Đề tài Phân tích hoạt động kinh doanh tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á – Chi nhánh An Giang

- Ổn định giá trị đồng tiền nội tệ. Vì lạm phát cao đồng tiền bị mất giá sẽ gây ảnh hưởng đến việc huy động tiền gửi vào Ngân hàng, người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng nữa hoặc rút ra để chuyển qua giữ đồng tiền của họ ở dạng như: vàng, ngoại tệ, tài sản khác. Đồng tiền mất giá kéo theo Ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để bù đắp phần trượt giá, lãi suất huy động cao làm cho lãi suất cho vay cũng sẽ tăng lên, khi đó các doanh nghiệp khó có thể vay Ngân hàng với lãi suất cao này. Kết quả là Ngân hàng bị ứ đọng vốn.

doc106 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 8381 | Lượt tải: 50download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích hoạt động kinh doanh tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á – Chi nhánh An Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ả khả quan, do đó sẽ góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng, cũng như chất lượng tín dụng của những khoản vay năm trước. 4.6. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐÔNG Á – CHI NHÁNH AN GIANG: Để đánh giá được tình hình hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng thì trước hết cần phải xem xét hai nhân tố rất quan trọng là thu nhập và chi phí hoạt động hàng năm của Ngân hàng. Nâng cao thu nhập, giảm thiểu chi phí kéo theo sự gia tăng lợi nhuận là kỳ vọng cuối cùng của bất kỳ đơn vị kinh doanh nào. Lợi nhuận là nguồn tạo vốn kinh doanh bổ sung và duy trì hoặc cải tiến uy tín cho Ngân hàng, là đòn bẩy quan trọng khuyến khích cán bộ, nhân viên và Ban lãnh đạo phải nổ lực hơn nữa để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị. Cụ thể, thu nhập và chi phí của Ngân hàng TMCP ĐA – CNAG được thể hiện qua bảng tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng qua ba năm như sau: Bảng 29: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐA – CNAG QUA 3 NĂM ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền % Sốtiền % Tổng doanh thu 31.466,7 43.525,8 42.149,7 12.059,1 38,32 -1.376,1 -3,16 I.Thu từ lãi 30.370,5 42.328 40.761,2 11.957,5 39,37 -1.566,8 -3,70 1.Thu từ lãi cho vay 29.100 40.327,4 37.980,7 11.227,4 38,58 -2.346,7 -5,82 2.Thu khác về hoạt động tín dụng 1.270,5 2.000,6 2.780,5 730,1 57,47 779,9 38,98 II. Thu ngoài lãi 1.096,2 1.197,8 1.388,5 101,6 9,27 190,7 15,92 Tổng chi phí 22.300 31.764,6 31.695,8 9.464,6 42,44 -68,8 -0,22 I. Chi từ lãi 19350 28.395,6 26.146,3 9.045,6 46,75 -2.249,3 -7,92 1.Chi trả lãi tiền gửi 2.320 3.377,3 12.312,3 1.057,3 45,57 8.935 264,56 2.Chi khác về hoạt động HĐV 17.030 25.018,4 13.833,9 7.988,4 46,91 -11.184,5 -44,71 II. Chi phí ngoài lãi 2.950 3.368,9 5.549,6 418,9 14,2 2.180,7 64,73 Lợi nhuận trước thuế 9.166,7 11.761,2 10.453,9 2.594,5 28,30 -1.307,3 -11,12 Thuế TNDN 2.566,7 3.293,1 2.927,1 726,4 28,30 -366 -11,11 Lợi nhuận 6.600 8.468,1 7.526,8 1.868,1 28,30 -941,3 -11,12 ( Nguồn Phòng Kế toán) Trong thời gian qua tình hình kinh tế có những chuyển biến phức tạp, giá cả các mặt hàng đều leo thang đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các TCTD trên địa bàn cũng là mối quan tâm của Ban lãnh đạo NHĐA – CNAG. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh của NHTMCP ĐA – CNAG vẫn tiếp tục duy trì ổn định. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua ba năm 2005 - 2007 thể hiện qua bảng sau: Hình 10 : Tình hình hoạt động kinh doanh của DAB An Giang giai đoạn 2004 - 2007 Nhìn chung, tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua là có hiệu quả và ngày càng phát triển. Doanh thu, lợi nhuận đều tăng qua các năm, riêng năm 2007 doanh thu và lợi nhuận có giảm so với năm 2006. Với mức thu nhập năm 2006 là 43,5 tỉ, tăng 12 tỉ so với năm 2005 đồng thời với sự gia tăng của thu nhập là sự gia tăng về chi phí, nhưng sự gia tăng về chi phí nhỏ hơn sự gia tăng của thu nhập, cụ thể thu nhập tăng lên 12 tỉ nhưng chi phí chỉ tăng 9,5 tỉ. Điều này làm cho thu nhập ròng của Ngân hàng tăng. Sang năm 2007, tổng thu nhập của Ngân hàng giảm với tỉ lệ là 3,16 % so với năm 2006 và mức lợi nhuận ròng của Ngân hàng đạt 7,5 tỉ đồng; giảm 11,12% so với năm 2006. Nguyên nhân là do trong năm 2007, mức thu nhập từ lãi cho vay của Ngân hàng giảm so với năm 2006, đó là do mức độ cạnh tranh trên thị trường ngành ngân hàng ngày càng gay gắt nên Ngân hàng phải giảm mức lãi suất cho vay để cạnh tranh với các đối thủ trên địa bàn tỉnh An Giang. Tuy nhiên tốc độ giảm chi phí là thấp hơn tốc độ giảm thu nhập. Tỉ lệ giảm thu nhập của năm 2007 so với năm 2006 là 3,16% trong khi đó tỉ lệ giảm chi phí chỉ có 0,22%. Chính điều này đã làm cho thu nhập ròng của năm 2007 giảm. Bên cạnh, nguyên nhân trên còn do Ngân hàng tăng chi phí cho hoạt động huy động vốn nhằm thu hút khách hàng như tiết kiệm dự thưởng, kỳ phiếu dự thưởng....Cụ thể, năm 2006 mức chi trả lãi tiền gửi là 3,3 tỉ đồng đên năm 2007 tăng lên lên 12 tỉ đồng với mức tăng tương đối của năm 2007 so với năm 2006 là 264%. Đồng thời cũng do ngân hàng tăng cường cơ sở vật chất cho các hoạt động dịch vụ và công tác thanh toán như hệ thống máy tính, máy rút tiền tự động..., gia tăng lãi suất tiền gửi để phù hợp với tình hình chung. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng không những đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Để đạt được kết quả như vậy là do ngân hàng đã tích cực tăng nguồn vốn huy động và thực hiện tốt các dịch vụ ngân hàng tạo được nguồn thu từ dịch vụ , lệ phí, làm tốt công tác cho vay, thu nợ. Qua đó, NHTMCP ĐA – CNAG luôn đạt các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động đồng thời đảm bảo an toàn nguồn vốn theo quy định của NHNN và từng bước hoàn thiện hơn để luôn đóng vai trò là ngân hàng thương mại, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế của thành phố cũng như của cả tỉnh. 4.6.1. Phân tích thu nhập Thu nhập của Ngân hàng là toàn bộ khoản tiền thu được từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như thu từ lãi cho vay, thu từ lãi tiền gửi, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu phí cung cấp dịch vụ…Năm 2005, thu nhập của Ngân hàng gần 31.466,7 triệu đồng. Đến năm 2006, tổng thu nhập tăng lên 43.525,8 triệu đồng, tăng 12.059,1 triệu đồng so với năm 2005 với tỉ lệ tăng là 38,32%. Đến năm 2007 thu nhập có giảm nhưng chỉ giảm với tỉ lệ nhỏ là 3,16% so với năm 2006, với thu nhập năm 2007 là 42.149,7 triệu đồng. Ngân hàng cần có những biện pháp để làm tăng thu nhập, giảm chi phí, làm tăng lợi nhuận để hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng tốt hơn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Bảng 30: CƠ CẤU THU NHẬP CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Số tiền Tỉ trọng (%) Số tiền Tỉ trọng (%) Số tiền Tỉ trọng (%) I. Thu từ lãi 30.370,5 96,52 42.328 97,25 40.761,2 96,71 1.Thu từ lãi cho vay 29.100 92,48 40.327,4 92,65 37.980,7 90,11 2.Thu khác về hoạt động TD 1.270,5 4,04 2.000,6 4,60 2.780,5 6,60 II. Thu ngoài lãi 1.096,2 3,48 1.197,8 2,75 1.388,5 3,29 Tổng doanh thu 31.466,7 100 43.525,8 100 42.149,7 100 (Nguồn Phòng Kế Toán) Bảng 31: CHÊNH LỆCH CÁC KHOẢN THU NHẬP CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền % Sốtiền % I. Thu từ lãi 11.957,5 39,37 -1.566,8 -3,70 1.Thu từ lãi cho vay 11.227,4 38,58 -2.346,7 -5,82 2.Thu khác về hoạt động tín dụng 730,1 57,47 779,9 38,98 II. Thu ngoài lãi 101,6 9,27 190,7 15,92 Tổng doanh thu 12.059,1 38,32 -1.376,1 -3,16 (Nguồn Phòng Kế Toán) 4.6.1.1. Thu từ lãi: a) Thu từ lãi cho vay: Đây là khoản thu chính của Ngân hàng, chiếm tỉ trọng cao trong tổng thu nhập. Cụ thể, tình hình thu từ lãi cho vay cũng có sự gia tăng về số lượng. Năm 2005, thu từ lãi cho vay là 29.100 triệu đồng, chiếm 92,48% trong tổng doanh thu của Ngân hàng. Đến năm 2006, thu từ lãi cho vay tăng 11.227,4 triệu đồng với tỉ lệ tăng là 38,58% so với năm 2005. Đến năm 2007, thu từ lãi cho vay trên 37.980,7 triệu đồng, giảm so với năm 2006 là 5,82% tương ứng với số tuyệt đối là 2.346,7 triệu đồng. Nguyên nhân là do bên cạnh việc tăng thu về số lượng Ngân hàng đang phấn đấu để có những khoản thu đạt chất lượng nhằm tạo ra những bước đi vững chắc. Tăng cường cho vay các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và uy tín, hạn chế cho vay các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả nhằm đảm bảo nguồn thu đúng kỳ hạn, tránh tình trạng nợ quá hạn kéo dài gây khó khăn cho việc kinh doanh. Tuy doanh thu năm 2007 có giảm so với năm 2006, nhưng tỉ lệ giảm không đáng kể. Với tình hình thu nhập như trên, khẳng định Ngân hàng đang có những bước phát triển ổn định tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong việc gia tăng cho vay nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế. b) Thu khác về hoạt động tín dụng: Khoản thu này chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng thu nhập và cũng có xu hướng gia tăng. Năm 2005, thu từ tiền gửi là 1.270,5 triệu đồng, chiếm 4,04% tổng nguồn thu. Đến năm 2006, thu từ lãi tiền gửi tăng lên là 4,60% so với năm 2005, với số tuyệt đối là 2.000,6 triệu đồng. Đến năm 2007, nguồn thu này lại tiếp tục gia tăng và chiếm 6,60% trong tổng nguồn thu, đạt 2.780,5 triệu đồng, tăng 779,9 triệu đồng so với năm 2006 với tỉ lệ 38,98%. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do Chi nhánh đã tăng cường lượng tiền gửi nhằm bảo đảm cho các hoạt động thanh toán, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng về hoạt động chi trả của Ngân hàng. 4.6.1.2. Thu khác ngoài lãi: Thu nhập ngoài lãi bao gồm các khoản thu : thu từ dịch vụ thanh toán, thu từ dịch vụ bão lãnh, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, dịch vụ ngân quỹ và các khoản thu khác. Khoản thu này tuy chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn thu nhưng thu nhập này đều tăn qua các năm đã góp phần vào việc tăng tổng thu nhập cho Ngân hàng. Năm 2005, thu ngoài lãi chiếm 3,48% tổng doanh thu, đạt 1.096,2 triệu đồng. Đến năm 2006 thu ngoài lãi đạt 1.197,8 triệu đồng, tăng 9,27% so với năm 2005 nhưng tỉ trọng nguồn thu này lại giảm xuống còn 2,75%. Năm 2007 khoản thu này là 1.388,5 triệu đồng, tăng 190,7 triệu so với năm 2006 với tỉ lệ tăng là 15,92%. Bảng 32: CÁC KHỎAN THU NHẬP NGOÀI LÃI CỦA NGÂN HÀNG ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%) NV bảo lãnh 377 34,39 433,6 36,20 565,5 40,73 56,6 15,01 131,9 30,42 DV thanh toán 255 23,26 403,4 33,68 633,5 45,62 148,4 58,20 230,1 57,04 DV ngân quỹ 0,3 0,03 0,7 0,06 1,9 0,14 0,4 133,33 1,2 171,43 KD ngoại hối 0 0 1 0,08 1,5 0,11 1 - 0,5 50 Dịch vụ khác 463,9 42,32 359,1 29,98 186,1 13,40 -104,8 -22,59 -173 -48,18 Thu ngoài lãi 1.096,2 100 1.197,8 100 1.388,5 100 101,6 9,27 190,7 15,92 (Nguồn: Phòng Kế Toán) Trong năm 2005, hoạt động dịch vụ của Chi nhánh có mở rộng về quy mô, số lượng, chất lượng dịch vụ song vẫn chưa có bước đột phá, chưa khai thác hết nhu cầu và tiềm năng của khách hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do Chi nhánh chưa thực sự gắn kết việc phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ với công tác tín dụng, mở rộng khách hàng và huy động. Đến năm 2006, Chi nhánh đã tích cực duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ truyền thống, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, tăng thêm tiện ích cho khách hàng, từng bước đổi mới trang thiết bị và công nghệ, tin học phục vụ cho chương trình hiện đại hoá. Hình 11: Cơ cấu các khoản thu nhập ngoài lãi của Ngân hàng Năm 2005, thu về dịch vụ bảo lãnh của Chi nhánh là 377 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 34,39% trong cơ cấu tỉ trọng tổng thu nhập của Ngân hàng. Đến năm 2006, khoản này tăng lên là 433,6 triệu đồng, tăng 56,6 triệu đồng tương ứng với số tương đối là 15,01% so với năm 2005. Đến năm 2007, thu về nghiệp vụ bảo lãnh tiếp tục tăng lên là 565,5 triệu đồng, tăng so với năm 2006 với một lượng tuyệt đối là 131,9 triệu đồng, với số tuyệt đối là 30,42% Năm 2005, thu về dịch vụ thanh toán là 255 triệu đồng và tăng lên là 403,4 triệu đồng vào năm 2006. Đến năm 2007, khoản thu này tiếp tục tăng lên là 633,5 triệu đồng, tăng 230,1 triệu đồng so với năm 2006, với tỉ lệ tăng là 57,04%. Khoản thu này chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng thu ngoài lãi của Ngân hàng. Nguyên nhân sự gia tăng này là do ngày càng nhiều các doanh nghiệp đến gửi tiền vào Ngân hàng để thực hiện các giao dịch trong và ngoài nước một cách thuận tiện, an toàn và hiệu quả nhất, giảm rủi ro khi thanh toán bằng tiền mặt Thu kinh doanh ngoại tệ và dịch vụ ngân quỹ chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong tổng thu ngoài lãi của Ngân hàng qua các năm. Cụ thể, năm 2005 dịch vụ ngân quỹ đạt 0,3 triệu đồng và tăng lên là 0,7% vào năm 2006. Đến năm 2007, dịch vụ ngân quỹ tăng lên 171,43% so với năm 2006 và đạt 1,9 triệu đồng. Thu phí từ dịch vụ kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng chưa phát sinh vào năm 2005, nhưng đến năm 2006 là 1 triệu đồng và đến năm 2007, khoản thu này tăng lên là 1,5 triệu đồng. Ngân hàng luôn đảm bảo an toàn kinh doanh ngoại tệ, thực hiện đúng các quy định về kinh doanh ngoại tệ đảm bảo trạng thái ngoại hối cho phép của Ngân hàng, áp dụng các hình thức mua bán linh hoạt về tỉ giá, phương thức thanh toán. Còn các khoản thu khác như thu bất thường, thu từ các dịch vụ khác chiếm tỉ trọng cao trong tổng thu nhập ngoài lãi, nhưng tỉ trọng này có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2005, khoản thu này là 463,9 triệu đồng và chiếm 42,3% trong tổng thu ngoài lãi của Ngân hàng. Đến năm 2006, khoản thu này giảm 22,59% so với năm 2005 còn 359,1 triệu đồng và tỉ trọng này trong tổng thu ngoài lãi cón 29,98%. Đến năm 2007, khoản thu này tiếp tục giảm còn 186,1 triệu đồng, giảm 48,18% với số tuyệt đối là giảm 173 triệu đồng, và tỉ trọng của khoản thu này chỉ còn 13,40% trong tổng thu ngoài lãi. Nhìn chung tổng thu nhập của Ngân hàng qua ba năm khá ổn định, tuy năm 2007 tổng thu nhập của Ngân hàng có giảm nhưng không đáng kể là 3,16%. Tuy nhiên, Ngân hàng cần có những biện pháp tích cực hơn để tăng tổng soanh thu trong thời gian tới, đảm bảo ổn địnhhoạt động của Chi nhánh. Trong đó chủ yếu là các khoản thu từ lãi chiếm khoảng hơn 96% tổng thu. Điều này chứng tỏ hoạt động của Ngân hàng ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên Ngân hàng cần có biện pháp để tăng thu đối với hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại hối vì đây là lĩnh vực sẽ đem lại lợi nhuận cao trong tương lai. 4.6.2. Phân tích chi phí: Để cạnh tranh cùng các đối thủ, Ngân hàng ngày càng đa dạng hóa các hình thức cho vay, cung cấp các dịch vụ mới cho khách hàng, thu hút khách hàng đến với Chi nhánh để làm cho thu nhập của Ngân hàng ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của thu nhập là sự gia tăng của chi phí. Do đó, phân tích chi phí cho biết quy mô tín dụng, chi phí nào là chính trong hoạt động của Chi nhánh, đồng thời sẽ có biện pháp tiết kiệm những chi phí không hợp lý. Tổng chi phí của Ngân hàng luôn tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2005 tổng chi là 2.230 triệu đồng, đến năm 2006 chi phí này là 31.764,6 triệu đồng, tăng 9.464,6 triệu với tỉ lệ là 42,44% so với năm 2005. Đến năm 2007, tổng chi của Ngân hàng là 31.695,8 triệu đồng, giảm 68,8 triệu đồng so với năm 2006 với tỉ lệ giảm không đáng kể là 0,22%. Chi phí của Ngân hàng bao gồm các khoản chi trả lãi và các khoản chi khác ngoài lãi. Để có thể hiểu được sự biến động của tổng chi ta đi vào phân tích từng khoản cấu thành chi phí. Hình 12: Cơ cấu chi phí của Ngân hàng qua 3 năm 4.6.2.1. Chi trả lãi: Đây là khoản chi chủ yếu của Ngân hàng. Nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi. Năm 2005, khoản chi trả lãi chiếm 86,77%, trong đó trả lãi tiền gửi chiếm 10,40 % và trả lãi hoạt động huy động vốn chiếm 76,37%. Năm 2006, tổng chi trả lãi chiếm 89,39% tổng chi, trong đó chi trả lãi tiền gửi là 10,63% và chi về hoạt động huy động vốn là 78,76 %. Năm 2007, tổng chi trả lãi chiếm 82,49% trong tổng chi, trong đó chi trả lãi tiền gửi tăng lên là 38,85% và chi về hoạt động huy động vốn là 43,65%. Nhìn chung, chi trả lãi của Ngân hàng qua ba năm có sự biến động tương đối ổn định: + Năm 2005, khoản chi trả lãi là 19.350 triệu đồng, đến năm 2006 là 28.396 triệu đồng, tăng 9.045,6 triệu đồng với tỉ lệ tăng là 46,75% so với năm 2005. Đến năm 2007, khoản chi này là 26.146,3 triệu đồng. Nguyên nhân là do: trong năm 2006, nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh của người dân tăng cao, nên để đáp ứng nhu cầu nay, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp huy động vốn và tăng lãi suất, tiết kiệm dự thưởng nhằm huy động được nhiều nguồn vốn tại chỗ và sử dụng thêm vốn điều chuyển từ Hội Sở nên làm cho các khoản chi trả lãi tiền gửi vốn tăng cao. Bên cạnh đó, khoản chi khác về hoạt động tín dụng cũng tăng lên. Chi trả lãi tiền gửi và chi về hoạt động huy động vốn tăng vào năm 2006 tăng nên làm cho khoản chi từ lãi năm này tăng lên + Đến năm 2007, tổng chi trả lãi của Ngân hàng là 26.146,3 triệu đồng, giảm 2.249,3 triệu đồng so với năm 2006 với tỉ lệ giảm là 7,92%. Sỡ dĩ, khoản chi này giảm này là do: trong năm 2006, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nên khoản này đã đáp ứng một phần nhu cầu vay vốn của năm 2007, nên trong năm nay Ngân hàng giảm mức lãi suất tiền gửi để cân bằng nguồn vốn huy động và vốn kinh doanh của mình nhằm làm giảm chi phí tín dụng trong hoạt động kinh doanh cũng như góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của Ngân hàng. Chính vì vậy, làm cho các khoản chi từ lãi giảm xuống. Tóm lại: Chi trả lãi chịu tác động nhiều bởi chi khách về hoạt động tín dụng. Khoản chi này chiếm tỉ trọng cao trong tổng chi nhưng nó có xu hướng giảm qua các năm, năm 2007 chỉ còn 43,65% tổng chi. 4.6.2.2. Chi ngoài lãi: Năm 2005, khoản chi này là 2.950 triệu đồng, năm 2006 là 3.368,9 triệu đồng, tăng 418,9 triệu đồng với tỉ lệ tăng là 14,2% so với năm 2005. Đến năm 2007, khoản chi này là 5.549,6 triệu đồng, tăng 2.180,7 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 64,73% so với năm 2006. Nguyên nhân của sự tăng chi phí đột biến này là do Chi nhánh chuyển địa điểm mới nên tuyển dụng thêm nhiều nhân viên và chi choi quản lý công cụ dụng cụ và chi khấu hao tài sản cố định tăng cao. Nhìn chung, nguồn chi này có tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng chi nhưng nó bao gồm nhiều khoản chi khác nhau hợp thành: chi về hoạt động thanh toán; chi thuế, phí, lệ phí; chi cho nhân viên; chi hoạt động quản lý và công cụ; chi khấu hao tài sản cố định; chi dự phòng và các khoản chi khác. a) Chi về hoạt động thanh toán và ngân quỹ. Khoản chi này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng chi phí ngoài lãi. Năm 2005, chi cho hoạt động thanh toán và ngân quỹ là 189 triệu đồng, chiếm 6,41% trong tổng chi phí ngoài lãi. Sang năm 2006, khoản chi này là 119,4 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 3,54%, giảm 69,6 triệu đồng so với năm 2005. Đến năm 2007 khoản chi này là 109,9 triệu đồng, chiếm 1,98% trong tổng chi phí ngoài lãi, giảm 9,5 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 7,96% so với năm 2006. b) Chi thuế, phí, lệ phí. Khoản chi này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng chi. Nó thường ổn định qua các năm. Năm 2005, khoản chi này là 1,5 triệu đồng, chiếm 0,05% trong tổng chi ngoài lãi; sang năm 2006 khoản chi này chiếm 0,06% trong tổng chi ngoài lãi, tăng 0,6 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 40% so với năn 2005. Đến năm 2007, khoản chi này là 1,3 triệu đồng, chiếm tỉ trọng là 0,02% trong tổng chi ngoài lãi, chi phí này giảm 0,8 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 38,1% so với năm 2006. c) Chi cho nhân viên. Năm 2005, khoản chi này là 1.399 triệu đồng và chiếm tỉ trọng cao trong tổng chi phí ngoài lãi đạt 47,42%. Đến năm 2006, khoản chi cho nhân viên là 1.433,5 triệu đồng, tăng 34,5 triệu đồng, với tỉ lệ tăng không cao là 2,47% so với năm 2005. Năm 2005, chi cho nhân viên là 2.831,7 triệu đồng, tăng 1.398,2 triệu đồng với tỉ lệ tăng đáng kể là 97,54% so với năm 2006, và khoản chi này chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng chi ngoài lãi chiếm hơn 51% trong tổng chi ngoài lãi. Nguyên nhân làm cho khoản chi này tăng lên một cách đáng kể là do trong năm 2007, Chi nhánh chuyển về trụ sở mới, trụ sở cũ chuyển thánh Phòng Giao Dịch Long Xuyên nên Ngân hàng tuyển dụng thêm nhiều nhân viên mới để đáp ứng yêu cầu công việc. Bảng 33: CÁC KHOẢN CHI PHÍ NGOÀI LÃI CỦA NGÂN HÀNG ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền Tỉ trọng (%) Số tiền Tỉ trọng (%) Số tiền Tỉ trọng (%) Số tiền (%) Số tiền (%) 1. Chi DV thanh toán và ngân quỹ 189 6,41 119,4 3,54 109,9 1,98 -69,6 -36,83 -9,5 -7,96 2.Chi nộp thuế, phí, lệ phí 1,5 0,05 2,1 0,06 1,3 0,02 0,6 40 -0,8 -38,10 3.Chi cho nhân viên 1.399 47,42 1.433,5 42,55 2.831,7 51,03 34,5 2,47 1.398,2 97,54 4.Chi quản lý công cụ, dụng cụ 712 24,14 934,7 27,74 1.226,2 22,10 222,7 31,28 291,5 31,19 5.Chi khấu hao cơ bản TSCĐ 253 8,58 397 11,78 541 9,75 144 56,92 144 36,27 6. Chi dự phòng 87 2,95 106,5 3,16 58,8 1,06 19,5 22,41 -47,7 -44,79 7.Chi khác 308,5 10,46 375,7 11,15 780,7 14,07 67,2 21,78 405 107,8 Tổng chi phí ngoài lãi 2950 100 3.368,9 100 5.549,6 100 418,9 14,2 2.180,7 64,73 (Nguồn:Phòng Kế Toán) d) Chi hoạt động quản lý và công cụ. Năm 2005, khoản chi này là 712 triệu đồng chiếm 24,14% trong tổng chi ngoài lãi. Đến năm 2006, khoản chi này là 934,7 triệu đồng, chiếm 27,74% tăng 222,7 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 31,28% so với năm 2005. Đến 2007, khoản chi này tăng 1226,2 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 31,19% so với năm 2006. e) Chi khấu hao cơ bản tài sản cố định. Khoản chi này có xu hướng tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2005, khoản chi này là 253 triệu đồng chiếm 8,58% tổng chi ngoài lãi. Năm 2006 là 397 triệu đồng, tăng 144 triệu đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng là 56,92% so với năm 2005. Năm 2007, chi cho khấu hao TSCĐ là 541 triệu đồng, tăng 144 trệu đồng với tỉ lệ tăng là 36,27% so với năm 2006. Khoản chi này trong năm 2007 chiếm 9,75% trong tổng chi ngoài lãi của Ngân hàng. f) Chi dự phòng. Năm 2006, chi dự phòng là 106,5triệu đồng tỉ so với năm 2005, và chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng chi ngoài lãi là 3,16% trong tổng chi ngoài lãi. Đến năm 2007 là 58,8 triệu đồng, giảm 44,79% so với năm 2006 tương ứng với số tuyệt đối là giảm 47,7 triệu đồng . Trong năm 2007, tỉ lệ khoản chi này có giảm xuống còn 1,06% trong tổng chi ngoài lãi. g) Chi khác Khoản chi này có xu hướng tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2005, khoản chi này là 308,5 triệu đồng chiếm 10,46% tổng chi ngoài lãi. Năm 2006 là 375,7 triệu đồng, tăng 67,2 triệu đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng là 21,78% so với năm 2005. Năm 2007, chi này là 780,7 triệu đồng, tăng 405 trệu đồng với tỉ lệ tăng là 107,8% so với năm 2006. Khoản chi này trong năm 2007 chiếm 14,07% trong tổng chi ngoài lãi của Ngân hàng. 4. 6.3. Phân tích lợi nhuận: Lợi nhuận là thước đo cuối cùng trong quá trình đánh giá hoạt động của một Ngân hàng. Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của NHTM. Lợi nhuận có thể hữu hình như: tiền, tài sản... và vô hình như: uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, hoặc phần trăm thị phần Ngân hàng chiếm được. Bảng 34: TỔNG HỢP TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 số tiền % số tiền % Tổng doanh thu 31.466,7 43.525,8 42.149,7 12.059,1 38,32 -1.376,1 -3,16 Tổng chi phí 22.300 31.764,6 31.695,8 9.464,6 42,44 -68,8 -0,22 Lợi nhuận trước thuế 9.166,7 11.761,2 10.453,9 2.594,5 28,30 -1.307,3 -11,12 Thuế TNDN 2.566,7 3.293,1 2.927,1 726,4 28,30 -366 -11,11 Lợi nhuận 6.600 8.468,1 7.526,8 1.868,1 28,30 -941,3 -11,12 ( Nguồn: Phòng Kế Toán) Qua bảng số liệu, ta thấy lợi nhuận năm năm 2006 của Ngân hàng có sự gia tăng nhưng đến năm 2007 lợi nhuận này có giảm. Cụ thể, năm 2005, lợi nhuận của Ngân hàng là 6.600 triệu đồng, đến năm 2006, lợi nhuận này là 8.468,1 triệu đồng tăng 1.868,8 triệu đồng với tỉ lệ tăng là 28,3%. Đến năm 2007, lợi nhuận của Ngân hàng là 7.526,8 triệu đồng, giảm 11,12% so với năm 2006. Sự tăng hoặc giảm của lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi thu nhập và chi phí của Chi nhánh. Doanh thu của Chi nhánh qua ba năm tăng trưởng không ổn định. Năm 2006 tăng 38,32% so với năm 2005, năm 2007 giảm 3,16% so với năm 2006. Như vậy, doanh thu năm 2006 có sự gia tăng mạnh góp phần vào sự gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên trong năm 2007, khoản doanh thu của Ngân hàng có giảm do trong năn 2007, để cạnh tranh cùng các đối thủ trên địa bàn tỉnh An Giang, Ngân hàng đã giảm mức lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, vì khoản thu từ lãi cho vay chiếm hơn 90% trong tổng thu của Ngân hàng. Cụ thể, năm 2006 khoản thu từ lãi cho vay là 40.327,4 triệu đồng nhưng đến năm 2007, khoản thu này giảm còn 37.980,7 triệu đồng. Khoản doanh thu tăng sẽ làm cho khoản chi phí tăng theo và ngược lại. Năm 2006 chi phí là 31.764,6 triệu đồng, tăng 42,44% so với năm 2005. Năm 2007, chi phí này có giảm nhưng không đáng kể là 31.695,8 triệu đồng tương đương với tỉ lệ giảm là 0,22%. Nguyên nhân của sự gia tăng chi phí do việc gia tăng lãi suất huy động vốn và tăng chi phí cho các biện pháp thu hút tiền gửi vào năm 2006. Hình 13: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm Tỉ đồng Doanh thu Chi phí Lợi nhuận 4.6.4. Phân tích các chỉ số đo lường lợi nhuận: Các chỉ số đo lường lợi nhuận là công cụ giúp nhà quản trị có thể dự đoán về khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai thông qua số liệu mà những báo cáo đem lại. Trong lĩnh vực Ngân hàng, nước ta chưa có những chỉ tiêu đánh giá về lợi nhuận và rủi ro bình quân một cách cụ thể nên việc đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu của doanh nghiệp có những hạn chế nhất định. Sau đây là các chỉ tiêu được sử dụng trong việc đánh giá lợi nhuận của Ngân hàng. Bảng 35: CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM ĐVT: % Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2006/2005 ROA 2,17 2,40 1,83 0,23 -0,57 ROS 20,97 19,46 17,86 -1,51 -1,6 ROE 2,28 2,74 2,45 0,46 -0,29 Chi phí/doanh thu 70,87 72,98 75,20 2,11 2,22 4.6.4.1. Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA): ROA giúp nhà phân tích thấy được khả năng của Ngân hàng trong việc tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng từ một đồng tài sản. Nói cách khác, chỉ số này cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn Ngân hàng kinh doanh có hiệu quả, có cơ cấu tài sản hợp lý. Tuy nhiên ROA quá lớn cũng là nỗi lo của nhà phân tích vì rủi ro luôn đi cùng với lợi nhuận cao. Năm 2005, ROA chỉ đạt 2,17% cho thấy việc Ngân hàng bỏ ra 100 đồng tài sản thì thu về được 2,17 đồng lợi nhuận. Chỉ số này đến năm 2006 đã có sự chuyển biến tích cực hơn. Cụ thể năm 2006, ROA tăng lên là 2,40% là do năm 2006 lợi nhuận của Ngân hàng tăng mạnh, tăng 1.868,1 triệu đồng so với năm 2005, tương ứng với tỉ lệ tăng là 28,30% nên làm cho tỉ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản gia tăng. Đến năm 2007, chỉ số này giảm còn 1,83 % có ngĩa là 100 đồng tài sản Ngân hàng bỏ ra chỉ thu về được 1,83 đồng lợi nhuận. Nguyên nhân chỉ số này giảm một phần là do lợi nhuận năm này giảm và do Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nên cần một nguồn vốn lưu động khá lớn nên mức tăng của tài sản tăng cao hơn mức tăng của lợi nhuận làm cho tỉ số này giảm. 4.6.4.2. Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) Mức lợi nhuận trên doanh thu của Ngân hàng năm 2006 là 19,46% thấp hơn năm 2005 do tốc độ tăng của lợi nhuận tăng chậm hơn tốc độ tăng của doanh thu, cụ thể, doanh thu của năm 2006 tăng 38,32 %. Đến năm 2007, tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu là 17,86%, có nghĩa là trong 100 đồng doanh thu của Ngân hàng thì thu được 17,86 đồng lợi nhuận. Tỉ suất này của Ngân hàng trong năm 2007 có giảm so với 2006, do trong năm này nhu cầu sản xuất kinh doanh của người dân tăng cao nên số lượng các khoản vay tăng lên nhưng chi phí bỏ ra chưa thu hồi hết trong năm, Ngân hàng sẽ tiếp tục thu lãi và vốn các khoản vay vào năm sau. 4.6.4.3. Lợi nhuận ròng trên VCSH (ROE) Tỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của NHĐA – CNAG qua các năm đều khoảng hơn 2%. Có nghĩa là cứ trung bình 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào việc kinh doanh thu được hơn khoảng 2 đồng lợi nhuận. Trong đó, ta cần thấy rõ, tuy tỉ số này không thay đổi nhiều qua các năm nhưng lợi nhuận và nguồn vốn chủ sở hữu năm 2006 đều tăng lên. Đây là kết quả của việc sử dụng một cách hữu hiệu nguồn vốn chủ sở hữu. NHĐA – CNAG cần tiếp tục phát huy ưu điểm này trong tương lai. Trong năm 2007, tỉ số này có giảm còn 2,45% nguyên nhân là do lợi nhuận trong năm này giảm so với năm 2006. 4.6.4. 4. Tổng chi phí trên tổng doanh thu : Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng doanh thu. Đây là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Thông thường chỉ số này phải nhỏ hơn 1, nếu nó lớn hơn 1 chứng tỏ Ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Qua bảng phân tích ta thấy tổng chi phí trên tổng doanh thu của Chi nhánh ngày càng gia tăng. Năm 2005 là 70,87%, năm 2006 là 72,98%, năm 2007 lại tăng lên 75,20%. Điều này chứng tỏ tốc độ tăng của chi phí luôn lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu nên đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn Chi nhánh. Chi phí của Ngân hàng phải bỏ ra ngày càng nhiều cho việc tạo được một đồng doanh thu. Để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng cần cắt giảm tối đa các khoản chi phí như các khoản chi nội bộ, tránh lãng phí văn phòng phẩm, điện..... Tuy các khoản chi này không đáng kể nhưng nó góp phần làm giảm tốc độ tăng của chi phí trong toàn đơn vị. ð Tóm lại, nguồn vốn của Ngân hàng tăng trưởng tốt, năm sau cao hơn năm trước. Trong đó, nguồn vốn huy động đang có xu hướng gia tăng và nguồn vốn điều chuyển từ Hội Sở giảm, cho thấy Ngân hàng ngày càng chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn vốn để hoạt động kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc của mình vào Hội Sở. Qua các năm, doanh số cho vay có sự tăng trưởng ổn định, thu nhập từ các hoạt động dịch vụ cũng tăng trưởng và đạt kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, trong thời gian tới Ngân hàng phải luôn theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh trên thị trường và địa bàn để đưa ra những chiến lược kinh doanh đúng đắn, thu hút khách hàng mới, duy trì quan hệ với khách hàng cũ nhưng vẫn đảm bảo có lợi nhuận. Bên cạnh đó, do tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh khá mạnh nên hệ thống Ngân hàng trên địa bàn gặp phải khó khăn trong huy động vốn tại chỗ từ nền kinh tế và dân cư, vì phần lớn nguồn lực tài chính trong xã hội được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong khi nhu cầu vay vốn tín dụng của các thành phần kinh tế vượt quá khả năng của các Ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng trong thời gian qua đã có sự thay đổi lãi suất huy động theo chiều hướng tăng lãi suất nhưng huy động vốn của Chi nhánh chưa đủ đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Do vậy, vốn hoạt động chủ yếu dựa vào vốn điều chuyển từ Hội sở làm cho chi phí hoạt động của Chi nhánh ngày càng tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuận của toàn Chi nhánh. Nhìn chung, Ngân hàng TMCP ĐA – CNAG đã có những định hướng đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế địa phương nên đã đạt được những thành tựu khả quan góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn và Ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động kinh doanh trong những năm tiếp theo. CHƯƠNG 5 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHO NGÂN HÀNG ĐÔNG Á - CHI NHÁNH AN GIANG 5.1. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN Để thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, Ngân hàng phải đa dạng hóa và linh hoạt trong công tác huy động vốn sao cho phù hợp với tình hình kinh doanh và bối cảnh chung của thị trường. Sau đây là một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn: 5.1.1. Hiện đại hoá công nghệ thông tin. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) là nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển và hội nhập và là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. CNTT chính là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm qua, NHĐA nói chung và ĐA - CNAG nói riêng, với nội lực của mình đã cố gắng tập trung đầu tư trang thiết bị phần cứng, phần mềm, viễn thông, các sản phẩm ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới để tạo cho khách hàng giao dịch thuận tiện nhất. Với phần mềm FCC mà Ngân hàng đem vào áp dụng đã mang lại những kết qủa đáng ghi nhận trong việc quản lý và cũng như giao dịch với khách hàng. Nhưng qua tìm hiểu và phân tích thì công nghệ của Ngân hàng có một số mặt còn hạn chế, nên cần chú ý hơn ở những biện pháp sau: - FCC là phần mềm quản lý dữ liệu tập trung thống nhất trong toàn hệ thống, nên thường xảy ra tình trạng nghẽn mạch và bị chậm, làm khách hàng phải chờ đợi lâu. Vì vậy phải có cách xử lý kịp thời khi tình huống này xảy ra. - Tăng cường công nghệ hỗ trợ việc quản lý thông tin khách hàng tốt hơn và quản lý rủi ro trong hoạt động. - Triển khai sớm công nghệ thẻ chíp để bảo đảm sự an toàn và tiện lợi hơn cho khách hàng. Hiện nay, NHĐA đã cho ra đời máy ATM TK21 có thể gửi tiền trực tiếp qua máy, nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh An Giang chưa được trang bị các máy ATM TK21 để gia tăng tiện ích cho khách hàng. Đời sống ngày càng nâng cao thì càng đòi hỏi sự tiện nghi, nhanh chóng. Áp dụng những công nghệ mới chính là đòn bẩy giúp Ngân hàng có thể khẳng định vị thế của mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. 5.1.2. Phát huy nguồn lực con người. Yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất trong bất kỳ một doanh nghiệp nào. Ngân hàng là một loại hình kinh doanh dịch vụ nên trình độ nghiệp vụ cũng như phong cách phục vụ của nhân viên là rất quan trọng. Nó tạo nên bản sắc văn hoá rất riêng cho mỗi Ngân hàng. Đòi sống vật chất của con người ngày càng tăng cao, nên nhu cầu về mặt tinh thần ngày càng được nâng cao, cho nên khi mua các sản phẩm thì người ta còn mua chính sự cảm nhận của người ta qua cách phục vụ và môi trường phục vụ khi mua sản phẩm đó. Vì vậy để tạo sự hài lòng nơi khách hàng, Ngân hàng cần chú ý thêm một số điểm để tạo ra một môi trường làm việc tốt cho nhân viên của mình: - Cần mạnh tay hơn về thay đổi chính sách về thu nhập đối với các vị trí cao cấp để thu hút nguồn nhân sự có chất lượng cao. - Tăng cường đội ngũ nhân viên trẻ, có trình độ chuyên môn đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng. - Đầu tư hơn cho ngân sách đào tạo và học tập các phương pháp đào tạo từ nước ngoài. Liên kết với các trường hoặc các giảng viên có kinh nghiệm để mở các kháo đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên. - Những chỉ tiêu về huy động vốn cần giao cụ thể cho từng thành viên và có chế độ đãi thưởng đối với thành viên hoàn thành xuất sắc công việc. Ngân hàng cần tạo một môi trường làm việc thông qua các chính sách quản lý khoa học, rõ ràng và chế độ đãi ngộ tương xứng. - Chủ động tìm kiếm khách hàng, khi đó Ngân hàng sẽ chủ động nắm bắt được thông tin về khách hàng và có điều kiện thẩm định, lựa chọn khách hàng. - Cán bộ, nhân viên sẵn sàng tư vấn, hướng dẫn khi khách hàng vay vốn có yêu cầu hoặc thắc mắc về thủ tục, hồ sơ vay vốn. 5.1.3. Đa dạng hoá trong phương thức huy động vốn. - Vận động các nhóm, tổ phụ nữ tiết kiệm, tổ ngành nghề, hội nông dân… để thu hút tiền từ các quỹ tài trợ của các hội viên đóng góp khi chưa sử dụng. - Nắm chắc phân khúc khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân. Xác định đối tượng khách hàng truyền thống là các cá nhân, hộ kinh tế gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó Ngân hàng cần tập trung sức lực để phát triển chiều sâu hơn vào khách hàng này. Tận dụng khoảng thời gian vài năm tới, khi phân khúc thị trường này còn nằm trong khả năng khai thác để đẩy mạnh các phương thức ưu đãi và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nắm chắc phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân. - Áp dụng phí chuyển tiền ưu đãi đối với khách hàng chuyển tiền thanh toán qua NHTMCP ĐA – CNAG thường xuyên và trị giá lớn để tăng tiền gửi thanh toán. - Với tiền gửi của các TCTD: mở rộng mối quan hệ với nhiều Ngân hàng hơn tạo sự liên thông giữa các ngân hàng, tiện lợi hơn cho khách hàng khi gửi và rút tiền. Ngoài ra thị trường thẻ hiện là thị trường tiềm năng đối với các Ngân hàng, do đó cần tăng cường những lợi ích thanh toán của thẻ. Ngân hàng có những chương trình khuyến mãi hấp dẫn khách hàng trong việc phát hành thẻ, nhưng chưa có nhưng chương trình khuyến mãi cho những khách hàng sau khi làm thẻ nên xảy ra tình trạng một số lượng lớn khách hàng sau khi làm thẻ không sử dụng thẻ. Ngân hàng cần tăng thêm nhiều tiện ích cho thẻ. Hiện nay, NHĐA – CNAG đang triển khai thanh toán tiền lương, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại qua thẻ nhưng Chi nhánh chưa liên kết với các siêu thị, khách sạn, cửa hàng để khách hàng có thể thanh toán trực tiếp qua thẻ... Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các loại thẻ quốc tế vì nhu cầu đi nước ngoài của người dân ngày càng tăng lên. 5.1.4. Đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng mạng lưới. Cơ sở vật chất rất quan trọng, vì nó thể hiện tầm vóc, vị thế và uy tín của một Ngân hàng và tạo ra cảm giác thoải mái khi khách hàng đến giao dịch tại Ngân hàng. Nhiều khách hàng căn cứ vào tầm vóc của trụ sở, trang thiết bị sử dụng để đặt niềm tin vào ngân hàng đó. Vì vậy Ngân hàng cần lưu ý một số điểm sau: Trụ sở hiện tại của NHĐA – CNAG không thuận tiện trong việc giao dịch với một số khách hàng do vị trí của các đối thủ như Vietcombank, Sacombank, Á Châu đề nằm ở trung tâm Thành phố Long Xuyên. Vì vây, Ngân hàng cần mở rộng thêm mạng lưới hoạt động của mình, hướng vào phân khúc của mình, để chủ động mở rộng thị trường và chiếm thị phần đón đầu trong quá trình hội nhập. Đồng thời mở nhiều phòng giao dịch để huy động nhiều hơn vốn nhàn rỗi của khách hàng cá nhân và hỗ trợ đắc lực cho mảng dịch vụ bán lẻ. Chú trọng trang bị các trang thiết bị hiện đại, ấn tuợng đặc trưng riêng đối với Ngân hàng. 5.1.5. Tăng cường công tác tiếp thị, khuyến mãi đối với khách hàng. Quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng bằng cách gửi phiếu yêu cầu khách hàng đánh giá, đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm của Ngân hàng cũng như cung cách phục vụ. Tăng cường quảng bá Ngân hàng mình thông qua các chương trình giới thiệu sản phẩm bằng cách: sử dụng các phương tiện truyền thông như báo Tuối trẻ, báo An Giang, Đài truyền hình An Giang; tham gia các hội nghị khách hàng, gặp gỡ trao đổi với các doanh nghiệp, cá nhân về những chuyên đề tài chính, giới thiệu tiện ích của Ngân hàng. Xây dựng biểu lãi suất hấp dẫn mang tính cạnh tranh để thu hút khách hàng tăng tiền gửi vừa đảm bảo có lợi cho khách hàng vừa tăng lợi nhuận cho Ngân hàng. Lãi suất là yếu tố nhạy cảm, nhất là trong điều kiện có sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn, do vậy việc vận dụng yếu tố lãi suất một cách phù hợp, linh động sẽ thu hút được nguồn vốn huy động cho tổ chức tín dụng đó (đặc biệt là đối với khách hàng truyền thống và có nguồn tiền gửi lớn) như áp dụng lãi suất bậc thang, theo đó khách hàng gửi tiền sẽ được hưởng lãi suất tương ứng với từng mức tiền gửi theo quy tắc mức tiền gửi càng lớn lãi suất càng cao. Phát tờ rơi, mở các cuộc hội thảo về nghề nghiệp ở các trường Cao đẳng Đại học nhằm cho giới sinh viên (người chủ tương lai của đất nước cũng là những khách hàng tiềm năng) hiểu được những tiện ích của các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng. Tổ chức chăm sóc khách hàng truyền thống như tặng quà nhân ngày sinh nhật, ngày thành lập Công ty, xí nghiệp, tổ chức thăm hỏi nhân dịp lễ tết. Tăng cường tiếp thị phù hợp và hiệu quả đối với từng đối tượng khách hàng khác nhau như gặp gỡ khách hàng theo khu vực, theo nhóm, theo ngành nghề… Trong đó giới thiệu cụ thể các thủ tục, điều kiện và nêu bật được các tiện ích khi khách hàng tìm đến giao dịch với Ngân hàng. 5.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN 5.2.1. Thực hiện chiến lược khách hàng: Khi khách hàng đến vay vốn tại Chi nhánh, cán bộ tín dụng cần phải xem xét số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn, tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng trong những năm qua để nắm được nhu cầu vay vốn cũng như khả năng trả nợ của khách hàng. Đối với khách hàng truyền thống, vay trả đúng kỳ hạn, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả nên có chính sách ưu đãi giúp cho doanh nghiệp phấn đấu giảm chi phí, giá thành sản phẩm, đảm bảo sự cạnh tranh tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cập nhật tình hình phát triển kinh tế của địa phương, chủ trương chính sách ở khu vực và Nhà nước để điều chỉnh kịp thời lãi suất cho vay khi có biến động nhằm bảo đảm cạnh tranh và có định hướng cho vay phù hợp với từng ngành nghề, từng thành phần kinh tế khác nhau nhằm đạt hiệu quả tốt việc sử dụng nguồn vốn. Đối với thành phần kinh tế là dân cư, các TCKT việc cho vay đều thực hiện dựa trên tài sản thế chấp, tuy nhiên Ngân hàng không nên xem việc thế chấp là yếu tố quyết định cho vay mà chủ yếu xem xét mục đích vay có mang lại hiệu quả thiết thực và có khả năng trả được nợ mới quyết định cho vay. Qua 3 năm 2005-2007, thành phần kinh tế này chủ yếu là vay ngắn hạn, Ngân hàng cần đầu tư hơn để cho vay trung dài hạn mặc dù rủi ro nhiều nhưng lợi nhuận đem lại sẽ lớn hơn. Tăng cường thông tin giữa các Ngân hàng về tình hình tài chính của các doanh nghiệp và những sai phạm để có thể sàng lọc khách hàng nhằm phòng ngừa rủi ro. Kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị vay vốn nhằm đánh giá đúng tiến độ thực hiện phương án vay vốn cũng như khả năng chi trả đúng thời hạn nhằm hạn chế nợ quá hạn, không có khả năng thanh toán của khách hàng. Quan tâm giúp đỡ khách hàng khi họ lâm vào tình trạng khó khăn, làm ăn thua lỗ thì Ngân hàng nên tư vấn nhằm tạo điều kiện cho họ vượt qua khó khăn để tiếp tục sản xuất kinh doanh. Điều này giúp Ngân hàng tạo được mối quan hệ lâu dài với khách hàng, và giúp cho việc thu nợ cũng như xử lý nợ quá hạn sẽ dễ dàng hơn. 5.2.2. Chuyên môn hoá trình độ đội ngũ tín dụng: Với từng địa bàn nhất định nên cử cán bộ tín dụng chuyên cho vay và thu hồi nợ ở địa bàn đó sẽ giúp các cán bộ tín dụng nắm chắc được tình hình tài chính, quan hệ làm ăn của khách hàng, hiểu được mục đích, nhu cầu vay vốn của họ. Từ đó, lập phương án cho vay có hiệu quả, vốn cho vay được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Qua đó, việc thu hồi nợ và lãi một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn. Cụ thể là Chi nhánh cần mở rộng mạng lưới, tăng cường nhiều PGD rải rác trên mỗi địa bàn, vừa thuận tiện trong giao dịch vừa dễ nắm bắt được tình hình các doanh nghiệp. Trang bị, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ, nhân viên làm công tác thẩm định để thực hiện tốt công tác thẩm định các dự án vay vốn và định giá tài sản thế chấp nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.. Đào tạo đội ngũ cán bộ tín dụng nhằm trang bị cho họ những kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong việc thẩm định dự án cho vay, nâng cao khả năng điều hành cũng như những hiểu biết về pháp luật. 5.3. VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ Tăng cường thêm các máy rút tiền đồng thời bố trí ở những nơi thuận tiện để phục vụ khách hàng. Nâng cao chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian chuyển tiền, thủ tục mau lẹ. Đề nghị làm đầu mối thanh toán cho các hợp đồng xuất nhập khẩu nhằm tăng thu từ hoạt động thanh toán quốc tế. CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1. KẾT LUẬN: Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống nhân dân được cải thiện. Kết quả trên là do nỗ lực chung của các ngành, các cấp. Trong đó ngành Ngân hàng có những đóng góp tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế Việt Nam. Vai trò của Ngân hàng ngày càng thể hiện rõ thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế. Một mặt Ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mặt khác Ngân hàng cũng góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở các hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Là một chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ Phần trên địa bàn An Giang, có vai trò chủ đạo huy động vốn để cho vay, đầu tư cho các thành phần kinh tế phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Trong 3 năm qua, Chi nhánh đã nỗ lực phấn đấu không ngừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Sự tăng trưởng cao của hoạt động tín dụng ngân hàng thông qua kết quả của việc tăng nguồn vốn huy động, doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ trong 3 năm cho thấy chi nhánh có những bước tiến rất khả quan về tín dụng. Tuy nhiên, trong 3 năm qua, Chi nhánh cũng gặp không ít khó khăn trong vấn đề xử lý nợ quá hạn. Mặc dù, Chi nhánh đã linh hoạt trong việc xử lý nợ quá hạn bằng cách trích lập dự phòng rủi ro nhưng cũng đã cho thấy những sơ sót trong việc kiểm soát các khoản nợ vay của Ngân hàng. Do đó, Chi nhánh cần có những chính sách phù hợp để quản lý tín dụng đồng thời tránh được những rủi ro tiềm ẩn phát sinh trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Ngoài ra, chi nhánh cũng mở rộng và nâng cao các loại hình dịch vụ như: thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, dịch vụ ngân quỹ,… nhưng mảng dịch vụ này chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mặc dù việc thu hút vốn từ các hình thức dịch vụ này có chi phí rẻ hơn và ít rủi ro hơn nhiều Mặc dù, các phương diện hoạt động của Ngân hàng có những vướng mắc nhất định nhưng nhìn chung thì Ngân hàng vẫn đạt được những kết quả khả quan được biểu hiện thông qua lợi nhuận thu được. Vì vậy, Ngân hàng cần phát triển hơn nữa các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu nền kinh tế và góp phần tăng thêm thu nhập cho Ngân hàng. Song song đó, Ngân hàng cần giảm các khoản chi phí như văn phòng phẩm, điện, nước…để nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. 6.2. KIẾN NGHỊ 6.2.1. Đối với Ngân hàng. Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh An Giang, em luôn nhận thấy sự nhiệt tình, tận tụy trong công việc của toàn thể nhân viên Ngân hàng. Trong thời gian tới, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính, là nghiệp vụ chủ yếu mang lại thu nhập cho hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh An Giang nói riêng. Do đó, công tác nâng cao chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro càng phải được thắt chặt hơn nữa trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để thực hiện điều này em xin đề xuất một vài kiến nghị với Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh An Giang như sau: - Chủ động xây dựng một hệ thống các chỉ số và giới hạn có tính cảnh báo trước về những nguy cơ rủi ro cao cần phòng tránh (giới hạn cho vay đối với một ngành, một vùng cụ thể để phân tán rủi ro). - Hiện đại hóa và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng; tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng. Đây là điều kiện tăng thu nhập từ dịch vụ, giảm áp lực tăng trưởng tín dụng đơn thuần, phòng ngừa rủi ro. - Đa dạng hóa danh mục đầu tư, đa dạng hóa khách hàng. Không tập trung cho vay một loại khách hàng, một ngành hàng mà cần mở rộng đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay, đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay phát triển kinh tế tư nhân, cho vay nông nghiệp, nông thôn. - Hợp tác và cạnh tranh hợp pháp là một điều khoản quan trọng trong luật các tổ chức tín dụng mà các NHTM phải quan tâm, phối hợp thực hiện với các hình thức đồng tài trợ nhằm tăng năng lực thẩm định, tăng khả năng cung ứng vốn, tăng khả năng giám sát vốn vay và có thể phân tán được rủi ro khi có mất mát xảy ra. - Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ mang tính chuyên sâu, phát triển thêm nguồn nhân lực, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Chi nhánh. Những khoá huấn luyện đào tạo nên cho ứng dụng thực tế cao ngay trong chương trình giảng dạy. Nên có những khuyến khích để kích thích trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ công nhân viên, từ đó có thể phát huy tính năng động sáng tạo trong công việc và nâng cao trách nhiệm của mỗi người. - Tổ chức phân loại khách hàng; xác định giới hạn tín dụng cho từng khách hàng; chọn lựa giao dịch với khách hàng có uy tín, kinh doanh có hiệu quả. - Tích cực thu hồi nợ tồn đọng làm giảm bớt áp lực tăng thu, bù chi. - Tăng thu dịch vụ: nâng cao trình độ, năng lực nhận thức của cán bộ về nghiệp vụ, công nghệ và kỹ năng chăm sóc khách hàng. Trang bị thêm các máy rút tiền để bố trí được nhiều nơi thuận tiện để phục vụ khách hàng nhằm tăng cường tính cạnh tranh. Việc này có thể tiết kiệm chi phí bằng cách trang bị máy có giá trị thấp như máy âm tường 6.2.2. Đối với Nhà nước. - Tham mưu, đề nghị Nhà nước cần sửa đổi bổ sung luật NHNN và luật các Tổ chức tín dụng để phù hợp với pháp luật hiện hành cũng như phù hợp với tình hình hoạt động của các TCTD. Nhằm đảm bảo cho các TCTD hoạt động có hiêu quả hơn. - Tiếp tục lộ trình sắp xếp, cải cách mạnh mẽ lại các Doanh nghiệp, các công ty để có thể phân loại, đánh giá chính xác về năng lực quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp và các công ty đó. - Ổn định giá trị đồng tiền nội tệ. Vì lạm phát cao đồng tiền bị mất giá sẽ gây ảnh hưởng đến việc huy động tiền gửi vào Ngân hàng, người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng nữa hoặc rút ra để chuyển qua giữ đồng tiền của họ ở dạng như: vàng, ngoại tệ, tài sản khác.... Đồng tiền mất giá kéo theo Ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để bù đắp phần trượt giá, lãi suất huy động cao làm cho lãi suất cho vay cũng sẽ tăng lên, khi đó các doanh nghiệp khó có thể vay Ngân hàng với lãi suất cao này. Kết quả là Ngân hàng bị ứ đọng vốn. - Tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và thị trường mua bán nợ, thị trường bảo hiểm tín dụng để có thể giảm thiểu phòng ngừa và phân tán rủi ro tín dụng; cần có các chính sách thích hợp để thị trường chứng khoán nước ta phát triển mạnh và sôi động hơn nữa nhằm làm giảm sức ép lên Ngân hàng trong việc cấp vốn hoạt động cho doanh nghiệp. - Cơ chế, chính sách của Nhà nước phải được đổi mới theo hướng cho phép các tín dụng áp dụng các thông lệ quốc tế trong việc xác định trước và trích lập dự phòng rủi ro. Quỹ dự phòng rủi ro hiện được trích theo nợ “trong hạn” và “quá hạn” là không hợp lý mà cần phải được tính toán theo mức độ rủi ro của khoản vay. - Khi xảy ra tranh chấp thì các ngành chức năng cần tạo điều kiện hỗ trợ Ngân hàng thu hồi nợ, sử dụng luật dân sự, không nên hình sự hóa các quan hệ tín dụng. Luật các tổ chức tín dụng là hành lang pháp lý cao nhất buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức tín dụng theo đúng pháp luật. TÀI LIỆU THAM KHẢO —&– 1. PTS. Nguyễn Ngọc Hùng. Lý thuyết tài chính - tiền tệ. NXB Thống Kê, 1999 2. Huỳnh Đức Lộng. Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp. NXB Thống Kê, 1997. 3. Nguyễn Thanh Nguyệt, Trần Ái Kết. Quản trị tài chính. Tủ sách Đại học Cần Thơ, 1997. 4. Th.s Thái Văn Đại. Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng. Tủ sách trường Đại học Cần Thơ, 2003. 5. Th.s Thái Văn Đại, Nguyễn Thị Thanh Nguyệt. Bài giảng Quản trị Ngân hàng Thương mại. Tủ sách Đại hoạc Cần Thơ, 2007. 6. Số liệu do Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh An Giang cung cấp. 7. Một số tạp chí khoa học Ngân hàng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐề tài- Phân tích hoạt động kinh doanh tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á – Chi nhánh An Giang.doc
Luận văn liên quan