Đề tài Phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Tây Ninh

MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT . iv DANH MỤC CÁC BẢNG . v DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi LỜI MỞ ĐẦU1 1. Tính cấp thiết của đề tài :1 2. Mục tiêu nghiên cứu. 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 2 4. Phương pháp nghiên cứu. 2 5. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài3 6. Kết cấu của luận văn tốt nghiệp. 3 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN4 1.1 Ngân hàng thương mại4 1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại4 1.1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế5 1.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại7 1.2.1 Khái niệm về vốn của Ngân hàng thương mại7 1.2.2 Khái niệm về huy động vốn. 9 1.2.3 Các hình thức huy động vốn trong Ngân hàng thương mại9 1.2.4 Các phương pháp xác định chi phí huy động vốn. 17 1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại19 1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn. 24 1.3.1 Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn. 24 1.3.2 Tỷ số huy động vốn có kỳ hạn trên tổng nguồn vốn huy động. 24 1.3.3 Tỷ số của huy động vốn không kỳ hạn trên tổng nguồn vốn huy động25 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SÀI GÒN THƯƠNG TÍN - CHI NHÁNH TÂY NINH26 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. 26 2.1.1 Tóm lượt quá trình hình thành và phát triển. 26 2.1.2 Quá trình tăng vốn điều lệ của Sacombank. 29 2.1.3 Cơ cấu sở hữu. 30 2.1.4 Cơ cấu tổ chức. 31 2.2 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh32 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh. 32 2.2.2 Bộ máy tổ chức và quản lý của Sacombank Tây Ninh. 34 2.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban. 34 2.3 Khái quát tình hình kinh doanh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh qua 3 năm 2008 - 2010. 35 2.3.1 Tổng thu nhập. 38 2.3.2 Tổng chi phí39 2.3.3 Lợi nhuận. 40 2.3.4 Thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển sắp tới của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh. 41 2.4 Thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh. 45 2.4.1 Khái quát tình hình nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh. 45 2.4.2 Phân tích tình hình huy động vốn của Sacombank Tây Ninh qua 3 năm (2008 - 2010)49 2.4.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn. 65 2.4.4 Đánh giá chung về tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong thời gian qua. 68 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN71 3.1 Giải pháp về lãi suất71 3.2 Công nghệ. 72 3.3 Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và dịch vụ. 73 3.4 Đào tạo nguồn nhân lực. 74 3.5 Marketing Ngân hàng. 75 3.6 Cơ sở vật chất76 3.7 Kiến nghị77 3.7.1 Đối với Nhà nước. 77 3.7.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước. 78 3.7.3 Đối với Sacombank hội sở. 79 3.7.4 Đối với Sacombank Tây Ninh. 79 KẾT LUẬN81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài : Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra hiện nay là tích cực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đây là mục tiêu quan trọng trong quá trình vươn lên, thoát khỏi sự tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế hay nói cách khác mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả vốn đầu tư. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đang dần phục hồi sau một giai đoạn suy thoái, với sự phục hồi đó làm cho thị trường xuất khẩu trở nên sôi nổi, xu hướng đầu tư của doanh nghiệp ngày càng tăng cao, các thành phần kinh tế khác cũng theo đó mà phát triển vì thế nhu cầu về vốn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Thực tế, trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, có rất nhiều chủ thể, thông qua các con đường khác nhau có khả năng cung cấp vốn, đáp ứng nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận được là huy động vốn qua các trung gian tài chính - Ngân hàng thương mại - là kênh quan trọng nhất, có hiệu quả nhất. Như chúng ta đã biết trong những năm vừa qua để kìm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã có những chính sách thắt chặt tiền tệ như tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, ấn định mức lãi suất huy động vốn để tránh tình trạng nguồn vốn chạy từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác đã làm cho hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại gặp khá nhiều khó khăn. Nhu cầu về vốn của khách hàng tăng trong khi Ngân hàng lại thiếu vốn để giải ngân. Vì vậy, Ngân hàng cần có những giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn ngoài việc sử dụng công cụ lãi suất. Nắm bắt được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, với những kiến thức đã học và kinh nghiệm thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Tây Ninh, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu thực tế hoạt động huy động vốn của Sacombank Tây Ninh qua 3 năm 2008 - 2010 nhằm nhận dạng những khó khăn và thuận lợi để từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Ø Phân tích tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh qua 3 năm 2008 - 2010. Ø Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh qua 3 năm 2008 - 2010. Ø Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh. 4. Phương pháp nghiên cứu Ø Khảo sát thông tin từ thực tiễn Sacombank qua quan sát và trao đổi trực tiếp với các nhân viên, lãnh đạo phụ trách hoạt động huy động vốn Ø Thu thập dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính, báo cáo tín dụng Ø So sánh các số liệu qua các thời kỳ để đánh giá hiệu quả huy động vốn Ø Dựa vào các chỉ tiêu tài chính để phân tích và đánh giá hiệu quả huy động vốn 5. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài Ø Thuận lợi: - Được thực tập tại Ngân hàng để có thể vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. - Được sự giúp đỡ hết sức tận tình của các anh chị trong phòng Kế toán. Ø Khó khăn - Hạn chế về thời gian thực tập. - Chưa có kinh nghiệm thực tế để xử lý thông tin. 6. Kết cấu của luận văn tốt nghiệp Luận văn bao gồm 3 chương: Ø Chương 1: Cơ sở lý luận Ø Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Tây Ninh Ø Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Tây Ninh

doc90 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/05/2013 | Lượt xem: 6436 | Lượt tải: 83download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Tây Ninh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
công nghệ Ngân hàng hiện đại. Qua đó Ngân hàng thực hiện tốt chức năng Ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Nghiên cứu, đánh giá thị trường theo ngành, theo mô hình sản xuất kinh doanh từng địa phương. Trên cơ sở đó Sacombank Tây Ninh xây dựng các đề án đề xuất Hội sở đưa ra các cơ chế, chính sách nhằm phát triển hoạt động cho vay hỗ trợ vốn cho các ngành nghề tiềm năng. Đồng thời Ngân hàng cần phải duy trì, củng cố và mở rộng thị phần đối với sản phẩm dịch vụ truyền thống; giới thiệu, xâm nhập, mở rộng các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đa dạng hóa hoạt động của Sacombank Tây Ninh. Đẩy mạnh mở rộng thị phần với sự tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý, thận trọng nhằm giảm thiểu rủi ro. Với các biện pháp: Xây dựng chính sách khách hàng vay vốn theo định hướng Ngân hàng bán lẻ, hoàn thiện chính sách và quy trình tín dụng, xây dựng danh mục cho vay, cải tiến, phát triển sản phẩm cho vay phù hợp với từng địa bàn, tầng lớp dân cư. Thu hút và trọng dụng nhân tài tại chỗ thông qua việc liên kết với các THPT ở các địa phương bằng chương trình học bổng Sacombank. Sacombank Tây Ninh cố gắng nâng cao lợi nhuận, duy trì ở mức lợi nhuận trên 10 tỷ trong những năm tiếp theo. Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động bằng các giải pháp chủ yếu như xây dựng chính sách thu hút tiền gửi thanh toán, cải tiến và hoàn thiện các sản phẩm tiền gửi hiện có. Tiếp tục duy trì và gia tăng tỷ lệ thu nhập phi tín dụng trên tổng thu nhập của Ngân hàng, bao gồm: thu dịch vụ, thu phi tín dụng và thu khác thông qua chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao. Tập trung đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn lực. Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên năng động, chuyên nghiệp, gắn bó với Ngân hàng thông qua chính sách tuyển dụng tiên tiến, đào tạo và tái đào tạo, cùng chính sách đãi ngộ thích hợp, mang tính cạnh tranh. Thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh Khái quát tình hình nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Tây Ninh Trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thì nguồn vốn đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nó quyết định đến khả năng hoạt động cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu từ 4 nguồn đó là vốn huy động, vốn tự có, vốn đi vay và vốn khác. Riêng đối với chi nhánh thì có vốn huy động và vốn tự có. Đối với nguồn vốn huy động: Ngân hàng được toàn quyền sử dụng sau khi đã trích lại một phần theo tỷ lệ đảm bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định, đồng thời có trách nhiệm trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho khách hàng. Đối với nguồn vốn tự có: Bao gồm tài sản nợ khác và quỹ của Chi nhánh Để hiểu rõ hơn tình hình của Ngân hàng trong 3 năm qua chúng ta sẽ tiến hành xem xét cơ cấu nguồn vốn của Samcombank Tây Ninh. Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Sacombank chi nhánh Tây Ninh qua 3 năm cụ thể: Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn vốn của Sacombank Tây Ninh năm 2008, 2009 và 2010 Cơ cấu nguồn vốn năm 2008, 2009, 2010 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu 2008 2009 2010 Chênh lệch 2009/2008 2009/2010 Số tiền % Số tiền % Vốn huy động 934.926 1.155.297 1.685.990 220.371 24 530.693 46 Vốn tự có 30.477 40.140 47.393 9.663 32 7.253 18 Tổng nguồn vốn 965.403 1.195.437 1.733.383 230.034 24 537.946 45 Nguồn: Phòng kế toán của Sacombank Tây Ninh Vốn huy động Sơ đồ 2.4: Vốn huy động của Sacombank Tây Ninh năm 2008, 2009 và 2010 Năm 2008 Ngân hàng huy động được 934.926 triệu đồng, đến năm 2009 là 1.155.297 triệu đồng, tăng 220.371 triệu đồng so với năm 2008 tương đương tăng 24%. Năm 2010 nguồn vốn huy động được là 1.685.990 triệu đồng, tăng 530.693 triệu đồng so với 2009 tương đương tăng 46%. Tây Ninh là một tỉnh phát triển nông nghiệp rất mạnh đặc biệt là cao su, mì và mía. Trong năm 2008 ngoài việc phải đối đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế chung, người dân Tây Ninh càng lâm vào khó khăn hơn nữa do sự kiện bê bối của công ty bột ngọt Vedan, nhiều doanh nghiệp tư nhân bị tồn đọng mì, mía, không có nguồn tiêu thụ, xoay vòng vốn không kịp dẫn đến phá sản, đời sống nhân dân đã khó nay càng khó hơn, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trên địa bàn tỉnh. Năm 2009 với sự khuyến khích, hỗ trợ từ ban lãnh đạo của tỉnh, nhiều doanh nghiệp đã bắt tay gầy dựng lại việc kinh doanh, tái đầu tư, sản xuất vì vậy nhu cầu vay vốn rất lớn do đó nguồn vốn huy động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy còn chịu nhiều ảnh hưởng từ năm 2008 nhưng trong năm 2009 với những nổ lực của mình, chi nhánh đã cố gắng đẩy mạnh công tác huy động vốn bằng nhiều cách như tuyên truyền marketing, mở ra những hạn mục tiền gửi mới…, hoạt động huy động vốn không những được cải thiện mà còn tăng rõ rệt so với năm 2008. Với đà đó sang năm 2010, các doanh nghiệp làm ăn ổn định, đời sống nhân dân có phần ổn định hơn và đặc biệt là sự tăng giá trở lại của cao su sau thời gian rớt giá trầm trọng do không xuất khẩu được sang Trung Quốc đã làm cho nguồn vốn huy động đã tăng mạnh so với năm 2009. Vốn tự có: Sơ đồ 2.5: Vốn tự có của Sacombank Tây Ninh năm 2008, 2009 và 2010 Vốn tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, nguồn vốn này cũng tăng qua các năm. Năm 2008 là 30.477 triệu đồng. Năm 2009 là 40.140 triệu đồng, tăng 9.663 triệu đồng tương đương tăng 32% so với năm 2008 và năm 2010 là 47.393 triệu đồng, tăng 7.253 triệu đồng tương đương tăng 18% so với năm 2009. Qua bảng số liệu ta thấy vốn huy động rất ổn định qua các năm và chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn. Năm 2008 nguồn vốn huy động chiếm 96,8% trong tổng nguồn vốn, năm 2009 là 96,6% và năm 2010 là 97,3%. Nhờ duy trì được tỷ trọng cao của vốn huy động trong tổng nguồn vốn giúp Ngân hàng luôn luôn chủ động trong công tác sử dụng vốn, đáp ứng được tốt nhất nhu cầu vốn của khách hàng và tăng lợi nhuận cho Ngân hàng. Sự tăng trưởng của tổng nguồn vốn hàng năm của Chi nhánh xuất phát từ nhu cầu về vốn của các đơn vị kinh tế trong Tỉnh ngày càng tăng và Chi nhánh ngày càng mở rộng phạm vi cho vay. Do đó, Chi nhánh phải có chiến lược kinh doanh phù hợp để khơi tăng nguồn vốn huy động của mình nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị hoạt động. Phân tích tình hình huy động vốn của Sacombank Tây Ninh qua 3 năm (2008 - 2010) Đối với NHTM, nguồn vốn huy động tại địa phương là nguồn vốn quan trọng nhất và luôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn. Việc các NHTM đảm bảo huy động đủ nguồn vốn cho công tác sử dụng vốn vừa đảm bảo thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, vừa đảm bảo cho hoạt động của NHTM được ổn định và đạt được hiệu quả cao. Không giống các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế hoạt động của NHTM chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động. Do đó, Ngân hàng cần tạo cho được nguồn vốn ổn định, phù hợp với yêu cầu về vốn. Mỗi một khoản nguồn vốn đều có nhu cầu khác nhau về chi phí, tính thanh khoản, thời hạn hoàn trả khác nhau… Do đó, Ngân hàng cần phải quan sát, đánh giá chính xác từng loại nguồn vốn để kịp thời có những chiến lược huy động vốn tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định để hạn chế rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào cho Ngân hàng. Chúng ta sẽ đi vào phân tích từng loại nguồn vốn huy động của Ngân hàng qua 3 năm từ năm 2008 – 2010. Phân tích theo đối tượng huy động và bản chất nghiệp vụ huy động Bảng 2.5: Hoạt động huy động vốn năm 2008, 2009, 2010 Hoạt động huy động vốn năm 2008, năm 2009, năm 2010 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tiền gửi của DN - TCXH 208.832 22,3 286.871 24,8 434.051 25,7 Tiền gửi không kỳ hạn 58.923 6,3 75.543 6,5 121.534 7,2 Tiền gửi có kỳ hạn 149.909 16 211.328 18,3 312.517 18,5 Tiền gửi của cá nhân 633.588 67,8 669.369 57,9 1.012.784 60,1 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 609.699 65,2 635.091 55 960.698 57 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn 23.889 2,56 33.468 2,9 52.086 3,1 Phát hành giấy tờ có giá 89.835 9,6 197.142 17,1 236.570 14 Tiền gửi của TCTD khác 2.671 0,3 1.915 0,2 2.585 0,2 Tổng nguồn vốn huy động 934.926 100 1.155.297 100 1.685.990 100 Nguồn: Phòng kế toán của Sacombank Tây Ninh Từ bảng 2.5 ta quan sát các sơ đồ tình hình huy động vốn của Sacombank qua các năm Sơ đồ 2.6: Hoạt động huy động vốn của Sacombank Tây Ninh năm 2008 Năm 2008, tiền gửi của các DN - TCKT là 208.832 triệu đồng chiếm 22,3% trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của cá nhân là 633.588 triệu đồng chiếm 67,8%, phát hành giấy tờ có giá là 89.835 triệu đồng chiếm 9,6% và cuối cùng là tiền gửi của TCTD khác chỉ chiếm 0,3% tương đương 2.671 triệu đồng. Sơ đồ 2.7: Hoạt động huy động vốn của Sacombank Tây Ninh năm 2009 Năm 2009 tiền gửi của các DN - TCKT là 286.871 triệu đồng chiếm 24,8% trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của cá nhân là 669.369 triệu đồng chiếm 57,9%, phát hành giấy tờ có giá là 197.142 triệu đồng chiếm 17,1% và cuối cùng là tiền gửi của TCTD khác chỉ chiếm 0,2% tương đương 1.915 triệu đồng. Sơ đồ 2.8: Hoạt động huy động vốn của Sacombank Tây Ninh năm 2010 Năm 2010 tiền gửi của các DN - TCKT là 434.051 triệu đồng chiếm 25,7% trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của cá nhân là 1.012.784 triệu đồng chiếm 60,1%, phát hành giấy tờ có giá là 236.570 triệu đồng chiếm 14% và cuối cùng là tiền gửi của TCTD khác chỉ chiếm 0,2% tương đương 2.585 triệu đồng. Quan sát bảng 2.5 và các sơ đồ 2.6, 2.7 và 2.8 ta thấy nguồn tiền gửi của dân cư luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Trong nguồn tiền gửi của dân cư nguồn tiền gửi có kỳ hạn chiếm phần lớn. Đây là nguồn vốn quan trọng, có tính ổn định cao tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong quá trình sử dụng vốn. Ngân hàng cần duy trì tỷ trọng cao của nguồn vốn này và không ngừng phát triển nó. Nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế luôn chiếm một vị chí quan trọng trong tổng nguồn vốn vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp tạo điều kiện cho Ngân hàng giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Trong những năm gần đây tỷ trọng của nguồn vốn này lại có xu hướng tăng nhưng rất ít. Ngân hàng cần chú ý tăng tỷ trọng của nguồn vốn này. Nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá của Ngân hàng chiếm tỷ trọng rất nhỏ mặc dù đây là nguồn vốn có chi phí cao nhưng nó là nguồn vốn mà Ngân hàng có thể chủ động về lãi suất, số lượng, thời hạn, Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này cho đầu tư trung và dài hạn. Vì vậy Ngân hàng nên theo dõi nguồn vốn này, xác định một mức tỷ trọng hợp lý để có thể chủ động trong đầu tư trung và dài hạn, đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn tại địa phương. Để hiểu rõ hơn tình hình huy động vốn của Ngân hàng, chúng ta đi xem xét từng thành phần của vốn huy động Tiền gửi của DN - TCKT Để thấy rõ hơn tốc độ tăng trưởng tiền gửi của các TCKT qua 3 năm 2008 - 2010 ta quan sát sơ đồ 2.9: Sơ đồ 2.9: Tiền gửi của DN – TCKT năm 2008, 2009 và 2010 Qua sơ đồ ta thấy khoản mục tiền gửi của DN - TCKT đều tăng qua các năm. Năm 2009 tăng 37% so với năm 2008, năm 2010 tăng mạnh 51% so với 2009. Năm 2008 tác động của cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc làm ăn của các doanh nghiệp. Bước sang năm 2009 doanh nghiệp có điều kiện phát triển hơn, nền kinh tế dần phục hồi lại, tiền gửi vào Ngân hàng tăng nhưng vẫn còn ở mức tương đối. Sang năm 2010 với điều kiện thuận lợi và bước đà năm 2009, tiền gửi của DN đã tăng mạnh. Các DN - TCKT gửi tiền vào Ngân hàng gồm những khoản tiền không kỳ hạn để thanh toán cho đối tác và những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi nhằm đảm bảo tiền sinh lời hằng ngày cho doanh nghiệp. Tiền gửi không kỳ hạn Sơ đồ 2.10: Tiền gửi không kỳ hạn của DN – TCKT năm 2008, 2009, 2010 Như chúng ta đã biết , đặc điểm của tiền gửi loại này là nhằm mục tiêu hưởng các tiện ích trong thanh toán chứ không phải vì mục tiêu hưởng lãi. Do vậy, trong tất cả các loại nguồn mà Ngân hàng có khả năng huy động thì đây là nguồn có chi phí huy động thấp nhất, tính ổn định thấp nhất vì Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên của khách hàng. Qua bảng số liệu ta thấy khoản tiền gửi không kỳ hạn của DN - TCKT chiếm tỷ trọng rất thấp tuy tỷ trọng này có gia tăng qua các năm nhưng không nhiều. Tuy nhiên, số lượng tiền gửi vẫn gia tăng mạnh qua các năm, năm 2009 tăng 28% so với 2009, sang năm 2010 đã tăng mạnh 61% so với 2009. Sự gia tăng của tiền gửi không kỳ hạn cho thấy hệ thống thanh toán đã có những bước tiến nhất định và đã thu hút nhiều doanh nghiệp hơn. Tiền gửi có kỳ hạn Sơ đồ 2.11: Tiền gửi có kỳ hạn của DN – TCKT năm 2008, 2009, 2010 Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức doanh nghiệp năm 2009 tăng 41% so với năm 2008, năm 2010 tăng 48% so với 2009. Với mức tăng trưởng đó cho thấy những khách hàng doanh nghiệp của Sacombank đã xác định được chu kỳ kinh doanh ổn định để ngoài việc gửi tiền vào Ngân hàng với nhu cầu thanh toán, các Doanh nghiệp còn lấy lãi từ lãi suất tiền gửi có kỳ hạn của Ngân hàng, thậm chí số dư tiền gửi có kỳ hạn còn chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Bên cạnh đó cho thấy được hiệu quả của chính sách điều chỉnh lãi suất tiền gửi có kỳ hạn nhằm thu hút vốn huy động từ đối tượng này. Tiền gửi tiết kiệm Sơ đồ 2.12: Tiền gửi tiết kiệm của dân cư năm 2008, 2009 và 2010 Khoản mục kế tiếp nguồn vốn huy động của Sacombank Tây Ninh là tiền gửi tiết kiệm. Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của dân cư chưa sử dụng cho tiêu dùng. Đây là nguồn vốn rất quan trọng của Ngân hàng, huy động vốn này ngoài tác dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thu hút tối đa các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư nhằm phát triển kinh tế cũng như đối với chính sách ổn định tiền tệ của đất nước. Trong 3 năm qua, tình hình huy động vốn của Chi nhánh từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư liên tục tăng và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động, năm 2008 là 633.588 triệu đồng, năm 2009 là 669.369 triệu đồng tăng 5,6% so với năm 2008, năm 2009 huy động được 1.012.784 triệu đồng tăng 51% so với năm 2009. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các Ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Trong khoản mục tiền gửi của dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Sơ đồ 2.13: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư năm 2008, 2009, 2010 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn luôn chiếm vị trí cao và được khách hàng ưa chuộng do lãi suất cao và khá ổn định. Đây là sản phẩm truyền thống của các Ngân hàng thương mại. Năm 2008 tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là 609.699 triệu đồng, năm 2009 đạt mức 635.994 triệu đồng tăng nhẹ 4,3% so với năm 2008, năm 2010 tăng mạnh 51% so với năm 2009 đạt mức 960.698 triệu đồng. Tuy tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đều tăng qua các năm nhưng tỷ trọng năm 2009 giảm 10,2% so với năm 2008, sang năm 2010 tỷ trọng tiền gửi tăng trở lại nhưng chỉ tăng nhẹ khoảng 2%. Nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn giúp cho Ngân hàng có thể chủ động trong đầu tư nên cần chú trọng đến tỷ trọng của nguồn vốn này. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Sơ đồ 2.14: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư năm 2008, 2009 và 2010 Như chúng ta đã biết, theo thói quen tích lũy của người Việt Nam thì việc gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn để thanh toán qua Ngân hàng là chưa cao bởi họ xem tiền mặt là công cụ thanh toán chính cho mọi giao dịch. Chính vì thế mà khoản gửi tiết kiệm không kỳ hạn chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt động huy động vốn. Tuy vậy, tỷ trọng và số tiền gửi không kỳ hạn đều tăng đều qua các năm mặc dù tăng không nhiều. Năm 2008 tiền gửi huy động được là 23.889 triệu đồng chiếm tỷ trọng 2,56%, năm 2009 là 33.468 triệu đồng chiếm 2,9%, năm 2010 huy động được 52.086 triệu đồng chiếm 3,1%. Điều này chứng tỏ Ngân hàng đã có những biện pháp tích cực đưa sản phẩm này đến với người dân. Mặc dù lãi suất không cao như tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhưng do nhiều tiện ích và có thể rút bất kỳ lúc nào khi khách hàng cần để thanh toán, giao dịch nên cá nhân đến Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn ngày càng nhiều hơn. Phát hành giấy tờ có giá Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, nhu cầu về vốn trung và dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa sản xuất… ngày càng nhiều. Để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn các Ngân hàng cũng cần có hình thức huy động tương ứng để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu đó. Do vậy, các Ngân hàng huy động vốn trung và dài hạn bằng hình thức phát hành giấy tờ có giá. Đây là hình thức huy động vốn linh hoạt giúp các NHTM có thể chủ động về khối lượng vốn, lãi suất và thời hạn.... Tuy nhiên việc phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu hay trái phiếu thường có chi phí cao hơn các nguồn vốn huy động khác. Vì vậy, khi thực hiện huy động vốn từ nguồn này Ngân hàng rất thận trọng và cân nhắc, thông thường Ngân hàng phát hành loại giấy tờ này trong những thời điểm nhất định khi Ngân hàng cần vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Tình hình huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá của Sacombank được thể hiện qua sơ đồ 2.15 Sơ đồ 2.15: Phát hành giấy tờ có giá năm 2008, 2009, 2010 Qua biểu đồ 2.15 ta thấy lượng phát hành giấy tờ có giá tăng khá rõ rệt qua các năm, đặc biệt là năm 2009 vì trong năm này nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp rất lớn cụ thể năm 2009 huy động 197.142 triệu đồng, tăng 121% so với năm 2008. Song song với việc số lượng phát hành giấy tờ có giá tăng, tỷ trọng năm 2009 cũng tăng rất cao, tăng 7,5% so với năm 2008. Sang năm 2010 do kinh tế đã có phần ổn định trở lại, việc huy động bằng tiền gửi của DN, dân cư có phần ổn định hơn, lượng vốn huy động bằng việc phát hành giấy tờ chỉ tăng 20% so với năm 2009, tỷ trọng trong năm này cũng giảm 3,1% so với 2009. Tiền gửi của các TCTD khác Sơ đồ 2.16: Tiền gửi của TCTD khác năm 2008, 2009, 2010 Tuy tiền gửi của TCTD khác chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh nhưng để thực hiện việc thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng với nhau trên địa bàn thì Chi nhánh cũng đã có những nổ lực lớn trong việc tạo ra những mối quan hệ hợp tác với các Tổ chức tín dụng khác nhằm gia tăng khoản huy động này. Năm 2009 tiền gửi của TCTD giảm rõ rệt so với năm 2008, giảm 28% so với năm 2008, điều này cũng khá dễ hiểu, khi năm 2009 nhu cầu vay vốn các DN rất lớn, rất nhiều Ngân hàng đã phát huy tối đa nguồn huy động vốn của mình để đáp ứng nhu cầu này và rút tiền gửi tại các Ngân hàng khác là một trong những biện pháp một số Ngân hàng sử dụng. Năm 2010, tiền gửi của các TCTD đã tăng trở lại gần bằng mức của năm 2008, tăng 35% so với 2009. Trên địa bàn tỉnh uy tín của Sacombank rất lớn, quan hệ hợp tác với các Ngân hàng thương mại khác trong khu vực là khá tốt, chưa tính đến việc Sacombank có mối quan hệ rộng rãi trên nhiều lĩnh việc. Sacombank cần tận dụng những ưu thế này để càng ngày càng đẩy mạnh nguồn huy động vốn này. Phân tích theo thời gian huy động Bảng 2.6: Hoạt động huy động vốn theo thời gian huy động của Sacombank Tây Ninh năm 2008, 2009, 2010 HUY ĐỘNG VỐN THEO THỜI GIAN HUY ĐỘNG NĂM 2008, 2009 và 2010 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Vốn huy động không kỳ hạn 82.812 8,86% 109.011 9,43% 173.620 10,3% Vốn huy động ngắn hạn 720.462 77,06% 914.513 79,16% 1.285.515 76,25% Vốn huy động trung và dài hạn 131.652 14,08% 131.773 11,41% 226.855 13,45% Tổng 934.926 100% 1.155.297 100% 1.685.990 100% Nguồn: Phòng kế toán của Sacombank Tây Ninh Như đã phân tích theo đối tượng huy động và nghiệp vụ huy động, vốn huy động không kỳ hạn là nguồn vốn có tính ổn định thấp, lãi suất thấp, vì vậy nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn huy động. Ta thấy nguồn vốn huy động không kỳ hạn chủ yếu là từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, nguồn tiền gửi của dân cư rất ít. Nó phản ánh đặc điểm của nguồn tiền gửi không kỳ hạn. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu được các tổ chức kinh tế sử dụng với mục đích phục vụ cho việc thanh toán. Còn đối với dân cư, mục đích chủ yếu là để lấy lãi, nên họ gửi vào các khoản mục có kỳ hạn. Tuy khoản mục này tỷ trọng thấp nhưng cũng đã có sự gia tăng qua các năm. Cụ thể năm 2009 tăng 0,57% so với năm 2008, năm 2010 tăng 0,87% so với năm 2009. Khoản tiền huy động từ nguồn trung và dài hạn là quan trọng đối với bất cứ Ngân hàng nào. Đây là nguồn chủ yếu để Ngân hàng tiến hành cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay trung và dài hạn rất cao, từ đó Ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận. Lấy nguồn huy động trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn là một cách để giảm bớt rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Trong tổng nguồn vốn huy động tính theo thời gian, ta thấy hạn mục vốn huy động trung và dài hạn chiếm tỷ trọng tương đối thấp và khoản mục này vào năm 2009 bị sụt giảm so với năm 2008, năm 2010 tuy có tăng lại nhưng tỷ trọng vẫn chưa đạt mức 2008. Khủng hoảng kinh tế, thua lỗ hàng loạt của doanh nghiệp, lạm phát tăng, đồng tiền mất giá, giá vàng tăng cao là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc này. Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao nhưng ta dễ dàng nhận ra nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động. Doanh nghiệp là doanh nghiệp, có nghĩa là vốn có được phải được dùng để sản xuất kinh doanh chứ không đơn thuần là chỉ để gửi Ngân hàng lấy lãi. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong kinh doanh lớn hơn lãi suất của Ngân hàng. Đối với cá nhân thì việc lạm phát đã ảnh hưởng tới tâm lý của khách hàng rất nhiều, sự trượt giá đồng tiền, sự biến động của giá vàng khiến cho khách hàng không muốn gửi tiền vào những kỳ hạn dài. Chi phí huy động vốn Vì sao phải xác định chi phí huy động vốn? Có ba lí do buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc xác định chi phí huy động vốn. Thứ nhất: Ngân hàng bao giờ cũng cố gắng tìm kiếm cho mình một tổ hợp các nguồn vốn khác nhau trên thị trường với mức chi phí thấp nhất. Nếu giả thiết coi tất cả các yếu tố khác là như nhau thì Ngân hàng nào có mức chi phí huy động vốn thấp nhất mà không phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn thì Ngân hàng đó sẽ có mức lợi nhuận cao hơn. Thứ hai: Việc tính toán chính xác chi phí huy động vốn được coi là mọt yếu tố cơ bản để xác định mức lợi nhuận mà Ngân hàng sẽ thu được,và căn cứ vào đó Ngân hàng sẽ định giá cho mỗi sản phẩm dịch vụ của mình. Thứ ba: Loại hình nghiệp vụ mà Ngân hàng sử dụng cũng như việc sử dụng các loại nghiệp vụ này ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất và rủi ro vốn. Bảng 2.7: Bảng tổng hợp chi phí lãi và tiền gửi năm 2008, 2009 và 2010 CHI PHÍ LÃI VÀ TIỀN GỬI NĂM 2008, 2009, 2010 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Chi trả lãi 97.699 93.457 125.232 Chi trả lãi tiền gửi 96.765 91.319 122.677 Chi trả lãi phát hành giấy tờ có giá 934 2.138 2.555 Tổng tiền gửi 934.926 1.155.297 1.685.990 Tiền gửi của DN, TCKT, TCTD khác, cá nhân 845.091 958.155 1.449.420 Phát hành giấy tờ có giá 89.835 197.142 236.570 Ở đây chúng ta chỉ đi vào tính toán chi phí huy động vốn bằng phương pháp chi phí bình quân gia quyền theo nguyên giá qua các năm. Năm 2008 chi phí lãi bình quân gia quyền là 10,45%, năm 2009 là 8,09%, năm 2010 là 7,43%. Ta nhận thấy mức chi phí huy động vốn của năm 2008 khá cao so với năm 2009 và năm 2010. Như đã phân tích ở những phần trước năm 2008 là một năm đầy sóng gió của các Ngân hàng, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát cao, Ngân hàng nhà nước đã liên tục thay đổi chính sách tiền tệ và các Ngân hàng thương mại cũng đã gặp nhiều khó khăn vì cũng phải liên tục thay đổi cho phù hợp. Để duy trì hoạt động một cách trơn tru, các Ngân hàng đã liên tục tăng lãi suất huy động vốn dẫn đến việc lãi suất huy động leo thang chưa từng có trong lịch sử. Việc này đã dẫn đến chi phí huy động vốn tăng rất đáng kể, chưa kể đến việc sự khó khăn của nền kinh tế dẫn đến việc nợ xấu gia tăng, nhiều Ngân hàng đã không đạt được mục tiêu lợi nhuận và Sacombank Tây Ninh cũng không ngoại lệ. Bước sang năm 2009 và năm 2010 chi phí huy động vốn đã giảm đáng kể theo đó lợi nhuận Ngân hàng cũng được cải thiện. Đây chính là tín hiệu đáng mừng và cho thấy những hiệu quả trong hoạt động của Sacombank. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn Việc sử dụng chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn là hết sức quan trọng đối với Ngân hàng. Từ những kết quả đó, Ngân hàng sẽ biết được thực tế tình hình hoạt động nói chung và tình hình huy động vốn nói riêng của mình để tìm thấy những vấn đề cần quan tâm. Từ đó đề ra những giải pháp khắc phục khó khăn đồng thời để nâng cao vốn huy động của Ngân hàng, góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Bảng 2.8: Hiệu quả của hoạt động huy động vốn năm 2008, 2009, 2010 Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2008 2009 2010 Tổng nguồn vốn Triệu đồng 965.403 1.195.437 1.733.383 Tổng nguồn vốn huy động Triệu đồng 934.926 1.155.297 1.685.990 Vốn huy động có kỳ hạn Triệu đồng 852.114 1.046.286 1.512.370 Vốn huy động không kỳ hạn Triệu đồng 82.812 109.011 173.620 VHĐ/TNV % 96,84 96,64 97,27 VHĐCKH/TVHĐ % 91,14 90,56 89,7 VHĐKKH/TVHĐ % 8,86 9,44 10,3 Tỷ số vốn huy động có kỳ hạn trên tổng vốn huy động (VHĐCKH/TVHĐ) Theo bảng 2.8 ta thấy tỷ số vốn huy động có kỳ hạn trên tổng vốn huy động chiếm đến 91,14% trong tổng vốn huy động trong năm 2008, năm 2009 là 90,56% và 89,7% trong năm 2010. Từ tỷ số này cho ta biết vốn huy động có kỳ hạn chiếm rất cao và là thành phần chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng sẽ dễ dàng chủ động trong việc cho vay nhưng tỷ lệ này quá cao lên đến 91% nên Ngân hàng phải tốn nhiều chi phí hơn để trả lãi cho khách hàng vì lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, điều đó có thể làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng. Nhìn chung, vốn huy động có kỳ hạn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động của Sacombank Tây Ninh nên Ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc cung cấp tín dụng, việc còn lại là Ngân hàng làm sao để đẩy mạnh thu hút khách hàng đến vay nhằm nâng cao lợi nhuận của Ngân hàng. Tỷ số vốn huy động không kỳ hạn trên tổng nguồn vốn huy động Qua bảng 2.8 ta thấy tỷ số này cũng đã có sự gia tăng qua 3 năm nhưng không đáng kể. Nhìn chung, tỷ số này của Ngân hàng còn thấp, tuy nó giúp Ngân hàng chủ động được nguồn vốn trong việc cấp tín dụng nhưng xét về phương diện khác thì nó chưa mang lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng vì vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn có chi phí sử dụng tương đối thấp nên nếu Ngân hàng tận dụng tối đa từ nguồn này sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn. Tỷ số vốn huy động trên tổng nguồn vốn Theo bảng 2.8 tỷ số huy động vốn trên tổng nguồn vốn là khá cao trong cả 3 năm ổn định với mức khoảng 97%. Tỷ số này cho biết hoạt động huy động vốn của Sacombank Tây Ninh cực kỳ hiệu quả và ổn định. Do đó, trong thời gian tới, Ngân hàng nên tiếp tục cố gắng để duy trì tỷ số này, đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Qua phân tích ta thấy trong 3 năm vừa qua 2008 – 2010, nguồn vốn huy động của Sacombank rất cao và tương đối ổn định cho thấy hoạt động huy động vốn của Ngân hàng đang tiến hành theo đúng hướng, hiệu quả và ngày càng chiếm được lòng tin của khách hàng trên địa bàn Tây Ninh. Đánh giá chung về tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong thời gian qua Kết quả đạt được Chỉ với 8 năm hoạt động trên địa bàn tỉnh song Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Tây Ninh khách hàng biết đến như một nơi đáng tin cậy để gửi tiền, đáp ứng mọi nhu cầu về vốn, các dịch vụ Ngân hàng phong phú và đa dạng. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ngày càng được coi trọng và có những kết quả đáng khích lệ. Nguồn vốn huy động luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước. Không những vậy mức huy động vốn luôn chiếm tỷ trọng cao và rất ổn định qua 3 năm xấp xỉ 97% kể cả năm 2008 đầy khó khăn cho ngành Ngân hàng. Trong năm 2009 và năm 2010 hoàn thành vượt mức dự kiến huy động đã đề ra. Cụ thể trong năm 2009 dự kiến huy động là 1.050 tỷ đồng nhưng Ngân hàng đã vượt mức huy động được 1.155 tỷ đồng, năm 2010 huy động được 1.685 tỷ đồng trong khi dự kiến là 1.403 tỷ đồng. Vốn huy động có kỳ hạn của 3 năm chiếm tỷ trọng rất lớn, đây là điều kiện thuận lợi để Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn cho vay trung và dài hạn. Để đạt được kết quả này là sự nổ lực, phấn đấu của toàn bộ nhân viên và Ban lãnh đạo chi nhánh. Với những chiến lược huy động của mình, Sacombank thu hút rất nhiều doanh nghiệp lớn trong tỉnh như Công ty cổ phần Bourbon, Xổ số kiến thiết Tây Ninh, công ty cao su Tây Ninh… Ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút khá nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong địa bàn tỉnh. Điều này giúp cho Ngân hàng ít bị phụ thuộc vào những khách hàng lớn. Khách hàng nhiều, đa dạng, Ngân hàng có thể chủ động đề ra mức lãi suất, các chi phí đầu vào từ đó cũng chủ động được lãi suất đầu ra. Tuy chi nhánh Sacombank Tây Ninh đạt được những thành công nhất định nhưng cũng không tránh khỏi một số thiếu xót sau cần sớm được khắc phục. Những mặt còn hạn chế Trong tổng nguồn vốn huy động tỷ trọng các nguồn vốn có một số điểm chưa hợp lý: Tỷ trọng tiền gửi của DN, TCKT chiếm tỷ trọng nhỏ, năm 2008 là 22,3%, năm 2009 là 24,8%, năm 2010 là 25,7%. Đây là một trong những bất lợi lớn của chi nhánh vì nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế là nguồn vốn có chi phí thấp giúp Ngân hàng giảm chi phí huy động vốn. Do đó chi nhánh nên đẩy mạnh công tác tiếp thị, công tác khách hàng để tăng khả năng huy động vốn từ các tổ chức kinh tế qua đó tăng khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp. Trong tổng nguồn vốn huy động nguồn phát hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng khá thấp trong khi điều kiện chi nhánh đang thiếu nguồn vốn trung và dài hạn là biểu hiện không tốt. Vì thế chi nhánh nên tăng cường phát hành giấy tờ có giá để tăng nguồn vốn cho vay trung và dài hạn. Ta dễ dàng nhận thấy nguồn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng rất thấp. Nguồn vốn huy động này làm cho Ngân hàng khó chủ động trong việc cấp tín dụng nhưng đây lại là nguồn vốn có chi phí huy động thấp, vì vậy tỷ trọng nguồn tiền gửi không kỳ hạn thấp có thể làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng. Do đó, cũng phải có biện pháp hợp lý để tăng tỷ trọng hạn mức tiền gửi này. Tỷ trọng tiền gửi trung và dài hạn chiếm rất thấp (năm 2008 là 14,08%, năm 2009 là 11,41%, năm 2010 là 13,45%), điều này gây khó khăn rất lớn khi Ngân hàng cho vay trung và dài hạn. Nguyên nhân Khủng hoảng kinh tế cùng với lạm phát dẫn đến sự thua lỗ của các doanh nghiệp. Sự mất giá của đồng tiền và giá vàng ngày càng tăng gây nhiều khó khăn trong hoạt động huy động vốn trung và dài hạn. Nguồn thông tin,nhất là các thông tin dự báo dài hạn vĩ mô về định hướng phát triển theo ngành, vùng còn thiếu, chưa kịp thời để xây dựng các kế hoạch, giải pháp mang tính trung, dài hạn. Thời gian giao dịch của sở với khách hàng chủ yếu là trong giờ hành chính, chưa chủ động phục vụ khách hàng ngoài giờ, trong các ngày nghỉ. Trình độ cán bộ nhân viên ở một số bộ phận chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Những thuận lợi và khó khăn trên ảnh hưởng lớn đến kinh doanh của Ngân hàng. Do vậy trong năm 2011 và các năm tới Ngân hàng phải biết tận dụng cơ hội để đẩy mạnh huy động vốn trên cơ sở đó giải quyết những khó khăn, tạo điều kiện để chi nhánh tăng lợi nhuận , tạo uy tín đối với khách hàng. Muốn vậy chi nhánh cần xem xét và đưa ra những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu qủa hoạt động của mình. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN Ngân hàng hoạt động chủ yếu là phải nhờ vào nguồn vốn huy động được, để nâng cao tỷ trọng vốn huy động với chi phí thấp nhất, Ngân hàng cần thực hiện một số giải pháp như sau: Đối với những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NH như nhân tố kinh tế, chính trị, pháp luật,... thì NH cần dự báo tình hình tương lai nền kinh tế để có những chiến lược chống đỡ và đối phó kịp thời với những biến động của nền kinh tế. Còn đối với những nhân tố chủ quan thì NH có thể kiểm soát được và có thể có những chiến lược, chính sách riêng để thu hút nguồn vốn huy động . Giải pháp về lãi suất Lãi suất của NH phải cạnh tranh được với các NH khác nhưng không được vượt khung lãi suất của NHNN đó là mức trần lãi suất. Chính sách lãi suất chỉ phát huy được hiệu lực của nó đối với điều kiện tiền tệ ổn định, giá cả ít biến động hay nói cách khác là lạm phát ở mức vừa phải và không biến động bất thường. Do đó cần thiết phải sử dụng một chính sách lãi suất hợp lí để vừa đẩy mạnh thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn trong xã hội vừa kích thích các đơn vị , tổ chức kinh tế sử dụng vốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy ban lãnh đạo Ngân hàng cần có những biện pháp về lãi suất thích hợp cụ thể: Có đội ngũ cán bộ thường xuyên theo dõi biến động lãi suất của các Ngân hàng trên địa bàn. Cần thu thập thông tin về sự biến động lãi suất để có giải pháp ứng phó kịp thời. Áp dụng lãi suất huy động một cách linh hoạt kịp thời, đảm bảo với tình hình huy động của các TCTD khác trên địa bàn. Cần huấn luyện cho các cán bộ làm công tác huy động vốn một cách chuyên nghiệp về cách giải thích biểu lãi suất cho khách hàng để thuyết phục họ. Cần nghiên cứu đưa ra thêm các hình thức trả lãi phù hợp theo nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp hạn chế vấn đề cạnh tranh lãi suất Ngân hàng cũng cần đưa ra các giải pháp khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trên địa bàn. Công nghệ Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng và phải xem đây là mục tiêu chiến lược để cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài, nâng cao hiệu quả kinh doanh và thu hút khách hàng trong nước. Đặc biệt là cơ chế thanh toán, phải nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và có tính hệ thống, đồng bộ. Đầu tư vào công nghệ hiện đại có thể làm tăng chi phí ban đầu, nhưng sẽ giảm chi phí nghiệp vụ trong dài hạn, thu hút nhiều khách hàng, quản trị được rủi ro do thông tin nhanh chóng, công tác điều hành hiệu quả, đặc biệt là Ngân hàng sẽ huy động nhiều tiền gửi thanh toán (lãi suất thấp) do thanh toán dễ dàng, tiện lợi và mở rộng kênh phân phối. Xem xét thay đổi các thiết bị, máy móc đã lỗi thời, lạc hậu thay vào đó là các máy móc hiện đại đẩy nhanh tốc độ làm việc của các nhân viên trong Ngân hàng vừa tiết kiệm thời gian cho khách hàng vừa tiết kiệm thời gian cho Ngân hàng. Tận dụng tối đa những ưu thế mà công nghệ mới mang lại. Đồng thời mỗi nhân viên Ngân hàng cần có thời gian nhất định để thích ứng với công nghệ mới, giới chức lãnh đạo các Ngân hàng cần có những biện pháp động viên, khuyến khích giúp đỡ, thậm chí cả đòi hỏi, từng nhân viên phải nỗ lực hết khả năng để sớm thích nghi. Máy móc thực hiện cho dịch vụ thanh toán cần phải thường xuyên được kiểm tra và sửa chữa kịp thời. Cần bổ sung thêm các máy ATM cho tương xứng với số lượng thẻ phát hành cho khách hàng. Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và dịch vụ Tăng cường công tác huy động trên địa bàn, đặc biệt là huy động tiền gửi có kỳ hạn nhằm tạo sự chủ động hơn cho Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, khuyến khích khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán mặc dù nguồn tiền này không ổn định như tiền gửi có kỳ hạn nhưng bù lại chi phí huy động thấp. Để lôi kéo khách hàng, Ngân hàng không chỉ thu hút bằng lãi suất mà còn tạo sự thuận lợi, an toàn, đồng thời kết hợp với nhiều hình thức huy động vốn mới. Cần đưa ra một số sản phẩm dịch vụ để xoá bỏ thói quen để tiền ở nhà của người dân. Người dân có thói quen để tiền ở nhà một mặt xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, mặt khác là do có tiền ở nhà sử dụng chủ động hơn, sau cùng là do ngại đi gửi tiền. Vì vậy Ngân hàng cần phát triển những tiện ích về việc thanh toán không dùng tiền mặt trong xã hội sao cho mọi người thấy thanh toán không dùng tiền mặt có phần trội hơn, tiện lợi hơn và ít nguy hiểm hơn là thanh toán dùng tiền mặt. Cần cải tiến thời gian làm thủ tục gửi tiền, làm các dịch vụ ngân quỹ cho khách hàng, cần kết hợp song hành giữa khâu kế toán và khâu ngân quỹ để rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ nhằm tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Ngân hàng cần đa dạng hoá các hình thức trả lãi cho khách hàng. Ví dụ như Ngân hàng có thể chuyển lãi qua tài khoản thẻ của khách hàng giúp cho khách hàng giảm bớt thủ tục, tiết kiệm thời gian hoặc khách hàng có thể nhận lãi ngoài giờ làm việc của Ngân hàng. Đào tạo nguồn nhân lực Bố trí đội ngũ cán bộ nhiệt tình, ngoài khả năng chuyên môn vững vàng còn phải có tính quần chúng để làm việc tại các bộ phận trực tiếp giao dịch với khách hàng . Tăng cường kiểm tra việc đặt các bảng chỉ dẫn phòng ban, nghiệp vụ, các bảng thông báo hướng dẫn chi tiết mọi thủ tục cần thiết liên quan đến việc gửi tiền, rút tiền, làm giấy uỷ nhiệm lãnh tiền, báo mất sổ…. để khách hàng tự tìm hiểu, nắm vững và chuẩn bị trước cho tốt, tránh cho khách hàng yêu cầu giải thích nhiều, đỡ tốn thời gian cho cả Ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng cần cải thiện các tờ bướm giới thiệu các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, trên các tờ bướm cần đưa ra các biểu phí dịch vụ giúp cho khách hàng dễ dàng tìm hiểu, so sánh và chọn lựa dịch vụ. Mỗi khi Ngân hàng đưa ra hình thức huy động vốn mới Ngân hàng nên thông báo rõ mọi yếu tố liên quan trong đó có thời hạn, lãi suất, các thủ tục rút vốn, lĩnh lãi….và phải niêm yết ở những nơi mà mọi người có thể đọc thấy, đồng thời nên bố trí một cán bộ thường xuyên túc trực để giải đáp những khúc mắc, hướng dẫn hoặc trực tiếp làm một số việc để giúp khách hàng nhanh chóng được phục vụ. Thường xuyên mở các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác huy động vốn để họ có thể nắm vững các khía cạnh một cách sâu sắc để lí giải cho khách hàng những vấn đề mà họ chưa hiểu. Với sự hướng dẫn nhiệt tình của các nhân viên Ngân hàng sẽ giúp cho khách hàng cảm thấy mình được quan tâm giải toả được tâm lí e ngại và khiến họ đến Ngân hàng một cách tự nhiên, cởi mở và thân thiện hơn. Ngân hàng cũng cần có những chính sách khuyến khích toàn bộ các nhân viên trong Ngân hàng tham gia vào việc tìm kiếm khách hàng mới cho Ngân hàng trên thị trường sẵn có của mình. Ngân hàng cần tạo ra nguồn động lực thúc đẩy nhân viên nhiệt tình trong công tác huy động vốn. Để nhân viên trong Ngân hàng có động lực thì cần đảm bảo nhu cầu cuộc sống của họ, có những chính sách động viên nhân viên như khen thưởng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân viên. Marketing Ngân hàng Đối với các khách hàng có quan hệ lâu năm với Ngân hàng thì: Giữ tốt mối quan hệ với khách hàng thông qua các hoạt động tín dụng, tạo mối quan hệ hai chiều thân thiết giữa Ngân hàng với các tổ chức kinh tế. Ngân hàng cho các tổ chức vay vốn kinh doanh khi thu được kết quả ngoài việc thanh toán nợ cho Ngân hàng, họ sẽ sử dụng thêm các dịch vụ của Ngân hàng như thanh toán quốc tế, chi trả lương cho công nhân, mua bán ngoại tệ… Thường xuyên tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu khách hàng, nhằm đưa ra các sản phẩm mới lạ, hấp dẫn nhưng không quá phức tạp. Trong các dịp lễ, tết, kỷ niệm Ngân hàng cần tặng quà, hoa để chúc mừng nhằm củng cố mối quan hệ ngày càng bền chặt hơn. Đây cũng là cử chỉ thể hiện sự quan tâm, hiếu khách của Ngân hàng đối với khách hàng. Đối với những khách hàng lần đầu tiên đến giao dịch với Ngân hàng thì việc tạo ấn tượng khởi đầu tốt đối với khách hàng là hết sức cần thiết. Những nhân viên thường xuyên tiếp xúc với khách hàng đòi hỏi phải được đào tạo một cách chuyên nghiệp, nhiệt tình vui vẻ, tận tâm đối với khách hàng. Tuy có một số nghiệp vụ không mang lại lợi ích cho Ngân hàng ở hiện tại nhưng nó có thể sẽ mang lại lợi ích cho Ngân hàng trong tương lai. Chẳng hạn như, trong dịp tết nhu cầu đổi tiền cũ lấy tiền mới của khách hàng là rất lớn, trong số những khách hàng này có những người chưa từng đến Ngân hàng giao dịch bao giờ. Do đó việc gây ấn tượng đầu tiên với khách hàng là rất cần thiết nó là nhân tố ảnh hưởng lớn đế công tác huy động vốn của Ngân hàng trong tương lai. Đẩy mạnh công tác quảng cáo, giới thiệu những chương trình của Ngân hàng đến với khách hàng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch. Tăng khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại khác. Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất khang trang hiện đại có tác động không nhỏ đến tâm lý khách hàng vì nó sẽ tạo tâm lý an tâm khi khách hàng đến giao dịch tại NH. Chính vì vậy mà NH phải quan tâm đến vấn đề này. Tóm lại, hoạt động Ngân hàng là trung gian tài chính hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, Sacombank Tây Ninh cần phải tiếp tục đa dạng hoá sản phẩm huy động, nâng cao hơn nữa tính tiện ích thông qua chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm. Về lâu dài, các Ngân hàng phải đạt được mục tiêu: bất kỳ cá nhân tổ chức nào có nguồn tiền chưa sử dụng, đều có thể tìm kiếm ở Ngân hàng một loại hình huy động nào đó phù hợp với mong muốn của họ. Kiến nghị Đối với Nhà nước Tạo môi trường pháp lý đồng bộ và ổn định. Nhà nước thông qua các cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp cần xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ giữa Luật Ngân hàng với các bộ luật khác (Luật thương mại, Luật doanh nghiệp....). Việc ban hành như vậy không chỉ tạo niềm tin của dân chúng qua luật pháp, mà còn giúp các Ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Tạo môi trường tâm lý Yếu tố tâm lý xã hội, trình độ văn hoá của từng dân tộc, từng đất nước có ảnh hưởng đến phương pháp tập trung huy động vốn, đây là những vấn đề cần phải được tính đến trong quá trình xây dựng các chính sách và xây dựng các biện pháp huy động vốn phù hợp. Chính vì vậy Nhà nước cần có chương trình giáo dục tuyên truyền với quy mô toàn quốc, nhằm làm thay đổi quan điểm của người dân đối với việc giữ tiền trong nhà, xoá bỏ tâm lý e ngại, thích tiêu dùng hơn tích luỹ của người dân. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác huy động vốn của hệ thống Ngân hàng. Tăng cường biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nợ quá hạn của các Ngân hàng thương mại là từ phía các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng. Để giảm bớt khó khăn cho các Ngân hàng thương mại, Nhà nước cần: Thực hiện kiểm soát quản lý chặt chẽ việc cấp giấy phép thành lập và đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp đó. Có biện pháp hữu hiệu buộc doanh nghiệp phải chấp hành đúng pháp lệnh kế toán thống kê và chế độ kế toán bắt buộc. Bảo đảm môi trường kinh tế ổn định Môi trường kinh tế không ổn định sẽ gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Nhà nước cần có những biện pháp nhằm đảm bảo một môi trường kinh tế ổn định cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Nên có những bước đệm hoặc những giải pháp thiết thực tháo gỡ những khó khăn gây ra khi có sự chuyển đổi, điều chỉnh cơ chế, chính sách liên quan đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách ngăn chặn hàng nhập lậu... Đối với Ngân hàng Nhà nước Trong những năm trở lại đây, tình hình kinh tế bất ổn, lạm phát liên tục, đồng tiền ngày càng mất giá, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, Ngân hàng Nhà nước đã phải liên tục thay đổi các công cụ điều hành để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, một số chính sách điều hành vẫn còn đang gây tranh cãi vì chưa giải quyết triệt để vấn đề chẳng hạn như việc ấn định trần lãi suất huy động là 14%/năm để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng đưa mặt bằng lãi suất cho vay về biên độ 17-19% và tránh việc tiền gửi chạy từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác do các Ngân hàng chạy đua lãi suất huy động. Thực tế cho thấy hiện tại nhiều Ngân hàng vẫn vượt mức lãi suất huy động trần do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã có cuộc họp với 12 Ngân hàng thương mại lớn, trong nội dung mà Ngân hàng Nhà nước công bố có đưa ra giải pháp “Các tổ chức tín dụng tự giám sát việc thực hiện trần lãi suất huy động vốn, trường hợp phát hiện vi phạm tại tổ chức tín dụng nào, báo cáo Ngân hàng Nhà nước để xử lý nghiêm, Ngân hàng Nhà nước sẽ cụ thể hóa các biện pháp xử lý vi phạm và công khai phổ biến cho các Ngân hàng thương mại”. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có biện pháp chế tài cụ thể nào. Điều cần thiết trước mắt là phải có những biện pháp chế tài rõ ràng hơn trong việc quản lý, phát hiện và xử phạt các sai phạm của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước cần có những văn bản hướng dẫn thật sự cụ thể một cách đồng bộ trong việc thực hiện các quyết định. Từ đó có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, tránh sai phạm đáng tiếc xảy ra. Ngân hàng Nhà nước cần tạo điều kiện hơn nữa trong việc liên kết, hợp tác giữa các Ngân hàng với nhau, là cầu nối giữa các NHTM với các tổ chức trong và ngoài nước. Nhằm mục đích hoàn thiện hơn công nghệ Ngân hàng, các Ngân hàng cùng nhau phát triển, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Đối với Sacombank hội sở Thúc đẩy và hỗ trợ các Chi nhánh trong việc xử lí nợ tồn đọng để lành mạnh hóa tài chính ở các chi nhánh. Tổ chức thi đua khen thưởng ở các Chi nhánh. Tiến hành đơn giản hóa hồ sơ vay vốn, hoặc bỏ bớt những biểu mẫu không cần thiết nhưng đảm bảo đúng pháp luật. Tăng cường trang bị những thiết bị kỹ thuật cao, hiện đại hóa Ngân hàng. Đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp thị của Ngân hàng. Đối với Sacombank Tây Ninh Sacombank nên cử cán bộ có chuyên môn khảo sát kỹ đặc điểm kinh tế - xã hội và xu hướng phát triển của tỉnh trong thời gian tới một cách chính xác và khoa học. Từ đó Chi nhánh đề ra kế hoạch tiếp thị, đi sâu vào từng đối tượng, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, từng ngành nghề phù hợp với chính sách tín dụng chung của hệ thống. Sacombank nên giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộ huy động vốn thực hiện nhằm phát huy năng lực của từng nhân viên. Tuỳ từng người sẽ có khả năng, biện pháp tiếp thị, thu hút khách hàng nhiều hơn. Mặt khác đó cũng là cách đưa sản phẩm Sacombank đến với công chúng hiệu quả nhất. Sacombank nên đi sâu khai thác, không ngừng hoàn thiện các sản phẩm riêng so với các NHTM khác để khi nhắc tới sản phẩm dịch vụ Ngân hàng khách hàng sẽ nhắc đến Sacombank nhiều hơn. Sacombank Tây Ninh nên có một chiến lược kinh doanh trung hạn và dài hạn, đặc biệt là chiến lược nhân sự. Gắn chiến lược nhân sự với các trường đại học trọng điểm và hình thành các trung tâm đào tạo tại các Ngân hàng thương mại. Nhân viên Ngân hàng là những người làm việc trên lĩnh vực dịch vụ cao cấp nên phải đảm bảo tính chuyên nghiệp và lương cao. Vì vậy, cần có cơ chế tiền lương phù hợp với trình độ và năng lực của cán bộ. Hiện tại, các máy ATM trên địa bàn tỉnh còn rất hạn chế, đây cũng là một trong những nguyên nhân vẫn đến việc vốn huy động không kỳ hạn của Ngân hàng còn thấp, vì vậy cần đầu tư và phát triển hệ thống máy ATM nhiều hơn Cần có chiến lược liên doanh, liên kết với các xí nghiệp, nhà máy, các cơ quan Nhà nước trong việc rút tiền lương thông qua hệ thống Ngân hàng Sacombank cũng là cách nâng cao hiệu quả huy động vốn, mở rộng thị phần cho Sacombank. Như vậy, với chức năng là trung gian tài chính, Sacombank Tây Ninh cần đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Cũng có nghĩa là Ngân hàng luôn có những giải pháp để huy động được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu ngày càng mạnh mẽ của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước góp phần tạo sự phát triển kinh tế của đất nước. KẾT LUẬN Trong những năm gần đây, mặc dù đất nước đối mặt với nhiều thách thức, thiên tai, dịch bệnh diễn ra nhiều nơi, khủng hoảng kinh tế thế giới, lạm phát cao, đồng tiền mất giá, đời sống nhân dân khó khăn nhưng hệ thống Ngân hàng nói chung và Sacombank Tây Ninh nói riêng đã có những nổ lực rất lớn để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn và dịch vụ Ngân hàng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế thì Sacombank nói chung đặc biệt là Sacombank chi nhánh Tây Ninh nói riêng đã có những chính sách huy động vốn rất năng động, sáng tạo trong việc lựa chọn giải pháp phát triển sản phẩm cũng như việc lựa chọn phân khúc thị trường có nét khác biệt như việc mạnh dạn thành lập chi nhánh 8 tháng 3 chuyên phục vụ cho khách hàng là nữ, rồi Sacombank chi nhánh Hoa Việt…, cung ứng các dịch vụ mang tính cạnh tranh cao, huy động tiền gửi linh hoạt, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu gửi tiền đa dạng của nền kinh tế. Với những sản phẩm dịch vụ đa dạng nên nguồn vốn huy động của Ngân hàng luôn tăng qua các năm. Hơn nữa, Ngân hàng không ngừng mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn nên nguồn vốn huy động ngày càng đảm bảo tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nguồn vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn. Nền kinh tế ngày càng phát triển thì hội nhập kinh tế sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các ngành kinh doanh trong tỉnh do đó Ngân hàng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động vốn để nâng cao khả năng cạnh tranh trên lĩnh vực huy động vốn. Tuy nhiên, một Ngân hàng hoạt động không chỉ nhắc đến hoạt động huy động vốn mà đó là sự kết hợp hiệu quả giữa huy động và cho vay là tất yếu, có như thế Ngân hàng mới nâng cao được lợi nhuận, nâng cao vị thế cho mình trong nền kinh tế để đạt đến mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện đại trong xu thế hội nhập. TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Thị Kim Liên (2007). Giáo trình kế toán Ngân hàng, Đại học Huế, Huế Nguyễn Thị Loan, Lâm Thị Hồng Hoa (2009). Kế toán Ngân hàng, Thống Kê, TPHCM Luật các Tổ chức tín dụng, các văn bản hướng dẫn của Sacombank Bản cáo bạch của Sacombank (2010) Báo cáo thường niên năm 2008 – 2010 của Sacombank Trần Ngọc Anh (2003). “Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Ngân Hàng Công Thương Hoàn Kiếm”, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Ngân hàng, TP.HCM www.sacombank.com.vn www.vneconomy.vn www.vnexpress.net

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluanvantotnghiep.doc
  • pdfluanvantotnghiep.pdf
Luận văn liên quan