Đề tài Phân tích thực trạng và giải pháp xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Phi

Mục Lục PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2 2.1. Mục tiêu chung: 2 2.2. Mục tiêu cụ thể: 2 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2 3.1. Phương pháp thu thập số liệu: 2 3.2. Phương pháp xử lý số liệu: 2 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 2 4.1. Không gian nghiên cứu: 2 4.2. Thời gian nghiên cứu: 2 4.3. Đối tượng nghiên cứu: 3 PHẦN NỘI DUNG 4 Chương 1: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI. 4 1.1. Khái quát quan hệ chính trị, ngoại giao Việt Nam – Châu Phi trong thời gian qua. 4 1.2. Thực trạng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Châu Phi trong thời gian qua. 5 1.2.1. Kim ngạch xuất khẩu, số lượng xuất khẩu. 5 1.2.2. Cơ cấu thị trường. 6 1.2.3. Cơ cấu mặt hàng. 8 1.2.4. Tình hình về giá. 9 1.2.5. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu. 10 1.2.6. Các phương thức thanh toán. 10 1.2.7. Các thị trường trọng điểm của Việt Nam tại Châu Phi. 11 1.2.7.1. Thị trường Nam Phi. 11 1.2.7.2. Thị trường Ai cập. 15 1.2.7.3. Thị trường Nigiêria. 18 1.2.7.4. Thị trường Maroc. 20 1.2.7.5. Thị trường Angiêria. 22 1.3. Đánh giá chung tình hình xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Châu Phi 26 1.3.1. Ưu điểm 26 1.3.1.1 Ưu điểm. 26 1.3.1.2 Nguyên nhân. 26 1.3.2. Hạn chế. 27 1.3.2.1. Hạn chế. 27 1.3.2.2. Nguyên nhân. 28 Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI. 30 2.1. Định hướng. 30 2.2. Giải pháp. 30 2.2.1. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại. 30 2.2.2. Phát triển các ngành hàng xuất khẩu. 32 2.2.3. Xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý. 32 PHẦN KẾT LUẬN 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Ngày nay, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá là xu thế chung của các nước, các khu vực và toàn thế giới. Các nước ngày càng phát triển thì càng phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn trên tinh thần hợp tác bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và cùng có lợi. Trên con đường hội nhập xu thế quốc tế hoá ấy của kinh tế thế giới, thì quan hệ xuất – nhập khẩu hàng hoá Việt Nam với các nước trên thế giới là vô cùng quan trọng. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 178 nước thuộc tất cả các châu lục (theo thống kê Bộ Ngoại Giao Việt Nam), trong đó quan hệ thương mại với Châu Phi là quan trọng. Hiện nay, quan hệ đối ngoại của nước ta với Châu Phi đang tăng cường và mở rộng. Từ năm 1991 đến nay (2009), Việt Nam và các nước Châu Phi đã ký kết nhiều hiệp định khung về hợp tác quốc tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và thương mại do nhà nước ta nhận ra Châu Phi có nhiều thuận lợi. Với trên 1 tỷ dân, Châu Phi vừa là thị trường tiêu thụ hàng hoá, vừa là nơi cung cấp nguyên liệu cho sản xuất (90% côban, 90% platin, 50% vàng, 98% crôm, 9,5% dầu mỏ của thế giới) và nhiều tiềm năng phát triển khác. Đặc biệt, từ cuộc hội thảo lần thứ nhất diễn ra năm 2003 đóng vai trò như người mở đường trong quan hệ của Việt Nam và Châu Phi trong thời kỳ mới. Thực tế, trong những năm qua việc cũng cố và phát huy mối quan hệ hợp tác truyền thống với các nước Châu Phi đang từng bước trở thành một nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã chọn đề tài “Phân tích thực trạng và giải pháp xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Phi” làm đề tài nghiên cứu.

doc42 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/05/2013 | Lượt xem: 1974 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích thực trạng và giải pháp xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Phi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uôn muốn “đặt hàng” Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm, triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Thêm vào đó tăng trưởng cao trong bối cảnh "cất cánh" chung của ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây cũng là điều dễ hiểu. Ðặc biệt, trong năm 2009, dù gặp nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng nó được cho là không ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu nhập khẩu của Châu Phi, lý do là các nước này chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu như nhiên liệu và lương thực, thực phẩm, vì thế kim ngạch thương mại Việt Nam - châu Phi vẫn đạt 2,07 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất sang châu Phi 1,56 tỷ USD giá trị hàng hóa và nhập khẩu 510 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2010, Việt Nam vẫn tiếp tục xuất siêu hơn 570 triệu USD sang thị trường Châu Phi, xấp xỉ mức xuất siêu của cùng kỳ năm trước, mặc dù nhu cầu nhập khẩu của Châu Phi đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta bị giảm sút mạnh trong Quý I và giá cả thị trường thế giới xuống thấp trong Quý II. Nhưng trong quý II, với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, nhu cầu nhập khẩu gạo cũng như các mặt hàng gia vị, thực phẩm… phục vụ cho tháng lễ Ramadan của người Hồi giáo ở Bắc Phi và Giải vô địch bóng đá thế giới tại Nam Phi gia tăng, xuất khẩu sang Châu Phi đạt 371 triệu đô la Mỹ và gấp đôi so với Quý I. Với đà tăng trưởng hiện tại, với những diễn biến thuận lợi trên thị trường, xuất khẩu sang Châu Phi trong cả năm 2010 theo dự kiến có thể đạt mức 3 tỷ USD. Cơ cấu thị trường. Hiện nay, Việt Nam đã có trao đổi thương mại với hầu hết các nước Châu Phi. Nếu nói đến các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ở Châu Phi trong những năm gần đây phải kể đến đó là Nam Phi, Ai cập, Ghana, Cốt-đi-voa, Ăng-gô-la, An-giê-ri, Ni-giê-ri-a, Tan-da-ni-a, Ma-rốc, Sê-nê-gan…Trong năm 2008, một số thị trường đã đạt mức kim ngạch xuất khẩu cao như Ai Cập (167 triệu USD), Ăng-gô-la (đạt 152 triệu USD), Nam Phi (147 triệu USD), Xê-nê-gan (104 triệu USD)… Bước sang năm 2009, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Châu Phi. Ngoại trừ thị trường Nam Phi, các thị trường đều đạt mức kim ngạch thấp so với năm 2008, Nam Phi (377,89 triệu USD), Ai Cập (162,669 triệu USD), Angiêria (81,586 triệu USD), Nigiêria (66,881 triệu USD), Ăng-gô-la (89,198 triệu USD)…. Tính đến 6 tháng đầu năm 2010, Nam Phi vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại Châu Phi với kim ngạch gần 207 triệu USD, chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang toàn Châu lục, mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang Nam Phi trong 6 tháng đầu năm giảm 22%, do xuất khẩu các mặt hàng kim loại quí, đá quí giảm mạnh. Nếu không tính mặt hàng đá quý và kim loại quý, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Nam Phi vẫn tăng 111% so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng thứ hai là thị trường Ai Cập, kim ngạch xuất khẩu đạt 82 triệu USD, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu vào toàn khu vực, với thuỷ sản vẫn tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực và đạt kim ngạch trên 25,9 triệu USD. Nigiêria đã vươn lên vị trị thứ 3 trong số 10 thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tại Châu Phi với kim ngạch đạt 72 triệu USD, tăng 167%. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà giảm mạnh và chỉ đạt 41 triệu USD, do lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này giảm. Nhìn chung, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam tại Châu Phi vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, đáng chú ý, một số thị trường có tốc độ tăng trưởng cao là: Ni-giê-ri-a đạt 167%, Gha-na đạt trên 88% và Ai Cập đạt 24%. Thực tế là, xuất khẩu của Việt Nam vào các nước Châu Phi hiện cũng tập trung chủ yếu ở các nước này. Các nước khác nhập khẩu từ Việt Nam còn rất hạn chế, 44 nước còn lại chỉ nhập khẩu chiếm 26% giá trị xuất khẩu của Việt Nam vào Châu Phi. Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số nước trọng điểm ở Châu Phi 2009-2010 Đvt: triệu USD Quốc gia Năm 2009 6 tháng đầu năm 2010 Ai cập 162,668 82,298 Ang-gô-la 89,198 52,259 Angieria 81,586 38,560 Nam Phi 377,889 206,744 Nigiêria 66,881 72,210 Maroc 31,14 Các nước khác 750,638 117,929 Tổng 1560 570 (Nguồn: Tổng Cục Hải Quan) Cơ cấu mặt hàng. Tại châu Phi, do đa phần các nước đều đang phát triển hoặc chậm phát triển nên tác động khủng hoảng tài chính toàn cầu không quá lớn. Nhu cầu thị trường ở đây hiện vẫn tăng khá mạnh, với các mặt hàng thiết yếu như dệt may, lương thực, thực phẩm... Hiện các doanh nghiệp Việt Nam từng bước xác định trọng điểm xuất khẩu ở mỗi quốc gia châu Phi như: Angieria tiêu thụ mạnh gạo, cà phê và hạt tiêu; Angola và Kenya nhập khẩu gạo và hàng dệt may; Ai Cập mua hạt tiêu, rau quả và sợi; Nam Phi là thị trường cho các mặt hàng gạo, giày dép, cà phê, sản phẩm gỗ....Trong năm 2009, gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Châu Phi, đạt kim ngạch 587 triệu USD, chiếm 44% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngoài các mặt hàng xuất khẩu truyền thống như hàng dệt may 99 triệu USD, cà phê 86 triệu USD, giày dép 37 triệu USD, hạt tiêu 32 triệu USD... đã xuất hiện thêm một số mặt hàng có kim ngạch lớn khác như hàng hải sản 85 triệu USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 41 triệu USD, sắt thép 34 triệu USD, săm lốp 22 triệu USD…Trong 6 tháng đầu năm 2010, gạo vẫn là mặt hàng chủ lực mặc dù trong quý 1 có sự sụt giảm mạnh. Khối lượng gạo xuất khẩu chỉ phục hồi mạnh vào quý 2. Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống khác vào Châu Phi gồm có giày dép, hạt tiêu, dệt may…có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, các sản phẩm điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy và linh kiện, phụ tùng xe máy, thuốc lá điếu, hàng rau quả, bột gia vị, bột ngọt, đồ chơi trẻ em, mỳ ăn liền, sữa và sản phẩm sữa, xe đạp… cũng có xu hướng gia tăng. Bảng 1.2: Một số mặt hàng của Việt Nam xuất vào Châu Phi trong những năm qua (Đvt: triệu USD) Mặt hàng 2008 2009 6 thang 2010 Gạo Nam Phi (12,867), Angiêria (2,48),… Angiêria (23,8), Nam Phi (16,367), … Nam Phi(6,893),… Cà phê Angieria (29,63), Nam Phi (13,476),… Maroc (13,649), Nam Phi (12,84), Aicap (9,744),… Nam Phi (9,337), Aicap (6,502),… Giày dép các loại Nam Phi (33,113),... Nam Phi (35,868),... Nam Phi (17,724),… Máy vi tính và linh kiện Nam Phi (4,710),.. Nam Phi (4,870),Maroc (2,658),… Nam Phi (3,707),… Hạt tiêu Angiêria (3,16),… Aicap (16,303), Maroc (0,688), Angiêria (1,3),… Aicap (7,328),… Sản phẩm dệt may Nam Phi (12,901),… Nam Phi (10,241), Aicap(10,478),… Nam Phi (9,462), Aicap (4,907),… Hải sản Nam Phi (1,874), Angieria (2,44) Aicap (59,717), Maroc (0,927),… Aicap (25,929),… Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Nam Phi (20,298),… Nam Phi (199,318),… Nam Phi (45,869),... Cơm dừa Maroc (0,611), Angieria (1,6),… (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê) Tình hình về giá. Theo các tham tán thương mại, tính đến 6 tháng đầu năm 2010, tại các nước châu Phi, hiện sản phẩm (thực phẩm, hàng tiêu dùng…) có nguồn gốc Việt Nam chiếm thị phần rất lớn. Tuy nhiên, các mặt hàng này không được nhập trực tiếp từ Việt Nam, mà từ nước thứ 3 tại châu Âu, với sự chênh lệch về giá cao. Đây là một trong những bất lợi về địa lý giữa Việt Nam và Châu Phi cần được chú tâm hơn. Chẳng hạn như, tỷ lệ xuất khẩu gạo sang châu Phi tăng mạnh, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chủ yếu qua trung gian, làm cho giá cả một phần bị chênh lệch cao hơn so với giá thực tế, vì thế hiện nay gạo cấp thấp của Việt Nam không có lợi thế bằng hai đối thủ là Pakistan và Myanmar, vì họ có lợi hơn ta về chi phí vận chuyển. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu. Chiến lược kinh doanh của các DN Việt Nam tại thị trường châu Phi thông qua 3 hình thức: Thứ nhất, XK qua trung gian. Đây là con đường mà phần lớn các DN Việt Nam đã áp dụng để thâm nhập thị trường châu Phi từ trước tới nay. Thứ hai, XK trực tiếp. Đây cũng là cách mà các DN Việt Nam sử dụng tại các nước mà Việt Nam có Thương vụ hoặc cơ quan đại diện, như Nam Phi, Angola, Ai Cập cũng như một số nước có hệ thống ngân hàng khá phát triển và tiềm lực tài chính tương đối mạnh như Ma Rốc, Nigeria... Nhưng trên thực tế, phương thức thâm nhập này được Việt Nam áp dụng đối với thị trường Châu Phi chiếm tỷ lệ thấp. Thứ ba, XK tại chỗ (hay đầu tư trực tiếp) để khắc phục khó khăn trong thanh toán của các nước châu Phi và hệ thống ngân hàng kém phát triển, cũng như giảm bớt chi phí vận chuyển cho DN Việt Nam. Mặt khác, Việt Nam đã có một số thành công nhất định trong gia công, chế biến các sản phẩm công nghiệp. Tuy nhiên hình thức này rất ít DN Việt Nam áp dụng cho thị trường Châu Phi. Các phương thức thanh toán. Phương thức thanh toán của nhiều nước châu Phi còn lạc hậu, đối tác thanh toán chậm, có khi bán hàng cả năm sau mới thu được vốn nên nhiều doanh nghiệp không muốn bán. Thanh toán tại các quốc gia Châu Phi phổ biến thanh toán qua D/P, nếu mở L/C mất rất nhiều thời gian, có thể lên đến hơn 1 tháng, nội dung L/C lại có các điều khoản không phù hợp, bắt buộc tu chỉnh, thời gian hoàn thành việc thanh toán một lô hàng ít nhất 6 tuần kể từ ngày ký vận đơn. Hiện việc bảo đảm L/C phải thông qua chứng nhận của một ngân hàng châu Âu hoặc ở Hoa Kỳ. Các thị trường trọng điểm của Việt Nam tại Châu Phi. Thị trường Nam Phi. Kim ngạch xuất khẩu. Trong các thị trường ở Châu Phi, Việt Nam chủ yếu xuất siêu sang Nam Phi. Hiện nay Nam Phi là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại Châu Phi. Trong giai đoạn 2005-2009, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Nam Phi bình quân 47%/năm và cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của cả nước trong kỳ và cao hơn mức tăng trưởng kim ngạch 18% của giai đoạn 2000-2004. Về giá trị kim ngạch, nếu như kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 146,43 triệu USD năm 2008 thì tới năm 2009 là 377,89 triệu USD. Năm 2009, tuy trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng Nam Phi vẫn đạt sức mua cao nhất tại Châu Phi – Châu lục chịu ít ảnh hưởng trong thời kỳ khủng hoảng này- với GDP năm 2009 tính theo sức mua đạt khoảng 505 tỷ USD, chiếm 25% GDP của toàn châu Phi, chính vì thế kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vẫn cao như thế là điều dễ hiểu. Hiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi chiếm khoảng 15,38% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang châu Phi. Tiếp tục đà tăng trưởng năm 2009, kim ngạch thương mại Việt Nam- Nam Phi trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt mức 268,06 triệu USD trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi đạt 206,74 triệu USD đạt gần 61,36% kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 và kim ngạch nhập khẩu đạt 61,32 triệu USD. Việt Nam vẫn tiếp tục xuất siêu sang thị trường này. Dự kiến kim ngạch cả năm 2010 sẽ đạt khoảng 450 triệu USD. Cơ cấu mặt hàng. Các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam xuất khẩu sang Nam Phi gồm giày dép các loại, gạo, hàng dệt may, cà phê, máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện, rau quả, sản phẩm thủ công mỹ nghệ… Bảng 1.3: Kim ngạch một số mặt hàng của Việt Nam xuất sang Nam Phi 2008-2010 (Đvt: triệu USD) Năm Tổng kim ngạch Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu 2008 146,43 Giầy dép các loại (33,113), Gạo (12,867), Hàng dệt may (12,901), Máy vi tính và linh kiện (4,710), Sản phẩm đá quý & kim loại quý (20,298),Cà phê (13,476), Cao su (0,344), Dây điện và dây cáp điện (0,526), Sản phẩm gỗ (3,186), Hải sản (1,874), Hạt điều (1,349), Sản phẩm nhựa (1,880), Đồ chơi trẻ em ( 0,596), …. 2009 377,89 Đá quý, kim loại quý và sản phẩm (199,318), Giầy dép các loại (35,868),Gạo (16,367), cà phê (12,84), Hàng dệt may (10,241), Máy vi tính và linh kiện (4,870), Hạt tiêu (3,775), Sản phẩm từ sắt thép (3,257), Gỗ và sản phẩm gỗ ( 2,239), Phương tiện vận tải và phụ tùng (1,603), Giấy và các sản phẩm từ giấy (1,005),… 6 tháng đầu năm 2010 206,74 Đá quý, kim loại quý và sản phẩm (45,869), Giầy dép các loại (17,724), Cà phê (9,337), Gạo (6,893), Hàng dệt may (9,462), Máy vi tính và linh kiện (3,707), Gỗ và sản phẩm gỗ (1,156), Phương tiện vận tải và phụ tùng (2,081), Sản phẩm từ sắt thép (2,495), Các sản phẩm hóa chất (1,876), Giấy và các sản phẩm từ giấy (0,319), Hạt tiêu (1,632), … (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê) Riêng năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng giày dép các loại đạt 33,113 triệu USD chiếm gần 22,61%, sản phẩm đá quý & kim loại quý đạt 20,298 triệu USD chiếm 13,86%, Cà phê là 13,476 triệu USD chiếm 9,2%, gạo đạt 12,867 triệu USD chiếm gần 9% so với tổng giá trị xuất khẩu sang Nam Phi. Ngoài ra, còn có các mặt hàng như Cao su (0,344), Dây điện và dây cáp điện (0,526), Sản phẩm gỗ (3,186), Hải sản (1,874), Hạt điều (1,349), Sản phẩm nhựa (1,880), Đồ chơi trẻ em ( 0,596),…Trong thời kỳ trước đó, tỷ trọng của mặt hàng gạo luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các mặt hàng khác ở thị trường này, khoảng 50-60% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng của mặt hàng giày dép lại cao hơn nên tỷ trọng của nó chiếm ngày càng cao hơn so với gạo. Đến năm 2009, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tới thị trường này vẫn là giầy dép các loại đạt 35,868 triệu USD tăng gần 3 triệu USD so với năm 2008, đặc biệt là sự tăng vượt bậc của mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng từ 20,298 triệu USD (2008) lên 199,318 triệu USD, tăng 9,8 lần , mặt hàng gạo cũng tăng 27%,…Ngoài ra, còn có thêm những mặt hàng mới xuất sang Nam Phi nhưng kim ngạch khá cao đó là mặt hàng phương tiện vận tải và phụ tùng (1,603 triệu USD), giấy và các sản phẩm từ giấy (1,005 triệu USD), sản phẩm từ sắt thép (3,257 triệu USD), …Tiếp theo đà tăng trưởng này, năm 2010 Việt Nam tận dụng mùa World Cup 2010 lần đầu tiên diễn ra tại Nam Phi, nắm bắt được nhu cầu về một số mặt hàng như giày dép, quần áo, mũ nón …nên chỉ trong 6 tháng đầu năm 2010, kim ngạch của Việt nam sang thị trường nào đã đạt 17,724 triệu USD, chiếm gần 50% so với cả năm 2009. Đặc biệt, trong tháng 6 là mùa nóng nên lượng tiêu thụ các mặt hàng dép xốp tại đây tăng mạnh. Ngoài ra, các mặt hàng còn lại cũng đạt được lượng kim ngạch khá cao như máy vi tính và linh kiện (3,707 triệu USD), gỗ và sản phẩm gỗ (1,156 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (2,081triệu USD), Sản phẩm từ sắt thép (2,495 triệu USD), Các sản phẩm hóa chất (1,876 triệu USD),… Các hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán. Tại thị trường Nam Phi, Việt Nam xuất khẩu hàng hoá chủ yếu bằng phương thức xuất khẩu gián tiếp hay phải xuất khẩu thông qua nước thứ 3. Còn vấn đề thanh toán thì cho đến nay, doanh nghiệp Việt Nam và Nam Phi còn chưa có một thống nhất chung về việc lựa chọn hình thức thanh toán quốc tế thông qua ngân hàng. Những điều đáng chú ý khi xuất khẩu sang thị trường Nam Phi. Các quy định về xuất nhập khẩu: Giấy phép nhập khẩu: Một số hàng hoá muốn vào Nam Phi phải có giấy phép nhập khẩu, ví dụ như thiết bị đã qua sử dụng, hàng hoá tiêu dùng (thực phẩm, quần áo, hàng dệt, giầy dép, sách báo...), các sản phẩm gỗ, giấy các loại, nhiên liệu cho xe ô tô và hàng không, các sản phẩm hoá dầu, các sản phẩm công nghiệp khác và các loại nguyên vật liệu nhập khẩu như là các thiết bị vật tư để sản xuất xe ô tô. Giấy chứng nhận xuất sứ (C/O) hay ở Nam Phi gọi là D/O (Declaration of Origin): được lập theo mẫu Form DA-59, xác nhận nước xuất xứ của hàng hoá là bắt buộc phải có để có thể vận chuyển một số loại hàng hoá nhập khẩu vào Nam Phi. Hải quan Nam Phi sẽ thông báo cho nhà nhập khẩu biết có cần phải làm Form DA-59 hay không và nhà nhập khẩu sẽ báo cho nhà xuất khẩu biết. Một khi Form này là cần thiết, nhà xuất khẩu hoặc nhà cung cấp hàng phải trình xuất ít nhất một bản gốc kèm theo với bản gốc hoá đơn hàng (original commercial invoice). C/O không nhất thiết phải có xác nhận của Phòng Thương mại và Công nghiệp hoặc xác nhận của Hải quan. Các chứng từ vận tải cần có khi chuyển hàng vào Nam Phi. Các hàng cấm nhập và hạn chế nhập khẩu. Quy định về các loại thuế suất đối với các mặt hàng Việt Nam xuất sang như thuế thu nhập, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu… Ngoài ra, DN Việt Nam còn phải quan tâm đến vấn đề quy định về bao gói nhãn mác, sở hữu trí tuệ, văn hoá kinh doanh… Thị trường Ai cập Kim ngạch xuất khẩu. Trong quan hệ thương mại giữa hai nước hiện nay, Việt Nam là nước xuất siêu, hàng năm xuất sang Ai Cập 150 triệu USD; còn Ai Cập chỉ xuất sang Việt Nam khoảng 15-20 triệu USD. Năm 2008, kim ngạch thương mại song phương đạt hơn 178 triệu USD, tăng 58,7% so với năm 2007, trong đó Việt Nam xuất khẩu đạt 167 triệu USD tăng 72% so với năm 2007. Bước sang năm 2009, mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhu cầu nhập khẩu giảm sút. Tuy nhiên, kim ngạch song phương năm 2009 vẫn đạt 168,2 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Ai Cập 162,669 triệu USD. Kim ngạch năm 2009 nhìn chung không tăng so với năm 2008, bên cạnh khó khăn do tình hình kinh tế, còn do một số mặt hàng xuất khẩu chính của ta bị giảm sút như thủy sản, cà phê. Với tình hình kim ngạch xuất khẩu này vẫn còn cho là thấp so với tiềm năng của hai bên. Đến năm 2010 có phần khởi sắc hơn, chỉ trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất sang Ai Cập 82,3 triệu USD. Hiện tại, chính phủ hai nước có nhiều chính sách hấp dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vì thế các doanh nghiệp, thương nhân hai nước cần tăng cường xuất khẩu để nâng kim ngạch hai chiều lên 500 triệu USD trong năm 2010. Với tinh thần nhất trí đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trên nhiều lĩnh vực để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước thì chỉ tiêu đặt ra cho năm 2010 có thể đạt được… Cơ cấu mặt hàng. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Ai Cập là linh kiện điện tử, hạt tiêu đen, nguyên liệu thuốc lá, sợi dệt, lưới cá, sản phẩm dừa, cà phê, giày dép, đồ gia dụng, cao su, săm lốp ô-tô, đồ điện, gạo....Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Ai Cập là nguyên vật liệu, hóa chất, dược phẩm, sắt thép phế liệu và hàng tiêu dùng khác. Các mặt hàng thuỷ sản, cà phê, hồ tiêu, cơm dừa là những mặt hàng truyền thống tại Ai Cập. Đây là các mặt hàng Ai Cập có nhu cầu lớn và đã mua của Việt Nam với khối lượng lớn, vào loại cao nhất trong số các nước châu Phi-Tây Nam Á. Bảng 1.4: Kim ngạch một số mặt hàng của Việt Nam sang Ai Cập Đvt: triệu USD Các mặt hàng 2009 6 tháng đầu năm 2010 Hàng thuỷ sản 59,717 25,929 Café 9,744 6,502 Hạt tiêu 16,303 7,328 Hàng dệt, may 10,478 4,907 Sắt, thép các loại 1,205 0,478 Sắn và các sản phẩm từ sắn 1,158 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 3,932 1,756 Phương tiện vận tải và phụ tùng 11,141 8,224 (Nguồn: Tổng Cục Hải Quan) Đến năm 2008 và 2009 thì cơ cấu mặt hàng không thay đổi nhiều. Mặt hàng thuỷ sản vẫn chiếm 1/3 tổng trị giá. Nguyên nhân do Ai Cập có biển nhưng chủ yếu phát triển đánh bắt chứ không nuôi trồng nên không có gì lạ khi trong cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu vào Ai Cập, thuỷ sản của Việt Nam luôn có kim ngạch cao nhất và chiếm được sự quan tâm lớn của các nhà nhập khẩu Ai Cập. Năm 2009 mặt hàng này xuất đạt 59,7 triệu USD, ngoài ra còn có các mặt hàng nông sản như hồ tiêu (16,303 triệu USD), hàng dệt may (10,478 triệu USD), cà phê (9,744 triệu USD), gạo, chè, vải... Trong đó, đáng chú ý là lá thuốc và máy móc nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng có nhiều mặt hàng bị sụt giảm, nhất là sụt giảm về giá. Năm 2009, một số mặt hàng với kim ngạch bị giảm sút, một số mặt hàng giữ nguyên. Một số mặt hàng tăng và có thêm những mặt hàng mới. Trong những mặt hàng bị giảm, lớn nhất là thuỷ sản và cà phê. Cà phê là do giá quốc tế giảm mạnh. Thuỷ sản thì năm 2009 có vấn đề với truyền thông Ai Cập, cũng như Đại sứ quán Ai Cập tại Việt Nam một thời gian ngắn đã tạm ngưng nhập giấy chứng nhận lô hàng của Việt Nam, do đó ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản ta sang Ai Cập. Các mặt hàng tăng kim ngạch có phụ liệu thuốc lá, hàng may, vải, sợi chè. Đáng chú ý đây là những mặt hàng có vai trò quan trọng trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Cũng trong năm 2009, ta có một số mặt hàng mới xuất sang Ai Cập như gạo. Thuốc lá cũng là mặt hàng mới mang nhãn hiệu CAPITAL do VINATABA sản xuất. Chè có triển vọng bởi Ai Cập có nhu cầu rất lớn. Trước  đây Việt Nam chưa chú trọng phát triển thị trường chè tại Ai Cập nhưng nay chè đã vào được thị trường này. Đến 6 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng thuỷ sản đã tăng trở lại sao sự giảm súc trong năm 2009 đạt 25,929 triệu USD, chiếm 31,5% tổng kim ngạch cùng thời kỳ, tuy nhiên gần đây mặt hàng thủy hải sản của Việt Nam xuất khẩu sang Ai Cập đang có một số dấu hiệu gây mất uy tín chung như giao hàng không đúng hợp đồng, từ chối giao hàng khi giá tăng, nhãn mác không đúng quy cách…Ngoài ra, các mặt hàng như cà phê tăng chiếm 6,502 triệu USD, đạt 66,73% , phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 8,224 triệu USD, chiếm 73,8% so với cả năm 2009. Còn về các mặt hàng khác nhìn chung không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm 2009, như sắt thép các loại đạt 0,478 triệu USD, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1,756 triệu USD,… Các hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán. Hình thức Việt Nam sử dụng để thâm nhập vào thị trường Ai cập này chủ yếu là xuất khẩu gián tiếp qua trung gian vào thị trường Ai cập, hay là tạm xuất vào khu thương mại tự do của Ai cập sau đó tái xuất sang thị trường khác chủ yếu là Tây phi chiếm tỷ trọng lớn. Trong kinh doanh, nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam chưa thiết lập với các đối tác Ai Cập mối quan hệ lâu dài, ổn định. Họ cũng gặp nhiều khó khăn trong khâu thanh toàn khi xuất hàng sang Ai Cập do đối tác Ai Cập ít thanh toán bằng L/C mà thường bằng các hình thức trả chậm. Thị trường Nigiêria Kim ngạch xuất khẩu. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nigiêria không ổn định trong những năm trở lại đây, kim ngạch xuất nhập khẩu phát triển không ổn định. Tuy nhiên, chỉ trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Nigeria có bước tăng trưởng rất ấn tượng đạt 64,026 triệu USD, tổng kim ngạch 2 chiều tăng gần 200% so với năm 2007, hứa hẹn nhiều triển vọng tăng trưởng trong các năm tiếp theo. Đến năm 2009, nền kinh tế Nigiêria phát triển khá ổn định, tăng trưởng đạt 5-6% trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên sức mua vẫn không giảm xuống. Về thương mại song phương, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng trưởng với tốc độ nhanh. Trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu sang Nigiêria của Việt Nam tăng lên 66,881 triệu USD, tăng 44,6% so với năm 2008. Tốc độ tăng trưởng này không dừng lại ở đây, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đã đạt 72,210 triệu, cao hơn 164% so với cùng kỳ năm 2009 (6 tháng đầu năm 2009 đạt 27,341 triệu USD) và cao hơn cả năm 2009 là 7,9%. Với tốc độ tăng trưởng này, tin rằng cuối năm 2010 con số kim ngạch thương mại của Việt Nam và Nigiêria sẽ đạt mức rất cao. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Những mặt hàng mà Việt Nam có khả năng xuất khẩu vào thị trường này là săm lốp các loại, gạo, hàng dệt may, các sản phẩm cao su, thủ công mỹ nghệ, cà phê, chè, vật liệu xây dựng, các sản phẩm nhựa và điện tử. Riêng về gạo, Nigeria là một thị trường tiêu thụ lớn với mức nhập khẩu chính thức hàng năm lên tới 1,5-1,7 triệu tấn. Mỗi năm, thị trường châu Phi nhập hơn 1 tỷ USD mặt hàng gạo, trong đó gạo Việt Nam chiếm một nửa. Năm năm tới, gạo vẫn là mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam vào châu Phi, trong đó có Nigeria, kế đến là hàng dệt may, thủy hải sản, cà phê… Năm 2008, Việt Nam còn xuất sang Nigeria các mặt hàng chủ yếu như sản phẩm cao su, đồ điện- điện tử, giày dép, sản phẩm nhựa, hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng... và nhập khẩu từ Nigeria hạt điều thô, hoa quả, bông, khoáng sản... Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng hai nước. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu thông tin giữa hai cộng đồng doanh nghiệp, các đối tác chưa hiểu biết lẫn nhau, công tác xúc tiến thương mại còn hạn chế. Các kỳ triển lãm, hội chợ quốc tế tại hai nước chưa có được sự tham gia tích cực của doanh nghiệp hai bên. Đến năm 2009, hầu hết các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang Nigeria đều có mức tăng ổn định, đặt biệt là mặt hàng gạo đã tăng từ 1,19 triệu USD (9 tháng đầu năm 2008) lên 8,4 triệu USD (trong 9 tháng đầu năm 2009). Mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam bao gồm: gạo, hàng dệt may, các sản phẩm cao su, thủ công mỹ nghệ, cà phê, chè, vật liệu xây dựng, các sản phẩm nhựa và điện tử… Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm của Việt Nam được đánh giá cao ở thị trường Ni-giê-ria như ắc quy, điện tử, máy vi tính, săm lốp các loại… Các hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán. Trong xuất nhập khẩu, hải quan Nigeria áp dụng cơ chế đầu mối xuất nhập khẩu, cụ thể có khoảng 20 công ty được Hải quan chỉ định làm đầu mối thông quan hàng hóa nhập khẩu. Trong phương thức thanh toán, Nigieria áp dụng phương thức thanh toán phổ thông nhất là mở L/C. Nhưng khi nhìn nhận một thực tế là, phương thức thanh toán tại Nigieria rất phập phù và chứa đựng nhiều rủi ro, vì tại Nigieria có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn chưa đàng hoàng. Do vậy mà các doanh nghiệp vẫn luôn cảnh giác và chưa mặn mà với thị trường này. Muốn giải quyết vấn đề này thì doanh nghiệp Việt Nam cần phải nắm vai trò chủ động và phải có thoả thuận với họ về phương thức thanh toán. Thị trường Maroc Kim ngạch xuất khẩu. Trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Maroc đã không ngừng tăng trong những năm gần đây. Năm 2008, tổng giá trị nhập khẩu của Maroc lên tới 37,8 tỷ USD thì kim ngạch thương mại hai bên đạt là 33,52 triệu USD, tăng gần 22% so với năm 2007, trong đó Việt Nam xuất sang Maroc là 30,1 triệu USD. Đến năm 2009, tại thị trường Maroc lượng nhập khẩu giảm 14,9% so với năm 2008, chỉ đạt 39,1 tỷ USD trong đó nhập khẩu hàng hoá giảm 18,9%. Vì thế kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này không tăng nhiều so với năm trước, chỉ đạt 31,14 triệu USD, và dự kiến đạt 33 triệu USD trong năm 2010. Dẫu kim ngạch giữa hai nước có tăng song vẫn còn ở mức thấp so với tiềm năng. Cơ cấu mặt hàng. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Maroc là cà phê, hạt tiêu, cao su và các sản phẩm cao su, giày dép, dệt may, sản phẩm giấy... Trong cơ cấu các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Maroc thì cà phê luôn giữ ở vị trí số 1 với tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu, thường xuyên ở mức 30 – 40%, tiếp đó là các sản phẩm chế biến từ cao su và gỗ...cũng góp phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của ta. Năm 2007, cà phê đạt 13,7 triệu USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 5,6 triệu USD, CD-Rom đạt 1,1 triệu USD và một số mặt hàng khác như quần áo, vải vóc, giày dép…Đến năm 2009, chỉ số xuất khẩu các mặt hàng này không thay đổi nhiều. Một phần do sức mua của Maroc vào năm này có giảm đi do tình hình kinh tế không ổn định. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thì các chỉ số này không thay đổi nhiều, cà phê vẫn giữ tỷ trọng cao nhất trong các mặt hàng ( đạt 13,649 triệu USD chiếm 47% cả năm 2009). Ngoài ra, còn có các mặt hàng giảm như máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm xuống 53% so với 2007, đĩa CD, DVD các loại giảm 68%,…Đến đầu năm 2010, tình hình có phần khởi sắc trở lại. Chỉ trong quí I, chỉ số cà phê đạt 4,16 triệu USD, đặc biệt là mặt hàng vải đạt 0,837 triệu USD chiếm gần 91%, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 1,59 triệu USD chiếm 60% so với cả năm 2009, ngoài ra có các mặt hàng giày dép các loại đạt 0,2 triệu USD, hàng hải sản đạt 0,439 triệu USD,…Nhìn chung, các chỉ số này còn quá thấp so với tiềm năng của hai nước. Bảng 1.5: Xuất khẩu của Việt Nam sang Maroc năm 2009 Tên sản phẩm Giá trị (triệu USD) Quí I năm 2010 Cà phê 13,649 4,162 Giày dép các loại 0,203 Sợi các loại 3,025 Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện 2,658 1,599 Hàng hải sản 0,927 0,439 Vải 0,919 0,836 Hạt tiêu 0,688 Cơm dừa 0,611 Hàng rau quả 0,390 Đía CD, DVD các loại 0,353 Hàng hoá khác 4,018 1,201 Tổng 28,887 8,732 Nguồn : Tổng cục Hải quan Việt Nam Thị trường Angiêria. Kim ngạch xuất khẩu. Bảng 1.6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Angiêria 2008-2010                                                                                            ĐVT: triệu USD 2008 2009 6 tháng đầu năm 2010 Xuất khẩu 75,63 81,586 38,56 Nhập khẩu 1,37   ( Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam) Trước năm 2008, Việt Nam và Angiêria đã đạt được nhiều tiến bộ trong thúc đẩy quan hệ thương mại song phương của hai bên, song kim ngạch ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này hơi biến động với tốc độ tăng trưởng không rõ nét và còn thấp dưới 40 triệu USD. Đến năm 2008, sự tiến bộ trong quan hệ song phương này rõ nét hơn với kim ngạch thương mại hai bên là 77 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất sang Angiêria là 75,63 triệu USD tăng 87% so với năm 2007. Tốc độ tăng trưởng này vẫn đang tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo, năm 2009 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Angiêria là 81,59 triệu USD, tăng 8% so với năm 2008, và 6 tháng đầu năm 2010 là 38,56 triệu USD, nhưng nhập khẩu hầu như chưa có vì sản phẩm của bạn còn thiếu cạnh tranh. Nhìn chung, trong những năm gần đây, xuất khẩu của Việt Nam sang Angiêria có tăng trưởng. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng xuất của Việt Nam trong tổng giá trị nhập khẩu hàng năm của Angiêria còn thấp (chỉ khoảng 0,15%). Cơ cấu mặt hàng. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Angiêria giai đoạn trước năm 2007 chủ yếu là nông sản như gạo, cà phê, hạt tiêu. Các mặt hàng này chiếm tỷ trọng cao trong thị phần nhập khẩu của Angiêria: Gạo khoảng 50%, cà phê 15%, hạt tiêu 80%, cơm dừa 50%. Trong lúc các sản phẩm còn lại chiếm thị phần không đáng kể trong danh mục hàng nhập của Angiêria. Ngoài ra, còn có các mặt hàng quan trọng khác như hạt điều, săm lốp, máy móc thiết bị, đồ dùng bằng gỗ….Đến năm 2008, các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo tiếp tục là cà phê, hồ tiêu, gạo và hải sản, trong đó cà phê chiếm tỉ lệ cao nhất trong giá trị xuất khẩu, đạt 29,63 triệu USD tương đương 73,2%, tiếp theo là hạt tiêu với giá trị xuất khẩu là 3,16 triệu USD, gạo là 2,48 triệu USD, hải sản là 2,44 triệu USD,…Đặc biệt, năm 2009, gạo Việt Nam đang chiếm đến 70% thị phần, đây cũng là năm xuất khẩu gạo kỉ lục của Việt Nam vào thị trường này, đạt 23,8 triệu USD. Mặt hàng hạt tiêu Việt Nam cũng chiếm đến 60% thị phần, đạt gần 1,3 triệu USD, cơm dừa đạt 1,6 triệu USD, ngoài ra còn có các mặt hàng như hạt điều, săm lốp, máy móc thiết bị, đồ dùng bằng gỗ… Hiện nay, tất cả các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất vào thị trường hơn 35 triệu dân này chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô nên giá trị gia tăng thu được còn hạn chế. Dựa vào hoạt động sản xuất của Việt Nam, có thể nói trên thị trường này còn nhiều cơ hội cho các sản phẩm như cà phê rang xay, cà phê hòa tan, gạo đồ, bánh tráng, bún phở khô, gia vị, hạt tiêu bột.... Trong tương lai, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và tiềm năng của Việt Nam sang Angiêria vẫn là cà phê, gạo, hạt tiêu, thủy sản, hàng dệt may, giầy da và vật liệu xây dựng… Bảng 1.7:Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng của Việt Nam vào Angiêria (Đvt: triệu USD) 2008 2009 Gạo 2,48 23,8 Cà phê 29,63 Hạt tiêu 3,16 1,3 Cơm dừa 1,6 Hải sản 2,44 Mặt hàng khác 37,9 Tổng 75,63 81,586 ( Nguồn: Tổng Cục Hải Quan) Các hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán. Hàng Việt Nam thâm nhập vào thị trường Angiêria qua hai kênh chính: trực tiếp và qua trung gian. Phương thức thanh toán đối với hàng nhập trực tiếp thường là L/C, D/P hoặc 30/70 (trả trước 30%, D/P 70%) . Thanh toán bằng L/C thì đảm bảo hơn nhưng rất phức tạp, mất thời gian và phí cao, do vậy thanh toán bằng D/P và 30/70 được áp dụng nhiều hơn. Tuy nhiên chọn phương thức nào tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán. Phần nhiều hàng của Việt Nam xuất sang Angiêria qua trung gian thứ ba, thường là các DN ở Châu Âu, việc thanh toán cho Việt Nam do các công ty trung gian thực hiện. Trước đây, việc thanh toán hàng nhập khẩu vào An-giê-ri được thực thi bằng nhiều hình thức như TTR, D/P, D/A hoặc L/C như đã đề cập trên, nhưng kể từ 1/8/2009 trở đi chỉ được thực hiện bằng một phương thức duy nhất là tín dụng chứng từ (L/C). Các điểm cần lưu ý khi xuất khẩu sang Ạngiêri. Các DN Việt Nam nên tìm hiểu về những quy định mới trong quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá tại thị trường Angiêria này: Chứng nhận kiểm định hàng hoá: tất cả hàng hoá nhập vào Angiêria đều phải có giấy “ chứng nhận chất lượng đạt chuẩn” hay còn gọi là giấy “chứng nhận kiểm tra chất lượng”. Giấy chứng nhận này phải do một tổ chức giám định trung gian cấp, không chấp nhận giấy chứng nhận phẩm chất do nhà xuất khẩu cung cấp. Cũng từ giấy chứng nhận này các nhà xuất khẩu cần chú ý trên bao bì hàng hóa cần ghi đầy đủ tên hàng, ký mã hiệu, quy cách phẩm chất,…(bằng 2 thứ tiếng A-rập và Pháp) để thể hiện đó là hàng của L/C liên quan. Quy định thanh toán bằng L/C đối với hàng hoá nhập khẩu: có thể áp dụng L/C thanh toán ngay hoặc L/C trả chậm. Ngoài ra, các DN Việt Nam cần phải tiếp cận với thị trường và khách hàng Angiêria. Hiện DN Việt Nam có nhiều kênh tiếp cận như thông qua một số các cơ quan tổ chức xúc tiến thương mại để tìm khách hàng và các thông tin về khách hàng, tham gia các hội chợ và triển lãm tại Angiêria… Đánh giá chung tình hình xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Châu Phi Nhìn chung, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi tăng liên tục trong ba năm gần đây nhưng mới chỉ chiếm gần 2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Xét tỷ trọng kim ngạch thương mại của châu Phi trong năm 2009 mới chỉ chiếm 0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của châu lục này. Trong khi hiện nay, thị trường châu Phi được đánh giá vẫn còn nhiều cơ hội và triển vọng đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Điều này cho thấy, quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với châu Phi hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của hai bên. Thông qua phân tích tình hình xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang một số nước ở thị trường Châu Phi này, cho thấy một số ưu điểm và hạn chế của hoạt động giao thương giữa Việt Nam và Châu phi như sau: Ưu điểm Ưu điểm. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và châu lục này tăng trưởng khá nhanh, tăng bình quân 45% năm. Hàng hoá của Việt Nam đã bước đầu có chỗ đứng và tạo được uy tín đối với người tiêu dùng Châu Phi. Thị trường xuất khẩu được mở rộng đến toàn bộ 53 quốc gia ở Châu Phi. Trong cơ cấu hàng hoá xuất  khẩu, mặc dù vẫn chủ yếu là các mặt hàng nông sản nhưng trong thời gian gần đây cũng bắt đầu chuyển hướng sang các mặt hàng tiêu dùng và hàng điện tử gia dụng, máy móc thiết bị. Nguyên nhân. Những thành công, kinh nghiệm trong xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực của Việt Nam với điểm xuất phát về cơ sở hạ tầng ban đầu giống như nhiều nước châu Phi hiện nay. Chính điều này khiến nhiều nước châu Phi luôn muốn “đặt hàng” Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm, triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Việc đa dạng hoá cơ cấu xuất nhập khẩu giúp cho Việt Nam chủ động trong chiến lược tiếp cận và mở rộng thị trường và sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế. Châu Phi là thị trường rộng lớn, có sức mua lớn, nhu cầu về các loại hàng hoá lớn về khối lượng và đa dạng về chủng loại. Trước hết là nhu cầu về các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu để phục vụ phát triển kinh tế. Tiếp đó là nhu cầu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng phục vụ đời sống nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh dân số châu Phi đang tăng với tốc độ rất nhanh. Mặt khác, châu Phi là thị trường chưa đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm hay về mẫu mã, vệ sinh, hàng rào kỹ thuật chưa có nhiều như ở các khu vực thị trường khác. Các quốc gia châu Phi đều là những nước đang hoặc chậm phát triển nên nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chế tạo là rất lớn. Lục địa này phải nhập khẩu từ máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, các sản phẩm điện, điện tử, cơ khí, các sản phẩm công nghệ cao đến các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân như hàng dệt may, lương thực, thực phẩm, dược phẩm, hàng tiêu dùng… nhìn chung phù hợp với cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Châu Phi không phải là một thị trường khó tính. Những mặt hàng mà Châu Phi cần, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng, đặc biệt mặt hàng gạo của Việt Nam đã trở nên quen thuộc với người dân châu Phi. Nhờ các chính sách cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu, chuyển sang kinh tế thị trường, đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế, kinh tế các nước châu Phi tăng trưởng tương đối nhanh trong thời gian vừa qua, thu nhập của người dân từng bước được cải thiện, môi trường kinh doanh đã từng bước được minh bạch hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp. Hạn chế. Hạn chế. Nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Châu Phi có thể thấy diện mặt hàng xuất khẩu còn hẹp và đơn điệu, tập trung vào một số mặt hàng như nông sản, giày dép, dệt may.. cho đến những năm gần đây, ta đã xuất khẩu thêm các sản phẩm điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy và linh kiện, phụ tùng xe máy, thuốc lá điếu, hàng rau quả, bột gia vị, bột ngọt, đồ chơi trẻ em, mỳ ăn liền, sữa và sản phẩm sữa, xe đạp… tuy nhiên giá trị xuất khẩu chưa cao. Mặt khác, Châu Phi là thị trường tiềm năng lâu dài nhưng việc xuất khẩu của Việt Nam qua thị trường này (chiếm 0,18% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả châu lục) trong các khuôn khổ pháp lý còn chưa được tận dụng để hạn chế những khó khăn, rủi ro cho cả hai phía. Nguyên nhân. Sự hiểu biết giữa hai bên còn chưa nhiều, chính vì ít thông tin nên DN Việt Nam vẫn còn tâm lý "ngại" làm ăn với châu Phi. Trước đây, các nhà ngoại giao tìm đến châu Phi nhưng chưa có kết quả triển khai cụ thể vì DN Việt Nam phần thì quan tâm đến thị trường lớn, chưa tìm đến châu Phi, phần thì chưa tìm đến sự hỗ trợ từ nhà nước trong việc khai thác thông tin. Do vậy, cơ chế hợp tác chưa phát triển như Việt Nam với các đối tác lớn khác. Nhiều nước Châu Phi đánh thuế rất cao thậm chí là cấm các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh nhập khẩu, ví dụ như Ni-giê-ri-a đánh thuế rất cao đối với gạo nhập khẩu. Đặc biệt là chính sách thay thế nhập khẩu, bảo hộ các ngành sản xuất kém hiệu quả trong nước bằng mức thuế nhập khẩu cao. Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ phía các nước trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Ấn Độ và nhất là Trung Quốc. Một số thăm dò của các doanh nghiệp cho thấy hàng Trung Quốc nhiều khi rẻ hơn ta từ 1,5 - 2 lần, rất phù hợp với sức mua của người tiêu dùng bình dân ở Châu Phi. Châu Phi là thị trường nhiều khó khăn, khoảng cách địa lý xa xôi, để tới châu Phi, phải đi 3-4 chặng mới đến được một nước, hệ thống giao thông kém phát triển, gây nên tình trạng cô lập cho các vùng sâu vùng xa, cản trở nhiều đến các hoạt động giao thương. Không chỉ có vậy, bất đồng về ngôn ngữ cũng là một trong những rào cản. Điều kiện cơ sở hạ tầng kém phát triển, điều kiện chính trị, xã hội nhiều nơi còn chưa đi vào ổn định. Ngoài ra, năng lực tài chính của các DN châu Phi thường rất kém và phải thông qua trung gian với bên thứ ba, phương thức thanh toán thường là trả chậm, không phù hợp với xu thế hiện đại, độ rủi ro trong kinh doanh cao, gây khó khăn cho các đối tác nước ngoài khi muốn hợp tác kinh doanh với châu Phi. Hiện tượng lừa đảo qua mạng của nhiều đối tượng từ châu Phi gia tăng trong thời gian gần đây khiến nhiều doanh nghiệp dè dặt. Mạng lưới đại diện thương mại còn quá mỏng, lại kiêm nhiệm nhiều, công tác nghiên cứu thị trường chưa được coi trọng nên chưa theo dõi kịp thời những thay đổi về cơ chế chính sách và diễn biến thị trường, đặc biệt là công tác XTTM chưa đa dạng, chưa phát huy được hiệu quả… ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI. Định hướng. Châu Phi là một khu vực thị trường rất rộng lớn, với trình độ phát triển không đồng đều. Để nâng cao tính hiệu quả của hoạt động xuất khẩu vào thị trường này, cần có các giải pháp mạnh mẽ, cụ thể cần có sự quyết tâm và định hướng chiến lược của nhà nước đối với việc phát triển thị trường Châu Phi. Thông qua việc phát triển quan hệ chính trị, ngoại giao và kinh tế với các nước Châu Phi, Nhà nước cần thiết lập môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp có điều kiện thâm nhập thị trường Châu Phi. Ngoài ra, cần xác định được các địa bàn trọng điểm, tạo bước đột phá xuất khẩu và làm bàn đạp để xâm nhập vào thị trường các quốc gia láng giềng trong khu vực. Các địa bàn trọng điểm được xác định là những quốc gia có triển vọng phát triển tốt, có nhu cầu cao với các mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam, có kim ngạch buôn bán hai chiều tương đối và có cơ quan đại diện của Việt Nam để thuận tiện cho các hoạt động giao thương và xúc tiến thương mại. Tiêu biểu như các thị trường trọng điểm ở khu vực Bắc Phi là Ai Cập, An-giê-ri và Ma-rốc, ở khu vực Đông Phi là Tan-da-ni-a và Kê-ni-a, ở khu vực Nam Phi là Nam Phi và Ăng-gô-la và ở khu vực Tây Phi là Ni-giê-ri-a, Cốt-đi-voa và Xê-nê-gan. Mặt khác, việc đa dạng hoá cơ cấu xuất nhập khẩu sẽ giúp cho Việt Nam chủ động trong chiến lược tiếp cận và mở rộng thị trường và sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế. Hơn thế nữa, nhà nước cần sử dụng linh hoạt các công cụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm thị trường Châu Phi và trình độ phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Trong đó, cần chú ý đến hỗ việc cung cấp hỗ trợ về thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và tài chính vì đây là những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp khi kinh doanh với thị trường Châu Phi. Giải pháp. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Để đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, các DN cần hết sức nỗ lực trong việc thâm nhập thị trường châu Phi, cần nghiên cứu kỹ nhu cầu và thị hiếu của thị trường châu Phi để tạo ra được những sản phẩm phù hợp, có sức cạnh tranh về chất lượng và giá thành. Đồng thời, để tiếp cận thị trường Châu Phi cần phải kiên trì, linh hoạt và mềm dẻo do thị trường Châu Phi có tính thay đổi cao và ít tính nhất quán.  Doanh nghiệp cần tích cực kiên trì hơn trong công tác nghiên cứu thông tin thị trường. Doanh nghiệp cần xác định mặt hàng trọng điểm, từng bước xây dựng bàn đạp để mở rộng hoạt động xuất khẩu vào khu vực thị trường rộng lớn này, chẳng hạn: Angiêri (gạo, cà phê, hạt tiêu); Ăngôla và Kênya (gạo, sản phẩm dệt may); Ai Cập (máy vi tính và linh kiện, hạt tiêu, rau quả và sợi); Nam Phi (gạo, giày dép, cà phê, máy tính, sản phẩm điện tử, sản phẩm gỗ)… Mặt khác, theo khuyến cáo của các chuyên gia, DN Việt Nam nên chọn cho mình phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm của thị trường châu Phi cũng như khả năng tài chính của mình. Về phía nhà nước cũng cần có sự quyết tâm và định hướng chiến lược đối với việc phát triển thị trường châu Phi. Thông qua việc phát triển quan hệ chính trị, ngoại giao và kinh tế với các nước châu Phi. Chẳng hạn như đa dạng hoá và mở rộng hợp tác với châu Phi trên các lĩnh vực như đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và hợp tác kinh doanh cho các doanh nghiệp tại thị trường giàu tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhà nước cần sử dụng linh hoạt các công cụ hỗ trợ cho các DN phù hợp với đặc điểm thị trường Châu Phi và trình độ phát triển của các DN trong nước. Trong đó, cần chú ý đến hỗ việc cung cấp hỗ trợ về thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và tài chính vì đây là những khó khăn lớn nhất của các DN khi kinh doanh với thị trường Châu Phi này. Bên cạnh những tăng cường trao đổi các đoàn lãnh đạo cấp cao Nhà nước để thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước Châu Phi, các chương trình XTTM quốc gia tại khu vực thị trường này cũng cần phải có sự điều chỉnh. Các chương trình XTTM cần được đổi mới, hạn chế các đoàn khảo sát, nghiên cứu chung chung, không hiệu quả. Mặt khác, các cơ quan chức năng cũng cần phối hợp với một số hiệp hội, DN để tìm hiểu thị trường, XTTM tại các nước thuộc châu Phi theo ngành hàng về công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng, nông sản… Phát triển các ngành hàng xuất khẩu. Về mặt hàng, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi, cần tiếp tục khai thác các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu truyền thống của Việt Nam vào các nước trong khu vực có nhu cầu cao như là gạo, hàng dệt may, cà phê, giày dép, hạt tiêu…Đồng thời, cần chú trọng xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm mới có khả năng tăng trưởng cao như hàng hải sản, sản phẩm điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, xe máy và linh kiện, thuốc lá điếu, hàng rau quả, bột gia vị, bột ngọt, đồ chơi trẻ em, mỳ ăn liền, sữa và sản phẩm sữa, xe đạp… Bên cạnh đó, cần mở rộng khai thác các mặt hàng châu Phi có nhu cầu lớn như đồ gia dụng, hàng tiêu dùng, thực phẩm, thực phẩm chế biến, đồ hộp, sản phẩm cơ khí nông nghiệp, dược phẩm, thuốc chống sốt rét, màn chống muỗi...Tăng cường các biện pháp trao đổi thương mại hai chiều để giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đa dạng hoá ngành hàng xuất khẩu về mẫu mã lẫn chất lượng. Xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý. Châu Phi là thị trường lớn đầy tiềm năng cho các DN có hàng xuất khẩu. Song làm sao xâm nhập thị trường này và nên xâm nhập các mặt hàng nào theo những phương thức nào là trăn trở của nhiều DN. Nó đòi hỏi các DN phải có những chiến lược kinh doanh sao cho phù hợp với DN của mình. Tuỳ theo điều kiện mà các DN có thể chọn những phương pháp sau: Xét về địa lý, do khoảng cách khá xa giữa hai bên , DN Việt Nam có thể nghiên cứu lập các trung tâm thương mại tại một số nước, lập kho ngoại quan tại các khu vực Bắc Phi, Tây Phi, Đông Nam Phi hoặc showroom bán hàng ở nước sở tại để tạo thuận lợi cho việc quảng bá thương hiệu và trao đổi thương mại. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác quảng bá và tiếp cận thị trường bằng cách tham gia các cuộc triển lãm quốc tế, hội chợ, họi thảo, quảng cáo thông qua trang WEB. Thương mại điện tử là phương thức buôn bán hiện đại đem lại cho các DN những lợi ích to lớn, giúp tiết kiệm chi phí, nhất là đối với một thị trường xa xôi như châu Phi. Cần có chiến lược kinh doanh và lựa chọn phương thức kinh doanh với thị trường này một cách phù hợp. Song dù là thị trường dễ tính, DN cũng phải chuẩn bị kỹ và cẩn thận khi tham dự các hội chợ, hội thảo ở thị trường này. Trong làm ăn với châu Phi, để tránh trục trặc và để được hỗ trợ khi gặp khó khăn, DN nên tăng cường mối quan hệ với các thương vụ, vì thương vụ tại khu vực này bên cạnh việc có thể giúp DN chào hàng còn có thể cung cấp cho DN các thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa và các vấn đề liên quan. Doanh nghiệp cũng có thể triển khai hàng sang châu Phi dưới ba hình thức: Xuất khẩu trực tiếp, qua trung gian và xuất khẩu tại chỗ. Khi xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp nên chọn các quốc gia mà Việt Nam có thương vụ hoặc cơ quan đại diện như Nam Phi, Ai Cập, Angola… và một số nước có hệ thống ngân hàng tương đối phát triển, các nước có khả năng tài chính mạnh như Maroc, Nigeria… Trong xuất khẩu trực tiếp, việc mở một showroom giới thiệu sản phẩm, đồng thời là trung tâm giao dịch nên được xem xét thực hiện. Để mở một showroom, DN có thể liên kết với đối tác nước sở tại và có thể nhờ sứ quán, thương vụ tại đó giới thiệu. Xuất khẩu qua trung gian hiện được nhiều DN áp dụng. Hình thức này phù hợp với giai đoạn khai phá thị trường khi quy mô sản xuất của DN còn nhỏ và các mặt hàng xuất khẩu còn phân tán. Thực tế, mặt hàng gạo trong nước chủ yếu xuất khẩu sang châu Phi qua các đối tác trung gian từ EU vì họ có lợi thế về kinh nghiệm trong buôn bán với châu Phi, có tiềm lực tài chính mạnh, hệ thống kho bãi hoàn chỉnh… Tuy nhiên, để khắc phục khó khăn trong thanh toán và giảm chi phí vận chuyển, DN có thể sản xuất hàng tại chỗ qua việc thành lập công ty theo luật pháp của nước sở tại hoặc liên doanh với một đối tác địa phương tổ chức sản xuất rồi xuất khẩu tại chỗ. Đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu tại châu Phi sẽ tận dụng nguồn nguyên liệu, lao động địa phương và hưởng các ưu đãi về thuế và phi thuế quan cũng như hưởng nhiều ưu đãi thương mại mà Mỹ và EU dành cho châu Phi. Hiện 33 nước châu Phi đang được hưởng ưu đãi thuế quan GSP vào EU. Đã có vài DN trong nước triển khai theo phương thức này, song còn nhỏ lẻ và phân tán. Sự thiếu vắng trên thị trường những mặt hàng vật liệu xây dựng, các loại máy sản xuất nông nghiệp cầm tay, đồ gỗ dân dụng hoặc các thiết bị điện tử dân dụng, xe máy, xe đạp... có thể là những gợi ý cho các DN lập các cơ sở sản xuất tại chỗ, hoặc thiết lập hệ thống phân phối sản phẩm ở châu Phi. Các DN cũng có thể nghiên cứu khả năng triển khai các dự án liên danh hoặc thuê đất lập trang trại trồng lúa, cây công nghiệp, cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao... PHẦN KẾT LUẬN Sau quá trình nghiên cứu về thị trường Châu Phi và một số nước điển hình tại khu vực này, ta thấy mối quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam và Châu Phi đang ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thể hiện qua kim ngạch buôn bán Việt Nam - Châu Phi đã có bước tăng trưởng nhanh qua từng năm. Tuy nhiên, mối quan hệ này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và mong đợi của cả hai bên, đặc biệt đã bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục. Việc trao đổi đoàn các cấp, cơ chế tiếp xúc và thông tin, mạng lưới các cơ quan đại diện của Việt Nam tại châu Phi, cũng như của châu Phi tại Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Đồng thời, tỷ trọng, hình thức và lĩnh vực trao đổi thương mại hai bên còn nghèo nàn, cơ cấu mặt hàng chưa có nhiều thay đổi. Chính vì thế, để khai thác có hiệu quả thị trường lớn đầy tiềm năng này, Việt Nam cần tiếp tục khai thác các thị trường mà ta đang có lợi thế xuất khẩu bên cạnh đó cũng cần tăng cường tìm hiểu, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường mà hiện kim ngạch hai bên còn thấp nhưng tiềm năng lớn như: Sudan, Senegal, Mozambique, Lybia, Madagasca…Để thực hiện điều này đòi hỏi nhà nước cần sử dụng linh hoạt các công cụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm thị trường Châu Phi và trình độ phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời các doanh nghiệp cần hết sức nỗ lực trong việc thâm nhập thị trường châu Phi, cần nghiên cứu kỹ nhu cầu và thị hiếu của thị trường châu Phi để tạo ra được những sản phẩm phù hợp, có sức cạnh tranh cả về chất lượng lẫn giá thành so với các đối thủ cạnh tranh khác tại khu vực đầy tiềm năng này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Các trang Web: [1] [ 2] [3] [4] [5] [6] www.thitruongnuocngoai.vn [7] [ 8] [ 9] [10] [11] [12] Và một số trang Web khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích thực trạng và giải pháp xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Phi.doc
Luận văn liên quan