Đề tài Nội dung cập nhật - Hay - tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng nhân văn đó vào thời kỳ đổi mới

Đề tài: TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN ĐÓ VÀO THỜI KỲ ĐỔI MỚI MỤC LỤC MỤC LỤC 1 A. MỞ ĐẦU 2 1.Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3 3. Giới hạn của đề tài 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 5. Đóng góp của đề tài 3 B. NỘI DUNG 4 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 4 1.1. Cơ sở lý luận của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 4 1.1.1 Khái niệm “con người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh 4 1.1.2 Tình yêu thương vô hạn của Hồ Chí Minh đối với con người 6 1.1.4 Đối với Hồ Chí Minh con người vừa là mục tiêu giải phóng vừa là động lực của cách mạng 10 1.2 Cơ sở thực tiễn của nhân văn Hồ Chí Minh 12 1.2.1 Cơ sở hoạt động thực tiễn 12 1.2.2 Sự nghiệp đổi mới và bài học của Hồ Chí Minh 13 1.2.3 Phấn đấu cho hạnh phúc của con người trong một xã hội công bằng 15 2. Giáo dục lý tưởng sống và giải pháp đối với vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay 16 2.1 Giáo dục lý tưởng sông cho thế hệ trẻ hiện nay 16 2.1.1 Thực trạng về lối sống của thế hệ trẻ hiện nay 16 2.1.2 Giáo dục lý tưởng sống cho thế hệ trẻ hiện nay 20 2.2 Giải pháp đối với vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay 22 2.2.1 Giải pháp chung 22 2.2.1.1 Nhà trường 22 2.2.1.2 Gia đình 24 2.2.1.3 Ra ngoài xã hội 24 C. KẾT LUẬN 29 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

doc30 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 1834 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nội dung cập nhật - Hay - tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng nhân văn đó vào thời kỳ đổi mới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
kẻ chạy lại”, thấm nhuần lòng nhân đạo bao la của Hồ Chí Minh, dân tộc chúng ta đã không bao giờ hạ mình xuống mức “trả thù báo oán”, mà bao giờ cũng đứng ở tầm cao của lòng khoan dung vốn gắn liền với bản chất nhân đạo của cách mạng Việt Nam. Đối với cán bộ Đảng viên có lỗi, Hồ Chí Minh bao giờ cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người nâng niu trân trọng khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong con người, lấy đó là biện pháp giúp đỡ những người có thói hư, tật xấu. Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái đội của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho các phần thiện trong cong người này nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phảo đập cho tơi bời”.[6] Chủ nghĩa bao dung trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ là sự quan tâm đến hạnh phúc của con người, mà còn là tấm lòng rộng mở đối với cả tự nhiên. Người không quên dặn dò các thế hệ sau này phải bảo vệ hệ sinh thái cho đa dạng, cân bằng. Người đề xuất ý tưởng trồng cây và bảo vệ sự trong sạch của môi trường sống. Trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề cần giáo dục đạo đức sinh thái cho nhân dân. Sinh thời, Người trồng cây, nuôi cá, chăm chút từng gốc bưởi, hàng bụt mọc nơi mình sinh sống. Người thương con người và thương yêu cả cây trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh con người vừa là mục tiêu giải phóng vừa là động lực của cách mạng Trung thành với tư tưởng của chủ nghĩa yêu nước truyền thống về vai trò của con người trong sự nghiệp cứu quốc và với quan điểm của con người trong sự nghiệp cứu quốc và với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử, trong khi khẳng định mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định rằng sự nghiệp giải phóng là do chính bản thân con người thực hiện. Từ những bài viết đầu tiên sau khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng chính sự áp bức của đế quốc, thực dân sẽ thúc đẩy và buộc nhân dân các thuộc địa và nhân dân Việt Nam nổi dậy đấu tranh giành quyền sống. Sự đầu độc về tinh thần không thể làm tê liệt khát vọng giải phóng của họ. Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã thấy ở nhân dân bị áp bức bóc lột, gầy còm xơ xác ấy cái sức mạnh lấp biển vá trời, đã thấy ở những người bị đầu độc, bị thất học ấy cái trí tuệ lớn lao. Người đã chỉ rằng: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”. Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với nhân dân ta dựa trên sự hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của dân tộc và con người Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".[7] Phát hiện về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nước ta, Hồ Chí Minh đã bổ sung cho nhận thức về truyền thống yêu nước của dân tộc, tạo thành nền tảng vững chắc cho lòng tin của Người đối với nhân dân. Khác với giai cấp vô sản phương Tây, vào những năm đầu thập kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam vừa thoát thai từ đồng ruộng, đang còn ở giai đoạn phát triển “tự nó”, đang còn rất non yếu. Nhưng từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, được tin 600 thợ nhuộm Chợ Lớn quyết định bãi công, Nguyễn Ái Quốc đã coi đó là dấu hiệu chứng tỏ ở Việt Nam “giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ cách mạng về lực lượng và giá trị của mình”[8].Người coi đó là dấu hiệu của thời đại và tin tưởng rằng cùng với dân tộc, giai cấp công nhân sẽ đào mồ chôn chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam: “Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”[9] . Đây là một sáng tạo hết sức có quan trọng của Hồ Chí Minh.Giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với nông dân phải tập hợp được toàn thể dân tộc chung quanh mình; ngược lại, dân tộc phải được giai cấp công nhân lãnh đạo. Giai cấp công nhân tìm được sức mạnh của mình ở dân tộc; ngược lại, dân tộc cảm thấy ở giai cấp công nhân người dẫn đường thắng lợi cho mình. Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với nhân dân vừa bắt rễ sâu và vững chắc trong truyền thống yêu nước của dân tộc lại vừa đặt trên tầm cao của sự phát hiện và khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Chính vậy mà Hồ Chí Minh tin tưởng một cách có cơ sở khoa học rằng nhân dân ta chẳng những có khả năng cứu nước mà còn có khả năng tiến lên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc và tin tưởng vững chắc rằng sức mạnh của nhân dân được thức tỉnh và được tổ chức là vô địch. Cần phải thức tỉnh tầng lớp thanh niên của những năm 20 thế kỷ XX, làm cho họ hồi sinh. Cần phải tổ chức họ thành đội ngũ. Cần phải thức tỉnh và tổ chức hàng chục triệu nông dân thất học và sống phân tán trong lũy tre làng. Cần phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể nhân dân, dân tộc. Cần phải thức tỉnh và tổ chức chính bản thân giai cấp công nhân. Có vậy mới có thể tạo ra và phát huy sức mạnh duy nhất mà trong buổi ban đầu cách mạng có trong tay để chống lại và lật đổ bộ máy đàn áp và lừa bịp khổng lồ của chủ nghĩa thực dân và các thế lực phản động đồng minh của nó. Câu hỏi đặt ra là: Bắt đầu từ tay trắng, sợi chỉ trở đi, thì “Cách mệnh trước hết phải có cái gì ?”. Hồ Chí Minh đã khẳng định: Trước hết phải có Đảng cách mạng và học thuyết cách mạng. Đảng ấy, là Đảng Cộng sản Việt Nam. Học thuyết ấy, là chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì lợi ích của con người Hồ Chí Minh đã suốt đời để công sức xây dựng Đảng và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênnin, phát huy sức mạnh vô tận của con người trong sự nghiệp cách mạng. Cơ sở thực tiễn của nhân văn Hồ Chí Minh Cơ sở hoạt động thực tiễn Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước mang trong mình một dòng máu hòa quyện của hàng triệu người dân Việt Nam, hành trang Người mang theo đó là lòng yêu nước, thương dân, yêu con người đúng nghĩa. Trái tim Người cùng nhịp đập với muôn vàn trái tim của những người nô lệ mất nước, mất tự do trên toàn thế giới. Khát vọng giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người đang sục sôi, cháy bỏng trong tâm hồn của một vị lãnh tụ vĩ đại. Hiện diện trên các nước thuộc địa và các nước tư bản phát triển, Người đã chứng kiến tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa. Ở đâu có chủ nghĩa thực dân là ở đó có tàn ác, có vô nhân đạo, có dân tộc thuộc địa sống trong màn đêm u tối. Đằng sau các khái niệm tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền… là sự giả nhân giả nghĩa, phản bội, lừa bịp của chủ nghĩa đế quôc và là sự đau khổ tột cùng của nhân dân lao động bị áp bức bóc lột. Cứu nước và giải phóng dân tộc là mong muốn vô cùng lớn lao của Hồ Chí Minh, một con người có tâm hồn của một chiến sĩ nhiệt thành cách mạng một trái tim yêu nước thương dân sẵn sàng chịu hy sinh to lớn vì nước vì dân. Cả cuộc đời của Người cũng luôn đấu tranh không mệt mõi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và cho dân tộc khác thông qua khẩu hiệu: “giúp bạn là tự giúp mình”. Lý do như Người đã từng viết: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.[10] Bản án chế độ thực dân Pháp trên tinh thần luận tội kẻ thù đã xâm phạm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân con người và dân tộc, không chỉ ở Việt Nam, Đông Dương mà còn ở cả châu Phi, châu Mỹ Latinh. Tội ác của chủ nghĩa thực dân được Người vạch trần tố cáo trong tác phẩm này là: Bóc lột bằng "thuế máu" đọa đày, coi rẻ mạng sống của những người "dân bản xứ" trên các chiến trường Châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất để bảo vệ “công lí và tự do; Tàn bạo, dã man “đầu độc dân bản xứ bằng thuốc phiện, rượu cồn”; Gán vào cho người dân bản xứ bao loại sưu thuế “nặng oằn lưng”, công trái, phu phen tạp dịch khốn khổ; Là “chính sách ngu dân” để dễ bề cai trị; Là những luật lệ vô tội vạ, hết sức khắc nghiệt, cho phép các nhà cầm quyền hễ ngứa tay thì phạt vạ, tống tù và thảm sát đẫm máu đối với dân bản xứ... Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời như một nguồn ánh sáng mới xé tan đám mây đen bao phủ trên đất trời Việt Nam và đất trời các nước thuộc địa khác. Tác phẩm ra đời, đáp ứng cả lý trí và tình cảm của hàng triệu quần chúng cách mạng ngưỡng vọng và khát khao một chân trời mới, nơi đó đất nước được giải phóng, người dân thoát khỏi kiếp nô lệ, dân tộc không còn bị áp bức bóc lột. Như người đi trong đêm tối tìm thấy ánh sáng dẫn lối, tác phẩm đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của nhiều lớp người tiến bộ đang mơ hồ, đang băn khoăn về một con đưòng giải phóng sáng sủa, tìm đến tương lai với một hướng đi đúng đắn để giải phóng dân tộc. Sau Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm Đây công lý ở Đông Dương, Người đã vạch trần cảnh địa ngục trần gian tối tăm mà thực dân Pháp đang đày đọa dân ta. Người cũng đã dành phần nhiều mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để vạch trần tội ác tầy trời của thực dân Pháp ở Việt Nam: Pháp đã hai lần bán rẻ nước ta cho Nhật, “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng...” Người chỉ rõ nguồn gốc của mọi niềm đau nỗi khổ của con người nô lệ mất nước và con người cùng khổ là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã chỉ rõ con đường giải phóng của con người Việt Nam, góp phần chỉ rõ con đường giải phóng của các dân tộc thuộc địa và của nhân dân lao động toàn thế giới. Sự nghiệp đổi mới và bài học của Hồ Chí Minh Từ năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, chấm dứt thời kỳ chiến tranh, mở ra giai đoạn xây dựng hòa bình. Đảng và nhân dân ta đứng trước những nhiệm vụ lớn lao với muôn vàn khó khăn về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Kinh tế lâm vào khủng hoảng, đời sống nhân dân thiếu thốn, cùng cực. Về mặt chính trị, chủ nghĩa đế quốc và những phần tử phản động chưa cam chịu thất bại. Thêm vào đó là tình hình thế giới lại diễn ra không thuận lợi. Chế độ xã hội chủ nghĩa lần lượt sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Với di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, qua 15 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước, nhân dân ta đã nỗ lực và sáng tạo, đẩy nhanh được nhịp độ phát triển kinh tế. Mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra được toàn Đảng, toàn dân phấn đấu thực hiện. Đó là: “... nhân dân có cuộc sống no đủ, có nhà ở tương đối tốt, có điều kiện thuận lợi về đi lại, học hành, chữa bệnh, có mức hưởng thụ văn hóa khá. Quan hệ xã hội lành mạnh, lối sống văn minh, gia đình hạnh phúc”. [11] Với những nỗ lực trên, Đảng ta bước đầu thực hiện lòng mong mỏi suốt đời của chủ tịch Hồ Chí Minh là đem lại cho nhân dân đời sống ấm no, hạnh phúc. Theo Hồ Chí Minh, đó là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng. Người đã từng dạy rằng: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” và rằng “ Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. Trong quá trình đổi mới đất nước, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội cũng đã nảy sinh không ít những hiện tượng tiêu cực. Nền kinh tế thị trường đã phát huy tích cực của cá nhân, tinh thần sáng tạo của mọi người trong sản xuất và kinh doanh, vừa làm giàu cho đất nước, vừa cải thiện đời sống riêng tư. Song ở nhiều nơi, nhiều lúc đã nảy sinh không ít những con người cá nhân ích kỷ chỉ biết chạy theo đồng tiền, chỉ chú trọng đời sống vật chất, chỉ tìm mọi cách để hưởng thụ những thú vui thấp kém, bất chấp dư luận xã hội, chà đạp lên đạo đức và hủy hoại nhân phẩm của mình. Phải chăng những điều trên đây là hậu quả của nền kinh tế thị trường ? Là sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế- xã hội? Không lẽ cứ kinh tế đi lên là đạo đức xuống thấp? Những hiện tượng trên đây có sự tác động của hoàn cảnh khách quan, nhưng cũng có nguyên nhân từ thái độ chủ quan của con người trong đó có việc lãng quên những lời răng dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh về sự nghiệp và rèn luyện đối với con người. Gần đây, Đảng ta nêu lên khẩu hiệu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, chính là khái quát và thực hiện lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội mới, con người mới. Dân giàu và nước mạnh là mục tiêu phấn đấu của chúng ta hiện nay, nhưng mục đích đó vẫn chưa đủ. Dân giàu nước mạnh, nhưng con người còn phải phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nữa. Phấn đấu cho hạnh phúc của con người trong một xã hội công bằng Công bằng xã hội là khát vọng của con người và tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”. Có ý kiến cho rằng, để đạt được tăng trưởng kinh tế thì phải tạm thời hy sinh công bằng xã hội. Ý kiến ấy xa lạ với tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với bản chất chế độ xã hội phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ tư bản thì có thể tăng trưởng kinh tế mà vẫn không có công bằng xã hội. Trái lại, ở chế độ xã hội của chúng ta, cần phải thực hiện công bằng xã hội của chúng ta, cần phải thực hiện công bằng xã hội tương ứng với mỗi bước phát triển kinh tế, sao cho hai lĩnh vực này hỗ trợ lẫn nhau và tư tưởng “tất cả vì con người”. Trong nền kinh tế nhiều nhiều thành phần, có thành phần kinh tế và bộ máy hành chính sự nghiệp của Nhà nước, chế độ phân phối trong phạm vi này đương nhiên là phải theo nguyên tắc phân phối theo lao động. Các chế độ tiền lương, đãi ngộ, khen thưởng mà nhà nước ta thực hiện đều hướng theo nguyên tắc ấy, dẫu rằng còn có những điều chưa hợp lý đang được thực hiện và uốn nắn. Tuy nhiên, hiện nay có một hiện tượng nhức nhối lương tâm, không thể chấp nhận, đó là tình trạng chênh lệch giữa một bên là những người lao động chân chính, những người có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng cho Tổ quốc và một bên là bọn tham nhũng, mọt dân hại nước, làm ăn phi pháp, làm giàu bất chính, ăn cắp của công, tướt đoạt của nhân dân, ăn chơi sa đọa. Tội ác của bọn chúng đang gây nên lòng căm phẫn, cho giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, bôi đen các giá trị cao đẹp của chế độ xã hội của chúng ta. Đối với hạng sâu mọt, dòi mọ như bọn chúng, ngay từ ngày 3-10-1946, trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa đầu tiên, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Về việc Chính phủ liên khiết, thì chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các Ủy Ban làng đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao, chính phủ đã hết sức là gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị. Những kẻ ăn hối lộ đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.Chống tham nhũng và các tệ nạn đi liền với “quốc nạn” này rõ ràng là vấn đề nóng bỏng, cấp bách trong việc thực hiện công bằng xã hội. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, công bằng xã hội chấp nhận đảm bảo đồng thời lợi ích của người lao động lẫn lợi ích của các nhà đầu tư, chấp nhận bình đẳng của mọi thành phần kinh tế tuy vẫn khẳng định vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước. Nhiệm vụ của chính sách xã hội là thống nhất các nhân tố ấy trong nhiệm vụ phát triển kinh tế và hạn chế các mặt tiêu cực, cố hữu của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng xấu đến đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, cũng như ảnh hưởng xấy đến truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn, đòi hỏi cả khoa học lẫn nghệ thuật lãnh đạo và quản lý trong việc chế định và thực hiện các chính sách xã hội cụ thể trên con đường phát triển của đất nước. Và, tất cả đều được thể chế hóa bằng pháp luật. Nhà nước đã ban bố và còn tiếp tục ban bố các điều luật và các chính sách xã hội theo tư tưởng chỉ đạo trên. Như vậy công bằng xã hội được đảm bảo bằng pháp luật. Mọi công dân, mọi tầng lớp xã hội, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, đều được pháp luật bảo vệ. Như vậy là công bằng. Ai vi phạm pháp luật, không tuân thủ pháp luật thì bị pháp luật trừng phạt. Như vậy cũng công bằng. Giáo dục lý tưởng sống và giải pháp đối với vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay Giáo dục lý tưởng sông cho thế hệ trẻ hiện nay Thực trạng về lối sống của thế hệ trẻ hiện nay Một đất nước đã và đang phát triển luôn quan tâm đến sự phát triển của thanh thiếu niên, nhi đồng– thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước .Những truyền thống văn hóa ngàn đời liệu có được kế thừa, những thành quả kinh tế ngày hôm nay liệu sẽ phát triển hay tụt hậu trong tương lai….Tất cả phụ thuộc vào giới trẻ ,phụ thuộc từ sự định hướng và giáo dục thanh niên học sinh từ tấm bé .Và giờ đây chúng ta hãy thử cùng nhau nhìn nhận ,những suy nghĩ ,lối sống và ước mơ của thanh niên Việt Nam ,của những chủ nhân tương lai được xã hội kì vọng, như thế nào? Trong thời đại bùng nổ thông tin-kỉ nguyên của khoa học và công nghệ, giới trẻ hiện nay đã được tiếp xúc với khoa học- kĩ thuật từ rất sớm và trong đó có thể nói Internet là hình thức phổ biến nhất. Thế nhưng tình hình và mục đích tiếp cận những phát minh mới, những phương tiện tối tân của giới trẻ hiện nay là gì ?Liệu chúng đã được sử dụng một cách triệt để cho việc phát triển của thế hệ tương lai hay không? Khách hàng ở các quán Internet đa phần là thanh thiếu niên. Họ dùng Internet để chat (tán gẫu), trong đó phần lớn sử dụng phần mềm Yahoo!Messenger (YM), số còn lại sử dụng các dịch vụ ICQ, AIM và các phòng chat công cộng. Khó tưởng tượng là trong số những thanh thiếu niên thao tác "chat chit" trên YM nhanh như chớp với những ngón tay thoăn thoắt, không ít người không biết đến trình duyệt web là gì. Một số biết thì chỉ quanh quẩn truy cập một vài website rất hạn chế. “Chẳng được ai hướng dẫn”, đó là tình trạng chung của thanh thiếu niên hiện nay đối với công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng. Chúng ta thường nói nhiều tới tầm quan trọng của công nghệ thông tin, nhu cầu nối mạng toàn cầu để hội nhập và phát triển, thậm chí coi việc giới trẻ ngày càng quan tâm và sử dụng Internet nhiều là một biểu hiện của sự nâng cao trình độ tin học và phát triển giáo dục. Nhưng dường như chúng ta đang "quá tin tưởng" hay đúng hơn là phó mặc cho khả năng tự tìm tòi của thanh thiếu niên.” Đó là những gì mà Hanoisofware đã nhận định về thực trạng sử dụng Internet hiện nay của giới trẻ Việt Nam. Internet quả là một kho dữ liệu và kiến thức vô giá nhưng nó cũng là con dao hai lưỡi, có thể làm hỏng thanh thiếu niên nếu không có sự quản lí và hướng dẫn chặt chẽ .Không ít những người trẻ tuổi có ý thức đã tự nâng cao vốn kiến thức của mình bằng con đường đó. Nhưng rất nhiều kẻ ham mê những thứ vô bổ, sử dụng mạng với mục đích không chính đáng để rồi trở nên hư hỏng, phí phạm thời gian và tiền bạc. Ngoài vấn đề trên, giới trẻ Việt Nam còn vướng vào một số vấn đề khác và trong đó có “Tầm hiểu biết về giới tính và an toàn tình dục”. Nhân ngày dân số thế giới 11/7, Ủy ban dân số gia đình và trẻ em vừa công bố kết quả thống kê, báo động tình trạng giới trẻ Việt Nam ngày nay thiếu kiến thức, kém hiểu biết về các kỹ năng sống cơ bản liên quan đến giới tính, an toàn tình dục, và sức khoẻ sinh sản. Khảo sát cho thấy trên 22% thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đáng quan ngại hơn, khoảng 30% trường hợp nạo phá thai hiện nay là các phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình.Đó quả là những con số đáng sợ .Hơn thế nữa ,thống kê đó là hoàn toàn có thật và tương đối chính xác. Ngoài ra ,vẫn còn những số liệu cụ thể khác mà người thể nêu rõ ở đây. Tuy nhiên, đó là những con số biết nói về thực trạng trong đời sống của giới trẻ Việt Nam. Họ vẫn còn rất mơ hồ trong các vấn đề này, không hiểu và không lường trước được những hậu quả. Họ không trang bị cho mình những mảng kiến thức đó, dẫn đến những con số thống kê đáng giật mình về quan hệ trước hôn nhân và nạo phá thai trong giới trẻ như thế. Thậm chí có nhiều cô gái đến tháng thứ 3 mới nhận biết mình mang thai. Nhà trường dù đã có trang bị kiến thức(tuy ít) nhưng ngay chính bản thân các bạn trẻ cũng không tự tìm hiểu sách báo. Các bậc phụ huynh dù có khuyên con giữ gìn nhưng sự giáo dục này cũng không đi tường tận vào vấn đề vì e ngại. Có báo chí truyền thông cũng có tác động nhưng nhiều bạn trẻ cũng không quan tâm và phớt lờ, vả lại việc tuyên truyền cũng bị giới hạn, chưa thật sự rộng khắp. Hoặc giả sử nếu có những thanh niên chủ động tìm hiểu thì cũng sẽ vấp phải những rào cản thái độ và sự cách biệt giữa các thế hệ . Một nguyên nhân dẫn đến điều đó là sự ít tiếp xúc, ít tìm hiểu và thông cảm giữa giới trẻ và người lớn. Nó xuất phát từ “Thế hệ cao niên đã thấm nhuần văn hóa Việt Nam nặng tinh thần Khổng Giáo, quen với cung cách trên kính dưới nhường. Thế hệ trẻ hấp thụ tinh thần dân chủ Tây phương, chủ trương sự bình đẳng. Vì thế trong những cuộc hội thoại, những người lớn tuổi có thể bị ngỡ ngàng thất vọng cho rằng lớp trẻ đã mất đi sự kính trọng đối với các bậc cao niên. Người trẻ có thể cho rằng thế hệ già độc đoán và cố chấp. Trong gia đình và ngoài xã hội, những va chạm này dễ xảy ra. Chỉ cần tất cả những lớp tuổi ý thức được hiện tượng khác biệt văn hóa để có thể ngồi lại với nhau. Hơn lúc nào hết sự cảm thông và đoàn kết giữa các thế hệ Việt Nam hải ngoại là yếu tố thiết yếu để xây đắp một gia đình hạnh phúc, để củng cố cộng đồng và duy trì nền văn hóa Việt Nam.” .Thế nên không những gây phát sinh những mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn các thế hệ trong xã hội mà còn dẫn đến tình trạng thiếu vốn hiểu biết và kĩ năng sống cần có cho giới trẻ Việt Nam ngày hôm nay. Mỗi thời, với điều kiện lịch sử của mình, đều có một sứ mệnh nhất định. Thanh niên chúng tôi ý thức được rằng chúng tôi có sứ mệnh làm cho bản thân mình, gia đình mình, nhân dân mình được sống một cuộc sống văn minh trong ấm no và hạnh phúc; và chúng tôi tin rằng chúng tôi có quyền lựa chọn đường đi cho thế hệ mình. Trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử này, bài học của các thế hệ đi trước và của những dân tộc tiến bộ luôn là những bài học vô giá. Chúng tôi sẵn sàng học hỏi, tiếp thu một cách có chọn lọc để biến những di sản chung này thành của mình, để phục vụ mục đích của mình. Mọi suy nghĩ, hành động đều bắt nguồn từ ý nghĩ .Ý nghĩ, tư tưởng là nền móng cơ bản dẫn việc làm, lối sống của thanh niên. Mỗi một thời đại, mỗi một hoàn cảnh lịch sử mà thế hệ thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, những lý tưởng sống và suy ngẫm riêng. Chúng ta không bác bỏ, không phủ nhận trong quá khứ lịch sử hào hùng, thế hệ thanh niên ngày ấy đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của đất nước. Đó là lý tưởng muốn được chiến đấu, hi sinh cho độc lập, tự do Tổ quốc, cho tự hào dân tộc .Nhưng chúng ta không thể lấy thước đo của ngày hôm qua để áp dụng vào ngày hôm nay; không thể đem thế hệ trước so sánh, áp đặt lý tưởng cho thế hệ sau. Đơn giản vì mỗi thế hệ có một môi trường riêng, một nhận thức, một hòan cảnh và một sứ mệnh riêng. Vì vậy “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ!”(Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười). Ngược lại với những phê phán, nhận xét về thái độ “bàng quan với thời cuộc ”, thanh niên hiện nay đã khẳng định tiếng nói và lý tưởng sống của mình. Đó là ra sức phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu ,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh “theo đường lối mới do Đảng và nhà nước ta khởi xướng, lãnh đạo”. Nếu người chiến sĩ khi xưa đấu tranh vì khát vọng cháy bỏng, quét sạch quân thù ,đem lại hòa bình cho đất nước ,thì người thanh niên hôm nay cũng tự gắn mình với nhiệm vụ đấu tranh chống đói nghèo lạc hậu, nuôi dưỡng bản thân, gia đình, đưa đất nước phát triển và hội nhập cùng quốc tế. Đã có những phong trào, những đợt thi đua noi gương, sống như anh Thạc, chị Trâm được tổ chức bởi thanh niên. Hai con người, hai chiến sĩ của thời đại trước đã là nên sức hút, tạo thành một làn song mạnh mẽ trong giới trẻ hiện nay. Không thể phủ nhận là họ (thanh niên ngày nay) tìm thấy ở những người thanh niên lớp trước sự đồng cảm ở tinh thần tình nguyện, cống hiến, xả thân và điều sâu sắc hơn, có những sự rung động của tuổi trẻ ngày nay trước vẻ đẹp cao cả của cuộc chiến tranh chính nghĩa, của chân lý mà dân tộc ta đã tìm thấy được trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc Việt Nam. Dù thế nhưng một vấ đề luôn có hai mặt khía cạnh, chúng ta không bác bỏ vãn có nhiều thanh niên ngày nay sống buông thả, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, sống cho bản thân mà quên đi những ích lợi chung của tập thể ,coi nhẹ những giá trị vô giá của lịch sử và văn hóa dân tộc….Họ sống thiếu lý tưởng, thiếu đi nhận thức về vai trò của bản thân giữa xã hội, gia đình. Tuy nhiên, hình mẫu ấy chỉ là thiểu số .Đó không phải là bản chất và lý tưởng cơ bản của thanh niên hiện nay. Bác Hồ đã dạy rằng: “Thanh niên không một phút giây được quên lý tưởng của mình là phấn đấu cho nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội”. Câu nói ấy, ai còn nhớ và ai đã quên? Cuộc sống đã thay đổi và lý tưởng trong mỗi thời đại cũng đổi thay ít nhiều. Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay có nhiều mặt : lý tưởng chính trị, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng thẩm mĩ,v…v..thế nhưng nó vẫn luôn lấy lời dạy ấy của Bác làm cốt lõi, nền tảng để phát triển và hướng đến. Giáo dục lý tưởng sống cho thế hệ trẻ hiện nay Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định thanh niên là lực lượng trụ cột của sự nghiệp đổi mới. Bàn về động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên”. Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khóa X yêu cầu “Cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học-công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại”. Thanh niên ngày nay là lớp người sinh ra và trưởng thành sau chiến tranh, được sống trong những điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ hơn, tuy rất nhạy cảm với cái mới, được đào tạo bài bản, có tri thức, nhưng vốn sống và sự từng trải chưa nhiều, trước những tiêu cực và cám dỗ của nền kinh tế thị trường, trước những biến động về chính trị quốc tế, đặc biệt do ảnh hưởng tiêu cực của sự suy thoái, biến chất của một số không nhỏ cán bộ, đảng viên, một bộ phận thanh niên có sự dao động, khủng hoảng lòng tin, lý tưởng cách mạng. Thực trạng này đòi hỏi Đảng phải coi trọng giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho thanh, thiếu niên. Tinh thần yêu lao động và lao động sáng tạo với ý thức trách nhiệm và hiệu quả là nét đẹp truyền thống, là lẽ sống và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam, xuyên suốt các thời đại lịch sử. Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, lao động với tinh thần cần cù, kỹ thuật, công nghệ cao, sáng tạo, năng suất và hiệu quả không thể tách lý tưởng về một nước Việt Nam độc lập và CNXH. Phát huy truyền thống yêu lao động chính là phương thức thực hiện lý tưởng và hoài bão của tuổi trẻ Việt Nam. Bài học kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, muốn trở thành một quốc gia giàu mạnh với một nền sản xuất hiện đại, phải có lớp lao động trẻ, lao động có kỹ thuật cao, sáng tạo, có ý thức tập thể, kỷ luật lao động, phấn đấu vì lợi ích chung. Đoàn kết, hiệp lực vì nghĩa lớn là nét đẹp truyền thống của dân tộc ta. Sinh thời Bác Hồ đã xây dựng khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam trên nền tảng liên minh công, nông, trí thức vững chắc, Bác đã kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp vô địch của cách mạng Việt Nam. Ngọn cờ tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ chính là sức mạnh để dân tộc ta hội nhập và phát triển, mở rộng và nâng khối đại đoàn kết lên một tầm cao mới. Trong thời đại ngày nay, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trở thành nhân tố ổn định, động lực của phát triển. Tuổi trẻ Việt Nam phải coi truyền thống đoàn kết là một vốn quý, một nguồn tài sản và sức mạnh vô giá. Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và quốc tế theo tư tưởng của Bác Hồ phải là định hướng giá trị và là lý tưởng sống của tuổi trẻ Việt Nam. Muốn “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” cần giáo dục cho tuổi trẻ Việt Nam phát huy cao nhất truyền thống hiếu học, khắc phục mọi khó khăn, chuyên cần và sáng tạo, nỗ lực thi đua học tập và rèn luyện, vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học và công nghệ, nhanh chóng hội nhập với xu thế phát triển của nền văn minh nhân loại, nắm bắt và tận dụng mọi cơ hội thâu tóm tri thức. Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh, thiếu niên, nghĩa là giáo dục ý thức trách nhiệm học tập, tự rèn luyện, tự đào tạo thành người, thành tài. Trong nền kinh tế tri thức dân tộc nào vươn tới đỉnh cao của trí tuệ dân tộc đó sẽ chiến thắng. Thấm nhuần lý tưởng cách mạng trong giai đoạn đổi mới, hội nhập phải thể hiện bằng hành động tự giác trong học tập, thước đo thái độ chính trị, phẩm chất, lòng trung thành với độc lập dân tộc và CNXH, chính là tuổi trẻ khát vọng vươn tới hiểu biết tri thức của loài người. Trong xu thế hội nhập vào kinh tế tri thức, lao động trẻ có chất lượng cao của đất nước phải là lực lượng nòng cốt đưa đất nước tiến lên. Tuổi trẻ Việt Nam “có lối sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái” (T.Ư5 khóa VIII). Quan tâm giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ, không dung thứ lối sống thực dụng, sùng bái vật chất, chạy theo danh vọng, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, dối trá, ích kỷ, nhỏ nhen, ăn bám. Thanh niên phải đấu tranh, không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, với các tệ nạn xã hội, xây dựng lối sống lành mạnh, sống có trách nhiệm với chính mình và mọi người. Kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển là con đường đầy thử thách. Sức đề kháng, nội lực của mỗi quốc gia, bản thân mỗi người là sức mạnh vượt qua mọi cám dỗ mà tiến lên. Xã hội phải tạo cho tuổi trẻ những cơ hội tốt để họ góp phần đấu tranh loại bỏ cái xấu, tạo ra một môi trường xã hội và pháp lý cần thiết để nuôi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những công dân có ích. Giáo dục lý tưởng sống cho thế hệ trẻ là một việc đặc biệt quan trọng, sự tồn vong và phát triển của Đảng của dân tộc. Giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho thanh, thiếu niên không phải là công việc làm trong một vài tháng, một vài năm, càng không phải là công việc có tính phong trào, đó là công việc đầy trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trước hết là trách nhiệm to lớn, thường xuyên của các cấp ủy Đảng, của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước; phải coi giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ là công việc quan tâm hàng đầu, đầu tư đúng mức, tiến hành công phu. Chăm lo, xây dựng tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh, với đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, có trí tuệ, có sức thu hút, cảm hóa và tập hợp được thế hệ trẻ. Giải pháp đối với vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay Giải pháp chung Nhà trường Ở nhà trường chương trình sách giáo khoa giáo dục công dân bậc phổ thông cần phải có những thay đổi quyết liệt hơn nữa. Cần dạy học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu “tầm chương trích cú” không còn phù hợp, cần phải đưa HS-SV vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá học sinh thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Các trường học nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm học sinh hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Với học sinh THPT cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho học sinh rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người … Giáo viên phải tự tìm cho mình những phương pháp dạy học tốt nhất nhằm giúp học sinh có kỹ năng ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Cần phát huy thế mạnh của các phương pháp như sắm vai (đóng kịch), thảo luận, tổ chức trò chơi, đề án, “Thực tế cho thấy học sinh rất thích học môn giáo dục công dân vì trong giờ học các em được bày tỏ ý kiến. Điều quan trọng là thầy cô phải là gương sáng mọi lúc mọi nơi để học sinh noi theo”. Cần khơi dậy trong những học sinh sinh viên lòng yêu thương đồng loại, giúp đỡ lẫn nhau, “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”... Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó "đức" là gốc, là nền tảng cho tài năng phát triển. Phải kết hợp giữa nhận thức và hành động, lời nói với việc làm... Có như vậy mới có thể "học để làm người". "Trồng người" là công việc "trăm năm", không thể nóng vội "một sớm một chiều", không phải làm một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó.Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy không được coi nhẹ, sao nhãng sự nghiệp giáo dục. Theo tinh thần của V.I.Lênin: "Học học nữa, học mãi" và của Khổng Tử: "Học không biết chán, dạy không biết mỏi", Hồ Chí Minh cho rằng: "Việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học".Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Trong lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân ngày 19-1-1955, Hồ Chí Minh căn dặn TNSV: "Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?" và Người nói về nguyên tắc giáo dục TNSV: "Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội."; "Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên cần phải chú ý đến giáo dục tư tưởng, thái độ, hoạt động và sinh hoạt hằng ngày của thanh niên để kịp thời khuyến khích, uốn nắn, sửa chữa". Về bản thân người TNSV, Người căn dặn: "Thanh niên càng phải xung phong hăng hái thực hiện khẩu hiệu "Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên ". Gia đình Các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tô trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ? Ra ngoài xã hội Lớp trẻ mà cụ thể ở đây là HS-SV cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm ? Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Chúng ta cần phải có giáo dục đạo đức công dân để mọi người hiểu rõ: Lợi ích chung của nước nhà và lợi ích riêng của người dân là nhất trí". Người viết về nguyên tắc kế thừa và đổi mới khi xây dựng một nền đạo đức mới: "Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm". Người nói về tác dụng của việc nêu gương sáng đạo đức: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của thanh niên sinh viên (TNSV) và rất quan tâm đến công tác giáo dục họ. Ph.Ăngghen từng chỉ rõ giá trị của việc giáo dục thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng vô sản: "Những người công nhân tiên tiến nhất cũng hoàn toàn nhận thức được rằng tương lai của giai cấp họ, và do đó, của cả loài người, hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên". V.I.Lênin ngay từ "đêm trước" của Cách mạng Tháng Mười Nga đã luôn quan tâm đến phong trào cách mạng dân chủ của thanh niên lúc bấy giờ với một cảm tình đặc biệt. V.I.Lênin đề nghị: TNSV là một bộ phận của lực lượng cách mạng, một mặt phải chú ý đến tính đặc thù của họ, mặt khác không nên đẩy cao tính đặc thù này sẽ gây nên sự tách biệt. V.I.Lênin phê phán những quan điểm giáo dục không đúng đắn, như thỏa hiệp hoặc khắt khe với TNSV. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến những nguyên tắc định hướng giáo dục đạo đức cho TNSV. Trong buổi gặp gỡ và trò chuyện với cán bộ và SV Việt Nam ở trường Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp, Mát-xcơ-va ngày 1-2-1959, Người nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì phải xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa". Trong thư gửi thanh niên ngày 2-9-1965, Người căn dặn: "Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa". Trong Di chúc năm 1969, Hồ Chí Minh nhận xét về đoàn viên thanh niên và chỉ rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đức và tài cho lớp trẻ: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết". 2.2.1.4 Đảng và Nhà nước Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Nó vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm trong chiến lược giáo dục - đào tạo theo nghĩa hẹp. Người khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh quan niệm"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Để "trồng người", có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục - đào tạo là biện pháp quan trọng bậc nhất. Bởi vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thế hệ trẻ. Ngược lại giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu tới thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh nói vai trò của giáo dục: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn... Cho nên phải chống giặc dốt cũng như chống giặc đói, giặc ngoại xâm, giặc nội xâm. Muốn có cán bộ tốt, côn dân tốt, phải "trồng" và dĩ nhiên là rất công phu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước: "muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhất. Vì thế, giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lược con người, bởi giáo dục đào tạo nên chất người, nên nhân tài. Trong Nhật ký trong tù, Bác viết: "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên". Chiến lược giáo dục là hạt nhân trong chiến lược con người, cung cấp trí thức mới, đào tạo nên nhân tài cho đất nước.Gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945, Bác viết: "Ngày nay, các cháu được cái may mắn hơn cha anh là được hưởng một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các cháu nên nhưng người công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu… Đó là một nền giáo dục “vì lợi ích trăm năm" của đất nước. Trong năm vừa qua, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… Vì thế trong công tác cán bộ, Đại hội X đã đưa ra mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Đại hội X đã đề ra mục tiêu những năm tới của giáo dục và đào tạo là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam . Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu của chúng ta là "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành TƯ Đảng (khoá VI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc nhận định về vấn đề giáo dục đạo đức cho SV như một lời cảnh báo về những thay đổi sau 5 năm đổi mới: "Chất lượng giáo dục, nhất là chất lượng giáo dục tư tưởng, đạo đức còn kém, một bộ phận học sinh, sinh viên mờ nhạt về lý tưởng xã hội chủ nghĩa"(12). Văn kiện Đại hội IX vạch rõ: "Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TTG ngày 29-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ, khẳng định mục tiêu tổng quát: "Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Chiến lược đưa ra 6 mục tiêu cụ thể hoá mục tiêu tổng quát, trong đó mục tiêu đầu tiên, liên quan đến vấn đề giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức: "Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên". Vai trò lãnh đạo của Đảng và hoạt động phong trào của các tổ chức đoàn thể rất quan trọng trong công tác giáo dục ý thức đạo đức cho SV. Nó có tác dụng định hướng và củng cố sự kiên định trên con đường đã chọn, tránh chệch hướng, thụt lùi, nhất là trong bối cảnh xã hội khá phức tạp hiện nay, với nhiều tác động đa dạng đối với nhận thức tư tưởng cũng như ý thức đạo đức sinh viên. Nguyên tắc ở đây là kết hợp vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của các đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức cho SV. Trong công tác giáo dục đạo đức và quản lý SV, tổ chức đảng đóng vai trò lãnh đạo, định hướng nhận thức và hành động, xây dựng chiến lược và kế hoạch dài hơi, chỉ đạo công tác thông qua các hoạt động phong trào của các tổ chức đoàn thể, không làm thay, không chồng lấn chức năng nhiệm vụ. Các cấp bộ đảng trong các trường đại học và cao đẳng, như đảng bộ trường, chi bộ khoa và bộ môn, phải quan tâm sâu sát đến mọi hoạt động liên quan đến SV để có phương hướng chỉ đạo, xử lý kịp thời. 2.2.2 Giải pháp riêng Con người chính là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, quyết định sự phát triển của dân tộc nhưng khái niệm con người ở đây phải đi đôi với đạo đức. Con người có đạo đức thì mới được xã hội chấp nhận và phát triển được. Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay là một việc đặc biệt quan trọng liên quan đến sự tồn vong và phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Việc giáo dục đạo đức không chỉ là vài tháng, vài năm càng không phải công việc có tính phong trào, đó là công việc đầy trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các thế hệ. Với cương vị là người sinh viên còn ngồi ở giảng đường đại học, tôi cũng phần nào nhận thức được tính nghiêm trọng của thực trạng đạo đức thế hệ trẻ hiện nay. Là một nhà kinh tế trong tương lai, bước vào cửa hội nhập, tôi sẽ gặp không ít sóng gió cũng như cạm bẫy khôn lường, nhưng tôi sẽ cố gắng lấy đạo đức làm trọng, phải thể hiện cho mọi người thấy tôi- mang trong mình dòng máu của Người Việt Nam. Phát triển kinh tế đi đôi với xã hội đẹp văn minh. Khơi dậy tính nhân ái., lòng vị tha trong con người. Làm việc, kinh doanh, đặt tính nhân văn lên đầu. Sống sao cho xã hội thêm đẹp, chủ nghĩa xã hội luôn soi sáng cho chân lý. Ngay còn ngồi trên giảng đường Đại học, tôi cũng như tất cả mọi người cùng nhau học tập tấm giương đạo đức Hồ Chí Minh, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là cội nguồn là gốc rễ của những chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Tổ chức nhiều nội dung hoạt động, mở những cuộc thi nhằm giúp sinh viên tiếp cận một cách tốt nhất tấm gương của Người. Sống trong thời đại xã hội chạy đua với kinh tế, tài chính, khoa học-kỹ thuật mà vô tình bỏ quên mất việc làm sao trao dồi cho mình những đạo đức tốt đẹp phù hợp với giá trị truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta để lại từ ngàn xưa đến nay. Đó đòi hỏi những sinh viên nói riêng và thế hệ trẻ nói chung cần có bản lĩnh vững vàng, hình thành chuẩn mực đạo đức đúng đắn mới có thể vượt qua và trưởng thành trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong thời đại mới. KẾT LUẬN Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú, nó thấm đậm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được toả sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đối với mỗi con người; tất cả đều toát lên tình yêu thương, sự tôn trọng, thái độ bao dung và niềm tin vào khả năng cải tạo của con người, dù cho họ có nhất thời lầm lạc. Bằng hành động và ứng xử của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền lại cho chúng ta một đạo lý làm người là phải biết yêu thương và sống với nhau có tình nghĩa. Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời Người, một cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho sự giải phóng nhân loại và giải phóng mỗi con người. Bàn về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, Tiến sỹ Hồ Bá Thâm đã viết: “Dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân loại xưa nay - có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập...”. Cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước con người chạy đua với sự phát triển của thế giới mà vô tình quên mất những giá trị truyền thống, những tư tưởng nhân văn tốt đẹp của dân tộc, của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn dân, toàn thế hệ trẻ Việt Nam noi theo. Học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ chúng ta học tập nhận thức đúng đắn. tiếp thu tri thức-tài sản quý báu của Người mà Người còn để lại cho thế hệ mai sau một tấm gương sáng noi theo. Song vì trình độ nhận thức vấn đề còn hạn hẹp và điều kiện thời gian không cho phép nên bài tiểu luận chắc hẵn sẽ không tránh những sai sót. Mong rằng giảng viên trong quá trình đọc bài sữa chữa góp ý để bài làm đạt hiệu quả tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5,tr. 644 [4] sđd t5 tr644 [5] sđd t4 tr264 [6] sđd t12 tr558. [7] sđd t.6 tr.171 [8],[9] sđd t.2 tr 114, 361 [2]Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, t5, tr65 [3] sđd t5, tr644 [10] sđd t1 tr266 [11] Đảng Cộng sản Việt Nam;văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội , 1996,tr 81 Giáo trình lý luận và văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, NXB Lý luận chính trị, H.2004. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia,H.2004 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia,H.2009

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐề tài tiểu luận nội dung cập nhật - hay- TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN ĐÓ VÀO THỜI KỲ ĐỔI MỚI.doc
Luận văn liên quan