế Xác xuất về giá sẽ xuống thấp hơn xảy ra trước lúc hedge Xác xuất giá Spot sẽ vượt giá Swap trong thời gian hedge Giá kỳ hạn tương lai Thời gian hedge Tính toán cẩn trọng về hedge 74 KẾT LUẬN Tại Việt Nam, liên bộ Tài chính – Công thương và Chính phủ đang từng bước nghiên cứu để thực hiện và áp dụng các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu, nhằm kìm hãm đà tăng của chỉ số giá cả CPI, hạn chế tình trạng lạm phát, qua đó thúc đẩy sự ổn định và tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Áp dụng các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu ở Việt Nam là một xu thế khách quan và nhu cầu cấp thiết. Bằng việc vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra: Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về rủi ro giá xăng dầu và các công cụ phái sinh phòng chống rủi ro áp dụng trong nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu. Thứ hai, phân tích vai trò của việc kiểm soát giá xăng dầu và khả năng ứng dụng các công cụ phái sinh vào phòng vệ rủi ro giá xăng dầu ở Việt Nam, từ đó đánh giá các điều kiện, các nhân tố hạn chế việc áp dụng những nghiệp vụ này ở Việt Nam. Thứ ba, đề xuất hệ thống các giải pháp để áp dụng vào phòng vệ rủi ro giá xăng dầu trong tiến trình hội nhập và phát triển nền kinh tế Việt Nam. Nội dung nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học này là một vấn đề phức tạp và khá mới đối với Việt Nam trên phương diện lý luận và thực tiễn, vì vậy chắc chắn trong đề tài nghiên cứu khoa học này còn rất nhiều hạn chế. Tuy nhiên, với mong muốn được tìm tòi nghiên cứu và bày tỏ quan điểm về tầm quan trọng của việc áp dụng nghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng dầu tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ nhận được nhiều sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn để có thể lĩnh hội và hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực này. 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tham khảo tiếng Việt. 1. Các bài báo trong www.vneconomy.com.vn 2. Các bài báo trong www.vnexpress.net 3. Các bài nghiên cứu và số liệu trong website của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, bộ Công thương, bộ Thương mại (cũ), bộ Tài Chính, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan - bộ Tài chính... 4. Quyết định số 187/2003/QĐ-TTG về việc ban hành quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu do Thủ Tướng Chính phủ ban hành. 5. Các rào cản trong việc sử dụng các sản phẩm phái sinh – đăng trên website ĐH Kinh tế TP.HCM của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang. 6. Báo cáo của World Bank về tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2008 – www.worldbank.org.vn 7. Cơ chế quản lý giá xăng dầu của Trung Quốc – TS Nguyễn Thị Thu Vụ Chính Sách Tiền Tệ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 8. www.saga.vn II. Tài liệu tiếng Anh. 1. Commodity saving funds – www.worldbank.org 2. Các báo cáo trong website của Cơ quan Năng lượng quốc tế www.iea.org 3. Các báo cáo thường niên của hãng dầu BP Anh 4. Các báo cáo thường niên của Sở giao dịch giao sau Thượng Hải www.shfe.com.cn 5. www.wtrg.com 6. www.nymex.com 76 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Cơ cấu về khối lƣợng giao dịch hợp đồng tƣơng lai tại một số Sở giao dịch hàng hoá lớn so với cả thế giới năm 2007 CBOT 11% ICE 11% DCE 28% Nơi khác 29% NYMEX 21% NYMEX CBOT ICE DCE Nơi khác Phụ lục 2: Cơ cấu về khối lƣợng giao dịch hợp đồng quyền chọn tại một số Sở giao dịch hàng hoá lớn so với cả thế giới năm 2007 NYMEX 57% CBOT 22% ICE Futures US 10% LME 6% Nơi khác 5% NYMEX CBOT ICE Futures US LME Nơi khác Nguồn số liệu: Hiệp hội các sở giao dịch thế giới Nguồn số liệu: Hiệp hội các sở giao dịch thế giới 77 Phụ lục 3: Điều chỉnh giá xăng dầu của Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2003-2007 Trung Quốc Mặt hàng Mức giá (CNY/lít) Lần điều chỉnh Mức tăng (CNY/lít) % thay đổi Việt Nam Mặt hàng Mức giá (đ/lít) Lần điều chỉnh Mức tăng đ/lít % thay đổi 2003 Xăng 3574 5(4↑;1↓) 221 6,2 2003 Xăng 5600 1↑ 200 3,7 Dầu 3233 4(3↑;1↓) 97 3 Dầu 4400 1↑ 300 7,3 2004 2004 Xăng 4325 2 ↑ 530 14 Xăng 7500 3↑ 1900 33,9 Dầu 3830 2 ↑ 500 15 Dầu 4850 2 ↑ 450 10,2 2005 2005 Xăng 4975 4(3↑;1↓) 650 15 Xăng 9500 4(3↑; 1↓) 2000 26,7 Dầu 4390 3↑ 560 14,6 Dầu 7500 3↑ 2650 54,6 2006 2006 Xăng 5735 2↑ 750 15,3 Xăng 10500 4(2↑; 2↓) 1000 10,5 Dầu 5040 2↑ 650 14,8 Dầu 8600 1↑ 1100 14,7 2007 2007 Xăng 5980 2(1↑;1↓) 500 4.3 Xăng 13000 5(4↑; 1↓) 2500 23,8 Dầu 5520 1↑ 500 9.5 Dầu 10200 1↑ 1600 18,6 Tổng 5 năm Xăng 3574 - 5980 15(11↑; 4↓) 1941 67,3 Tổng 5 4năm Xăng 5600- 13000 17(13↑; 4↓) 7600 140,7 Dầu 3233 - 5520 12(11↑; 1↓) 1807 70,7 Dầu 4400- 10200 8↑ 6100 148,8 Nguồn: www.sbv.vn 78 Phụ lục 4: Thuế suất thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm xăng dầu của Trung Quốc (năm 2001) Dầu thô 0,5 % Các sản phẩm lọc dầu (trung bình) 7,3 % Xăng 9 % Dầu diesel 6 % Dầu hoả 9 % Naptha 6 % Nguồn: Hiện đại hoá ngành dầu khí Trung Quốc: Cải cách cơ cấu và quy định (Tài liệu WorldBank năm 2001) Phụ lục 5: Giá trị giao dịch hàng hoá trên SHFE qua các năm 4909.79 6666.59 8544.29 1640.41 60539.91 84326.41 65402.03 126100.57 231304.66 0 50000 00000 150000 200 00 250000 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 (Đơn vị : 100 triệu NDT) 79 Phụ lục 6: Quy định về chất lƣợng tiêu chuẩn của Fueloil trên SHFE Nguồn : www.shfe.com.cn Phụ lục 7: Tỷ lệ hedging của một số hãng hành không trên thế giới 0 0 0 15 9 34 22 57 41 80 72 20 90 0 20 40 60 80 100 Air Tra n Ala sk a Am eri ca n Am eri ca n We st Co nti ne nti al De lta Je tB lue So uth we st No rth we st Air Fr an ce Ea sy Je t Lu fth an sa Oa nta s % (Nguồn: Lehman Brothers, MSNBC news, Goldman Sachs, alnine news 80 Phụ lục 8: Bảng điều chỉnh giá bán xăng, dầu ở Việt Nam ĐVT: Đồng/lít và Đồng/Kg- FO Lần Thời điểm áp dụng xăng 83 Xăng 90 Xăng 92 Xăng 95 Diesel 0.5%S Dầu Mazut FO3S Dầu Hỏa năm 2005 1 12h ngày 29/3 7.600 7.800 8.000 8.300 5.500 4.000 4.150 4.900 2 12h ngày 03/07 8.400 8.600 8.800 9.100 6.500 4.700 4.850 6.500 3 Từ 18h ngày 17/08 9.600 9.800 10.000 10.300 7.500 5.200 5.350 7.500 4 Từ 6h ngày 22/11 9.100 9.300 9.500 9.800 7.500 5.200 5.350 7.500 năm 2006 1 Từ 20h ngày 27/4 10.600 10.800 11.000 11.300 7.900 5.500 5.650 7.900 2 Từ 16h ngày 9/8 11.600 11.800 12.000 8.600 8.600 3 Từ 17h ngày 12/9 10.600 10.800 11.000 4 Từ 6/10 10.100 10.300 10.500 năm 2007 1 Từ 13/1 9.700 9.900 10.100 2 Từ 6/3 10.600 10.800 10.600 6.000 8.600 3 Từ 7/5 10.400 11.600 11.800 12.100 4 Từ 16/8 10.900 11.100 11.300 11.600 8.700 5 Từ 12/9 10.600 10.800 11.000 6 Từ 22/11 13.000 12.200 12.200 năm 2008 1 25/2/2008 14.500 13.900 9.500 13.900 Ghi chú : Giá đã bao gồm thuế GTGT và phí xăng dầu. Nguồn: Cục quản lý giá - Bộ Tài chính 81

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfNghiệp vụ phòng vệ rủi ro giá xăng, dầu và áp dụng tại Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan